TIỂU LUẬN MÔN NGÂN HÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG VỐN HÃY PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM VÀ NHỮNG BẤT ỔN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHO VAY THẾ CHẤP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY Sau 20 năm đổi mới, chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển đáng kể, hệ thống ngân hàng được chú trọng phát triển.
Trang 1Giảng viên bộ môn: TS NGUYỄN THỊ LAN
DANH SÁCH NHÓM 18 Lớp: Cao học - 19A TCNH
ĐỀ TÀI : “HÃY PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM VÀ NHỮNG BẤT
ỔN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHO VAY THẾ CHẤP CỦA VIỆT
NAM HIỆN NAY”
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Sau 20 năm đổi mới, chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển đáng kể, hệthống ngân hàng được chú trọng phát triển Với sự chỉ đạo của Ngân hàng Trungương cũng như sự phát triển và hoạt động có hiệu của các ngân hàng thương mại
mà đã huy động được một lượng vốn lớn, đáp ứng được nhu cầu phát triển của đấtnước, cũng như cung cấp các dịch vụ, tiện ích về Ngân hàng - Tài chính cho kháchhàng góp phần đưa đất nước phát triển theo hướng hiện đại, theo kịp với trình độcủa thế giới
Tuy nhiên do sự chuyển đổi cơ chế còn chậm, trình độ còn kém nên ngànhNgân hàng cũng đã gặp nhiều khó khăn trong chính sách cũng như quản lý và hoạtđộng, đặc biệt là vấn đề "cho vay thế chấp" gây ảnh hưởng tới sự phát triển củangành, làm cho tình hình tài chính của các ngân hàng thương mại trở nên yếu kém,khả năng cạnh tranh giảm sút, gây ra nhiều thách thức trong việc cạnh tranh vớinước ngoài, tăng rủi ro trong hoạt động ngân hàng, giảm lòng tin khách hàng và tấtnhiên ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước Đặc biệt trong thời gian gầnđây, vấn đề cho vay thế chấp trở nên nghiêm trọng và gây ảnh hưởng lớn đến nền
kinh tế đất nước Trong bài tiểu luận, nhóm em trình bày về “Đặc điểm và những bất ổn trên thị trường cho vay thế chấp ở Việt Nam hiện nay”
Trang 3CHƯƠNG I : NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN TRONG CHO VAY CỦA CÁC NHTM Ở VIỆT NAM
a Khái niệm
Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại (NHTM) là một định chế
tài chính trung gian, đóng vai trò quan trọng trong việc khai thông nguồn vốn tiếtkiệm, đáp ứng nhu cầu đầu tư của các chủ thể trong nền kinh tế, đồng thời nó cũnggiữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho nền kinh tế vận hành nhịp nhànghữu hiệu
Theo Luật TCTD của VN ngày 12/12/1997: “Ngân hàng thương mại là một loạihình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác cóliên quan” Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 giải thích rõ: “Ngân hàngthương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạtđộng kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luậtcác Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật”
Cho vay thế chấp trong hoạt đông tín dụng của Ngân Hàng:
Thế chấp tài sản (TCTS) : là hình thức mà bên đi cho vay dùng tài sản là
các bất động sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ḿnh hoặc giá trị quyền sửdụng đất hợp pháp để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tíndụng đối với bên cho vay
Như vậy muốn TCTS thì trước hết khách hàng cần có quyền sở hữu tàisản đó.Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền địnhđoạt Chủ sở hữu tài sản có thể là cá nhân, pháp nhân hay chủ thể khác Thêm vào
đó khách hàng phải chứng minh được quyền sở hữu tài sản hợp pháp của mìnhbằng các giấy tờ sở hữu hợp pháp Tuy nhiên không phải bất cứ một loại tài sảnnào cũng có thể đem đi thế chấp mà nó phải thoả măn một số điều kiện nhấtđịnh tuỳ thuộc vào quy định của pháp luật
Trang 4Hình thức TCTS : rất đa dạng, tuỳ thuộc vào mỗi tiêu thức hoặc căn cứ
khác nhau ta có cách phân loại thế chấp khác nhau
*Dựa trên cơ sở là luật dân sự và luật đất đai ta có thế chấp bất động sản
và thế chấp giá trị quyền sử dụng đất:
- Bất động sản là những tài sản không di dời được như nhà ở, vật kiến trúc,khách sạn …và những tài sản gắn liền với đất Tất cả những tài sản thuộc quyền sởhữu hợp pháp của bên đi vay đều được Ngân hàng nhận thế chấp để vay vốn Ngânhàng Thế chấp giá trị quyền sử dụng đất là việc đem giá trị quyền sử dụng đất củaḿnh thế chấp để bảo đảm cho việc trả nợ vay với Ngân hàng theo hợp đồng tíndụng Khác với những loại tài sản thông thường, giá trị quyền sử dụng đất là mộtloại tài sản đặc biệt, do đó trong thời gian thế chấp thế người sử dụng đất vẫn cóquyền sử dụng đất đó và đất đó vẫn thuộc quyền sở hữu nhà nước, chịu sự quản lýcủa Nhà nước
Đối với tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất mà không thu tiền sử dụngđất hoặc hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế được nhà nước cho thuê đất hằngnăm hoặc tiền thuê đất còn lại dưới 5 năm thì chỉ được thế chấp tài sản gắn liềnvới đất mà không được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất
*Căn cứ vào tính chất pháp lý ta có hai loại thế chấp là thế chấp pháp lý
và thế chấp công bằng.
- Thế chấp pháp lý: là hình thức thế chấp trong đó khách hàng vay vốnchuyển giao quyền sở hữu tài sản cho Ngân hàng Vì vậy khi khách hàng khôngthực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình theo hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng với tưcách là trái chủ của TCTS được quyền xử lư TCTS để thu hồi nợ mà không cầnphải tiến hành một thủ tục tố tụng nào để nhờ sự can thiệp của toà án
- Thế chấp công bằng: theo hình thức này, Ngân hàng thay vì nắm giữquyền sở hữu tài sản thế chấp thì họ chỉ nắm giữ giấy tờ chứng nhận quyền sở
Trang 5hữu tài sản đó để đảm bảo cho khoản tín dụng ứng trước Khi khách hàng vaykhông thực hiện nghĩa vụ trả nợ như trong hợp đồng tín dụng thì NH không được
tự ý xử lí tài sản để thu hồi nợ mà phải nhờ sự can thiệp của toà án hoặc dựa trên
cơ sở thoả thuận giữa hai bên
- Thế chấp pháp lí đảm bảo cho NH nhanh chóng xử lí tài sản để thu hồi
nợ , mặt khác nó sẽ không bị các chủ nợ khác tham gia chia phần đối với tiền bántài sản thế chấp Nhưng bên cạnh đó hình thức này lại tốn nhiều chi phí như chiphí đăng kí giao dịch bảo đảm, chi phí công chứng …Và mỗi khi thay đổi hợpđồng riêng biệt thì lại phải làm lại hợp đồng bảo đảm Còn đối với thế chấp côngbằng thì thủ tục đơn giản hơn, đỡ tốn kém khi lập hợp đồng thế chấp nhưng lại khókhăn cho NH khi phải xử lí tài sản đảm bảo
* Căn cứ vào tính chất của bất động sản gồm có thế chấp toàn bộ và thế chấp một phần bất động sản:
- Thế chấp một phần bất động sản: đây là hình thức thế chấp trong đó cácvật phụ gắn liền với bất động sản đó cũng được tính vào giá trị của tài sản thếchấp
- Thế chấp một phần bất động sản nghĩa là vật phụ gắn với bất động sản đókhông được tính vào tài sản thế chấp nếu hai bên không có thoả thuận riêng Thếchấp một phần bất động sản xảy ra trong trường hợp tài sản thế chấp có thể phátmại riêng mà không ảnh hưởng ǵ đến quyền lợi của bên nhận thế chấp
* Căn cứ vào số lần thế chấp tài sản ta có thế chấp thứ nhất và thế chấp thứ hai:
- Thế chấp thứ nhất: là việc thế chấp tài sản bảo bảo đảm cho món nợ vaythứ nhất ở đây, khái niệm thế chấp thứ nhất khác với khái niệm mang đi thế chấplần đầu Có thể trước đây khách hàng mang tài sản đi thế chấp lần đầu tiên nhưng
đă được giải chấp thì đó là thế chấp lần đầu Còn thế chấp thứ nhất là tài sản đảm
Trang 6bảo cho món nợ vay thứ nhất đang hiện hữu Thế chấp thứ nhất chỉ được xác địnhtrong mối tương quan là một tài sản thế chấp nhưng lại bảo đảm cho nhiều món nợvay cùng hiện hữu trong một thời gian.
-Thế chấp thứ hai là thế chấp trong đó khác hàng sử dụng phần giá trị chênhlệch giữa giá trị của tài sản thế chấp với giá trị của khoản cho vay thứ nhất để bảođảm cho khoản vay thứ hai
- Khi thực hiện một tài sản thế chấp để bảo đảm cho nhiều khoản nợ vaythì NH cần quan tâm đến những vấn đề sau:
Thứ nhất: khi một khoản nợ đến hạn mà Ngân hàng phải xử lí để thu hồi
nợ thì những khoản vay khác có cùng tài sản thế chấp cũng mặc nhiên đến hạn
Thứ hai: Khoản vay nào có thứ tự đăng kí thế chấp trước thì được ưu tiên
thanh toán trước khi tài sản thế chấp bị xử lí
Thứ ba: Thế chấp thứ nhất và thế chấp thứ hai chỉ được thực hiện trong
một tổ chức tín dụng ( Theo qui định của pháp luật hiện hành )
* Căn cứ vào nguồn hình thành tài sản thế chấp gồm có thế chấp trực tiếp
và thế chấp gián tiếp.
- Thế chấp trực tiếp là thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay, thôngthường trong thế chấp trực tiếp NH phải yêu cầu khách hàng có một tỉ lệ nhất địnhtham gia vào hình thành lên tài sản đó Theo qui định của pháp luật hiện hành thìviệc thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay chỉ áp dụng đối với cho vay trung, dài hạn và khách hàng vay phải là người có uy tín với Ngân hàng, có khả năngtài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, có dự án đầu tư để thực hiện phương án sảnxuất kinh doanh co khả thi, có khả năng hoàn trả nợ…Và có mức vốn tham giahình thành lên tài sản tối thiểu phải bằng 30% Tài sản hình thành từ vốn vay phảixác định được quyền sở hữu hoặc được giao quyền sử dụng và được phép giaodịch Nếu tài sản đó dược pháp luật quy định mua bảo hiểm thì khách hàng vay
Trang 7phải cam kết mua bảo hiểm trong suất thời hạn vay khi tài sản đó được hình thành
và đưa vào sử dụng
- Thế chấp tài sản gián tiếp là tài sản hình thành từ vốn vay và TCTS làhai loại khác nhau
b Tài sản thế chấp
* Tài sản được dùng làm thế chấp bao gồm :
- Đất đai, quyền sử dụng đất đai : Đó là quyền sử dụng đất ở, đất canh táctrong nông nghiệp, lâm nghiệp được Nhà nước giao cho các hộ gia đình, các cánhân sử dụng vào mục đích được pháp luật quy định, quyền sử dụng đất của các tổchức trong nước được Nhà nước giao cho thuê đất; quyền sử dụng đất được hìnhthành do thừa kế, chuyển nhượng sử dụng đúng mục đích theo quy định của phápluật; quyền sử dụng đất của các tổ chức cá nhân nước ngoài, người Việt Nam ởnước ngoài được phép đầu tư vào Việt Nam được Nhà nước cho thuê đất
- Các tài sản gắn liền với đất đai như: Nhà ở, Nhà máy, khách sạn, vănphòng, vườn cây, ao cá
- Các tài sản như tàu thuỷ, máy bay và cả tài sản khác được thế chấpnếu như pháp luật có quy định
- Hoa lợi, lợi tức và các quyền lợi phát sinh từ tài sản thế chấp có thuộc tàisản thế chấp hay không là do Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận
Trang 8CHƯƠNG II : ĐẶC ĐIỂM VÀ NHỮNG BẤT ỔN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHO VAY THẾ CHẤP Ở VIỆT NAM
HIÊN NAY
1 Đặc điểm thị trường cho vay thế chấp ở Việt Nam
Về mặt lý thuyết, khi quyết định cho vay thì tình hình hoạt động kinh doanhtạo ra nguồn trả nợ của khách hàng mới là điều kiện quan trọng nhất Tuy nhiên,hiện nay, hầu hết các Ngân hàng đều ưu tiên cấp tín dụng có tài sản thế chấp, xem
đó như là chiếc phao cuối cùng để thu hồi khoản vay trong trường hợp xảy ra khảnăng vỡ nợ Do đó mà thị trường cho vay thế chấp ở Việt Nam mang một số đặcđiểm khác với các thị trường cho vay khác như sau:
Tại hội thảo “Hoàn thiện pháp luật về giao dịch đảm bảo nhằm tăng cường
cơ hội tiếp cận tín dụng tại Việt Nam” ngày 27/6/2007, Công ty Tài chínhQuốc tế và Hiệp hội Ngân hàng đã công bố khảo sát về tình hình hoạt độngcho vay cho sthấy có đến 93% các ngân hàng muốn nhận bất động sản(BĐS) làm tài sản thế chấp cho các khoản vay thương mại Còn theo ông
Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia thì năm
2008, dư nợ BĐS ở mức hơn 9% tổng dư nợ, song giá trị BĐS thế chấp lênđến 50% tổng tài sản Ngân hàng, tức bằng GDP của Việt Nam Những sốliệu này cho thấy, hệ thống Ngân Hàng vẫn xem BĐS là ưu tiên hàng đầukhi nhận tài sản thế chấp
Các Ngân hàng ưu tiên nhận BĐS làm tài sản thế chấp còn xuất phát từ những đặc điểm sau:
- Nhờ tính cố định mà khi nhận BĐS làm tài sản thế chấp, các ngânhàng dễ dàng thực hiện quá trình xác định, định giá, giám sát trong và saucho vay; cũng không tốn thêm các chi phí liên quan đến việc quản lý tàisản
Trang 9- Tính thanh khoản và khả năng xử lý tài sản thế chấp là BĐS khikhách hàng không trả được nợ vẫn cao hơn nhiều tài sản khác nhờ tínhkhan kiếm và sự phát triển của thị trường BĐS.
- BĐS là những tài sản ít hao mòn Trong khi các tài sản khác, giá trị
và giá trị sử dụng thường giảm, có thể giảm rất nhanh theo thời gian, thậmchí, giá trị của tài sản có thể giảm từ 10% đến 20% ngay sau khi nhận thếchấp như xe cộ, máy móc thiết bị
- Giá chuyển nhượng BĐS trong thực tế chứng minh luôn tăng trongdài hạn do đặc tính khan hiếm, mặc dù, trong ngắn hạn dưới sự tác độngcủa khủng hoảng nhà đất, chu kỳ kinh tế, các qui định của chính quyềnhoặc những nguyên nhân khác có thể sụt giảm ở một số khu vực, một sốphân khúc thị trường
- BĐS là một trong số những tài sản có các giấy tờ chứng minhquyền sở hữu/sử dụng rõ ràng nhất, nhờ đó mà việc xác nhận chủ sở hữu/sửdụng tương đối dễ dàng Bất kỳ một sự thay đổi như mua bán, chuyểnnhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng theo qui định đều phải qua côngchứng và đăng ký giao dịch bảo đảm Hệ thống pháp luật liên quan đến việcxác nhận quyền sở hữu, sử dụng, giao dịch dù còn nhiều bất cập song vẫnđược đánh giá là khá đầy đủ so với các qui định trong các lĩnh vực khác
Nếu như sự đỗ vỡ của hệ thống Ngân hàng Mỹ là do chính đặc điểm riêngbiệt của nước này Có đến 67% dân chúng Mỹ tham gia kinh doanh BĐSnên thị trường BĐS của Mỹ gắn rất chặt với hệ thống tài chính và đời sốngdân cư Do vậy, khi thị trường BĐS khủng hoảng thì nó tác động đến khuvực ngân hàng đầu tư, là những Ngân hàng có tình trạng chứng khoán hóacác khoản nợ BĐS và được đem bán tràn lan trên khắp thế giới Đây là mộtsai lầm trong việc đẩy nhanh tình vốn hóa,chứng khoán hóa cho thị trườngBĐS, trong khi hệ thống giám sát không theo kịp Còn ở Việt Nam thì lạikhác Chúng ta không có tình trạng chứng khoán hóa các khoản nợ BĐS,cho nên những tác động của thị trường BĐS lên khu vực đầu tư, rồi từ khu
Trang 10vực này tác động ngược trở lại vào khu vực Ngân hàng thương mại làkhông có
ở một số nước thì không cho phép các Ngân hàng thương mại cho vay trựctiếp bất động sản mà chỉ cho vay thế chấp Còn ở Việt Nam thì lại cho phépvay trực tiếp Do vậy, các Ngân hàng có thể gặp rủi ro từ những khoản vaytrực tiếp này khi giá bất động sản sụt giảm
Nếu như ở Mỹ, các Ngân hàng đều cho vay thế chấp ngang bằng giá bấtđộng sản, nhưng các Ngân hàng Việt Nam đều cho vay theo nguyên tắc antoàn, chỉ định giá 1/3 hoặc 1/2 giá thị trường
Ngoài BĐS ra thì thị trường cho vay thế chấp ở Việt Nam còn bao gồm cáctài sản thế chấp khác như: ô tô, máy móc thiết bị, dây chuyên sản xuất, hàng hóa
- Đối với ô tô máy móc thiết bị: Tỷ lệ vay đối với loại mới nguyên là 70%,loại cũ là 50%
- Đối với hàng hóa: Là các hàng hóa sản phẩm, nguyên liệu mà công ty đangkinh doanh, phù hợp với các công ty lớn
+ Hàng hóa 2/3 bên sẽ được cho vay tối đa 70% là loại hàng thế chấp màhàng được đặt tại kho của công ty hoặc kho thuê tại bên thứ 3 và có bảo vệhàng 24/24, kiểm đếm hàng định kỳ theo tháng
+ Hàng hóa luân chuyển cho vay tối đa 50% là thế chấp toàn bộ các mặthàng trong kho, định kỳ kiểm đếm hàng xem lượng tồn còn đủ cho nghĩa vụko
2 Những bất ổn trên thị trường cho vay thế chấp tại Việt Nam
Báo cáo trước Quốc hội về thị trường bất động sản hiện nay, Bộ trưởng BộXây dựng Trịnh Đình Dũng dẫn số liệu báo cáo của Ngân hàng nhà nước: Tínhđến ngày 31/8/2012, dư nợ tín dụng của bất động sản khoảng 203.000 tỷ, trong đó
tỷ lệ nợ xấu 6,6%
Nếu tính dư nợ tín dụng liên quan đến bất động sản, trong đó liên quan gồmcho vay để kinh doanh bất động sản, vay để đầu tư sản xuất và kinh doanh, thế
Trang 11chấp bằng bất động sản thì dư nợ tín dụng này khoảng 57% tổng dư nợ, tức làkhoảng hơn 1 triệu tỷ đồng Khoảng 84% các khoản vay có tài sản đảm bảo làBĐS.
Nếu một thời, BĐS được coi là “đảm bảo vàng” cho các khoản vay tại cácNgân hàng thương mại, thì hiện tại, loại tài sản thế chấp này lại là những “khối u”của các ngân hàng Một trong nhưng bất ổn trên thị trường cho vay thế chấp ở ViệtNam hiện nay liên quan đến BĐS là:
a Rủi ro kỳ hạn
Nguyên nhân là cho vay đầu tư BĐS là những khoản cho vay trung, dài hạn
và kỳ hạn điều chỉnh lãi suất thường từ 6 tháng đến 1 năm Trong khi đó, phần lớnnguồn vốn huy động của các Ngân hàng là nguồn vốn ngắn hạn và lãi suất khálinh hoạt theo thị trường Sự chênh lệch về kỳ hạn và lãi suất giữa nguồn vốn huyđộng và cho vay là vấn đề nan giải nhất mà các ngân hàng phải tính toán và cânđối trong cho vay BĐS
b Rủi ro từ năng lực thẩm định và xét duyệt khoản vay
Ở Việt Nam, ngành Ngân hàng vẫn còn non trẻ, lao động trongngành càng ít kinh nghiệm Tuy vậy, một nhân viên vào làm việc ởngân hàng nếu không giao cho họ một chức vụ “quan trọng” nào đósau 2-3 năm làm việc thì có thể họ sẽ “nhảy việc” Còn non kémkinh nghiệm nhưng được giao những trọng trách lớn, đặc biệt làquyết định cho vay đã dẫn đến những rủi ro khó lường
Trang 12 Những dự án BĐS thường có mức vốn đầu tư lớn mà việc thẩm địnhđòi hỏi trình độ chuyên môn rất cao, yêu cầu cán bộ tín dụng(CBTD) phải nắm vững các qui định pháp lý, hành chính, định mứcxây dựng, đơn giá vật liệu, dòng tiền và nhiều những vấn đề khácliên quan đến dự án Điều này phần lớn vượt quá khả năng, kinhnghiệm và năng lực giám sát của CBTD, những người có vai tròquyết định khoản vay trong Ngân Hàng.
Các Ngân hàng hiện nay đều giao chỉ tiêu hoạt động nói chung vàchỉ tiêu tăng trưởng tín dụng nói riêng kèm theo những qui định vềxếp loại cá nhân, xếp loại đơn vị và những khoản thưởng Những lợiích nhận được trong ngắn hạn là “động lực” để lãnh đạo và nhânviên tại các đơn vị lách qui định, thực hiện những khoản cho vaychứa đựng rủi ro trong dài hạn Bên cạnh đó, nhiều cá nhân có tráchnhiệm trong việc ra quyết định cho vay đã xem thường rủi ro, bấtchấp hậu quả vì tin vào khả năng “nhảy việc” dễ dàng
c Rủi ro từ công tác tổ chức và thực hiện kiểm soát qui trình cấp tín dụng
Tất cả các Ngân gàng đều xây dựng qui trình cấp tín dụng từ Hội sở, Sởgiao dịch đến Chi nhánh, Phòng giao dịch Tuy nhiên, việc thực hiện qui trình nàycòn nhiều vấn đề:
- Hội đồng tín dụng phần lớn hoạt động không đúng vai trò Theo phân cấpthẩm quyền phê duyệt, những hồ sơ vượt mức phán quyết của Tổng Giám đốc sẽphải trình Hội đồng tín dụng, song Tổng Giám đốc có thể là người giữ chức Chủtịch Hội đồng nên việc có thêm Hội đồng chỉ là chia sẻ trách nhiệm, không có tácdụng phòng ngừa rủi ro
- Các qui chế cho vay đều yêu cầu khách hàng vay vốn phải có vốn đối ứng(thường khoảng 30% tổng vốn đầu tư), tuy nhiên, không khó để lách qui định nàynếu khách hàng tăng chi phí dự toán Vấn đề thẩm định chính xác vốn đầu tư dự
án là cực kỳ khó khăn dẫn đến nhiều trường hợp Ngân Hàng cấp vốn vượt nhu cầucủa phương án và được bên vay sử dụng vào những mục đích không thể kiểm soát