Các hạn chế, thiếu sót cần quan tâm: Khung giá các loại đất được quy định cho các vùng đồng bằng, trung du, miền núi có biên độ quá rộng, chậm được điều chỉnh; Giá đất trong bảng giá đất
Trang 1ĐẢNG ỦY SỞ Y TẾ HÀ TĨNH
TÀI LIỆU HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ SÁU BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG
KHOÁ XI
Trang 2Chuyên đề 1
KẾT LUẬN
về tình hình kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước
năm 2012; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước năm 2013
I- TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI NĂM 2012
1 Mặt tích cực
Triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2012 trong bối cảnh kinh tế thế giớibiến động rất phức tạp và có nhiều khó khăn hơn so với dự báo Với sự nỗ lực củatoàn Đảng, toàn dân và toàn quân, kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm đã cóchuyển biến nhất định:
- Tăng trưởng kinh tế 9 tháng đạt 4,73%, dự báo cả năm đạt khoảng 5,2%
- Lạm phát đã được kiềm chế, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định hơn, cán cânthanh toán, thặng dư, dự trữ ngoại hối tăng mạnh, tỉ giá ổn định
- Sản xuất công nghiệp có dấu hiệu phục hồi; sản xuất nông nghiệp tiếp tụcphát triển ổn định; du lịch, dịch vụ tăng khá
- Các đề án tái cấu trúc nền kinh tế, thực hiện 3 đột phá chiến lược được chútrọng xây dựng và bước đầu triển khai thực hiện
- An sinh xã hội cơ bản được bảo đảm Lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoahọc và công nghệ, y tế, văn hoá - thông tin và truyền thông đạt được một số kếtquả Quốc phòng, an ninh được tăng cường, chính trị - xã hội ổn định
- Tái cơ cấu nền kinh tế mới chỉ là bước đầu
- Việc làm, đời sống của một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn Lĩnhvực giáo dục - đào tạo, y tế chưa có sự chuyển biến căn bản Văn hoá, thể thaocòn nhiều bất cập
- Tai nạn giao thông đã giảm nhưng vẫn còn ở mức cao
- Tình trạng khiếu kiện, tội phạm, tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp…
II MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP NĂM 2013
Trang 3Năm 2013 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm nhưng nền kinh tế nước ta vẫncòn rất nhiều khó khăn, thách thức; nhiều chỉ tiêu sau 2 năm thực hiện vẫn còn kháthấp so với mục tiêu đề ra cho cả nhiệm kỳ; kinh tế thế giới dự báo vẫn diễn biếnphức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro; thương mại toàn cầu chậm được cải thiện, tăngtrưởng không cao hơn nhiều so với năm 2012.
1 Mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu năm 2013
- Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội
- Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế
- Tăng cường quốc phòng, an ninh và bảo đảm ổn định chính trị - xã hội.Tạo nền tảng phát triển vững chắc hơn cho những năm tiếp theo
b) Các chỉ tiêu chủ yếu
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 5,5%.
- Kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 10% Tỉ lệ nhập siêu khoảng 8% so vớikim ngạch xuất khẩu
- Bội chi ngân sách nhà nước không quá 4,8% GDP
- Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 7 - 8%
- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 30% GDP
- Bảo đảm an toàn nợ công Phấn đấu thực hiện các chỉ tiêu về việc làm,giảm tỉ lệ hộ nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệmôi trường
2 Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu
2.1 Về điều tiết kinh tế vĩ mô
- Thực hiện đồng bộ các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát
ở mức thấp hơn năm 2012 Điều hành chính sách tài khoá, tiền tệ chặt chẽ, linhhoạt; cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại hối Bảo đảmnhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước theo dự toán, thực hiện triệt để tiết kiệm,nâng cao hiệu quả đầu tư công Bội chi ngân sách và tiền thu từ nguồn lực đất đaidành chủ yếu cho đầu tư phát triển
Trang 4- Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu, nhất là hàng nông sản,lương thực, thực phẩm, hàng xa xỉ phẩm Thu hút và thúc đẩy giải ngân các nguồnvốn nước ngoài ODA, FDI; quản lý có hiệu quả đầu tư gián tiếp của nước ngoài(FII); tạo thuận lợi thu hút khách du lịch quốc tế và kiều hối.
- Thực hiện nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sựđiều tiết của Nhà nước đối với điện, than, xăng dầu, dịch vụ công với lộ trình phùhợp và yêu cầu kiểm soát lạm phát Bảo đảm cân đối cung cầu các mặt hàng thiếtyếu Tăng cường quản lý thị trường, giá cả
2.2 Về hỗ trợ sản xuất của các ngành, lĩnh vực
- Có cơ chế, giải pháp phù hợp, hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn tíndụng với lãi suất hợp lý, giảm hàng tồn kho, phát triển thị trường Ưu tiên tín dụngcho sản xuất hàng xuất khẩu, nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa
và nhỏ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao Tháo gỡ vướng mắc về thủ tụchành chính cho doanh nghiệp Nghiên cứu giảm thuế thu nhập doanh nghiệp
- Tiếp tục thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp, nông - lâm - ngưnghiệp, dịch vụ, nhất là những ngành hàng, sản phẩm, dịch vụ có lợi thế, có giá trịgia tăng cao, sử dụng công nghệ cao, thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng
- Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bảo đảm tiến độ các công trìnhcông nghiệp quy mô lớn Hỗ trợ các nhà thầu trong nước nâng cao năng lực đểtham gia nhiều hơn vào các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng quy mô lớn Đẩymạnh xúc tiến đầu tư thương mại, mở rộng thị trường và thực hiện có hiệu quảcuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"
2.3 Về ba đột phá chiến lược
- Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;phát triển nguồn nhân lực; thực hiện đồng bộ các giải pháp để huy động các nguồnlực đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, trước hết là các công trình trọngđiểm quốc gia Phát hành trái phiếu và các hình thức huy động vốn cho công trìnhnâng cấp mở rộng Quốc lộ 1A và một số công trình trọng điểm, cần thiết, tuyếngiao thông trọng yếu khác
- Dành vốn ngân sách nhà nước thoả đáng để tham gia các dự án hợp táccông - tư (PPP), vốn đối ứng ODA, kinh phí giải phóng mặt bằng
- Có các giải pháp phù hợp để tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản
và huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân vào đầu tư phát triển
- Quan tâm bố trí ngân sách và thu hút nguồn lực xã hội đầu tư cho xâydựng nông thôn mới
Trang 5- Đẩy mạnh tái cơ cấu và cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước Cơ bảnhoàn thành sắp xếp các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty nhà nước.
- Đổi mới công tác quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu, tăng cườngcông tác kiểm tra, kiểm toán, giám sát việc tuân thủ pháp luật và nâng cao khảnăng quản trị doanh nghiệp đối với doanh nghiệp nhà nước
- Tập trung chỉ đạo tái cơ cấu các tổ chức tài chính, tín dụng; trong đó cơ bảnhoàn thành sắp xếp, xử lý các tổ chức tài chính, tín dụng yếu kém Tập trung xử lý
có hiệu quả nợ xấu Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo khẩn trương hoàn thiện Đề
án xử lý nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng, báo cáo Bộ Chính trị và triển khaithực hiện
2.4 Về chính sách xã hội
Triển khai đồng bộ, hiệu quả các cơ chế, chính sách mới, nghị quyết và kếtluận Hội nghị Trung ương 5 khoá XI về chính sách xã hội, chính sách tiền lương,Pháp lệnh Ưu đãi người có công Thực hiện ngay việc điều chỉnh lương tối thiểuchung khi có điều kiện
2.5 Về tài nguyên và môi trường
- Triển khai khẩn trương Nghị quyết Trung ương 6 khoá XI về đất đai vàsửa đổi, bổ sung Luật Đất đai
- Thực hiện các giải pháp bảo vệ 3,8 triệu ha đất lúa, rà soát và xử lý các dự
án đã giao đất nhưng chưa sử dụng hoặc sử dụng sai mục đích
- Tăng cường quản lý khai thác khoáng sản, ngăn chặn có hiệu quả việckhai thác và xuất khẩu khoáng sản trái phép
- Đẩy mạnh việc kiểm tra chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường
- Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia và chiến lược ứng phó với biếnđổi khí hậu, chiến lược phát triển bền vững, chiến lược tăng trưởng xanh
2.6 Về các lĩnh vực văn hóa-xã hội
- Khẩn trương triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Hội nghịTrung ương 6 khoá XI về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, Chiến lượcphát triển giáo dục, Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 -
2020, chương trình phát triển sản phẩm quốc gia, chương trình nâng cao năng suất
và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
- Nâng mức đóng góp của khoa học - công nghệ vào tăng trưởng
- Tập trung giải quyết tình trạng quá tải bệnh viện, thực hiện lộ trình bảohiểm y tế toàn dân, tăng cường quản lý giá thuốc; nâng cao chất lượng chăm sócsức khoẻ nhân dân
Trang 6- Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao Tăng cườngquản lý hoạt động văn hoá, lễ hội, giữ gìn giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc;khắc phục tình trạng phô trương, hình thức, lãng phí.
2.7 Về phòng chống tham nhũng, lãng phí
- Triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo
Kết luận của Hội nghị Trung ương 5 khoá XI
- Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về một số vấn đề cấp bách vềxây dựng Đảng và việc học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tăngcường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước
- Triển khai có hiệu quả Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước
2.8 Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại
- Thực hiện đồng bộ các giải pháp để bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệchủ quyền quốc gia; giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; chủ độngđấu tranh ngăn chặn mọi âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.Tăng cường thực hiện Chương trình quốc gia về phòng, chống tội phạm
- Thực hiện có hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Đẩymạnh hội nhập quốc tế Chủ động đóng góp tích cực, có trách nhiệm vào việc xâydựng cộng đồng ASEAN và các cơ chế, tổ chức, diễn đàn quốc tế Đưa quan hệ vớicác đối tác đi vào chiều sâu, hiệu quả; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để pháttriển đất nước và bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền quốc gia
2.9 Về công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị
- Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng và Nhànước, tạo sự nhất trí, quyết tâm phấn đấu, triển khai thực hiện
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về thông tinbáo chí Chủ động cung cấp thông tin về các vấn đề được xã hội quan tâm Nângcao vai trò và trách nhiệm của các cơ quan thông tin đại chúng, bảo đảm thông tinkhách quan, trung thực, đúng định hướng, vì lợi ích của đất nước Ngăn chặn, xử lýcác thông tin sai lệch gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước
- Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trong việc phối hợp tổchức thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2013, tuyên truyền, vận động cáctầng lớp nhân dân đoàn kết, tin tưởng và tích cực tham gia thực hiện chủ trương,
Trang 7chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Chuyên đề 2
TIẾP TỤC ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT ĐAI TRONG THỜI
KỲ ĐẨY MẠNH TOÀN DIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, TẠO NỀN TẢNG ĐỂ ĐẾN NĂM 2020 NƯỚC TA CƠ BẢN TRỞ THÀNH NƯỚC CÔNG NGHIỆP
THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI"
I SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT VỀ ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI
1 Việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa IX) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã mang lại những kết quả quantrọng, đồng thời, còn những hạn chế, thiếu sót
Các hạn chế, thiếu sót cần quan tâm:
Khung giá các loại đất được quy định cho các vùng đồng bằng, trung
du, miền núi có biên độ quá rộng, chậm được điều chỉnh;
Giá đất trong bảng giá đất thường thấp hơn giá thị trường;
Có sự chênh lệch lớn về giá đất tại các khu vực giáp ranh giữa các địaphương trong khi Luật đất đai hiện hành chưa có cơ chế hữu hiệu để giảiquyết;
Phân công nhiệm vụ quản lý về giá đất còn phân tán, chưa có hệ thốngquản lý, theo dõi, cập nhật tình hình thị trường, giá cả làm cơ sở cho công tácquản lý nhà nước về giá đất;
Các tổ chức tư vấn về giá đất còn ít, năng lực định giá hạn chế;
Nhiều địa phương chưa tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc thị trường trongxây dựng, ban hành bảng giá đất;
Nhiều dự án lớn thu hồi đất lúa, đất rừng chuyển sang đất phi nôngnghiệp được thực hiện thiếu cân nhắc, thiếu tính toán;
Nhiều vướng mắc trong cưỡng chế, thu hồi đất;
Thiếu cơ sở pháp lý cho việc thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắnvới đất tại ngân hàng nước ngoài;
Việc tổ chức quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường quốc doanhchưa chặt chẽ, còn lãng phí;
Quỹ đất bố trí cho đồng bào dân tộc thiểu số các địa phương hạn chế;
Trang 8Chưa làm tốt công tác tuyên truyền chính sách pháp luật, đất đai chođồng bào dân tộc, v.v…
Những hạn chế, thiếu sót nêu trên là nguyên nhân chủ yếu gây nên bứcxúc trong nhân dân, dẫn đến khiếu kiện, tụ tập đông người nêu yêu sách vềđất đai trong thời gian qua gia tăng
2 Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất
đặc biệt; là tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước, là nguồn sống của nhândân Quản lý và sử dụng đất đai là vấn đề rộng lớn, phức tạp, hệ trọng, liênquan đến việc giữ vững thành quả cách mạng, ổn định chính trị, xã hội, đưađất nước phát triển bền vững Do vậy, trong thời gian tới, cần tiếp tục quántriệt sâu sắc những quan điểm chỉ đạo và tích cực triển khai các định hướng
về đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai tại Nghị quyết Trung ương 7(khoá IX), Kết luận Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) gắn với việc xem xét, đánhgiá những vấn đề mới trong lĩnh vực công tác này
3 Ban Chấp hành Trung ương quyết định ban hành Nghị quyết về "Tiếp tục
đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện côngcuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại" Trên cơ sở Nghị quyết, các cấp uỷ đảng, các đảng
đoàn, ban cán sự đảng chỉ đạo quán triệt sâu sắc nội dung của Nghị quyết và tăngcường lãnh đạo, tạo sự thống nhất cả về nhận thức và hành động trong việc triểnkhai thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai Trong năm 2013, Bộ Chính trị sẽchỉ đạo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 16-6-2003 về tiếptục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh để có phương án tổchức lại các nông, lâm trường, có cơ chế, chính sách để bảo đảm sử dụng đất lâmnghiệp có hiệu quả kinh tế, xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái Trên cơ sởNghị quyết này, Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo việc sửa đổi, bổ sung Luật Đất đainăm 2003; đồng thời rà soát, hoàn thiện các đạo luật có liên quan, tạo cơ sở pháp lýcho việc thực hiện Nghị quyết và giám sát việc thực hiện trong phạm vi cả nước;Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo sửa đổi, bổ sung các văn bản dưới luật; chỉ đạocác bộ, ngành, địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kếhoạch cụ thể thực hiện Nghị quyết một cách đồng bộ, có hiệu quả Thường xuyêntheo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết và kịp thời điều chỉnhcác chương trình, kế hoạch, giải pháp cụ thể phù hợp với yêu cầu thực tế; Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể đẩy mạnh vận động các tầng lớp nhân dân tíchcực tham gia và giám sát việc thực hiện Nghị quyết
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT
1 Đánh giá tình hình
1.1 Thành tựu
Trang 9Sau gần 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy BanChấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật vềđất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta đãđạt nhiều kết quả tích cực:
- Hiệu quả kinh tế - xã hội trong việc sử dụng nguồn lực đất đai được nâng lên như:
+ Góp phần khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụmục tiêu phát triển kinh tế - xã hội;
+ Bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định xã hội;
+ An ninh lương thực quốc gia được bảo đảm;
+ Môi trường được bảo vệ
- Hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai từng bước được tăng cường:
+ Chính sách, pháp luật về đất đai ngày càng được hoàn thiện
+ Các quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảođảm
+ Thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất đã được hìnhthành và phát triển nhanh…
1.2 Hạn chế, yếu kém
- Nhiều vấn đề bức xúc đang đặt ra:
+ Lợi ích của Nhà nước và người dân có đất bị thu hồi chưa được bảo đảmtương xứng;
+ Nguồn lực về đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quantrọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội;
+ Việc sử dụng đất nhiều nơi còn lãng phí, hiệu quả thấp;
+ Tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực này còn lớn;
+ Tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn diễn biến phức tạp…
- Công tác quản lý nhà nước về đất đai còn nhiều hạn chế:
+ Trong quy hoạch sử dụng đất, định giá đất, bồi thường, giải phóng mặtbằng, hỗ trợ và tái định cư, các thủ tục hành chính về đất đai
+ Thị trường bất động sản phát triển không ổn định, thiếu lành mạnh, giaodịch "ngầm" còn khá phổ biến…
1.3 Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém nêu trên là :
Trang 10- Đất đai có nguồn gốc rất đa dạng; chính sách đất đai thay đổi quanhiều thời kỳ.
- Chủ trương, chính sách, pháp luật hiện hành về đất đai còn một số nộidung chưa đủ rõ, chưa phù hợp; việc thể chế hoá còn chậm, chưa thật đồng
- Ý thức chấp hành pháp luật về đất đai của một bộ phận cán bộ và nhândân còn hạn chế
- Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi sai phạm chưanghiêm Hiệu lực, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đaicòn thấp Tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ cán bộ về quản lý đất đai và các
cơ quan liên quan còn nhiều bất cập, hạn chế; một bộ phận còn lợi dụng chức
vụ, quyền hạn để trục lợi, tham nhũng
2 Quan điểm chỉ đạo
2.1 Về nội dung quyền đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý của Nhà nước
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thốngnhất quản lý Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt, nhưngkhông phải là quyền sở hữu, được xác định cụ thể phù hợp với từng loại đất, từngđối tượng và hình thức giao đất, cho thuê đất Nhà nước thực hiện quyền của chủ
sở hữu thông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; cho phépchuyển mục đích sử dụng và quy định thời hạn sử dụng đất; quyết định giá đất;quyết định chính sách điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không phải do người
sử dụng đất tạo ra; trao quyền sử dụng đất và thu hồi đất để sử dụng vào các mụcđích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự ánphát triển kinh tế, xã hội theo quy định của pháp luật
2.2 Về nội dung quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
- Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền
sử dụng đất để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn và có các quyền chuyểnđổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốnbằng quyền sử dụng đất và được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, tuỳ theotừng loại đất và nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Trang 11- Người sử dụng đất có nghĩa vụ phải đăng ký quyền sử dụng đất, sử dụngđất đúng mục đích, tuân thủ quy hoạch, trả lại đất khi Nhà nước có quyết định thuhồi đất, chấp hành pháp luật về đất đai.
- Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao chongười khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách, pháp luật về đất đai.Không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình và cánhân, nhưng Nhà nước có chính sách phù hợp để đất nông nghiệp được người trựctiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng với hiệu quả cao nhất
2.3 Về mục đích của việc tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai
- Đất đai được phân bổ hợp lý, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệuquả cao; bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp ứngyêu cầu phát triển bền vững đất nước; nâng cao chất lượng và bảo vệ đất canh tácnông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia
- Chính sách, pháp luật về đất đai phải góp phần ổn định chính trị - xã hội,
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế;huy động tốt nhất nguồn lực từ đất để phát triển đất nước; bảo đảm hài hoà lợi íchcủa Nhà nước, của người sử dụng đất và của nhà đầu tư; bảo đảm cho thị trườngbất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất, phát triển lành mạnh, ngăn chặn tìnhtrạng đầu cơ Sử dụng có hiệu quả các công cụ về giá, thuế trong quản lý đất đainhằm khắc phục tình trạng lãng phí, tham nhũng, khiếu kiện
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai; đẩy mạnh cải
cách hành chính, bảo đảm công khai, minh bạch trong quản lý đất đai Phát triển đadạng các loại hình dịch vụ về đất đai Xây dựng hệ thống quản lý đất đai tiên tiến,
ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, hạ tầng thông tin đất đai hiện đại
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, phát huy vai
trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và toàn dân trong thực hiện chínhsách, pháp luật về đất đai Bảo đảm sự quản lý thống nhất của Nhà nước cấp Trungương về đất đai, đồng thời phân cấp phù hợp cho địa phương, có chế tài xử lýnghiêm các hành vi vi phạm chính sách, pháp luật về đất đai Kiên quyết lập lại trật
tự trong quản lý, sử dụng đất đai
3 Định hướng tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai
Trong thời gian tới, để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổimới đất nước, trên cơ sở kế thừa những định hướng về chính sách, pháp luật đất đai
đã nêu trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhoá IX, cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai Cụ thểnhư sau :
Trang 12- Đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hằng năm:
Kế hoạch thể hiện được nhu cầu sử dụng đất của các dự án đầu tư, của cácngành, lĩnh vực, làm căn cứ để Nhà nước thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyểnmục đích sử dụng đất và xây dựng chính sách tài chính về đất đai
- Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát thống nhất từ Trung ương đến địa phương trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
+ Quản lý chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất có rừngphòng hộ, rừng đặc dụng
+ Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy hoạch sử dụng đất
+ Có cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư xây dựng hạ tầng, phát triển côngnghiệp, dịch vụ, du lịch đồng bộ với cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội để khai thác tiềmnăng đất đai tại các vùng trung du, miền núi, ven biển, hạn chế tối đa việc sử dụngđất chuyên trồng lúa
+ Từng bước thực hiện di dời các cơ sở sản xuất, các đơn vị sự nghiệp tậptrung đông người ra khỏi trung tâm thành phố, nhất là các thành phố lớn, để khaithác, sử dụng đất có hiệu quả theo quy định, hạn chế ô nhiễm môi trường, giảm
ùn tắc giao thông
3.2 Giao đất, cho thuê đất
- Về đối tượng giao, cho thuê đất:
+ Thu hẹp các đối tượng được giao đất và mở rộng đối tượng được thuê đất.+ Việc giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế, xã hội
được thực hiện chủ yếu thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án
có sử dụng đất
- Về giao, cho thuê đất nông nghiệp, đất sản xuất:
+ Tiếp tục giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử
dụng có thời hạn theo hướng kéo dài hơn quy định hiện hành để khuyến khích
nông dân gắn bó hơn với đất và yên tâm đầu tư sản xuất
Trang 13+ Mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợpvới điều kiện cụ thể từng vùng, từng giai đoạn để tạo điều kiện thuận lợi cho quátrình tích tụ, tập trung đất đai, từng bước hình thành những vùng sản xuất hàng hoálớn trong nông nghiệp.
+ Sớm có giải pháp đáp ứng nhu cầu đất sản xuất và việc làm cho bộ phậnđồng bào dân tộc thiểu số đang không có đất sản xuất
- Về đất thực hiện các dự án phát triển kinh tế-xã hội:
+ Tập trung rà soát, xử lý dứt điểm những trường hợp đất đã giao cho các cơquan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức đoàn thể nhưng không sử dụng hoặc sửdụng sai mục đích, trái pháp luật
+ Thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất khi sắp xếp lại trụ sở, cơ sở làm việcthuộc sở hữu nhà nước để chuyển sang mục đích phát triển kinh tế
+ Quy định cụ thể điều kiện để nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất thựchiện dự án phát triển kinh tế, xã hội; đồng thời có chế tài đồng bộ, cụ thể để xử lýnghiêm, dứt điểm các trường hợp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhưng
sử dụng lãng phí, không đúng mục đích, đầu cơ đất, chậm đưa đất vào sử dụng;không bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất, giá trị đã đầu tư vào đất đối vớicác trường hợp bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai
3.3 Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
- Về việc thu hồi đất:
+ Nhà nước chủ động thu hồi đất theo kế hoạch sử dụng đất hằng năm đãđược xét duyệt
+ Quy định rõ ràng và cụ thể hơn các trường hợp Nhà nước thực hiện việcthu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốcgia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế, xã hội
+ Đối với các dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đấtthì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng được chuyển nhượng, cho thuê, góp vốnbằng quyền sử dụng đất với nhà đầu tư để thực hiện dự án
- Về trách nhiệm, nguyên tắc thu hồi đất, bồi thường, tái định cư:
+ Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thuộc trách nhiệm của Uỷban nhân dân các cấp và có sự tham gia của cả hệ thống chính trị
+ Kiện toàn, nâng cao năng lực của tổ chức có chức năng phát triển quỹ đất
để bảo đảm thực thi nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng, đấu giá quyền sửdụng đất
Trang 14+ Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảmdân chủ, công khai, khách quan, công bằng và đúng quy định của pháp luật.
+ Người sử dụng đất được bồi thường theo mục đích đất đang sử dụng hợppháp
+ Tổ chức thực hiện có hiệu quả phương án đào tạo nghề, tạo việc làm, tổchức lại sản xuất và bảo đảm đời sống của nhân dân ở khu vực có đất bị thu hồi
+ Nghiên cứu phương thức chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ để bảo đảm ổnđịnh đời sống lâu dài cho người có đất bị thu hồi
+ Hoàn thiện cơ chế tạo quỹ đất, huy động các nguồn vốn xây dựng các khudân cư có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ để bố trí chỗ ở mới cho người
có đất bị thu hồi trước khi bồi thường, giải tỏa Khu dân cư được xây dựng phù hợpvới điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền
3.4 Đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận
- Về đăng ký đất đai:
+ Thực hiện đăng ký bắt buộc về quyền sử dụng đất
+ Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đã đăng ký đất đaitheo quy định của pháp luật
+ Có chế tài đủ mạnh để ngăn chặn các trường hợp giao dịch không đăng kýtại cơ quan nhà nước
+ Điều kiện thực hiện các quyền của người sử dụng đất
+ Điều kiện nhà đầu tư được nhận quyền sử dụng đất để thực hiện các dự ánđầu tư
+ Khuyến khích việc cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiệncác dự án đầu tư
3.6 Phát triển thị trường bất động sản
- Vấn đề quán lý thị trường:
Trang 15+ Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển lành mạnh, bền vững thịtrường bất động sản.
+ Tăng cường sự quản lý, điều tiết của Nhà nước từ Trung ương đến địaphương
+ Nhà nước chủ động điều tiết thị trường bằng quan hệ cung - cầu
+ Từng bước thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt trong giao dịch bấtđộng sản
- Về nguồn hàng cho thị trường:
+ Rà soát lại các điều kiện lựa chọn nhà đầu tư, bảo đảm nhà đầu tư phải có
xã hội
- Rà soát các chính sách ưu đãi về thuế, bảo đảm công bằng, thống nhất, đơngiản, thuận tiện, chống thất thu thuế Có chính sách, mức thu hợp lý để nuôi dưỡngnguồn thu, khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả
- Nhà nước thực hiện chính sách thuế luỹ tiến đối với các dự án đầu tư chậmhoặc bỏ hoang không đưa đất vào sử dụng đúng thời hạn theo quy định của phápluật
- Nghiên cứu ban hành thuế bất động sản (đối tượng chịu thuế phải bao gồm
cả đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) Người sử dụng nhiều diện tích đất,
Trang 16nhiều nhà ở, đất bỏ hoang, đất đã giao, đã cho thuê, nhưng chậm đưa vào sử dụngthì phải chịu mức thuế cao hơn.
- Thực hiện nghiêm Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập
cá nhân, trong đó có thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, không thực hiệnviệc thu thuế theo mức khoán
3.8 Giá đất
- Giá đất do Nhà nước quy định theo mục đích sử dụng đất tại thời điểm địnhgiá, bảo đảm nguyên tắc phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước
- Chính phủ quy định phương pháp định giá đất và khung giá đất làm căn cứ
để Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành bảng giá đất Bổ sung quy định về điềuchỉnh khung giá đất, bảng giá đất bảo đảm linh hoạt, phù hợp với từng loại đất, cácđối tượng sử dụng đất và các trường hợp giao đất, cho thuê đất Có cơ chế để xử lýchênh lệch giá đất tại khu vực giáp ranh giữa các địa phương
- Kiện toàn cơ quan định giá đất của Nhà nước, nâng cao năng lực đội ngũcán bộ làm công tác định giá đất và thẩm định giá đất Cơ quan tham mưu xâydựng giá đất và cơ quan thẩm định giá đất là hai cơ quan độc lập; làm rõ tráchnhiệm cơ quan giải quyết khiếu nại về giá đất trong bồi thường giải phóng mặtbằng
- Làm tốt công tác theo dõi, cập nhật biến động giá đất trên thị trường;từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về giá đất tới từng thửa đất
Có cơ chế giám sát các cơ quan chức năng và tổ chức định giá đất độc lậptrong việc định giá đất Khuyến khích phát triển các tổ chức tư vấn định giá đấtđộc lập
3.9 Cải cách hành chính
- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính về đất đai:
+ Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực đất đai Phân định rõ chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, ngành, địa phương trong quản lý nhà nước
về đất đai, bảo đảm quản lý thống nhất, hiệu lực, hiệu quả và không chồng chéo
+ Phân cấp việc quy định trình tự, thủ tục hành chính về đất đai và gắn vớitrách nhiệm giải quyết của từng cấp chính quyền địa phương cho phù hợp vớichủ trương, yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và điều kiện cụ thể theo từnggiai đoạn
- Thực hiện điều chỉnh thẩm quyền các cấp:
+ Rà soát, sửa đổi thẩm quyền thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phépchuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
Trang 17hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hướng vừa bảo đảm quyền quản lýthống nhất của Trung ương, vừa phát huy quyền chủ động của địa phương.
+ Kiểm soát chặt chẽ việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa,đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ sang đất phi nông nghiệp
+ Điều chỉnh thẩm quyền của cấp tỉnh, cấp huyện cho phù hợp với yêu cầucải cách hành chính
+ Tăng cường giám sát đội ngũ cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ trongquản lý đất đai
+ Xử lý nghiêm các trường hợp nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân vàdoanh nghiệp
3.10 Thanh tra, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai
- Các cơ quan có thẩm quyền phải tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm cáctranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai theo đúng quy định của pháp luật về khiếunại, tố cáo, tố tụng hành chính, tố tụng dân sự; công bố công khai kết quả giảiquyết
- Củng cố, kiện toàn hệ thống thanh tra đất đai, toà án các cấp; nâng cao nănglực đội ngũ cán bộ xét xử đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Quan tâm đào tạo, nâng caotrình độ cho đội ngũ thanh tra viên, cán bộ xét xử, giải quyết tranh chấp, khiếu nại,
tố cáo về đất đai Rà soát, sửa đổi, bổ sung chế tài xử lý đủ mạnh đối với cáctrường hợp vi phạm
3.11 Nâng cao năng lực quản lý đất đai
- Đẩy mạnh công tác điều tra, đánh giá chất lượng, tiềm năng đất đai đáp ứngyêu cầu quản lý, sử dụng đất, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.Phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật đất đai cho cộng đồng, nhất là đối vớiđồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
- Ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu, hạ tầng thông tin về đất đai và tàisản gắn liền với đất theo hướng hiện đại, công khai, minh bạch, phục vụ đa mụctiêu; từng bước chuyển sang giao dịch điện tử trong lĩnh vực đất đai Phấn đấu đếnnăm 2020 cơ bản hoàn thành việc xây dựng hệ thống thông tin đất đai
- Tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực cán bộ, công chứctrong ngành quản lý đất đai; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực độingũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai
- Tiếp tục củng cố, hoàn thiện tổ chức, cơ chế hoạt động của Văn phòngđăng ký quyền sử dụng đất theo mô hình dịch vụ công, tập trung một cấp tạitỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và có các chi nhánh đặt tại các quận,
Trang 18huyện, khu vực đông dân cư để tạo thuận lợi cho người dân; trước mắt thực hiệnđối với khu vực đô thị.
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường năng lực của Tổ chức phát triểnquỹ đất, từng bước chuyển Tổ chức phát triển quỹ đất sang mô hình doanh nghiệpphát triển quỹ đất; phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ về đất đai
Tham khảo
NGHỊ QUYẾT VỀ TIẾP TỤC ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ
ĐẤT ĐAI Người báo cáo: Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải
I Quá trình đổi mới chính sách pháp luật, đất đai
Tháng 12/1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 với tinh thần đổi mới đã đề ra 3chương trình kinh tế lớn và nhấn mạnh vị trí đặc biệt của nông nghiệp và chủ trương đổimới cơ chế quản lý trong các hợp tác xã nông nghiệp, phát huy triệt để vai trò chủ độngcủa nông dân và phấn đấu để đưa nông nghiệp nước ta trở thành nền nông nghiệp sảnxuất hàng hóa xã hội chủ nghĩa Luật đất đai được Quốc hội thông qua ngày 29/12/1987
là một trong những việc quan trọng để khởi đầu đổi mới cùng với nền kinh tế xã hội củađất nước, với mục đích để nâng cao tinh thần trách nhiệm của mọi tổ chức cá nhân trongviệc bảo vệ, sử dụng đất đai, bảo vệ môi trường, đưa việc quản lý và sử dụng đất đai vàoquy chế chặt chẽ, khai thác tiềm năng của đất đai một cách hợp lý, có hiệu quả, triệt đểtiết kiệm đất, góp phần vào công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và bảo đảm công bằng xãhội, từng bước đưa nông nghiệp, lâm nghiệp lên sản xuất lớn và phục vụ cho sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Những chủ trương đúng đắn đó đã tạo bước chuyển biến cơ bản trong sản xuấtnông nghiệp và xã hội nông thôn; sản xuất lương thực đã có bước ngoặt lớn Vào năm
1989, sản lượng lương thực của chúng ta đạt 20,5 triệu tấn Chúng ta đã hình thành vùnglương thực hàng hoá ở tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, Tiền Giang, Hậu Giang;
từ một nước thiếu lương thực triền miên, ta đã vươn lên thành nước xuất khẩu gạo lớntrên thế giới, đời sống nông thôn được cải thiện rõ rệt
Tiếp tục công cuộc đổi mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7 (tháng 6/1991), Hộinghị Trung ương 2 khoá VII, tháng 3/1992 và Hiến pháp 1992 cũng đã chỉ rõ: ruộng đấtthuộc quyền sở hữu của toàn dân và giao cho nông dân quyền sử dụng lâu dài; việcchuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng ruộng đất phảiđược pháp luật quy định cụ thể theo hướng khuyến khích người nông dân an tâm đầu tưkinh doanh, nâng hiệu quả sử dụng đất và tạo điều kiện từng bước tích tụ ruộng đất tronggiới hạn hợp lý để phát triển hàng hoá đi đôi với mở rộng phân công lao động, phân bổlao động với quá trình công nghiệp hoá
Hội nghị Trung ương 5 khoá VII, tháng 6/1993 về tiếp tục đổi mới và phát triểnmạnh mẽ kinh tế xã hội nông thôn, cũng đã quyết định kiên trì và nhất quán thực hiện
Trang 19chính sách kinh tế nhiều thành phần và vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý củanhà nước, đổi mới kinh tế hợp tác, phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ xã viên; khẳngđịnh đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, quy định thời gian sử dụng đất hợp lý đối vớicây ngắn ngày và cây lâu năm, khi hết thời hạn, người sử dụng đất có nhu cầu và đủđiều kiện thì sẽ được tiếp tục sử dụng.
Nội dung này đã được quy định từ năm 1993 tại Hội nghị Trung ương 5 khoá VII
về việc khi người dân hết thời hạn sử dụng đất mà có nhu cầu sử dụng và không vi phạmpháp luật trong quá trình sử dụng đất thì tiếp tục được gia hạn thời hạn sử dụng Đối vớinhững người đang sử dụng đất trên hạn mức thì Chính phủ có quy định và hướng dẫnriêng về việc họ quan tâm, an tâm sản xuất và Nhà nước có chính sách bảo đảm kết hợplợi ích trước mắt và lợi ích lâu dải trong việc khai thác và sử dụng đất trống, đồi núi trọc,đất khai hoang, lấn biển Đối với đất công ích thì nơi nào có nhu cầu thì được để lạikhông quá 5% diện tích canh tác của xã, nhưng phải bảo đảm quản lý chặt chẽ và sửdụng có hiệu quả
Thể chế hoá các quan điểm của Nghị quyết, căn cứ vào Hiến pháp năm 1992, Luậtđất đai năm 1993 cũng đã được Quốc hội thông qua và đi vào cuộc sống Luật này tậptrung chủ yếu vào điều chỉnh quan hệ đất đai nhằm tạo ra nền sản xuất hàng hoá trongnông nghiệp, trên cơ sở là Nhà nước trưo cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất sản xuấtnông nghiệp và đất ở có 5 quyền: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế
và thế chấp Thứ hai là xác định đất có giá do Nhà nước quy định Luật đất đai năm 1993chưa đề cập đến cơ chế tham gia thị trường quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế
Do thực tế cuộc sống yêu cầu, ngày 10/4/1994, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hànhPháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, chothuê đất và Pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất tạiViệt Nam Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về chế độ quản lý
sử dụng đất phi nông nghiệp và cụ thể hoá quyền, nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụngđất
Tháng 11/1998, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết 06 về một số vấn đề nông nghiệp vànông thôn, đã chỉ ra về tích tụ ruộng đất việc chuyển nhượng quyền sử dụng ruộng đất,tích tụ và tập trung ruộng đất là hiện tượng sẽ diễn ra trong quá trình phát triển nôngnghiệp lên sản xuất hàng hoá lớn Việc tích tụ và tập trung ruộng đất phải được kiểmsoát, quản lý chặt chẽ của Nhà nước, không để quá trình này diễn ra một cách tự phát,làm cho người nông dân mất ruộng mà không tìm được việc làm, trở thành bần cùng hoá,nông dân được Nhà nước giao đất để sản xuất trong phạm vi hạn điền Ở những nơi cóđiều kiện, những người không phải là nông dân được Nhà nước cho thuê quyền sử dụngđất, đất trống, đồi núi trọc, đất đồi ven biển, đất hoang hoá để đầu tư phát triển nông,lâm, ngư nghiệp với diện tích phù hợp, với từng vùng theo quy định của Pháp luật
Trên cơ sở đó, luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật đất đai đã được Quốc hội khoá
X, kỳ họp thứ 4 thông qua tháng 12/1998 đã sửa đổi 5 điều và bổ sung 9 điều vào Luậtđất đai năm 1993, nhằm hoàn chỉnh thêm một bước về pháp luật, đáp ứng tình hình mới,yêu cầu mới của quá trình phát triển đất nước, nâng cao tính pháp lý và chế định củaLuật, mà trước hết là các chế định có liên quan đến việc bảo đảm các quyền và nghĩa vụ
Trang 20chính đáng của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất Để giải quyết những bất cậptrong chính sách đất đai đối với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong tình hình mới, BộChính trị đã chỉ đạo tổng kết 10 năm thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai để đưa ranhững quyết sách tiếp tục đổi mới.
Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã thông qua Nghịquyết 26, ngày 12/3/2003 về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kìđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nghị quyết cũng đã đưa ra chủ trươngtiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai với 5 quan điểm đổi mới:
Thứ nhất, tiếp tục khẳng định đất đai là sở hữu của toàn dân, do Nhà nước đại diện
chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước giao đất và cho thuê đất với tổ chức hộ giađình và cá nhân để sử dụng lâu dài hoặc có thời hạn theo quy định của pháp luật
Thứ hai, đất đai là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của đất nước, quyền sử dụng
đất là hàng hoá đặc biệt và chính sách đất đai phải chú ý đầy đủ tới các mặt kinh tế,chính trị, xã hội, bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư,tăng cường trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi thành viên trong xã hội về việc quản lý và
sử dụng đất
Thứ ba, khai thác và sử dụng đất phải đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, phát
huy tiềm năng, nguồn lực về đất đai
Thứ tư, đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai phải phù hợp với đường lối phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động phát triển vững chắc thịtrường bất động sản, có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước và không tách rời với thịtrường quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất, chống đầu cơ đất đai
Thứ năm, quan điểm về lập lại trật tự trong việc quản lý và sử dụng đất đai theo
luật pháp và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy vai tròcủa Mặt trận Tổ quốc và Hội Nông dân và các đoàn thể nhân dân và toàn dân trong việcthực hiện chính sách, pháp luật về đất đai
Thể chế hoá các quan điểm của nghị quyết này thì Luật đất đai năm 2003 cũng đãtạo ra những đổi mới quan trọng, trong đó trọng tâm là hoàn chỉnh về công cụ pháp luậtquy hoạch, tài chính và hành chính để bảo đảm phù hợp với thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Từ Luật đất đai năm 2003, Chính phủ đã ban hành 20 nghịđịnh, Thủ tướng đã ban hành 12 chỉ thị, 17 quyết định và các bộ đã ban hành 200 vănbản, các địa phương đã ban hành 400 văn bản liên quan đến luật đất đai năm 2003 Việc
tổ chức thi hành pháp luật về đất đai cũng đã được các cấp, các ngành quan tâm hơn và ýthức chấp hành luật của nhân dân cũng đã có sự chuyển biến tích cực
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và chương tình làm việccủa Ban Chấp hành Trung ương, Ban Bí thư đã chỉ đạo tổng kết nghị quyết 7 của BanChấp hành Trung ương khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trongthời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thời gian vừa qua, Ban Bí thư đã chỉđạo thành lập Ban chỉ đạo và Ban chỉ đạo đã cùng với các thành ủy tổ chức tổng kết, tổchức các hội thảo và tham gia đóng góp ý kiến rộng rãi trong toàn Đảng về tổng kết nghị
Trang 21quyết này Trên cơ sở kết quả tổng kết, báo cáo tổng kết về thi hành luật đất đai của Bancán sự đảng Chính phủ, tổng kết về việc thực hiện Nghị quyết 26 về đất đai cũng đãđược trình ra Bộ Chính trị ở hai phiên họp và trình ra Ban Chấp hành Trung ương 5, 6 đểthảo luận và đưa ra những định hướng mới.
Về công tác tổng kết Nghị quyết 26 đã đưa ra những kết quả chủ yếu, những thànhtựu chủ yếu mà trong quá trình thực hiện Nghị quyết 26 Thứ nhất, việc phân bổ đất đãđáp ứng được mục tiêu kinh tế xã hội và quốc phòng, an ninh; quỹ đất nông nghiệp đãđáp ứng được yêu cầu đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và bảo vệ phát triển rừng,đất sản xuất nbông nghiệp đã tăng được 556 ngàn hecta so với năm 2000; diện tích đấttrồng lúa đã được bảo vệ Đến năm 2010, chúng ta còn 4,1 triệu hécta; năm 2011 cònkhoảng trên 4 triệu; năm 2012 cũng còn trên 4 triệu Và theo nghị quyết của Bộ Chính trị,chúng ta sẽ duy trì 3,8 triệu hecta đất trồng lúa Năm 2012, cả nước dự kiến đạt 43,6 triệutấn lương thực, tăng 1,4 triệu tấn so với năm 2011 Về xuất khẩu nông nghiệp: các sảnphẩm nông nghiệp với tổng diện tích 26 triệu hécta đất nông nghiệp/33 triệu hecta diệntích đất tự nhiên chiếm đến 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (khoảng 14 tỉUSD)
Quỹ đất dành cho công nghiệp, dịch vụ, xây dựng, kết cấu hạ tầng, phát triển đô thịcũng từng bước được mở rộng và đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước và nhu cầu đô thị hoá Cả nước có 755 đô thị với khoảng 1,5 triệu hécta và cáckhu công nghiệp trong cả nước cũng đã sử dụng khoảng 80 nghìn hecta và tỉ lệ lấp đầyđối với bình quân các khu công nghiệp khoảng 286 khu công nghiệp hiện nay khoản48% Nếu tính đến các khu công nghiệp đã đưa vào hoạt động thì diện tích lâp đầykhoảng 65% Giá trị sản xuất công nghiệp của các khu công nghiệp đã đưa vào hoạt độngchiếm đến 32% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước và giải quyết được khoảng 1,76triệu lao động Về diện tích đất chưa sử dụng đã cơ bản đưa vào sử dụng Đây cũng làmột trong những kết quả rất tốt trong việc thực hiện nghị quyết của Trung ương về đấtđai cũng như sửa đổi luật đất đai thời gian vừa qua Khoảng 5,6 triệu hécta trong vòng 10năm đất không sử dụng đã được đưa vào sử dụng Như vậy, việc sử dụng đất cũng dã cóhiệu quả hơn, và chính sách, pháp luật đất đai từng bước được hoàn thiện, quy định vềquyền của chủ sở hữu đất đai, thu hẹp sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong và ngoài nướctrong tiếp cận đất đai; khắc phục những bất cập trong công tác bồi thường, hỗ trợ, giảiphóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất; đổi mới công tác giải quyết tranh chấp, khiếunại về đất đai; các quyền của người sử dụng đất cũng đã được tiếp tục duy trì và mởrộng, như quyền về bảo lãnh, tặng, cho và được Nhà nước bảo đảm thực hiện đã làm chongười sử dụng đất gắn bó với đất đai và yên tâm đầu tư, tăng hiệu quả sử dụng đất.Thịtrường bất động sản, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất đã tạo lập được một cơchế hoạt động và từng bước hoàn thiện chính sách Các chính sách tài chính về đất đaicũng từng bước được thể chế hoá và hoàn thiện theo cơ chế thị trường và đưa đất đai trởthành một nguồn nội lực và nguồn vốn để phát triển đất nước Nguồn thu từ đất đai củacác địa phương cũng như cả nước chúng ta trong những năm vừa qua tăng rất nhanh, hỗtrợ cho nguồn thu, nguồn đầu tư của các địa phương
Trang 22Năm 2002, thu từ đất chúng ta đạt khoảng 5.400 tỉ đồng và chiếm 4,4% tồng thungân sách Nhà nước Năm 2010, chúng ta thu được 67.000 tỉ đồng, chiếm 11,21% tồngthu ngân sách Nhà nước Năm 2011, chúng ta cũng thu được khoảng 67.000 tỉ đồng,chiếm 9,53% tồng thu ngân sách Nhà nước Từ năm 2010, do chịu sự tác động củakhủng hoảng kinh tế thế giới, bất ổn định kinh tế vĩ mô của cả nước nên nguồn thu từ đấtcủa các địa phương và cả nước giảm.
Về công tác quản lý đất đai cũng có nhiều chuyển biến; về hệ thống tổ chức bộ máyquản lý Nhà nước về đất đai cũng từng bước được củng cố; cán bộ làm công tác quản lý
về đất đai được tăng cường và từng bước được đào tạo, nâng cao trình độ; quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất được triển khai ở tất cả các cấp Việc hoàn thiện quy hoạch đến năm
2010 của cả nước: 100% quy hoạch cấp tỉnh, 78% quy hoạch cấp huyện, 68% quy hoạchcấp xã cũng đã được hoàn thành Việc giao đất, cho thuê đất cũng đã góp phần quantrọng trong phát triển kinh tế - xã hội, rút đầu tư và bước đầu phát huy nguồn lực đất đaitrong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cũng được quan tâm chỉđạo để thực hiện Kết quả đến năm 2011, đối với đất sản xuất nông nghiệp, chúng ta đãcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được 85% diện tích; đối với đất lâm nghiệp, đạtđược 86,3%; đất ở nông thôn 82,1%; đất ở đô thị 63,5%; đất ở tôn giáo đạt 81,6% Nhưvậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay ở đô thị chậm, trong khu vực
đô thị chậm là ở các khu nhà ở chung cư, các khu đô thị mới Trong việc giải quyết các
hồ sơ, các văn bản quy phạm pháp luật để đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất còn rất chậm Hiện nay, Chính phủ đang tập trung chỉ đạo để các địa phương,các thành phố nâng cao tỉ lệ này.Công tác cải cách hành chính về đất đai cũng được đẩymạnh
Như vậy, qua tổng kết Nghị quyết 26, Hội nghị Trung ương 7 (khoá IX), cho thấy
về đất đai cũng còn rất nhiều hạn chế:
- Công tác quản lý Nhà nước về đất đai còn rất nhiều bất cập Trước hết, về quyhoạch chất lượng chưa được cao, chưa đồng bộ với các quy hoạch chuyên ngành.(Chúng ta đang chuyển từ hệ thống không có quy hoạch, từ xây dựng công nghiệp, nôngnghiệp, giao thông vận tải, hạ tầng cơ sở, chúng ta chuyển sang yêu cầu quản lý theo quyhoạch, thì chuyển biến của các ngành, chuyển biến trong vấn đề quản lý đất và sử dụngđất còn chưa kịp thời) Các địa phương, các bộ, ngành, khối lượng quy hoạch trong mộtgiai đoạn kế hoạch rất lớn, nên nguồn vốn bố trí cho công tác quy hoạch không đủ Cácđịa phương cũng chỉ ưu tiên nguồn vốn cho các quy hoạch quan trọng, như phát triểnkinh tế - xã hội được ưu tiên quy hoạch công nghiệp, quy hoạch hạ tầng, còn các ngànhkhác thường thiếu vốn Ở Trung ương, việc sắp xếp vốn cho công tác quy hoạch nàycũng còn rất nhiều bất cập Hiện này có rất nhiều quy hoạch, thậm chí quy hoạch rồinhưng không đủ vốn để cập nhật theo một giai đoạn kế hoạch
- Các quy định pháp luật về đất đai vẫn còn một số nội dung chưa đáp ứng yêu cầu
về quản lý và sử dụng đất, chưa làm rõ được cơ chế, quyền định đoạt của Nhà nước vớivai tò là đại diện chủ sở hữu về đất đai; chưa giải quyết hài hoà lợi ích Nhà nước, nhàđầu tư và người sử dụng đất; quyền và nghiã vụ người sử dụng đất chưa rõ và còn nhiều
Trang 23vướng mắc, đặc biệt việc chấp hành kỉ luật, kỉ cương trong quản lý, sử dụng đất chưanghiêm; công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ tái định cư cònnhiều bất cập Các quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đấtđai còn chưa đáp ứng được yêu cầu, dẫn đến nhiều vụ việc phải giải quyết qua nhiều cấp,kéo dài nhiều bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được thi hành, tìnhhình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai diễn biến tiếp tục phức tạp Nguồn lực về đấtđai cũng chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng để phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước; việc sử dụng đất ở nhiều nơi còn lãng phí, hiệu quả thấp và nhiềuđịa phương chưa quan tâm đến việc thực hiện cơ chế tạo quỹ đất sạch để đấu giá quyền
sử dụng đất Nguồn lực để tạo nguồn đất sạch còn nhiều khó khăn
- Thủ tục hành chính về đất đai còn nhiều bất cập, một số thủ tục còn rườm rà, thờigian giải quyết kéo dài, chưa tốt về dịch vụ đất đai Thị trường bất động sản, trong đó cóthị trường sử dụng đất còn bộc lộ rất nhiều yếu kém, không ổn định, không kiểm soátđược, tự phát, giao dịch ngầm…, gây ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển kinh tế - xãhội của các địa phương cũng như của cả nước
- Tổ chức bộ máy và năng lực cán bộ về quản lý đất đai chưa đáp ứng được yêu cầuthực thi nhiệm vụ, nhất là ở cấp cơ sở Công cụ quản lý về đất đai còn thô sơ Hiện naytoàn bộ quản lý đất đai của chúng ta, công tác đo đạc bản đồ, công tác địa chính cònchậm, chưa tiến bộ Một số địa phương, bắt đầu đưa vào quản lý hệ thống số, số hoá bản
đồ quản lý Tuy nhiên số lượng này đang thí điểm và còn ít Trong khi đó, đa số công tácđịa chính ở địa phương là đo đạc thủ công, nên tính chính xác các số liệu về đất đai rấtthấp Đây là một trong những nguyên nhân gây ra khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đaitrong dân cư còn rất lớn
Hội nghị Trung ương 5, 6 cũng đã bàn về vấn đề này Nhận thức được vấn đề quảnlý và sử dụng đất đai không chỉ là vấn đề kinh tế rộng lớn phức tạp, mà còn là vấn đềchính trị, xã hội rất hệ trọng, nhạy cảm và liên quan đến việc giữ vững thành quả cáchmạng và cuộc đấu tranh của dân tộc, đấu tranh giai cấp; Bộ chính trị đã tập trung chỉ đạo
về vấn đề này Sau Hội nghị TW5, Ban Chấp hành Trung ương đã ra Kết luận số 22 ,ngày 25/5 khẳng định một số quan điểm chỉ đạo và định hướng tiếp tục đổi mới chínhsách, pháp luật đất đai và đồng thời giao cho Ban cán sự đảng Chính phủ tập trung chỉđạo các cấp, các ngành để thể chế hoá một số nội dung Ban Chấp hành Trung ương đãthống nhất; khẩn trương nghiên cứu làm rõ thêm một số vấn đề còn nhiều ý kiến khácnhau: vấn đề xác định giá đất, quy định về thế chấp quyền sử dụng đất tại ngân hàngnước ngoài, vấn đề thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư, quản lý sử dụng đất nônglâm trường, yêu cầu làm rõ và trình Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 đểxem xét ban hành nghị quyết định hướng cho việc sửa đổi luật đất đai năm 2003
HNTW 6 đã ban hành Nghị quyết số 19 về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật vềđất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nghị quyết đãđánh giá tình hình những mặt làm được, những hạn chế, nguyên nhân yếu kém trong thờigian vừa qua trên cơ sở báo cáo tổng kết của Ban cán sự đảng Chính phủ trên cơ sở kếtquả tổng kết Nghị quyết 26 của các tỉnh ủy, thành ủy.Nghị quyết đã đưa ra 6 quan điểm
Trang 24chỉ đạo và 11 định hướng tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đaitrong thời gian tới Cụ thể:
- 6 quan điểm:
+ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhấtquản lý Về quan điểm này, trong báo cáo tổng kết có nhiều ý kiến trái chiều nhau TrongKết luận 82, khi bàn về báo cáo tổng kết này, Bộ Chính trị đã bàn rất kĩ về nội dung này
và đưa ra kết luận đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, cần phải tiếp tục kiên định quanđiểm sở hữu toàn dân về đất đai như Hiến pháp năm 1992, như Nghị quyết 26 TW7 vàLuật đất đai năm 2003 đã nêu Vấn đề sở hữu đất đai là vấn đề rất hệ trọng, có liên quanđến lịch sử, ổn định chính trị xã hội và việc sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước làđại diện chủ sở hữu, đã dảm bảo cho Nhà nước chủ động trong khai thác, sử dụng tàinghuyên đất đai, phục vụ cho phát triển kinh tế -xã hội, an ninh- quốc phòng, nhất làtrong thu hồi đất để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Người sửdụng đất đã được giao các quyền sử dụng đất và được nhà nước bảo đảm việc thực hiệncác quyền này Vì thế, Trung ương thống nhất quan điểm đất đai thuộc quyền sở hữutoàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Đây là quan điểm nhấtquán, thể hiện qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật, nghiều nghị quyết Trung ương vàLuật đất đai
+ Người sử dụng đất được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sửdụng đất để sử dụng ổn định lâu dài và có thời hạn, có các quyền chuyển đổi, chuyểnnhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng, cho, thế chấp, góp vốn vào quyền sử dụngđất và được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tuỳ theo từng loại đất và có nguồn gốc
sử dụng theo quy định của pháp luật Người sử dụng đất có nghĩa vụ phải đăng ký quyền
sử dụng đất và sử dụng đất đúng mục đích, tuân thủ quy định và trả lại đất khi Nhà nước
có quyết định thu hồi đất, chấp hành pháp luật về đất đai Nhà nước không thừa nhậnviệc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiệncác chính sách, pháp luật về đất đai Đây là quan điểm xuyên suốt qua nhiều nghị quyếtcủa Trung ương, cũng như Luật đất đai Nếu không kiên định quan điểm này sẽ gây ranhiều biến động phức tạp về đất đai
+ Đất đai được phân bổ hợp lý và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả cao, bảo đảm lợiích trước mắt và lâu dài, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp ứng yêu cầu phát triển bềnvững của đất nước và nâng cao chất lượng, bảo vệ đất nông nghiệp, bảo đảm an ninhlương thực quốc gia Thực hiện quan điểm này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 42 vềviệc bảo vệ 3,8 triệu hecta đất lúa trong thời gian tới
+ Chính sách, pháp luật về đất đai phải bảo đảm góp phần ổn định chính trị xã hội,đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh, hội nhập kinh tế quốc
tế và huy động tốt nguồn lực từ đất để phát triển đất nước, bảo đảm hài hoà lợi ích củaNhà nước, của người sử dụng đất, của nhà đầu tư Vấn đề này, chúng ta làm chưa tốt,nguồn lực từ đất đai còn rất lớn nhưng ta quản lý chưa tốt, còn để thất thoát nhiều, chưahuy động được nhiều nguồn lực đất đai này vào trong phát triển kinh tế xã hội
Trang 25+ Nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước về đất đai và đẩy mạnh cải cách hànhchính, công khai minh bạch trong quản lý đất và phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ
về đất đai, xây dựng hệ thống quản lý đất đai tiên tiến, hệ thống cơ sở dữ liệu hạ tầngthông tin đất đai hiện đại
+ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò củaMặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân, toàn dân trong việc thực hiện chính sách, phápluật về đất đai, bảo đảm sự quản lý thống nhất của Nhà nước, cấp Trung ương về đất đai,đồng thời phân cấp phù hợp cho địa phương và có chế tài nghiêm với các hành vi viphạm pháp luật về đất đai, kiên quyết lập lại trật tự trong quản lý và sử dụng đất đai
Về định hướng tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai,
trên cơ sở kế thừa những định hướng về chính sách, pháp luật về đất đai đã nêu ra trong
Nghị quyết 26 của Trung ương 7, Ban Chấp hành Trung ương khẳng định trong thời gian
tới cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai Cụ thể, gồm 11nội dung:
- Về quy hoạch sử dụng đất: Đây là vấn đề rất quan trọng đối với vấn đề quản lý
và sử dụng đất đai Nghị quyết Trung ương đặt ra yêu cầu: phải đổi mới, nâng cao tínhliên kết, đồng bộ giữa các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch ngành, quyhoạch lĩnh vực và kế hoạch sử dụng đất hàng năm theo hướng phải thể hiện nhu cầu sửdụng đất các dự án đầu tư, các ngành và lĩnh vực
+ Trước hết, cần quan tâm đến vấn đề vốn trong quy hoạch Cần sắp xếp thứ tự ưutiên đối với các quy hoạch
+ Cần quy định về nội dung quy hoạch
+ Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, điều này liên quan đến chất lượng tổchức tư vấn
+ Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quy hoạch sử dụng đất, đảm bảo sự quản lý thốngnhất từ Trung ương đến địa phương, nghị quyết nhấn mạnh công tác tăng cường kiểmtra, giám sát từ Trung ương đến địa phương trong công tác quy hoạch, sử dụng đất
- Về giao đất và cho thuê đất: Nghị quyết Trung ương yêu cầu đổi mới theo
hướng phải thu hẹp các đối tượng được giao đất và mở rộng đối tượng được thuê đất.Tiếp tục thực hiện việc giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sửdụng có thời hạn theo hướng kéo dài hơn, theo quy định hiện hành để khuyến khíchngười nông dân gắn bó hơn, yên tâm sản xuất; đồng thời mở rộng hạn mức nhận chuyểnquyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng giaiđoạn để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích tụ và tập trung đất đai, từng bước hìnhthành những vùng sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp Định hướng trong sử dụngđất đai là khi nâng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất thì đồng thời đưa thuế vềchuyển quyền sử dụng đất Tức là, nếu các tổ chức, cá nhân nhận chuyển quyền sử dụngđất, tích tụ ruộng đất, họ phải sử dụng có hiệu quả hơn thì mới có khả năng trả thuế đó.Nghị quyết cũng yêu cầu đưa ra những giải pháp để đáp ứng với nhu cầu đất sảnxuất, làm việc cho đồng bào dân tộc thiểu số đang không có đất sản xuất Năm 2011,
Trang 26chúng ta cơ bản hoàn thành bố trí đất ở cho các hộ đồng bào người dân tộc Đối với đấtsản xuất, hiện nay còn 323 682 hộ còn thiếu đất sản xuất nhưng chưa được bố trí hoặc
do thiếu quỹ đất, một số hộ đã được giao đất rồi nhưng đã chuyển nhượng
Tập trung rà soát, xử lý dứt điểm các trường hợp đất đã giao cho các cơ quan hànhchính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức đoàn thể nhưng không sử dụng hoặc sử dụng sai mụcđích, trái pháp luật Đến tháng 11/2012, đã phát hiện 3.900 tổ chức vi phạm pháp luật vềđất đai với diện tích 93.400 hecta
- Về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư:
Hiện nay, có 2 cơ chế:
+ Nhà nước đứng ra thu hồi đất và việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư chongười có đất được thu hồi thì thực hiện trong các trường hợp sử dụng đất vào mục đíchquốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và thực hiện các dự án đầu tưphát triển kinh tế lớn
+ Cho phép nhà đầu tư tự thoả thuận với người sử dụng đất thông qua việc nhậnchuyển nhượng cho thuê hoặc nhận góp vốn vào quyền sử dụng đất để thực hiện các dự
án sản xuất kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất
- Về đăng kí đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Để tăng cường
tính minh bạch cho thị trường bất động sản, đảm bảo thuận lợi cho công tác quản lý, nghịquyết đã nhấn mạnh chủ trương thực hiện đăng kí bắt buộc đối với quyền sử dụng đất vàNhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người đăng kí đất đai theo quy định củapháp luật
- Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao quyền sử dụng đất: Quyền của người sử dụng đất theo Luật đất đai năm 2003 đã được mở rộng,
gồm: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, gópvốn Các quyền này đã được Nhà nước bảo đảm và phát huy hiệu quả trong đời sống sảnxuất kinh doanh, tạo cơ sở phát triển kinh tế xã hội và thị trường bất động sản Tuy nhiên,chế tài để bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất cũng chưa đầy đủ, chưanghiêm; một bộ phận người sử dụng đất chưa nhận thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ,chưa thực hiện nghiêm nghĩa vụ của người sử dụng đất
Hiện nay, chúng ta đang cho phép nhà đầu tư nước ngoài được phép thế chấp quyền
sử dụng đất ở ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
- Về phát triển thị trường bất động sản: Nghị quyết Trung ương đưa ra các chủ
trương, giải pháp bao gồm phải tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển lànhmạnh, bền vững thị trường bất động sản và tăng cường sự quản lý, điều tiết của Nhànước từ Trung ương đến địa phương; sự phát triển các dự án kinh doanh bất động sảnphải phù hợp với nhu cầu của thị trường, đặc biệt phải đưa vào đăng kí bất động sản vàthuế bất động sản
- Vấn đề tài chính về đất đai: Có 2 có chế hình thành giá đất hiện nay:
Trang 27+ Giá đất do Nhà nước quy định, gồm khung giá, bảng giá và giá đất cụ thể Khunggiá do Trung ương, Chính phủ quy định; bảng giá do địa phương quyết định; giá đất cụthể do địa phương quyết định đối với từng dự án
+ Giá đất hình thành trên cơ chế thoả thuận giữa các bên trong giao dịch về đất đai
và trong quá trình triển khai Giá đất trong bảng giá đất thường thấp hơn giá đất trên thịtrường Trong xác định giá đất có các tổ chức tư vấn về giá đất
Qua thảo luận ở Trung ương, Nghị quyết đề nghị quy định khung giá đất để địnhhướng cho các địa phương để ban hành bảng giá đất và căn cứ để đền bù giải phóng mặtbằng lấy từ bảng giá đất; bỏ thời hạn cứ 01 năm ban hành lại bảng giá một lần; bảng giáđất sẽ được cập nhật khi giá đất biến động Bảng giá đất đó bao gồm rất nhiều địa danh
và vùng của một địa phương Cần phát triển các tổ chức thẩm định giá đất để đáp ứngnhu cầu cập nhật bảng giá đất theo đúng biến động thị trường.Tuy nhiên trong điều kiệngiá đất chưa được cập nhật thì địa phương vẫn quyết định giá đất cụ thể cho dự án, đảmbảo không ảnh hưởng đến quá trình thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội Cácđịa phương phối hợp với nhau để quy định giá đất giáp ranh
Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai: Trong thời gian từ 2003
-2010, các cơ quan hành chính Nhà nước, các cấp đã giải quyết 1.200.000 đơn thư khiếunại, tố cáo, trong đó gần 70% đơn thư khiếu nại về đất đai
Giải pháp khắc phục những hạn chế trong thời gian vừa qua về công tác khiếu nại,
tố cáo: thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo Đây là giải pháp rất quan trọng Các cơquan xử lý đơn khiếu nại, tố cáo phải đúng thẩm quyền Việc chuyển đơn của các cơquan không đúng thẩm quyền làm cho tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo phức tạphơn, chúng ta không định hướng được việc từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền
- Xây dựng hạ tầng, cơ sở dữ liệu, thông tin về đất đai: Đây là một nội dung hết
sức cơ bản để nâng công tác quản lý Nhà nước về đất đai lên mức độ cao hơn, hạn chếđược những bất cập, sai sót trong quá trình quản lý về đất đai
Chuyên đề 3
TIếP TỤC SẮP XẾP, ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
I SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH KẾT LUẬN VỀ TIẾP TỤC SẮP XẾP, ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1 Hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) và các nghị quyết
của Đảng về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước,các ngành, các cấp đã tổ chức quán triệt và thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng,Nhà nước một cách khá đồng bộ, sâu rộng, đạt được những kết quả quan trọng Doanhnghiệp nhà nước đã được sắp xếp lại một bước (từ 5374 doanh nghiệp giảm còn 1060doanh nghiệp), tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt nhà nước cần nắm giữ,đứng vững và có bước phát triển, góp phần vào thành tựu chung của đất nước; chi phối
Trang 28được những ngành then chốt của nền kinh tế, góp phần đưa kinh tế nhà nước từng bướcxác định vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
Giá trị sản phẩm của doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, trongtổng thu ngân sách, kim ngạch xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư với nước ngoài; là lựclượng quan trọng thực hiện các chính sách xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảmnhiều sản phẩm, dịch vụ công thiết yếu cho xã hội, cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.Các doanh nghiệp nhà nước ngày càng thích ứng hơn với kinh tế thị trường, trình độquản lý, khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ ngày càng cao, hiệu quả và sứccạnh tranh từng bước được nâng lên
Tuy nhiên, quá trình cơ cấu lại và đổi mới, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nướccòn chậm; tổ chức triển khai chưa tốt, thiếu chỉ đạo chặt chẽ, một số doanh nghiệp nhànước gây thất thoát tài sản, đất đai, vốn liếng, làm hư hỏng cán bộ
Vai trò công nhân tham gia cổ phần hóa trong các doanh nghiệp nhà nước còn mờnhạt; hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh thấp, chiếm tới 70 % tỷ lệ nợ xấu, chưatương xứng với nguồn lực được đầu tư, làm hạn chế vai trò đầu tàu Một bộ phận doanhnghiệp nhà nước chưa làm tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, nhất là chưa làm tốt vaitrò mở đường, dẫn dắt, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển, thúc đẩy liên kếtchuỗi giá trị gia tăng
Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và quản lý chủ sở hữu nhà nước còn bất cập
Mô hình tổ chức đảng trong doanh nghiệp nhà nước chưa thực sự phù hợp với mô hình tổchức, quản lý doanh nghiệp; vai trò lãnh đạo chưa rõ Nhiều sai phạm chậm được pháthiện, xử lý
Các nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan của hạn chế, yếu kém là nhữngsai sót, khuyết điểm trong công tác lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ quản trị các tập đoàn, tổngcông ty; trong phân cấp cơ quan quản lý và công tác kiểm tra, giám sát hoạt động doanhnghiệp; yêu cầu các cơ quan liên quan cần nghiên cứu kỹ các bài học sâu sắc được rút ra
từ sự đổ vỡ của Vinashin và yếu kém của Vinalines…
2 Trong thời gian tới cần tiếp tục xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; doanh nghiệp nhà nước phải là nòng cốt
để nhà nước điều tiết nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô Do đó, phải khẩn trương hoànthành sắp xếp các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hiện có để tập trung vào các ngành,lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng Tái cơ cấu mạnh mẽ các tập đoàn, tổng công tynhà nước để hình thành những tập đoàn, tổng công ty nhà nước mạnh, đa sở hữu, trong
đó sở hữu nhà nước là chi phối, hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả; hoàn thiệnkhung pháp lý đồng bộ để tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát chủ sở hữu và nâng caohiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước Quan tâm hơn nữađến công tác cán bộ lãnh đạo, quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước theo hướng cóphân cấp quản lý rõ ràng; lãnh đạo, kiểm soát chặt chẽ quá trình cổ phần hóa các doanhnghiệp nhà nước
3 Ban Chấp hành Trung ương quyết định ban hành Kết luận về tiếp tục sắp xếp,
đổi mới và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước, trên cơ sở đó:
Trang 29- Ban cán sự đảng Chính phủ, Đảng đoàn Quốc hội và các cơ quan liên quan thểchế hoá những nội dung Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất; tổng kết thực hiệnLuật Doanh nghiệp năm 2005, đề xuất phương án quy định pháp luật phù hợp đối vớidoanh nghiệp nhà nước.
- Ban cán sự đảng Chính phủ khẩn trương nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề còn ýkiến khác nhau, như: mô hình tổ chức thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đối vớidoanh nghiệp nhà nước
- Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu
đề xuất phương án đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng và công táccán bộ trong doanh nghiệp nhà nước Trên cơ sở đó, hoàn thiện đề án về sắp xếp, đổi mới
và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước báo cáo Bộ Chính trị để trình Ban Chấphành Trung ương xem xét, ban hành nghị quyết
- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban cán sự đảng Chính phủ,các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương, các tỉnh uỷ,thành uỷ chỉ đạo việc thông tin, tuyên truyền về vai trò, đóng góp, hạn chế, yếu kém củadoanh nghiệp nhà nước một cách khách quan, rõ định hướng; các tỉnh uỷ, thành uỷ, cácban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổchức quán triệt và thực hiện Kết luận này
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA KẾT LUẬN
1 Đánh giá tình hình
1.1 Mặt được
Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX và các nghị quyếtcủa Đảng về doanh nghiệp nhà nước, chúng ta đã đạt nhiều kết quả tích cực:
- Doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại một bước quan trọng;
- Hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước cơ bản tập trung vào những ngành,lĩnh vực, địa bàn then chốt, quan trọng mà Nhà nước cần nắm giữ, góp phần để kinh tếnhà nước thực hiện vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm ansinh xã hội và nhu cầu của quốc phòng, an ninh
1.2 Hạn chế, yếu kém
- Việc sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước còn chậm, chưa chặt chẽ;
- Trình độ công nghệ của doanh nghiệp nhà nước còn lạc hậu;
- Quản trị doanh nghiệp còn nhiều yếu kém, hiệu quả thấp Một số doanh nghiệp
vi phạm pháp luật nghiêm trọng, gây thất thoát, lãng phí lớn vốn và tài sản nhà nước
- Việc phân định chức năng quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu nhà nướccòn chưa đủ rõ; thể chế, cơ chế quản lý, giám sát của chủ sở hữu nhà nước có nhiều sơ
hở, yếu kém
- Cơ cấu ngành, lĩnh vực chưa hợp lý, dàn trải, đầu tư ra ngoài ngành kém hiệuquả
Trang 30- Mô hình tổ chức đảng trong doanh nghiệp nhà nước chưa hợp lý, vai trò lãnh đạocủa tổ chức đảng còn hạn chế.
1.3 Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém
- Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém nêu trên là do chưa có sự thống nhấtcao về nhận thức đối với doanh nghiệp nhà nước
- Việc thể chế hoá và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng còn chậm và cónhiều thiếu sót
- Nhiều cán bộ quản lý doanh nghiệp năng lực yếu, chưa đáp ứng yêu cầu; một bộphận suy thoái về đạo đức, lối sống, thậm chí vi phạm pháp luật
- Tổ chức và phương thức hoạt động của Đảng trong doanh nghiệp nhà nước chậmđổi mới, kém hiệu quả
2 Quan điểm chỉ đạo
2.1 Về vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, là lực lượngvật chất quan trọng, là công cụ hỗ trợ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế, ổn định kinh tế
vĩ mô, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa
2.2 Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước
Tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước phải tuân theo những quy luậtkhách quan của kinh tế thị trường có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước và chịu sự chiphối, giám sát toàn diện của chủ sở hữu là Nhà nước
2.3 Về nội dung tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước
- Bảo đảm để các doanh nghiệp có cơ cấu hợp lý, tập trung vào những ngành, lĩnhvực then chốt và địa bàn quan trọng
- Những doanh nghiệp nhà nước có lợi thế do Nhà nước giao, có ưu thế độc quyền
tự nhiên phải được quản lý theo cơ chế phù hợp để đảm bảo điều kiện kinh doanh côngbằng với các doanh nghiệp khác
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc sắp xếp, đổi mới, phát triển vànâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; đổi mới và nâng cao vai trò lãnh đạo của tổchức đảng trong doanh nghiệp nhà nước
3 Định hướng tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước
Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyếtTrung ương 9 khoá IX, Nghị quyết Đại hội XI và các nghị quyết, kết luận của Trungương về sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước phù hợp với bối
Trang 31cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế của nước tangày càng đi vào chiều sâu Sau đây là một số định hướng cụ thể:
3.1 Định hướng đổi mới cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực hoạt động doanh nghiệp nhà nước
- Doanh nghiệp nhà nước phải là những doanh nghiệp đi đầu đi đầu trong đổi mới,ứng dụng khoa học - công nghệ
- Các doanh nghiệp nhà nước phải là lực lượng vật chất bảo đảm giữ vững địnhhướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế
- Doanh nghiệp nhà nước phải tập trung hoạt động ở những khâu, công đoạn thenchốt của các lĩnh vực: An ninh, quốc phòng; độc quyền tự nhiên; cung cấp hàng hoá dịch
vụ công thiết yếu và một số ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao có sức lan toảlớn Sớm chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải ngoài ngành và hoàn thành việc thoái vốnnhà nước tại các doanh nghiệp có dưới 50% vốn nhà nước
3.2 Định hướng đổi mới mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước
- Khẩn trương bổ sung, hoàn thiện thể chế quản lý doanh nghiệp nhà nước đồng
thời với việc mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp.
- Các doanh nghiệp nhà nước phải được tổ chức lại theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phù hợp với quy định của pháp luật.
- Áp dụng chế độ quản trị tiên tiến phù hợp với kinh tế thị trường và thực hiện chế
độ kiểm toán, kiểm tra, giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch trên cơ sở mở rộng diệnniêm yết trên thị trường chứng khoán
- Chức năng hỗ trợ điều tiết vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội của doanh nghiệp
phải được đổi mới và thay thế bằng cơ chế đặt hàng của Nhà nước, được hạch toán theo
cơ chế thị trường
- Kết thúc việc thực hiện chủ trương thí điểm tập đoàn kinh tế nhà nước; xem xétchuyển một số tập đoàn kinh tế nhà nước thành tổng công ty Các tập đoàn kinh tế, cáctổng công ty nhà nước lớn phải được cơ cấu lại; được kiểm toán hằng năm; tăng cườngvai trò và sự giám sát, kiểm tra của đại diện chủ sở hữu nhà nước, nhất là trong việc phêduyệt điều lệ, quyết định chiến lược phát triển sản xuất, kinh doanh, quản lý vốn và tàisản nhà nước tại doanh nghiệp
3.3 Về cơ chế quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước
- Nêu cao vai trò và trách nhiệm của hội đồng quản trị, hội đồng thành viên và ban
thường vụ đảng uỷ; thực hiện việc chủ tịch hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng thành viên kiêm bí thư đảng uỷ doanh nghiệp.
- Mở rộng diện để tiến tới áp dụng bắt buộc chế độ thi tuyển, hợp đồng có thời
hạn tuỳ thuộc vào kết quả sản xuất, kinh doanh đối với giám đốc, tổng giám đốc
- Nghiên cứu hình thành tổ chức thực hiện thống nhất chức năng đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước Trước mắt, tập trung soát xét, điều chỉnh sự phân
Trang 32cấp, phân công giữa Chính phủ và các bộ, ngành, chính quyền các địa phương trong việcthực hiện chức năng của cơ quan đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước cấp trêncủa hội đồng quản trị, hội đồng thành viên mà không trực tiếp chỉ đạo hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp.
3.4 Về công tác Đảng trong doanh nghiệp nhà nước
- Tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức,năng lực quản lý của đội ngũ lãnh đạo, đặc biệt là lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp
- Đổi mới quy trình, xác định rõ quyền và trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân
có liên quan đến việc xem xét, quyết định nhân sự lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệpnhà nước, đặc biệt là nhân sự chủ tịch và tổng giám đốc
Tham khảo
KẾT LUẬN VỀ ĐỀ ÁN TIẾP TỤC SẮP XẾP, ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Người bác cáo: Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh
Thực chất quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới, sắp xếp các doanh nghiệp nóicung và doanh nghiệp Nhà nước nói riêng diễn ra từ lâu, qua rất nhiều thời kỳ Trong quátình sắp xếp và đổi mới, trọng tâm là đẩy mạnh cổ phần hoá.Vấn đề này được thực hiện
từ năm 1992 Qua mỗi thời kỳ có sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút ra bài học, tiếp tục cónhững giải pháp để hoàn thiện, bổ sung Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX ban hànhnăm 2011 là bước ngoặt về đổi mới, sắp xếp, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp nhà nước Nghị quyết lần thứ IX, khoá IX tiếp tục khẳng định lại Nghị quyếtTrung ương 3, đưa ra một số giải pháp mới để đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp
Sự cần thiết ban hành kết luận của Trung ương về sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệuquả hoạt động của nhà nước:
Trước yêu cầu cần phải đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế Đại hộiĐảng lần thứ XI đã đặt ra, đòi hỏi nền kinh tế phải cơ cấu lại, trong đó đặc biệt đối vớidoanh nghiệp nhà nước cần cơ cấu lại một bước, nâng cao hiệu quả hoạt động để đápứng được vai trò của mình
Hiện nay, chúng ta đã hội nhập rất sâu rộng vào các lĩnh vực của đời sống quốc tế,đặc biệt vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề trọng tâm, hất sức quan trọng Muốnhội nhập được, phải nâng cao hiệu quả, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, trong đó
có doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò quan trọng
Nội dung cơ bản Kết luận số 50 - KL/TW:
* Đánh giá những kết quả đạt được sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX:
Trang 33- Khẳng định doanh nghiệp nhà nước đã được sắp xếp lại một bước quan trọng.Trong 10 năm, đã sắp xếp được 5.374 doanh nghiệp, trong đó đã cổ phần hoá 3.976doanh nghiệp, đến nay còn 1.060 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
- Hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp sau khi được cổ phần hoá,sắp xếp tăng lên Năm 2011, vốn nhà nước ở các doanh nghiệp nhà nước 136.000 tỉ, đếnnăm 2010 tăng lên 700.000 tỉ Phần lớn các doanh nghiệp hoạt động có lãi Theo kiểmtoán nhà nước năm 2010, kiểm toán các tập đoàn tổng ty lớn, có 19/21 tập đoàn tổng tylớn làm ăn có lãi và tỉ suất lợi nhuận đạt 18%,nộp ngân sách tăng từ 10 -30% Doanhnghiệp lỗ giảm rất mạnh, từ năm 2001 đến nay, số doanh nghiệp lõ giảm từ 60% xuốngcòn 20%
- Về quy mô sắp xếp: Số lượng doanh nghiệp nhà nước nhỏ, vừa giảm; số doanhnghiệp có quy mô vốn lớn tăng Số doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỉ đồng, trước đây chiếm59%, đến năm 2010 chỉ còn chiếm 9,3%
Các doanh nghiệp sau cổ phần hoá: lợi nhuận tăng 3,2 lần; nộp ngân sách tăng 5,2lần; vốn điều lệ tăng 1,56 lần; doanh thu tăng 1,9 lần; lao động tăng 12%; thu nhập tăng28% Qua cổ phần hoá đã thu về cho quỹ phát triển doanh nghiệp hơn 55.400 tỉ, số thu vềnày hơn gấp 2 lần bình quân so với số vốn bán đi
Doanh nghiệp nhà nước đã tập trung vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn quantrọng, then chốt, góp phần để kinh tế nhà nước tiếp tục thực hiện vai trò chủ đạo, điều tiếtkinh tế vĩ mô, ổn định, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh quốc phòng:+ Doanh nghiệp nhà nước trước năm 2001 hoạt động trên 60 ngành, lĩnh vực, đếnnay chỉ tập trung vào 19 ngành, lĩnh vực
+ Doanh nghiệp nhà nước đã cung cấp trên 85% sản lượng điện, xăng dầu; 90%dịch vụ viễn thông; 98% vận tải hàng không; 56% dịch vụ tài chính, tín dụng; 70% lượnggạo xuất khẩu; trên 80% phân bón hoá học cho nông nghiệp
+ Doanh nghiệp nhà nước đóng góp 30% tổng thu ngân sách nhà nước; 33% tổngsản phẩm quốc nội
+ Doanh nghiệp nhà nước đã trực tiếp tham gia vào các nhiệm vụ an ninh, quốcphòng, thực hiện chính sách an sinh xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, cung ứng sảnphẩm, dịch vụ công ích cho quốc phòng an ninh, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dântộc, biển đảo
Trong Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX, có nêu: đánh giá doanh nghiệp phải đánhgiá một cách toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội, tổng hợp Đây là một chức năngriêng có của doanh nghiệp nhà nước Hiện nay, có những lĩnh vực các doanh nghiệp, cácthành phần kinh tế khác không làm hoặc không được làm hoặc không có điều kiện đểlàm, vì không có lãi nên không bỏ vốn đầu tư (VD: ngành dầu khí)
- Về điều tiết nền kinh tế: Năm 2008, khủng hoảng kinh tế tài chính ở thế giới bắtđầu từ Mỹ Năm 2009, lạm phát kinh tế rất cao Chúng ta đã sử dụng toàn bộ lực lượngcủa doanh nghiệp nhà nước vào điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trang 34Hiện nay, cả nước ta có 62 huyện nghèo nhất nước Trong đó có tiêu chí hộ nghèochiếm tới 50% trở lên Các doanh nghiệp đã xung phong nhận sự phân công của Chínhphủ để hỗ trợ cho các huyện này, với số tiền 1.700 tỉ Ngoài ra, có 42 doanh nghiệp, trong
đó có các tập đoàn trong 2 năm đã đóng góp 2000 tỉ để giải quyết các vấn đề an sinh xãhội
* Những tồn tại, hạn chế:
- Việc sắp xếp, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước còn chậm Số lượng doanhnghiệp hiện nay cần cổ phần hoá và tổng số vốn nhà nước không cần nắm giữ mà cầnphải thu hồi về còn rất lớn Trong 700.000 tỉ vốn, chúng ta mới chỉ sắp xếp, cổ phần hoáđược khoảng 20% Nguyên nhân do trong quá trình triển khai thực hiện, có những cơchế, chính sách cần phải từng bước hoàn thiện, có những vướng mắc nhất định; quá trìnhđịnh giá doanh nghiệp diễn ra rất lâu, mất thời gian; khi xác định cổ phần hoá phải phânloại doanh nghiệp Tuy nhiên, khi đưa ra cơ chế chọn đối tác là nhà đầu tư chiến lượctham gia vào quá trình cổ phần hoá rất khó khăn, đặc biệt nếu nhà đầu tư là nhà đầu tưnước ngoài Thị trường có nhiều biến động, kinh tế suy giảm nên ảnh hưởng đến quátrình cổ phần hoá Hiện nay, chúng ta có 700.000 tỉ vốn nhà nước, nhưng giá trị vốn nhànước ở các doanh nghiệp cổ phần hoá là 3.952 tỉ, chiếm 16% tổng số vốn nhà nước
- Trình độ công nghệ của nhiều doanh nghiệp vẫn còn lạc hậu, quản trị của một sốdoanh nghiệp vẫn còn yếu kém Có một số tập đoàn, doanh nghiệp đã tiếp cận công nghệrất tiên tiến, hiện đại (ngành dầu khí, bưu chính viễn thông, hàng không), tuy nhiên cónhiều doanh nghiệp công nghệ vẫn còn lạc hậu, có một số doanh nghiệp chưa đi đầutrong quá trình thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Cơ cấu ngành, lĩnh vực chưa hợp lý, vẫn còn dàn trải, còn nhiều lĩnh vực nhà nướckhông cần nắm giữ nhưng vẫn còn vốn nhà nước
- Một số doanh nghiệp vi phạm pháp luật nghiêm trọng, gây thất thoát, lãng phí lớn
vốn và tài sản nhà nước Điển hình vụ VINASIN.
- Mô hình tổ chức Đảng trong doanh nhiệp nhà nước chưa hợp lý, vai trò lãnh đạocủa tổ chức Đảng còn hạn chế
* Nguyên nhân hạn chế, yếu kém:
- Chưa có sự thống nhất cao về nhận thức đối với doanh nghiệp nhà nước về vai trò,
vị trí, sự cần thiết của doanh nghiệp nhà nước
- Việc thể chế hoá và tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng còn nhiều thiếusót, sơ hở:
+ Do nhận thức về vai trò của doanh nghiệp nhà nước không đúng nên đã bỏ luậtdoanh nghiệp nhà nước, yêu cầu doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp chung.+ Phân định chức năng quản lý nhà nước, quản lý của chủ sở hữu chưa rõ; cơ chếquản lý giám sát của chủ sở hữu còn bất cập
- Trình độ công nghệ của nhiều doanh nghiệp còn thấp và lạc hậu, quản trị doanhnghiệp của nhiều doanh nghiệp vẫn còn yếu kém
Trang 35- Nhiều cán bộ quản lý doanh nghiệp năng lực còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu,một bộ phận suy thoái về đạo đức, lối sống, thậm chí vi phạm pháp luật.
Cần tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước:
- Quan điểm chỉ đạo: Xác định vai trò, vị trí của doanh nghiệp nhà nước Doanhnghiệp nhà nước là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, là lực lượng vật chất quantrọng, là công cụ hỗ trợ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế, ổn định vĩ mô
+ Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước: Doanh nghiệp nhànước hoạt động theo quy luật khách quan của kinh tế thị trường Dứt khoát phải có sựgiám sát, kiểm tra và chi phối của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
+ Doanh nghiệp nhà nước phải tiếp tục sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả để có
cơ cấu hợp lý, tập trung vào các ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng
+ Những doanh nghiệp nhà nước có lợi thế do Nhà nước giao, có ưu thế độc quyền
tự nhiên thì phải có cơ chế quản lý phù hợp, đảm bảo điều kiện kinh doanh một cáchcông bằng, bình đẳng, không biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp.+ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc sắp xếp, đổi mới,phát triển, nâng
cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, đổi mới và nâng cao vai trò của tổ
chức đảng tại doanh nghiệp
- Định hướng tiếp tục sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp nhà nước:
+ Điều chỉnh, sắp xếp lại để doanh nghiệp nhà nước có một cơ cấu hợp lý Nghịquyết Trung ương 3 Khoá IX đã xác định: phạm vi những doanh nghiệp nhà nước nắmgiữ 100% vốn rất nhiều Trong kết luận này, phạm vi các doanh nghiệp nhà nước nắmgiữ 100% vốn chỉ ở những lĩnh vực quan trọng, chi phối nền kinh tế, liên quan đến anninh quốc phòng và ở những địa bàn quan trọng Đây là sự đổi mới rất lớn
+ Có những ngành, lĩnh vực quan trọng nhưng nhà nước chỉ giữ những khâu thenchốt VD: ngành điện, nhà nước chỉ giữ khâu quan trọng: khâu phân phối điện
Doanh nghiệp nhà nước 100% vốn định hướng đến năm 2015 còn khoảng 692doanh nghiệp Đến năm 2020, còn khoảng 200 doanh nghiệp Số doanh nghiệp còn lạichia thành hai loại: loại nhà nước nắm giữ, chi phồi và loại nhà nước không nắm giữ chiphối
Tất cả các doanh nghiệp được cổ phần hoá, nếu làm ăn bài bản, đúng luật pháp,đúng quy định đều có hiệu quả hơn trước khi cổ phần hoá
- Áp dụng chế độ quản trị tiên tiến phù hợp với kinh tế thị trường và thực hiệnnghiêm chế độ kiểm toán, kiểm tra, giám sát, công khai, minh bạch bằng việc mở rộngniêm yết trên thị trường chứng khoán Luật chứng khoán quy định, đối với doanh nghiệpsau khi cổ phần hoá trong vòng 01 năm phải niêm yết công khai, minh bạch trên thịtrưởng tất cả các thông tin theo yêu cầu của thị trường, có sự tham gia giám sát của nhiềuđối tượng, cổ đông, giám sát của xã hội
Trang 36- Xác định chức năng thực hiện nhiệm vụ chính trị của Nhà nước và thực hiện ansinh xã hội của Nhà nước Trong Kết luận xác định phải có cơ chế theo thị trường, nhưngnếu Nhà nước giao nhiệm vụ thì Nhà nước cơ bản phải chuyển sang đặt hàng cho doanhnghiệp.
- Kết thúc thực hiện thí điểm tập đoàn kinh tế nhà nước, xem xét chuyển một số tậpđoàn kinh tế nhà nước thành tổng công ty Tiếp tục nghiên cứu, thực hiện chủ tịch hộiđồng quản trị, chủ tịch hội đồng thành viên, kiêm bí thư đảng ủy, nghiên cứu chế độ thituyển đối với các chức danh quan trọng, chủ chốt trong các doanh nghiệp nhà nước
- Nghiên cứu hình thành mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước Có các ýkiến:
+ quản lý doanh nghiệp nhà nước đại diện chủ sở hữu
+ đề xuất mô hình thành lập một cơ quan độc lập để quản lý khối doanh nghiệp nhànuớc
+ lập ra ủy ban giám sát như ở Trung Quốc để quản lý các doanh nghiệp này
Hiện nay, Trung ương chưa có kết luận về vấn đề này; giao cho Ban cán sự ĐảngChính phủ tiếp tục nghiên cứu
- Tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao phẩm chất, chính trị, đạo đức,năng lực quản lý của đội ngũ lãnh đạo, đặc biệt là lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp
- Về tổ chức thực hiện: Trung ương giao cho Ban cán sự Đảng Chính phủ và Đảngđoàn Quốc hội nghiên cứu hoàn thiện các cơ chế chính sách, đặc biệt là các luật lệ Hiệnnay có ý kiến cho rằng, cần phải có luật doanh nghiệp nhà nước; ý kiến khác cho rằngnếu ra đời luật doanh nghiệp nhà nước là một bước lùi; có ý kiến cho rằng cần sửa Luậtdoanh nghiệp nói chung, trong đó có chương về doanh nghiệp nhà nước,vì doanh nghiệpnhà nước có đặc thù riêng là phải có vai trò quản lý của Nhà nước, Nhà nước phải cấpvốn
+ Làm rõ mô hình tổ chức, quản lý
+ Ban Tổ chức Trung ương đề xuất đổi mới mô hình tổ chức của Đảng trong doanhnghiệp
* Triển khai Kết luận số 50- KL/TW:
- Chính phủ đã có chương trình hành động, kế hoạch triển khai thực hiện
- Chính phủ ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ về đề án tái cơ cấu cácdoanh nghiệp nhà nước
- Chính phủ đã phê duyệt đề án sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước của cáctỉnh, thành phố trên cả nước đến năm 2015, trong quá trình triển khai thực hiện có thểxem xét, điều chỉnh
- Tiếp tục phê duyệt các đề án để cơ cấu, sắp xếp lại các tập đoàn, tổng công ty.Hiện nay, đã phê duyệt cho 8 tập đoàn, tổng công ty
Trang 37- Tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các cơ chế chính sách ngoài việc nghiên cứunhững vấn đề lớn mà Trung ương giao như mô hình, nội dung đưa vào luật Thủ tướngChính phủ đã ký Nghị định số 99 – NĐ/CP, ngày 15/11/2012 thay thế Nghị định 132 vềphân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhànước đối với doanh nghiệp nhà nước.
Chủ sở hữu gồm: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ (gồm 02 nhóm: nhóm
bộ quản lý ngành sản xuất kinh doanh chính như Bộ công thương, Bộ Giao thông, BộNông nghiệp phát triển nông thôn; nhóm bộ thuần tuý tổng hợp quản lý nhà nước như BộTài chính, Bộ Kế hoạch đầu tư), Ủy ban nhân dân các địa phương, Hội đồng quản trị
- Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, các địa phương tiếp tục rà soát, sắp xếp lạidoanh nghiệp, yêu cầu phải đổi mới phương thức quản trị của các doanh nghiệp nhànước
- Tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi một số cơ chế thuộc phạm vi của Chính phủ để tiếptục sắp xếp, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước VD: Nghị định chuyển doanh nghiệpnhà nước 100% vốn sang công ty cổ phần, trong đó có một số điểm mấu chốt cần sửađổi: xác định giá trị doanh nghiệp, chọn nhà đầu tư chiến lược cho phép có thể thoảthuận trước hoặc thoả thuận sau để nâng cao hiệu quả, năng lực của doanh nghiệp
- Tiếp tục nghiên cứu đưa ra cơ chế quản lý tài chính và đầu tư vốn của Nhà nướcvào doanh nghiệp khác Trước năm 2007, Nhà nước quy định đối với doanh nghiệp nhànước không có giới hạn về huy động vốn Sau năm 2007, chính phủ đã sửa nghị địnhđưa ra quy định khống chế huy động vốn đối với doanh nghiệp nhà nước Trước đây quyđịnh không có khống chế tỉ lệ đầu tư ra ngoài ngành Hiện nay cần phải nghiên cứu quyđịnh khống chế tỉ lệ đầu tư ra ngoài ngành
- Đánh giá doanh nghiệp nhà nước phải đưa ra bộ tiêu chí đánh giá cụ thể
- Nghiên cứu tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước
Chuyên đề 4
PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
I SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN KHOAHỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1 Khoa học và công nghệ là vấn đề đặc biệt quan trọng, là quốc sách hàng
đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội Với sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao củaĐảng, Nhà nước, sự quan tâm của cả xã hội, khoa học và công nghệ nước ta đãđạt được những thành tựu quan trọng trong công tác nghiên cứu, ứng dụng khoahọc công nghệ; tiềm lực khoa học và công nghệ; thị trường và các dịch vụ khoahọc công nghệ… Bên cạnh đó, lĩnh vực này còn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót
Trang 38và yếu kém Hoạt động khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành động lựcthen chốt cho phát triển kinh tế - xã hội Việc đào tạo, trọng dụng, đãi ngộ cán bộkhoa học và công nghệ còn nhiều thiếu sót, bất cập Đầu tư xã hội cho khoa học
và công nghệ còn thấp, hiệu quả chưa cao Cơ chế quản lý hoạt động khoa học vàcông nghệ chưa đáp ứng yêu cầu; thị trường khoa học và công nghệ phát triểnchậm, chưa gắn kết chặt chẽ kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo với nhu cầusản xuất, kinh doanh và quản lý; hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ thiếuđịnh hướng chiến lược, kết quả còn hạn chế
Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém, thiếu sót là nhiều cấp ủy đảngnhận thức chưa sâu sắc, đầy đủ về vai trò của ứng dụng và phát triển khoa học vàcông nghệ, chưa chủ động và kiên quyết trong tổ chức thực hiện các chủ trương,chính sách của Đảng, Nhà nước về ứng dụng và phát triển khoa học và côngnghệ; chiến lược, quy hoạch phát triển và mục tiêu cụ thể từng giai đoạn của khoahọc và công nghệ chưa phù hợp; chưa hình thành nhu cầu tự thân đủ mạnh củacác doanh nghiệp trong việc phát huy vai trò của khoa học và công nghệ; chưa cóchính sách đồng bộ và hiệu quả để phát triển nhanh các doanh nghiệp khoa học vàcông nghệ…
2 Cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ phải thực sự là
quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển đất nước Cần tiếptục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoahọc và công nghệ, coi đây là khâu đột phá Xác định nhân lực khoa học côngnghệ là nhân tố quyết định đối với phát triển khoa học và công nghệ Ưu tiênnguồn lực quốc gia, tạo động lực để phát triển khoa học và công nghệ Chủ độnghợp tác và hội nhập quốc tế một cách sâu rộng, hiệu quả Khoa học và công nghệphải thực sự trở thành động lực then chốt phát triển lực lượng sản xuất hiện đại,tạo chuyển biến về chất để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnhtranh của nền kinh tế, bảo vệ môi trường; bảo đảm quốc phòng, an ninh; góp phầnđẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức, đưanước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và
là nước công nghiệp hiện đại vào giữa thế kỷ 21 Để đạt mục tiêu trên, cần tiếptục đổi mới tư duy, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nướcđối với sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ,đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học và công nghệ; triểnkhai các định hướng nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu; phát huy và tăngcường tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia, trong đó có tính đến thành lậpQuỹ phát triển khoa học và công nghệ; phát triển thị trường khoa học và côngnghệ; hợp tác và hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ
3 Từ đó, Ban Chấp hành Trung ương quyết định ban hành Nghị quyết về
phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 39trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.Trên cơ sở Nghị quyết, các cấp uỷ đảng lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục, tuyêntruyền, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động; Đảng đoàn Quốc hội chỉđạo việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc thựchiện Nghị quyết và giám sát việc thực hiện trong phạm vi cả nước Ban cán sựđảng Chính phủ chỉ đạo sửa đổi, bổ sung các văn bản dưới luật về khoa học
và công nghệ; chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương trên cơ sở Nghị quyết xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể để thực hiện Nghị quyết Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình
thực hiện và kịp thời điều chỉnh các chương trình, kế hoạch, giải pháp cụ thểphù hợp với yêu cầu thực tế, bảo đảm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết BanTuyên giáo Trung ương chủ trì phối hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng,đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương thường xuyên theo dõi, kiểm tra,đôn đốc, sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quảthực hiện Nghị quyết
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT
1 Đánh giá tình hình phát triển khoa học, công nghệ thời gian qua
1.1 Thành tựu
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, mặc dù điều kiện đất nướccòn nhiều khó khăn, nhưng nhờ có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nỗlực, tâm huyết của đội ngũ các nhà khoa học, sự cố gắng của các doanhnghiệp và nhân dân, khoa học và công nghệ nước ta đã đạt nhiều thành tựuquan trọng, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:
- Khoa học xã hội và nhân văn đã cung cấp luận cứ cho việc hoạch địnhđường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; gópphần xây dựng hệ thống quan điểm phát triển đất nước; khẳng định lịch sửhình thành và phát triển dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, bảotồn các giá trị và bản sắc văn hoá Việt Nam
- Khoa học tự nhiên đã có bước phát triển trong nghiên cứu cơ bản, tạo
cơ sở cho việc hình thành một số lĩnh vực khoa học và công nghệ đa ngànhmới, góp phần nâng cao trình độ và năng lực của khoa học cơ bản
- Khoa học kỹ thuật và công nghệ đã đóng góp tích cực vào việc nângcao năng suất, chất lượng hàng hoá và dịch vụ; cải thiện năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp và nền kinh tế; một số lĩnh vực đã tiếp cận trình độ tiên tiếnkhu vực và thế giới
- Tiềm lực khoa học và công nghệ được nâng lên