2.1.2 Đặc điểm Về vốn góp: Các chủ đầu tư nước ngoài đóng một lượng vốn tối thiểu theoquy định của nước nhận đầu tư để họ có quỳên trực tiếp tham gia điều phối,quản lý quá trình sản xuất
Trang 1CHƯƠNG I
LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
1 Khái niệm chung đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài là sự dịch chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản
lý từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vitoàn cầu
Một số đặc điểm của đầu tư nước ngoài:
• Mang đặc điểm của đầu tư nói chung
o Tính sinh lãi
o Tính rủi ro
• Chủ sở hữu đầu tư là người nước ngoài
• Các yếu tố đầu tư di chuyển ra khỏi biên giới
2 Các hình thức đầu tư nước ngoài.
2.1 Đầu tư trực tiếp (FDI-Foreign Direct Investmen)
2.1.1 Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viếttắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vàonước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công tynước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này
Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trang 2Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ"
và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
2.1.2 Đặc điểm
Về vốn góp: Các chủ đầu tư nước ngoài đóng một lượng vốn tối thiểu theoquy định của nước nhận đầu tư để họ có quỳên trực tiếp tham gia điều phối,quản lý quá trình sản xuất kinh doanh ở Việt Nam luật đầu tư nước ngoài đưa
ra điều kiện: phần vốn góp của bên nước ngoài không dưới 30% vốn pháp định,trừ những trường hợp do chính phủ quy định
Về quyền điều hành quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụthuộc vào mức vốn góp Nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn thì quyềnđiều hành hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư nước ngoài, có thể trực tiếp hoặc thuêngười quản lý
Về phân chia lợi nhuận: dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh, lãi lỗ đềuđược phân chia theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định
2.1.3 Vai trò
FDI là một trong những nguồn vốn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt vốnđầu tư góp phần tạo ra động lực cho sự tăng trưởng và phát triển Đối với cácnước đang phát trển, việc tiếp nhận số lượng lớn vốn đầu từ nước ngoài sẽ vừatác động đến tổng cầu, vừa tác động đến tổng cung của nền kinh tế
Đầu tư sẽ tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Một minh chứng thực tế
là các nước NICs trong gần 30 năm qua nhờ nhận được trên 50 tỷ USD đầu tưnước ngoài cho phát triển kinh tế cùng với một chính sách kinh tế năng động và
có hiệu quả đã trở thành những con rồng Châu Á Chỉ có “mở cửa” ra bênngoài mới tận dụng được tối đa lợi thế so sánh của nước mình để từ đó phát huy
và tăng cường nội lực của mình
Đầu tư sẽ làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế Kinh nghiệm của các nước trênthế giới cho thấy, con đường tất yếu có thể tăng trưởng nhanh với tốc độ mongmuốn (9-10%) là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực
Trang 3công nghiệp và dịch vụ Đầu tư sẽ góp phần giải quyết những mất cân đối vềphát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏitình trạng nghèo đói Phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa
lý, kinh tế, chính trị, … Cơ cấu ngành, cơ cấu công nghệ, cơ cấu sản phẩm vàlao động, cơ cấu lãnh thổ sẽ được thay đổi theo chiều hướng ngày càng đáp ứngtốt hớn các nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước
Đầu tư sẽ làm tăng cường khả năng khoa học công nghệ của quốc gia.Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, các công ty (chủ yếu là các công ty đaquốc gia) đã chuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc từ nước khác sangnước nhận đầu tư Mặc dù còn nhiều hạn chế do những yếu tố khách quan vàchủ quan chi phối, song điều không thể phủ nhận được là chính nhờ sự chuyểngiao này mà các nước chủ nhà nhận được những kỹ thuật tiên tiến (trong đó cónhững công nghệ không thể mua được bằng quan hệ thương mại đơn thuần)cùng với nó là kinh nghiệm quản lý, đội ngũ lao động được đào tạo, rèn luyện
về nhiều mặt (trình độ kỹ thuật, phương pháp làm việc, kỷ luật lao động … )
2.2 Đầu tư gián tiếp (FII/FPI)
2.2.1 Khái niệm
Đầu tư gián tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biêngiới Nó chỉ các hoạt động mua tài sản tài chính nước ngoài nhằm kiếm lời.Hình thức đầu tư này không kèm theo việc tham gia vào các hoạt động quản lý
và nghiệp vụ của doanh nghiệp giống như trong hình thức Đầu tư trực tiếpnước ngoài
Trang 4Đây là kênh đầu tư chỉ tiếp nhận vốn bằng tiền nên nước nhận đầu tưkhông thể tiếp nhận máy móc thiết bị, khoa học kỹ thuật của nước tiến hànhđầu tư.
Thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính nội địa: Tài chính của mỗi
quốc gia là có hạn cho dù có dồi dào đến đâu Sự tham gia của đầu tư gián tiếpnước ngoài mang đến những cơ hội mới cho cả nền kinh tế nói chung và chocác doanh nghiệp nói riêng Vốn đầu tư từ nước ngoài giúp giải quyết nhau cầu
“khát vốn” của cả nền kinh tế, gia tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp,thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển
Thúc đẩy cải cách thể chế và nâng cao kỷ luật đối với các chính sách của chính phủ Để có thể thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài Nhà nước phải tiến
hành cải tổ nền kinh tế, đưa ra những chính sách kinh tế thu hút các nhà đầu tư.Điều này trực tiếp tác động đến nền kinh tế và các doanh nghiệp đang hoạtđộng trong môi trường đó, thúc đấy sự phát triển
2.3 Hỗ trợ phát triển chính thức - ODA
2.3.1 Khái niệm
Trang 5Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết tắt của cụm từ OfficialDevelopment Assistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài Gọi là Hỗ trợbởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặclãi suất thấp với thời gian vay dài Đôi khi còn gọi là viện trợ Gọi là Phát triển
vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nângcao phúc lợi ở nước được đầu tư Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhànước vay
2.3.2 Đặc điểm
ODA là một giao dịch quốc tế, thể hiện ở chỗ hai bên tham gia giao dịchnày không có cùng quốc tịch Bên cung cấp thường là các nước phát triển haycác tổ chức phi chính phủ Bên tiếp nhận thường là các nước đang phát triểnhay các nước gặp khó khăn về nguồn lực trong việc giải quyết các vấn đề xãhội, kinh tế hay môi trường
ODA thường được thực hiện qua hai kênh giao dịch là kênh songphương và kênh đa phương Kênh song phương, quốc gia tài trợ cung cấp ODAtrực tiếp cho chính phủ quốc gia được tài trợ Kênh đa phương , các tổ chứcquốc tế hoạt động nhờ các khoản đóng góp của nhiều nước thành viên cung cấpODA cho quốc gia được viện trợ Đối với các nước thành viên thì đây là cáchcung cấp ODA gián tiếp
ODA là một giao dịch chính thức Tính chính thức của nó được thể hiện
ở chỗ giá trị của nguồn ODA là bao nhiêu, mục đích sử dụng là gì phải được sựchấp thuận và phê chuẩn của chính phủ quốc gia tiếp nhận Sự đồng ý tiếp nhận
đó được thể hiện bằng văn bản, hiệp định, điều ước quốc tế ký kết với nhà tàitrợ
ODA được cung cấp với mục đích rõ ràng Mục đích của việc cung cấpODA là nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của các nước nghèo Đôilúc ODA cũng được sử dụng để hỗ trợ các nước gặp hoàn cảnh đặc biệt khókhăn như khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh Do đó, có lúc các nước
Trang 6phát triển cũng được nhận ODA Nhưng không phải lúc nào mục đích này cũngđược đặt lên hàng đầu, nhiều khi các nhà tài trợ thường áp đặt điều kiện củamình nhằm thực hiện những toan tính khác.
ODA có thể được các nhà tài trợ cung cấp dưới dạng tài chính, cũng cókhi là hiện vật Hiện nay, ODA có ba hình thức cơ bản là viện trợ không hoànlại (Ggant Aid), vốn vay ưu đãi ( Loans Aid ) và hình thức hỗn hợp
2.3.3 Vai trò
Các nước đang phát triển đa phần là trong tình trạng thiếu vốn trầm trọngnên thông qua ODA song phương có thêm vốn để phục vụ cho quá trình pháttriển kinh tế - xã hội ODA mang lại nguồn lực cho đất nước
Việc sử dụng viện trợ ở các nước đang phát triển nhằm loại bỏ sự thiếu vốn
và ngoại tệ, tăng đầu tư vốn đến điểm mà ở đó sự tăng trưởng kinh tế tạo điềukiện cho các nước này đạt được đến quá trình tự duy trì và phát triển
Tạo điều kiện để các nước tiếp nhận có thể vay thêm vốn của các tổ chức quốc
tế, thực hiện việc thanh toán nợ tới hạn qua sự giúp đỡ của ODA
ODA còn có thể giúp các nước đang lâm vào tình trạng phá giá đồng nội tệ cóthể phục hồi đồng tiền của nước mình thông qua những khoản hỗ trợ lớn của các tổchức tài chính quốc tế mang lại
ODA giúp các nước nhận hỗ trợ tạo ra những tiền đề đầu tiên, đặt nền móngcho sự phát triển về lâu dài thông qua lĩnh vực đầu tư chính của nó là nâng cấp cơ
sở hạ tầng về kinh tế
ODA tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội của các địa phương vàvùng lãnh thổ, đặc biệt là ở các thành phố lớn: nguồn vốn này trực tiếp giúp cảithiện điều kiện về vệ sinh y tế, cung cấp nước sạch, bảo vệ môi trường Đồng thờinguồn ODA cũng góp phần tích cực trong việc phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn,phát triển nông nghiệp, xoá đói giảm nghèo
Trang 7ODA giúp các doanh nghiệp nhỏ trong nước có thêm vốn, tạo điều kiện nângcao hiệu quả đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dần dần mở rộng qui mô doanhnghiệp.
Ngoài ra ODA còn giúp các nước nhận viện trợ có cơ hội để nhập khẩu máymóc thiết bị cần thiết cho quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, từ cácnước phát triển Thông qua nước cung cấp ODA nước nhận viện trợ có thêm nhiều
cơ hội mới để tham gia vào các tổ chức tài chính thế giới, đạt được sự giúp đỡ lớnhơn về vốn từ các tổ chức này
Trang 8CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1 Tính tất yếu khách quan của đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hóa.
1.1 Bối cảnh thế giới tác động đến đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế thế gới đang tiến dần đến một chỉnh thểthống nhất nó tao điều kiện cho các nước tham gia vào sân chơi chung rộng lớn trêntrường quốc tế, giúp cho các nước có điều kiện tốt hơn để tạo ra mội trường kinh tế,chính trị - xã hội thuận lợi cho sự phát triển của mình Quá trình toàn cầu hóa đangdiễn ra mạnh mẽ kéo theo sự gia tăng của các hoạt động đầu tư nước ngoài Các quốcgia ngày càng ưu tiên cho sự phát triển kinh tế với sự gia tăng các hình thức hợp táckinh tế quốc tế như trao đổi thương mại, chuyển giao khoa học công nghệ và đặc biệt
là hợp tác đầu tư Các nước công nghiệp phát triển đang ra sức tìm kiếm thị trườngđầu tư thuận lợi đem lại lợi nhuận cao Trong khi đó, các nước đang phát triển (trong
đó có Việt Nam) là một thị trường đáng chú ý đối với các nhà đầu tư vi đầu tư ở cácnước đang phát triển, các nhà đầu tư có thể giảm được chi phí do sử dụng lao động vànguồn tài nguyên rẻ, ngoài ra các nhà đầu tư có thể giải quyết được tình trạng thừavốn và kéo dài tuổi thọ của các sản phẩm của doanh nghiệp ở thi trường này Trongkhu vực Đông Nam Á, Việt Nam có vị trí địa lý chính trị quan trọng với nhiều ưu thếhấp dẫn các nhà đầu tư Như vậy, sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động đầu tư quốc tế,nhu cầu đầu tư của các nước công nghiệp phát triển và sự hấp dẫn của thị trường ViệtNan đã thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
1.2 Nhu cầu thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Từ năm 1986,Việt nam đã nhận thấy một trong các giải pháp để thoát khỏikhủng hoảng, thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước,từng bước tham gia quá trình toàn cầu hóa đó là phát triển kinh tế đối ngoại trong đó,thu hút đầu tư là vấn đề quan trọng vì nó đáp ứng được những đòi hỏi của tình hìnhthực tiễn ở Việt Nam, đó là:
- Tình hình cụ thể của Việt Nam đòi hỏi phải nhanh chóng nâng cao thunhập quốc dân Đòi hỏi đó buộc chúng ta phải có một nguồn vốn đầu tư rất lớn, nguồnvốn ngày không thể hoàn toàn trông chờ vào nguồn tích lũy nội bộ trong một thời gianngắn của một đất nước còn nghèo Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, cũng nhưcác nước đang phát triển khác, Việt Nam gặp phải vấn đề nan giải là thiếu vốn do tíchlũy nội bộ thấp hoặc không có tích lũy Điều đó đã hạn chế đến quy mô đầu tư và đổimới kỹ thuật gây ra tình trạng mất cân đối trong xuất nhập khẩu, cán vân thanh toánthường xuyên bị thiếu hụt, đất nước thiếu ngoại tệ Việt thu hút nguồn vốn nước ngoàigiúp Việt Nam giải quyết các khó khăn về khả năng tích lũy vốn thấp và bù đắp cáckhoản thiếu hụt ngoại tệ trong cán cân thanh toán
- Công nghệ của Việt Nam còn lạc hậu, năng suất thấp do trình độ phát
triển kinh tế xã hội, giáo dục, khoa học ở trong nước còn hạn chế Việt Nam có rất ít
khả năng phát triển công nghệ mới, hiện đại và tiên tiến Mặt khác khả năng tự nhập
Trang 9khẩ công nghệ của Việt Nam cũng rất hạn chế Đầu tư nước ngoài sẽ giúp Việt Namthu hút được công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nhà đầu tưnước ngoài
- Việt Nam là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, nền công nghiệpcòn nhỏ bé, lực lượng lao động du thừa còn rất nhiều Đầu tư quốc tế sẽ giải quyếtmột phần tình trạng thất nghiệp ở VN Thông qua việc tạo ra các xi nghiệp mới hoặclàm tăng quy mô của các đơn vị kinh tế đầu tư quốc tế tạo ra công ăn việc làm chomột số lượng khá lớn người lao động, bên cạnh đó, đầu tư quốc tế góp phần cải tiến
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, và đưa nền kinh tế tham gia phân cônglao động Quốc tế một cách mạnh mẽ
Như vây, yêu cầu phát triển nội tại và thực tiễn khách quan trong công cuộccông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã và đang đòi hỏi Việt Nam cần tới nguồnđầu tư nước ngoài để hội nhập cùng dòng chảy kinh tế - xã hội trên thế giới
2 Thực trạng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua:
2.1 Đầu tư trực tiếp (FDI):
2.1.1 Tình hình FDI qua các giai đoạn
Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trước những năm 90 còn e dè, mang tínhthăm dò khi Việt Nam, sau khi Diễn đàn Đầu tư Việt Nam được tổ chức thành côngvào năm 1991 với sự có mặt của các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng với thôngđiệp Việt Nam đang đổi mới, mở cửa, khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển và sẵnsàng lắng nghe ý kiến của các nhà đầu tư nước ngoài để thu hút vốn đầu tư cho pháttriển kinh tế đã được đích thân Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh gửi tới giới đầu tư thếgiới thì các tên tuổi lớn của thế giới đã xuất hiện: BP, Shell, Total trong ngành dầu khíhay Daewoo, Toyota, Ford… trong lĩnh vực ô tô xe máy, Sony trong ngành côngnghiệp điện tử, Phú Mỹ Hưng trong lĩnh vực bất động sản Không chỉ vốn đăng ký,
mà vốn giải ngân đạt đỉnh vào năm 1997 với 3,115 tỷ USD đã giữ kỷ lục suốt 10 nămsau đó Để nắm bắt rõ hơn về tình hình FDI ta phân chia thành một số giai đoạn sau:
a) Giai đoạn 1997 – 2000
Năm 1997 mặc dù tổng dự án đăng ký giảm nhẹ so với 1996 nhưng vốnthực hiện đã mức kỷ lục 3,1 tỷ USD như đã nói trên, tuy nhiên kể từ năm này,đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực, vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài vào Việt Nam liên tục giảm Trong giai đoạn 1997- 2000, vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài giảm trung bình khoảng 24%/năm Việt Nam đãtrải qua một thời gian tụt dốc của nguồn FDI đăng ký, cụ thể là 16% năm 1998
và 59% năm 1999 Cuộc khủng hoảng đó đã gây lên sự lo ngại về sự bất ổn củathị trường châu Á, do đó đã làm cho thị trường châu Á trở nên kém hấp dẫnhơn Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giảm đáng kể từ mức vốn đầu tư đăng ký.Ngoài ra trong giai đoạn này còn có một xu hướng khác rất đáng lo ngại đó là
số dự án và vốn đầu tư giải thể tăng cao hơn nhiều so với giai đoạn trước
Trang 10Trong số các dự án đầu tư được cấp giấy phép, tính đến cuối tháng 8năm 2001 đã thực hiện được khoảng 21 tỷ USD, chiếm 45% tổng số vốn củacác dự án Tính riêng thời kỳ 1996- 2000 vốn đầu tư thực hiện đạt 12,8 tỷ USDtăng 80% so với thời kỳ 1991- 1995 Luồng vốn đầu tư nước ngoài thuần túychiếm khoảng 60% GDP trong thập kỷ qua Đầu tư nước ngoài đóng vai tròquan trọng trong việc đưa vốn và công nghệ vào Việt Nam Đồng thời nó cũng
có tác động tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế
b) Giai đoạn 2000-2007
Nhìn chung, trong giai đoạn này lượng FDI vào Việt Nam tăng mạnh vàđạt kỉ lục vào năm 2007 với tổng số vốn đầu tư đăng kí là 21,3 tỷ USD, vốnthực hiện đạt 8,03 tỷ USD
Năm 2006 cả nước có 797 dự án được cấp giấy phép với tổng vốn đầuđăng ký hơn 7,6 tỷ USD, tăng 60,8% vềvốn đầu tư đăng ký so với cùng kì nămtrước Quy mô vốn đầu tư trung bình cho một dự án đạt 9,4 triệu USD/dự án,cao hơn quy mô bình quân của năm 2005 (4,6 triệu USD/dự án)
Xuất hiện thấy hàng loạt các dự án có quy mô đầu tư lớn do các tậpđoàn xuyên quốc gia đầu tư công ty thép 1,126 tỷ USD,công ty TNHHIntelProducts Việt Nam: 1 tỷ USD; công ty công ty TNHH thép Tycoon Steel
VN : 556 triệu USD; … Điều này cho thấy nhiều nhà đầu tư lớn đang đặc biệtquan tâm đến Việt Nam
Cũng trong năm 2006 có 439 lượt dự án tăng vốn đầu tư mở rộng sảnxuất với tổng vốn hơn 2,1 tỷ USD tăng 18,9 % về vốn so với cùng kỳ nămtrước Tuy số lượt dự án thấp hơn so với năm 2005, nhưng số vốn tăng thêmnhiều hơn, chứng tỏ số dự án tăng vốn lớn cao hơn so với năm 2005 Năm
2006, vốn FDI thực hiện đạt 4,1 tỷ USD tăng 24,2% so với năm 2005
c) Giai đoạn 2008-2012
Trong 5 năm này , VIệt Nam đã thu hút được các dự án lớn, sử dụngcông nghệ cao và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh Cụ thể:
- Vốn thực hiện: đạt 10 tỷ USD, vượt 25% năm 2007 ( 8 tỷ USD)
- Lao động: 16 vạn người, tăng 6,7% so với 2007
- Nộp ngân sách nhà nước; 2 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2007
Trang 1130-7-2014 (VF) – Theo Cục Xúc tiến đầu tư (Bộ KH&ĐT), trong7T.2014 (tính đến 20-7), tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Namđạt 9,53 tỷ USD, giảm 19,9% so với cùng kỳ 2013 Trong đó:
• Dự án cấp mới: tổng vốn 6,85 tỷ USD của 889 dự án, giảm nhẹ 0,9% so vớicùng kỳ năm ngoái
• Dự án tăng thêm: tổng vốn 2,67 tỷ USD của 300 lượt dự án, chỉ bằng 53,7%cùng kỳ 2013
Dễ thấy, mặc dù vẫn chưa lớn hơn mức cùng kỳ 2013 nhưng việc sụtgiảm (ở cả các lượt dự án tăng vốn lẫn dự án mới) đều đã được cải thiện so vớitháng 6-2014 Trước đó, FDI giảm 35% so với cùng kỳ T6-2013
2.1.2 Tình hình FDI phân bổ theo một số chỉ tiêu
a) Theo lĩnh vực đầu tư
Trong tổng số 18 lĩnh vực có đầu tư trực tiếp nước ngoài 7T-2014, 10lĩnh vực sau có tổng vốn lớn nhất Tổng vốn đầu tư vào các khu vực này thậmchí còn lớn hơn tổng vốn của cả nước do lĩnh vực giải trí và nghệ thuật giảm86,24 triệu USD Kinh doanh BĐS đã thu hút mạnh mẽ dòng vốn từ nướcngoài khi lượng vốn được bỏ vào lĩnh vực ngày có xu hướng càng ngày càngtăng mạnh, đến 20-7, đã tăng gần 95% so cùng kỳ năm ngoái (số liệu tươngứng của tháng 5 và tháng 6-2014 là 3,09% và hơn 64%) Thứ tự top 10 cũngthay đổi mạnh mẽ và xuất hiện nhiều ngành mới thay thế cho những ngành suygiảm CN chế biến chế tạo giảm hơn 36% và đây là nguyên nhân chính khiếnFDI cả nước sụt giảm mạnh Trong 7T-2014, chỉ có kinh doanh BĐS và CNchế biến chế tạo có tổng vốn hơn 1 tỷ USD
TT Ngành
Tổng vốn cấp mới và tăng thêm (triệu USD)
Trang 129 Vận tải kho bãi (13) 27,27 94,40 246,16%
10 Nông, lâm nghiệp; thủy
b) Theo địa bàn đầu tư
Thái Nguyên và Thanh Hóa – top 2 của cùng kỳ 2013 – không xuất hiệntrong danh sách 7T-2014 mà chỉ xếp thứ 12 và 23 trên tổng số 45 tỉnh/thànhcủa cả nước FDI vào hầu hết các tỉnh trong danh sách top10 đều tăng, trừ BắcNinh và Hải Dương; trong đó mức giảm của Hải Dương tới gần 41% Dẫu vậy,tổng vốn vào 10 tỉnh/thành vẫn chiếm 75,8% tổng FDI Phần lớn lượng vốnvẫn tập trung vào khu vực đồng bằng Nam Bộ và duyên hải miền Trung BắcNinh là “ngôi sao” thu hút FDI của cả nước trong tháng 7-2014 khi vươn lênđứng đầu chỉ trong chưa đầy một tháng từ vị trí thứ 9 của T6-2014 Sự bứt phánày có được là nhờ dự án trị giá 1 tỷ USD của Công ty TNHH SamSungDisplay Bắc Ninh do nhà đầu tư Hàn Quốc bỏ vốn kinh doanh Quảng Ninhcũng là địa phương thu hút nhiều dự án có giá trị trong kỳ này
TT Địa Phương
Tổng vốn cấp mới và tăng thêm (triệu USD)
Trang 13c) Theo đối tác đầu tư
Trong 7T-2014,Nhật Bản và Singapore – những nhà đầu tư truyền thốngthường xuyên dẫn đầu về FDI vào VN – đã giảm mạnh vốn vào nước ta, lầnlượt hơn 72% và 78% Lượng vốn giảm mạnh ở cả lượt dự án tăng vốn và các
dự án mới Trong khi đó, nhờ các dự án lớn, Hàn Quốc là đối tác đầu tư lớnnhất trong 7 tháng đầu năm Nhà đầu tư khu vực Đông Nam Á khác cũng gópphần tăng lượng vốn FDI vào VN mà Indonesia và Malaysia là đối tác đángchú ý
TT Đối tác
Tổng vốn cấp mới và tăng thêm (triệu USD)
Trang 148 Trung Quốc (10) 95,07 345,84 263,77%
10 Malaysia (18) 22,87 211,98 826,87%
2.2 Đầu tư gián tiếp (FII)
Có thể chia quá trình thu hút nguồn vốn này ra các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1991-1997: Tuy chưa có TTCK, FII đã vào Việt Nam từ những năm
đầu thập niên 90 thế kỷ XX Thời gian này có 7 quỹ với số vốn khoảng 400 triệuUSD, trong đó có 4 quỹ đại chúng niêm yết ở Anh, Ireland Đây là những quỹ mạohiểm, sẵn sàng chấp nhận rủi ro
Sau khi Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ, giá chứng chỉ các quỹ nàytăng và luôn cao hơn NAV (giá trị tài sản ròng) Hai năm 1996-1997, do tác động củakhủng hoảng tài chính châu Á, giá chứng chỉ của 4 quỹ niêm yết giảm mạnh, mứcchiết khấu từ 43,6-47,7% so với NAV
Giai đoạn 1997-2002: Khủng hoảng tài chính châu Á cũng có những tác động
tiêu cực tới thu hút vốn FII vào Việt Nam Từ năm 1998-2002 không có quỹ đầu tưmới ra đời Trái lại, các quỹ đua nhau rút vốn, giảm quy mô: 5/7 quỹ rút khỏi ViệtNam; một quỹ thu hẹp 90% quy mô; chỉ còn duy nhất quỹ Vietnam EnterpriseInvestment Fund (Veil) bám trụ Sau khủng hoảng năm 1997, nguồn vốn FII vào ViệtNam có xu hướng tăng, nhưng quy mô còn nhỏ và chiếm tỷ lệ thấp so với vốn FDI.Một số quỹ mới hoạt động tại Việt Nam từ năm 2001 có quy mô vốn bình quân từ 5-
20 triệu USD cho một quỹ, nhỏ hơn giai đoạn 1991-1997, chiếm 1,2% vốn FDI Tỷ lệnày còn quá thấp so với các nước trong khu vực (tỷ lệ thu hút FII/FDI trong khoảng30-40%)
Giai đoạn 2003 đến nay: Từ năm 2003, dòng vốn FII vào Việt Nam hồi phục,
tăng dần từng năm và tăng đột biến vào năm 2006-2007 Báo cáo của Ngân hàng ANZcho biết, từ năm 2001-2006 vốn FII đạt khoảng 12 tỷ USD và năm 2007 đạt khoảng5,7 tỷ USD Năm 2008 và đầu năm 2009, trước những khó khăn của nền kinh tế, dòngvốn FII có dấu hiệu chững lại và một phần đã được rút ra Từ cuối quý II/2009, có sựđảo chiều và quay trở lại của vốn FII, nhưng không thật sự mạnh như mong đợi.Trong năm 2010, nguồn vốn FII vào Việt Nam đạt 1,7 tỷ USD; năm 2011 đạt mức 1
tỷ USD
Nhờ những bước tiến mới trong lĩnh vực tài chính của Việt Nam bao gồm: việcphát hành thêm trái phiếu chính phủ ra nước ngoài và trái phiếu tư nhân, thành lập
Trang 15Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC); quá trình cổ phần hoá đangdiễn ra tại Việt Nam bao gồm cả ngân hàng thương mại quốc doanh; tăng cường đầu
tư cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống điện và giao thông, cải cách khung pháp lý dànhcho các nhà đầu tư nước ngoài, đầu tư FII vào Việt Nam trong thời gian gần đây cũng
đã tăng mạnh
Biểu hiện rõ nhất là việc đầu tư vào thị trường chứng khoán của các tập đoàntài chính quốc tế trong thời gian qua đã không ngừng gia tăng Làn sóng nhà đầu tưnước ngoài đổ bộ vào TTCK Việt Nam cũng tăng mạnh Tổng giá trị tài sản của dòngvốn đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam tính đến thời điểm12/2011 khoảng hơn 7 tỷ USD Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) vào thịtrường chứng khoán Việt Nam năm 2012 đạt 300 triệu USD, tăng 25% so với năm
2011 Điều này khẳng định Việt Nam vẫn đang là địa chỉ thu hút dòng vốn đầu tư giántiếp nước ngoài khá mạnh
Tháng 1/2012, lượng nhà đầu tư nước ngoài được cấp mã số giao dịch tăngthêm 0,13% so với cuối năm 2011 Điều đó cho thấy, nhiều nhà đầu tư cá nhân, tổchức nước ngoài vẫn thể hiện tin tưởng vào sự ổn định của nền kinh tế của Việt Nam
Tính đến ngày 31/10/2013, Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD) đãcấp mã số giao dịch chứng khoán cho 16.605 nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có2.208 nhà đầu tư tổ chức và 14.397 nhà đầu tư cá nhân
8 ngày đầu tháng 11 đã có thêm 12 nhà đầu tư nước ngoài cá nhân và 8 tổ chứcđược cấp mã số giao dịch chứng khoán, như vậy đã có 16.625 nhà đầu tư nước ngoài
đã được cấp mã số giao dịch tính đến ngày 8/11/2013
Biểu đồ: Số NĐT nước ngoài được cấp mã giao dịch từ đầu năm 2013
Trang 16Có thể thấy, số lượng nhà đầu tư nước ngoài được cấp mã giao dịch tăng rấtmạnh trong tháng 3,4 và 5, thời điểm VN-Index tăng phi mã, trung bình mỗi tháng cógần 90 nhà đầu tư nước ngoài được cấp mã giao dịch Tính chung từ đầu năm 2013 đã
có 678 nhà đầu tư nước ngoài được cấp mã giao dịch
Trên thị trường trái phiếu, thành phần nhà đầu tư mua trái phiếu Chính phủcũng được mở rộng hơn với sự tham gia của quỹ nước ngoài, công ty bảo hiểm Đặcbiệt, thị trường trái phiếu cúng đã thu hút được sự tham gia trở lại của các ngân hàngnước ngoài có uy tín như: HSBC, Deutsche Bank, Standard Charted Bank…Trên thị trường sơ cấp, tính đến hết tháng 8/2011, nhà đầu tư nước ngoài đã mua rònggần 8 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ Trên thị trường thứ cấp, tính đến hết8/2011, giá trị giao dịch bán của nhà đầu tư nước ngoài khoảng 14 nghìn tỷ đồng; giaodịch mua khoảng 20 nghìn tỷ đồng
Từ năm 2003 đến nay, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã được cảithiện đáng kể, số lượng và quy mô hoạt động của các quỹ đầu tư nước ngoài hoạtđộng tại Việt Nam cũng tăng lên nhanh chóng Theo thống kê của Công ty quản lýquỹ chứng khoán VN (VFM), hiện có gần 30 quỹ đầu tư nước ngoài đang hoạt độngtại Việt Nam với tổng vốn rót vào nội địa khoảng 2 tỷ USD Đến cuối năm 2006,khoảng trên 2 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp được công bố thông qua các quỹ đầu tưchính thức
Thống kê của ĐTCK trên cơ sở dữ liệu Báo cáo các quỹ đầu tư đại chúng cácthị trường mới nổi của Edmond de Rothschild cho thấy, tính đến ngày 14/12/2012,tổng quy mô vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tồn tại dưới hình thức các quỹ đầu
tư đại chúng đạt 3,827 tỷ USD, tăng 562 triệu USD so với thời điểm đầu năm