1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

công nghệ chế tạo và tính chất quang của chấm lượng tử cds

36 698 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

.Vật liệu nano một chiều là vật liệu trong đó hai chiều có kích thước nano, điện tử được tự do trên một chiều hai chiều cầm tù, ví dụ: dây nano.... Để hạn chế ảnh hưởng đó , người ta đã

Trang 3

• Phần 2: Một số hiệu ứng đặc biệt của vật liệu nano

Trang 4

Phần 1: Lời Mở Đầu

• Trải qua quá trình phát triển lâu dài, con người

dần đạt được những thành tựu khoa học vượt bậc Các thiết bị và phạm vi nghiên cứu dần đi đến các vật liệu

có kích thước rất nhỏ, cỡ nanomet

Công nghệ Nano là gì?

Trang 5

chiều đều có kích thước nano, không còn chiều tự do nào cho điện tử), ví dụ, đám nano, hạt nano

.Vật liệu nano một chiều là vật liệu trong đó hai chiều có kích thước nano, điện tử được tự do trên một chiều (hai chiều cầm tù), ví dụ: dây nano

.Vật liệu nano hai chiều là vật liệu trong đó một chiều có kích thước nano, hai chiều tự do, ví dụ, màng mỏng,

Trang 13

Sự tiếp xúc nhiều giữa bề mặt các hạt nano với môi trường xung quanh có thể ảnh hưởng đáng kể tới tính chất của hạt Sự không hoàn hảo của bề mặt các hạt có thể tác động như các bẫy điện tử hoặc lỗ trống dưới kích thích quang

và làm biến đổi các tính chất quang của các hạt

Để hạn chế ảnh hưởng đó , người ta đã sử dụng loại vật liệu có cấu trúc tinh thể tương tự nhưng

có năng lượng vùng cấm lớn hơn, bền với môi trường và ít độc hại với môi trường hơn để có tác dụng như một lớp vỏ bọc bảo vệ vật liệu cần quan tâm

Trang 14

• Hiệu ứng kích thước :

Đối với một vật liệu, mỗi một tính chất của vật liệu này đều

có một độ dài đặc trưng Độ dài đặc trưng của rất nhiều các tính chất của vật liệu đều rơi vào kích thước nm Ở vật liệu khối, kích thước vật liệu lớn hơn nhiều lần độ dài đặc trưng này dẫn đến các tính chất vật lí đã biết Nhưng khi kích thước của vật liệu có thể so sánh được với độ dài đặc trưng đó thì tính chất có liên quan đến độ dài đặc trưng bị thay đổi đột

ngột,

Ví dụ, định luật Ohm áp dụng cho các vật dẫn có kích thước lớn Khi kích thước vật liệu nhỏ hơn quãng đường tự do trung bình của điện tử (khoảng vài chục nm) thì định luật này không còn đúng nữa Tương tự như vậy các tính chất điện, từ, cơ,

quang, hóa, xúc tác của vật liệu nano đều khác hẳn so với vật liệu khối

Trang 15

vùng cấm Eg = 2,482 eV Hiệu suất phát quang cao, phổ hấp thụ trong vùng nhìn thấy.

• Về mặt ứng dụng, hiệu suất lượng tử cao cùng với khả năng có thể điều chỉnh các đặc trưng quang học theo kích thước cho phép sử dụng hiệu quả loại vật liệu này như là phần tử đánh dấu sinh học, vật liệu phát quang trong chiếu sáng rắn

Trang 16

Có hai phương thức để tổng hợp vật liệu nano: phương thức “xuất phát từ bé” (bottom–up) và phương thức “xuất

phát từ to” (top–down)

Phương thức “xuất phát từ to” : nghiền tinh thể khối thành các tinh thể có cấu trúc nano, người ta chia nhỏ, “đẽo gọt” một vật thể lớn để tạo ra các vật liệu có cấu trúc nano có tính chất mong muốn

Phương pháp “xuất phát từ bé” thường là các phương

pháp hóa học, người ta lắp ghép những hạt có kích thước cỡ nguyên tử, phân tử hoặc cỡ nano mét để tạo ra các vật liệu có cấu trúc nano và tính chất mong muốn

Trang 17

Nghiền cơ năng lượng cao có tính ưu việt là dễ thực hiện, và cóthể chế tạo một lượng lớn vật liệu mà không cần nung ủ Tuy nhiên cấu trúc tinh thể của hạt vật liệu nano bị biến dạng mạng, do đó cần ủ

nhiệt sau chế tạo để loại bỏ biến dạng và khuyết tật mạng

_ Các phương pháp “xuất phát từ bé” : phương pháp lắng đọng trong chân không bằng laser xung , lắng đọng hoá học , phương pháp thủy nhiệt , phương pháp phun nóng sử dụng dung môi hữu cơ có nhiệt độ sôi cao

Ưu điểm là dễ tạo ra các màng mỏng cấu trúc nano có độ sạch và

Trang 18

Đầu tiên, CdS đa tinh thể được chế tạo bằng cách

cho Cd vào thuyền graphit nung tại 550 độ C, cho S

vào thuyền thạch anh nung tại 250 độ C Hai thuyền

này được đặt vào trong một lò nung và điều chỉnh sao cho lượng Cd và S cân bằng với nhau Một lần làm mẫu

sử dụng 140 g S và 160 g Cd, sẽ thu được khoảng 200 g

đa tinh thể CdS Đa tinh thể CdS sau khi chế tạo này

được sử dụng để tiến hành nuôi đơn tinh thể Cụ thể

như sau: cho 30 g đa tinh thể CdS vào thuyền thạch anh

ở nhiệt độ 1050 độ C, sẽ quan sát thấy đơn tinh thể CdS mọc lên Đơn tinh thể thu được có dạng bản mỏng, có màu vàng

nhạt.

Trang 20

Nguyên lý chung: Tạo ra các bột vật liệu có kích thước vài chục nano mét bằng cách nghiền vật liệu dựa trên sự va đập với các bi thép cứng được quay trong buồng kín với tốc

Trang 22

Máy nghiền lắc SPEX (Hình 2.3a), nghiền khoảng 2 - 20 g bột một lần, được sử dụng rộng rãi trong phòng thí nghiệm Biên độ dao động của kẹp gá khoảng 5 cm và tốc độ 1200 vòng/phút, nên vận

tốc của bi khá cao (cỡ 5 m/s) và lực va đập giữa các bi là rất lớn

Trang 23

thông số, trong đó có các thông số nghiền:

6 Thời gian nghiền

7 Kích thước cối nghiền, loại và kích thước bi

8 Tỉ lệ trọng lượng bi: bột

Trang 24

Một lượng CdS tinh thể được nghiền cơ với các thời gian

khác nhau: 1; 2,5 và 6 giờ Kết quả thu được là vật liệu chấm lượng tử CdS có kích thước khác nhau

Khi nghiền trong 1 giờ, kích thước hạt lúc này còn khá lớn, khoảng 150 nm

Nghiền 2,5 giờ, phân bố kích thước khá rộng trong khoảng (30–50) nm

Tăng thời gian nghiền lên 6 giờ kích thước hạt giảm xuống cỡ

10 nm Có thể thấy với thời gian nghiền cơ năng lượng cao 6 giờ các hạt có kích thước khá đồng đều

Trang 26

Thực hiện trên mẫu nghiền trong 6 giờ, ủ trong điều kiện môi trường không khí trong khoảng nhiệt độ từ 100

độ đến 700 độ C, với thời gian ủ lần lượt 10, 20, 30, 45

và 120 phút

Tiêu chí là thu được vật liệu chấm lượng tử CdS

phát quang mạnh nên cường độ của phổ huỳnh quang được sử dụng để đánh giá thời gian ủ và nhiệt độ ủ (các mẫu được đo trong cùng một điều kiện, với cùng lượng mẫu đo).

Trang 29

sắp xếp của các lớp Cd và S xếp chồng lên nhau

Trang 30

Kích thước hạt tinh thể có thể đánh giá thông qua độ

rộng vạch nhiễu xạ tia X nhờ áp dụng công thức Scherrer như sau:

Trong đó λ là độ dài bước sóng nhiễu xạ tia X (trong trường hợp λ = 1,54 Å), βkích thước là độ bán rộng vạch

nhiễu xạ, D là kích thước hạt tinh thể cần xác định

_ Kết quả tính cho thấy, với thời gian nghiền 2,5 giờ, hạt có kích thước trung bình khoảng

30 nm (βkích thước = 0,0049)

Nghiền trong 6 giờ, kết quả thấy kích thước trung bình của hạt giảm mạnh xuống khoảng

10 nm (βkích thước = 0,0143)

Trang 31

tinh thể khối và mẫu bột vật liệu kích thước nano mét

Hình 2.11 Ảnh nhiễu xạ điện tử của mẫu CdS chưa nghiền (a) và mẫu CdS

sau khi nghiền trong 1 h (b và c)

Trang 32

Hệ đo phổ huỳnh quang

Trang 33

Sau khi nhận được năng lượng kích thích, vật liệu phát quang, phổ phát quang được phân tích qua máy đơn sắc Tới ống nhân quang điện, tín hiệu quang được chuyển thành tín hiệu điện, và được phân tích trên máy tính

Trang 34

Phổ hấp thụ của CdS nghiền 2,5 giờ (a) và 6 giờ (b)

Trang 35

đều bao gồm hai dải phát xạ dải có năng lượng cao hơn (đỉnh

~465 nm), dải rộng hơn tại năng lượng thấp hơn (đỉnh ~530 nm)

Trang 36

Xin chân thành cảm ơn thầy và các bạn đã quan

Ngày đăng: 01/02/2015, 16:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.11. Ảnh nhiễu xạ điện tử của mẫu CdS chưa nghiền (a) và mẫu CdS - công nghệ chế tạo và tính chất quang của chấm lượng tử cds
Hình 2.11. Ảnh nhiễu xạ điện tử của mẫu CdS chưa nghiền (a) và mẫu CdS (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w