Nên tôi đã chọn đề tài : “Một số biện pháp bồi dưỡng học sinh yếu môn Toán lớp 3” để giúp các em yếu kém học tập tốt hơn bộ môn toán trong đó có giải toán đúng ở chương trình này.. Vì
Trang 1số học, số tự nhiên, phân số, các đại lượng.
Toán học là một môn khoa học tự nhiên có tính logic và chính xác cao, là chìa khóa mở đầu cho sự phát triển các bộ môn khoa học khác Yêu cầu hiện nay phải đổi mới phương pháp dạy học Toán ở tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Vì vậy, người giáo viên phải gây được hứng thú học tập cho học sinh trong hoạt động học
Dạy Toán là dạy cho học sinh sáng tạo, rèn cho học sinh kỹ năng trau dồi phẩm chất đạo đức, tính siêng năng, cần cù, chịu khó sáng tạo Thông qua học Toán mà các đức tính đó ngày càng phát triển hoàn thiện hơn
2 Lý do chủ quan:
Chương trình môn Toán ở Tiểu học là một công trình khoa học mang tính truyền thống và hiện đại Việc dạy Toán đổi mới về phương pháp cũng như hình thức dạy học để nó gần gũi, dễ hiểu cho học sinh có khả năng ghi nhớ lâu
Qua nghiên cứu chương trình sách giáo khoa Toán 3, tôi thấy môn Toán lớp 3 được sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh Hệ thống kiến thức của môn toán rất cần thiết ứng dụng vào cuộc sống thực tiễn Những kiến thức toán học là công cụ cần thiết để học sinh học các môn học khác
Môn Toán có khả năng giáo dục học sinh nhiều mặt như: phát triển tư duy logic, bồi dưỡng năng lực trí tuệ (tư duy trìu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh…) giúp học sinh phát triển suy nghĩ sáng tạo, giáo dục phẩm chất đạo đức tốt của người tri thức
Trang 2Ở lớp 3, Toán học có vị trí quan trọng và là chìa khóa mở ra kho kiến thức phong phú cần thiết cho các lớp học sau.
Môn Toán cùng với các môn học khác trong nhà trường Tiểu học có những vai trò góp phần quan trọng đào tạo nên những con người phát triển toàn diện
Vì dạy học nhiều năm lớp 3 nên tôi nhận thấy : Trên thực tế của từng lớp, từng trường nói riêng, các trường nói chung đều có một số em giỏi toán và một
số em kém toán Những em giỏi thì say mê học tập Những em yếu kém thì lười học, sợ học và chán học
Do yêu cầu phổ cập giáo dục cấp Tiểu học Để đảm bảo chất lượng học tập của các em trong một lớp, một khối phải đồng đều như nhau Các trường cũng phải bằng nhau
Nên tôi đã chọn đề tài : “Một số biện pháp bồi dưỡng học sinh yếu môn
Toán lớp 3” để giúp các em yếu kém học tập tốt hơn bộ môn toán trong đó có
giải toán đúng ở chương trình này
3 Cơ sở khoa học và thực tiễn:
Chương trình tiểu học là chương trình đồng bộ được mở rộng và khắc sâu kiến thức môn toán nói chung và phương pháp giải toán nói riêng
Chương trình toán lớp 3 là chương trình chuyển tiếp giữa lớp 1, 2 và lớp
3, 4 Học sinh được củng cố mở rộng phép cộng trừ và làm phép nhân chia Đồng thời rèn luyện kỹ năng tính toán cho học sinh : 4 phép tính + - x : trong phạm vi 1000; và các dạng giải toán điển hình Vì vậy đối với việc rÌn kÜ n¨ng tÝnh vµ giải toán trong từng tiết học để học sinh yếu kém cã kÜ n¨ng lµm tÝnh giải toán đúng quả là khó khăn cả về tính toán lẫn trả lời
Nhưng trên thực tế đối với học sinh yếu kém giải toán, các em rất ngại làm bài, sợ giải toán vì khả năng tư duy "phân tích, tổng hợp của các em có nhiều hạn chế"
Với thực tế học sinh lớp tôi, trường tôi còn có một số em kÜ n¨ng tÝnh chËm vµ giải toán có lời văn thiếu chính xác, chưa đúng, tính toán còn sai, nhiều khi làm bài chưa có kỹ năng phán đoán, suy luận, không biết làm thế nào? Các
em rất sợ học Mà môn toán là môn "Thể thao trí tuệ" vừa giúp các em giải trí
Trang 3tinh thần, vừa giúp việc dạy tốt môn toán là điều cần thiết mà giáo viên cần quan tâm, trong đó "các kỹ năng tính và cách giải toán" là chú trọng trong chương trình toán 3.
4 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 3A4 trường Tiểu học Ba Trại - Ba Vì - Hà Nội
5 Mục đích nghiên cứu:
- Nhằm nâng cao kĩ năng tính và giải toán cho học sinh yếu lớp 3
6 Phạm vi nghiên cứu.
- Học sinh yếu khối 3.Trực tiếp là học sinh lớp 3A4
7 Thời gian: 2 năm ( 2011 - 2012) và (2012 - 2013).
Trang 4PHẦN II: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I THỰC TRẠNG CỦA DẠY - HỌC:
1 Đối với giáo viên:
- Nhìn chung giáo viên đều thích dạy môn Toán hơn môn Tiếng Việt, song kiến thức về Toán học yêu cầu phải chính xác, logic Dạy phải khắc sâu kiến thức để học sinh nhớ lâu và chắc kiến thức mới để vận dụng vào bài sau
- Khi giáo viên dạy đủ kiến thức chưa sâu, học sinh nhớ còn hời hợt, nhanh quên Qua các buổi dự giờ thăm lớp tôi nhận thấy các đồng chí giáo viên
đa số quan tâm đến đối tượng học sinh khá, giỏi nhiều hơn Khi tìm hiểu khám phá bài các em khá, giỏi được gọi lên bảng và trả lời nhiều hơn là các em học yếu Bởi vậy các em học đã yếu lại ít có điều kiện để nâng cao kiến thức hơn do vậy đã yếu lại càng học yếu hơn
2 Đối với học sinh:
- Học sinh lớp tôi dạy phần đa là con em nông thôn và là lớp đầu yếu trong nhà trường, bố mẹ các em mải đi làm ăn chưa có sự quan tâm sâu sát trong việc học tập của con cái Bài tập giao về nhà hầu như các em không hoàn thành
- Trong quá trình học các em đã yếu lại ít được quan tâm nên lại càng mai một dần kiến thức và các em càng tự ti trước thầy cô và bạn bè, ngại lên bảng làm toán và trả lời câu hỏi Do không hiểu bài và nhút nhát lại không dám hỏi bài thầy cô và bạn bè nên các em lại càng không có phương pháp học Về phía
gia đình nhiều em cha được quan tâm đến đồ dùng, sách vở và việc học ở nhà
3 Số liệu điều tra:
- Ngay từ khi được phân công nhận lớp, tôi đã tiến hành điều tra khảo sát trực tiếp lớp và cho thấy kết quả như sau
Năm học Số học sinh Giỏi - khá Trung bình Yếu
Qua số liệu trên tôi nhận thấy mình cần có biện pháp để thúc đẩy các em
có niềm say mê học môn toán để giảm bớt số học sinh yếu môn toán Tôi đã mạnh dạn đa ra một số biện pháp sau để giúp các em học yếu đợc tiến bộ hơn
Trang 5II CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
1 Phân loại học sinh yếu kém môn toán lớp
2 Củng cố rèn kĩ năng từ dễ đến khó, từ kiến thức cũ đến kiến thức mới.
3 Định hướng cho học sinh giải được các bài toán có dữ kiện cụ thể sang các dạng toán điển hình lớp 3.
4 Kết hợp giải toán là rèn luyện kĩ năng tính toán giúp học sinh giải toán đúng tránh nhầm lẫn trong khi tính toán.
5 Một số trò chơi toán học lớp 3.
Trang 6PHẦN III: CÁC BIỆN PHÁP CỤ THỂ
1 Biện pháp 1: Phân loại học sinh yếu kém môn toán lớp:
Phân loại học sinh yếu môn toán là rất cần thiết khi dạy, có như vậy mới nắm được mức độ, kiến thức của các em để bồi dưỡng, bổ sung giúp các em nắm chắc kiến thức mình còn rỗng Nhất là những em yếu kém về kĩ năng tính
và giải toán có lời văn, ngay từ đầu năm khi nhận lớp tôi phải phân loại từng em, yếu kém loại toán điển hình nào để tôi có kế hoạch kèm cặp, hướng dẫn kĩ năng tính và phương pháp giải toán kịp thời cho từng em
Lớp tôi có em Hưng, Hiền, Chi, Phương, Hường là những em làm tính
và giải toán còn yếu Các em thường sợ học toán Các em không biết giải, hay trả lời sai, làm tính không đúng Tôi luôn quan tâm động viên các em chăm học, tích cực làm bài để các em tự tin vào khả năng của mình để suy nghĩ, phán đoán tìm cách giải đúng
Trong các giờ lên lớp tôi luôn động viện cho các em suy nghĩ tìm ra cách giải Tôi thường xuyên kiểm tra bài làm của em trên lớp, chấm chữa tay đôi với học sinh để củng cố kiến thức Tuyên dương khen thưởng kịp thời bằng điểm số nếu các em có cố gắng (mặc dù chưa đạt yêu cầu) để các em phấn khởi học tập xoá đi ấn tượng sợ làm tính và giải toán
Về nhà : Tôi yêu cầu các em làm lại bài toán vừa giải ở lớp để các em yếu kém nắm vững cách giải Lần sau gặp loại bài như thế là làm được ngay Tôi còn yêu cầu phét huynh kết hợp chặt chẽ với giáo viên, có trỏch nhiệm hướng dẫn con học ở nhà giúp các em làm đầy đủ bài tập cô giao Ngoài ra tôi còn giao cho những em giỏi toán ở lớp mỗi em giỏi giúp một em kém Lập thành đôi bạn cùng tiến bằng cách : Giờ truy bài kiểm tra bài làm của bạn Nếu bạn tính hoặc giải sai thì hướng dẫn giải lại cho bạn nắm được phương pháp tính và giải toán Khi giao bài về nhà không nên giao nhiều, chỉ cần giao 1 đến 2 bài cho học sinh làm thôi, tôi lồng thêm những bài toán vui gắn với thực tế giúp các em hứng thú học toán hơn
Trang 72 Biện pháp 2: Củng cố rèn kĩ năng từ dễ đến khó, từ kiến thức cũ đến kiến thức mới.
a) Ở lớp một: Các em đó học các bài toán đơn giản : giải bẳng 1 phép tính
về thêm bớt nhiều hơn 1 số đơn vị
Loại toán này đơn giản Nhưng còn phải củng cố cho các em nắm vững thì mới làm được các bài toán ở lớp trên
b) Ở lớp hai : Các em được ôn lại các dạng toán lớp 1 và luyện thêm 5
mẫu giải toán dạng : a + b + c ; a + b - c ; a + (a - b) ; a + (a + b)
Đây là dạng toán tổng hợp giải bằng 2 phép tính Tôi cho các em yếu toán, trung bình nên luyện các dạng toán này với các số trong phạm vi 100, giúp các em hiểu mối quan hệ giữa các đối tượng với các dữ kiện đơn giản của bài toán Từ đó hình thành tư duy toán cho học sinh, giúp các em phân tích, tổng hợp, giải được các dạng toán nhanh, chính xác Bước đầu có kỹ năng trình bày bài toán
c) Ở lớp ba: Các em được học cộng, trừ, nhân, chia số có 4, 5 chữ số cho
số có 1 chữ số, trước hết tôi yêu cầu các em học thuộc bảng cửu chương và nắm vững được cách thực hiện các phép tính +, -, x, : cơ bản Đối với từng dạng toán tôi khắc sâu kiến thức trọng tâm và yêu cầu các em học thuộc các quy tắc để áp dụng vào giải toán và cho các em tự lập cho mình một hệ thống các quy tắc và
đã học vào một tờ giấy và để ngay phía ngoài vở viết môn toán bên trong tờ bọc nilon để khi các em quên nhìn vào đó là nhớ ngay
Trang 87 - 5 = 2 SBT số trừ hiệu
6 : 2 = 3 SBC số chia th
* Tìm gấp 1 số lên: Gấp 2 lần nhân2 Gấp 3 lần nhân 3…
* Giảm đi một số lần: Giảm 2 lần chia2.Giảm 3 lần chia 3…
* Biểu thức: 30 - 2 + ( 2 x4 ) = (Tính trong ngoặc đơn trước)
2 + 3 - 4 = (Tính từ trái sang phải)
2 + 5 x 2 = (Nhân, chia trước cộng, trừ sau)
* Số nào nhân với 0 cũng bằng 0 0 x 3 = 0 4 x 0 = 0
* Chu vi hình chữ nhật = ( chiều dài + chiều rộng) x 2
d) Hình thức rèn luyện : Học sinh nhận xét dữ kiện, tóm tắt đề toán, tìm
ra cách giải với cách làm này học sinh mạnh dạn, tự tin vào bản thân, dần dần ham thích giải toán, để thể hiện khả năng chính mình
Vai trò của người thầy rất quan trọng Lời phát biểu của các em dù đúng hay sai, giáo viên cũng phải có lời động viên hợp lý Nếu học sinh phát biểu sai, hoặc chưa đúng, giáo viên động viên "gần đúng rồi, con cần suy nghĩ thêm nữa, thì sẽ đúng hơn " giúp các em cố gắng suy nghĩ làm bằng được, chứ không nên
C
O
Trang 9nói "sai rồi, không đúng " làm mất hứng của học sinh, ức chế học sinh tự ti, chán học
3 Biện pháp 3: Định hướng cho học sinh giải được các bài toán có dữ kiện cụ thể sang các dạng toán điển hình lớp 3:
Ví dụ: Thuý có 10 nhãn vở, Lan có 20 nhãn vở Hỏi hai bạn có bao nhiêu
nhãn vở ? Bạn nào nhiều hơn và nhiều hơn bao nhiêu nhãn vở ? Lan có số nhãn
Số nhãn vở Lan nhiều hơn Thuý :
20 - 10 = 10 (nhãn vở)Đáp số : 10 nhãn vở
Số lần Lan gấp Thuý là :
20 : 10 = 2 (lần)
Đáp số : 2 lầnGiáo viên phải nhấn mạnh cho học sinh một lời giải 1 phép tính Có bao nhiêu câu hỏi có bấy nhiêu đáp số (chú ý cả tên đơn vị)
Với các yêu cầu giải toán thông thường :
- Nhiều hơn : làm tính cộng
- ít hơn : làm tính trừ
- Gấp 1 số lần : làm tính nhân
Trang 10- Kém 1 số lần : làm tính chia Sau khi rèn kuyện 1 số bài toán điển hình để phát triển tư duy học sinh Tôi nâng cao hơn 1 bước bằng cách thông qua bài toán "gốc" có dạng trên tôi cho học sinh nâng cao tư duy lên 1 bước với những dữ kiện trên mà cách giải lại làm tính ngược lại với phép tính trên (vậy người ta cho số bé yêu cầu tìm số lớn)
đó các em chọn cách giải đúng, chính xác để hình thành kỹ năng giải toán có lời văn rõ ràng, chính xác
4 Biện pháp 4: Kết hợp giải toán là rèn luyện kĩ năng tính toán giúp học sinh giải toán đúng tránh nhầm lẫn trong khi tính toán:
Trang 11Vậy có những em nhiều khi cách giải đúng nhưng tính toán sai dẫn đến kết quả bài toán sai Vậy giáo viên phải nhắc nhở học sinh khi làm bài phải tính toán chính xác, trình bày khoa học rõ ràng Nếu là phép + - x : trong bảng học thuộc để vận dụng nhanh Nếu là các phép + - x : ngoài bảng các em phải đặt tính cột dọc
Khi thực hiện các phép tính nhân, chia ở lớp 3 học sinh thường gặp một
số khó khăn, sai lầm sau:
a Học phép nhân.
- Khi nhân số có nhiều chữ số với số có một chữ số có nhớ 2, 3 … liên tiếp, học sinh thường chỉ nhớ lần đầu tiên mà quên không nhớ các lần tiếp theo.VD:
x 171944876
- Trong phép nhân có nhớ nhiều hơn 1 (nhớ 2, nhớ 3 …) học sinh thường chỉ nhớ 1
VD:
x 291349652
=> Khắc phục: Đối với 2 lỗi trên, giáo viên cần khắc phục cho học sinh
bằng cách: yêu cầu các em nhẩm thầm trong khi tính (vừa tính, vừa nhẩm) như phép tính mẫu trong sách giáo khoa và viết số cần nhớ ra lề phép tính
- Lúc đầu khi mới học nhân số có nhiều chữ số với số có một chữ số, học sinh còn hay sai trong cách ghi kết quả
VD:
618
Trang 12=> Khắc phục: Ở đây, ta cần giải thích cho học sinh rằng: Nếu làm như
vậy thì tích có tới 62 chục, nhưng thực ra chỉ có 7 chục mà thôi Vậy:
- Ở lượt nhân thứ nhất: 3 nhân 6 đơn vị được 18 đơn vị, tức là 1 chục và 8 đơn vị, viết 8 ở cột đơn vị, còn 1 chục nhớ lại (- ghi bên lề phép tính) để thêm vào kết quả lượt nhân thứ hai - nhân hàng chục
- Ở lượt nhân thứ hai: 3 nhân 2 chục được 6 chục, thêm một chục đó nhớ
là 7 chục, viết 7 ở cột chục
Giáo viên cũng có thể một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của phép tính bằng cách: Phân tích từ số 26 = 2 chục + 6 đơn vị và hướng dẫn học sinh nhân bình thường theo hàng ngang rồi cộng các kết quả lại
b Học phép chia:
- Học sinh thường ước lượng thương sai trong phép chia có dư nên dẫn đến tìm được số dư lớn hơn số chia và lại thực hiện chia số dư đó cho số chia Cuối cùng, tìm được thương lớn hơn số chia
VD:
89 2
8 431
09
6
3
2
1
Nguyên nhân của lỗi sai này là:
- Do học sinh chưa nắm được quy tắc “số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số chia”
- Học sinh không thuộc bảng nhân, bảng chia, kỹ năng trừ nhẩm để tìm số
dư còn chưa tốt
=> Để khắc phục sai lầm này:
- Khi dạy học sinh cách ước lượng thương trong phép chia, cần lưu ý cho
học sinh quy tắc trong phép chia có dư: “số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số chia”
Trang 13- Khi dạy về nhân, chia trong bảng, giáo viên cần yêu cầu học sinh phải học thật thuộc các bảng nhân, bảng chia trước khi dạy chia viết.
- Dạy cho học sinh làm tính chia phải được tiến hành từ dễ đến khó, theo từng bước một
* Một sai lầm nữa thường thấy ở học sinh khi học chia viết là: Các em thường quên chữ số “0” trong phép chia có chữ số “0” ở thương
=> Nguyên nhân và cách khắc phục:
Do học sinh không nắm được quy tắc thực hiện chia viết “có bao nhiêu lần chia thì có bấy nhiêu chữ số được viết ở thương” Giáo viên cũng cần lưu ý học sinh: Chỉ duy nhất trong lần chia đầu tiên là được lấy nhiều hơn một chữ số
ở số bị chia để chia, còn các lần chia tiếp theo lấy từng chữ số để chia và khi lấy một chữ số để chia thì phải viết được một chữ số ở thương
Bên cạnh đó, giáo viên cũng lưu ý học sinh còn viết đủ phép trừ ở các lượt chia như sau
Cách 1: Đếm ngược từ 43 cho đến khi gặp một tích (hoặc số bị chia)
trong bảng nhân 5 (chia 5) : 43; 42; 41; 40
40 : 5 = 8
Vậy 43 : 5 = 8 (dư 3)
Cách 2: Tìm số lớn nhất (không vượt quá 43) trong các tích (số bị chia)
của bảng nhân (chia 5) ta được 40; 40: 5 = 8 Vậy 43 : 5 = 8 (dư 3)
Nhìn chung, khi học nội dung về phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3, hầu hết học sinh đều nắm được kiến thức có kỹ năng nhân, chia Những sai lầm trên đầy chỉ xảy ra với số ít học sinh ở giai đoạn đầu học về nội dung này Giáo viên cần lưu ý để có biện pháp giúp đỡ học sinh kịp thời