1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hiện trạng và các giải pháp phát triển làng nghề việt nam

41 428 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 609,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Làng nghề được hiểu là một địa bàn hay khu vực dân cư sinh sống như: Làng, thơn, bản…về cơ bản cĩ hoạt động sản xuất cùng ngành nghề cơng nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp ở từng hộ gia đình

Trang 1

Hiện trạng và các giải pháp phát triển làng nghề Việt Nam

Hiện trạng và giải pháp hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế Hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp

Phát triển tiểu thủ công nghiệp tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011-2015

Phát triển nghề và làng nghề tại Quảng Ngãi

Phát triển các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, làng nghề nông thôn tỉnh Bình Thuận đến năm 2015 - mục tiêu và các giải pháp

Phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011-2015

Ninh Bình: Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống

Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề ở Bắc Ninh theo hướng bền vững

TRƯỞNG BAN BIÊN TẬP

Hoàng Việt Trung

THƯ KÝ

Nguyễn Kiều Ly

TRỊ SỰ Ngô Mai Hương

Trang 2

I Đặc điểm chung của làng nghề Việt Nam

1 Khái niệm về làng nghề, phố nghề

- Khái niệm làng nghề:

Hiện nay, cĩ nhiều quan niệm khác nhau về

làng nghề Làng nghề được hiểu là một địa bàn

hay khu vực dân cư sinh sống như: Làng, thơn,

bản…về cơ bản cĩ hoạt động sản xuất cùng ngành

nghề cơng nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp ở từng hộ

gia đình và các cơ sở sản xuất trong làng; cĩ sử

dụng lao động trong và ngồi địa phương, phát

triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu

nhập chủ yếu của người dân trong làng; cĩ ít nhất

một sản phẩm đặc trưng của làng đĩ

- Khái niệm phố nghề:

Cho đến nay, chưa cĩ một khái niệm chính

thức nào được đưa ra về phố nghề Theo cách

nĩi của người xưa, phố nghề là làng nghề ở

thành thị Vì vậy, khái niệm phố nghề cũng

tương tự như làng nghề

Phố nghề là một địa bàn hay một khu vực dân

cư sinh sống như: Một đường phố, tổ dân phố

hoặc một khu phố (gọi tắt là phố nghề) về cơ bản

cĩ hoạt động sản xuất cùng ngành nghề cơng

nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp ở từng hộ gia đình

và các cơ sở trong phố nghề; cĩ sử dụng lao

động trong và ngồi địa phương, phát triển tới

mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập

chủ yếu của người dân trong phố nghề; cĩ ít nhất

một sản phẩm đặc trưng của phố nghề đĩ

2 Làng nghề trong lịch sử phát triển của

Việt Nam

Hiện nay các làng nghề phân bổ rộng khắp

cả nước nhưng khơng đồng đều Số lượng làng

nghề miền Bắc phát triển hơn, chiếm gần 70%

số lượng các làng nghề trong cả nước, trong đĩtập trung nhiều nhất và mạnh nhất là ở vùngđồng bằng sơng Hồng Nguyên, vật liệu chocác làng nghề chủ yếu được khai thác ở các địaphương trong nước và hầu hết các nguồnnguyên liệu vẫn lấy trực tiếp từ tự nhiên Phầnlớn cơng nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuấttrong các làng nghề nơng thơn cịn lạc hậu, tính

cổ truyền vẫn chưa được chọn lọc và đầu tưkhoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sảnphẩm cịn thấp, do đĩ chưa đáp ứng được nhucầu của thị trường và giảm sức cạnh tranh Dohạn chế về cơng nghệ và kỹ thuật sản xuất nêncác các làng nghề vẫn sử dụng chủ yếu là laođộng thủ cơng ở hầu hết các cơng đoạn, kể cảcác cơng đoạn nặng nhọc và độc hại nhất.Nhiều sản phẩm đặc thù địi hỏi trình độ kỹthuật và tính mỹ thuật cao, tay nghề khéo léo…chủ yếu là các làng nghề truyền thống, sản xuấtcác sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ Riêng về thịtrường tiêu thụ sản phẩm thì trước đây về cơbản thị trường này nhỏ hẹp tiêu thụ tại chỗ do

đĩ giá thành cũng thấp Nhưng hiện nay, thịtrường xuất khẩu các mặt hàng truyền thốngcủa Việt Nam đã mở rộng sang khoảng hơn

100 quốc gia trên thế giới, trong đĩ cĩ các thịtrường truyền thống như Trung Quốc, HồngCơng, Singapore, thậm chí cả các thị trườngkhĩ tính như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ,EU…Do đĩ giá trị sản lượng các làng nghềcùng phát triển nhanh đáp ứng nhu cầu trongnước và xuất khẩu

Hiện trạng và các giải pháp phát triển làng nghề Việt Nam

Trang 3

Làng nghề trước và trong thời kỳ Pháp thuộc:

Thời kỳ trước Pháp thuộc, cả nước có hàng

trăm loại hàng thủ công đặc sắc, nhưng phát triển

nhất đó chính là nghề dệt Hàng mỹ nghệ Việt

Nam được người Pháp đưa sang nước ngoài tham

dự các hội chợ và chính điều này đã tạo thuận lợi

cho sản xuất tiểu thủ công nghiệp phát triển, nhất

là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Ở giai đoạn này, chủ

yếu phát triển các nghề như dệt, làm quạt giấy,

làm nón, mây tre đan, làm đồ sừng và ngà, tạc

tượng gỗ

Làng nghề giai đoạn 1945 - 1986:

Trước năm 1975, ở miền Nam làng nghề nói

chung và các cơ sở sản xuất TTCN nói riêng gần

như không phát triển do ảnh hưởng của chiến

tranh Ở miền Bắc, làng nghề và các nghề sản

xuất TTCN đã được dần khôi phục, tuy nhiên còn

ở quy mô rất nhỏ bé do chiến tranh phá hoại của

Đế Quốc Mỹ

Từ sau ngày giải phóng 30/4/1975, các làng

nghề và các cơ sở sản xuất ở cả 2 miền đã có

những bước phát triển mới, đặc biệt ở miền Nam

phát triển rất mạnh Các mô hình sản xuất được

hình thành chủ yếu dưới dạng các Hợp tác xã

Phương thức dạy nghề và truyền nghề đã có nhiều

thay đổi và ngày càng đa dạng, phong phú với

nhiều hình thức khác nhau Sản phẩm làm ra được

tiêu thụ chủ yếu cho nhu cầu trong nước và một

phần xuất khẩu sang các nước XHCN ở Đông Âu

Tuy nhiên, sản xuất còn hạn chế về chất lượng và

mẫu mã, chưa thực sự khai thác hết tiềm năng của

các làng nghề và các nghề TTCN

Làng nghề từ năm 1986 đến nay:

Từ những năm đổi mới đến nay, dưới tác động

của những biến đổi to lớn về kinh tế chính trị

-xã hội ở trong nước cũng như quốc tế, một số

nghề có tốc độ khôi phục và phát triển nhanh đó

là: Gốm sứ Bát Tràng, gốm Đồng Nai, Sông Bé;điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước ở Đà Nẵng; mộcKim Bồng, đúc đồng Phước Kiều ở Quảng Nam;chạm khảm, điêu khắc ở Hà Tây, Hà Bắc Sự sụp

đổ của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu vàLiên Xô (cũ) vào đầu những năm 90 đã làm chothị trường tiêu thụ hàng xuất khẩu chủ yếu gầnnhư không còn nữa Từ năm 1993 đến nay, mộthướng đi mới cho sự phát triển của làng nghề dầndần được xác lập Các nước như Nhật Bản, HànQuốc, Hoa Kỳ là những thị trường tiêu thụ tươngđối lớn cho các làng nghề Trong những năm gầnđây, nhiều sản phẩm của làng nghề đã được khẳngđịnh trên thị trường trong nước và thế giới Sảnxuất ổn định và phát triển, quy mô ngày càng mởrộng, tăng nguồn vốn đầu tư, đổi mới kỹ thuật côngnghệ được chú trọng hơn, tạo nhiều việc làm chongười lao động, tăng khối lượng sản phẩm

3 Những đặc điểm chung của làng nghề Việt Nam

Gắn liền với làng quê và sản xuất nông nghiệp:

Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, cácnghề thủ công truyền thống dần dần xuất hiện với

tư cách là nghề phụ, việc phụ trong các gia đìnhnông dân và nhanh chóng phát triển ở nhiều làngquê Thời gian dành cho hoạt động sản xuất nôngnghiệp là không nhiều, năng suất lao động thấp

đã không đảm bảo thu nhập đủ sống cho ngườinông dân Vì vậy, nhu cầu tạo việc làm để có thêmthu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp trở thànhcấp thiết Đồng thời do tính thời vụ của sản xuấtnông nghiệp, đã tạo ra một sự dư thừa lao độngtrong một thời gian nhất định; nhu cầu về sảnphẩm tiểu thủ công nghiệp để phục vụ cho sảnxuất nông nghiệp và đời sống dân cư; nguồnnguyên liệu phục vụ cho các nghề thủ công tươngđối dồi dào Tất cả những điều đó đã thúc đẩy cáclàng nghề hình thành và phát triển

Trang 4

Có truyền thống lâu đời:

Đặc trưng của làng nghề Việt Nam là có

truyền thống lâu đời, làng nghề được hình thành

từ thời Đông Sơn xa xưa, lúc bấy giờ, số lượng

ngành nghề cũng như lao động còn rất ít Sản

phẩm của làng nghề chỉ phục vụ cho mục đích

hiện tại, đầu tiên là nghề luyện kim, tác động vào

nông nghiệp bằng các công cụ sản xuất có hiệu

quả hơn các công cụ cũ (bằng đá, tre, gỗ thô sơ),

tiếp theo là để phục vụ cho chiến tranh nên

những vũ khí bằng đồng và sắt không thể thiếu

Riêng làng nghề nghề điêu khắc đá tại quận Ngũ

Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng ra đời cách đây

hơn 300 năm

Có bản sắc văn hóa riêng của Việt Nam:

Một đặc thù khác hết sức quan trọng của hàng

thủ công mỹ nghệ truyền thống, đó là tính khác

biệt, tính riêng, mang phong cách của mỗi nghệ

nhân và nét văn hoá đặc trưng địa phương, tồn tại

trong sự giao lưu với cộng đồng Hàng chạm trổ

trên từng chất liệu khác nhau (gỗ, đá, đồng, sừng,

xương ), hàng sơn (sơn quang, sơn then, sơn

thếp vàng bạc, sơn mài), hàng thêu, dệt (tơ lụa,

chiếu, thảm ) hàng mây tre đan, kim hoàn, đồ

chơi ở mỗi làng nghề đều có màu sắc riêng,

từng nghệ nhân cũng có những nét riêng Những

nét riêng đó được thử thách qua thời gian, qua

giao lưu, được chọn lọc, được thừa nhận để tồn

tại và phát triển, cùng với sự bổ sung lẫn nhau,

trở thành những kiểu mẫu hoàn thiện, đặc sắc cho

những sản phẩm cùng loại được sản xuất, chế tác

tiếp sau thể hiện bản sắc độc đáo Việt Nam

Lao động chủ yếu bằng thủ công:

Trước đây, khi kỹ thuật công nghệ còn thô sơ,

lạc hậu thì hầu hết các công đoạn trong quy trình

sản xuất đều do lao động thủ công đảm nhận

Đặc trưng cơ bản của người thợ thủ công là tự

định đoạt lấy mọi công việc kể cả cung ứng

nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm Công việc

có thể tiến hành độc lập hay cùng với một sốngười trong gia đình, dòng họ hoặc một số ngườihọc việc Công việc này đã thể hiện một tay nghềnhất định, một tài khéo léo riêng biệt, độc đáo,kết hợp với đầu óc sáng tạo và nghệ thuật thôngqua lao động bằng tay hoặc bằng máy móc công

cụ cơ khí, nửa cơ khí

Làng nghề gắn với tên tuổi và tồn tại lâu dài:

Mỗi làng nghề, thường gắn liền với địa danhcủa làng đó để đặt tên cho làng nghề của mình,như: Làng tranh Đông Hồ, làng gốm Bát Tràng,làng điêu khắc đá Ngũ Hành Sơn, làng mộc KimBồng, đúc đồng Phước Kiều, đan mây Chương

Mỹ, lụa Tân Châu Đây chính là đặc điểm tiêubiểu để phân biệt được sản phẩm riêng có củamỗi làng nghề

Sản phẩm của làng nghề không chỉ đòi hỏi laođộng khéo léo của người thợ mà còn đòi hỏi sựtích luỹ kinh nghiệm qua nhiều thế hệ và nhữngkinh nghiệm này trải qua thời gian đã trở thành

bí quyết nghề nghiệp Làng nghề đã tồn tại lâudài từ đời này sang đời khác là nhờ vào đặc tínhnày của làng nghề

II Những đóng góp của các làng nghề Việt Nam

- Giải quyết lao động và việc làm cho người

dân: Làng nghề Việt Nam hàng năm góp phần

giải quyết số lượng lớn lao động nông thôn nhànrỗi, phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, đồngthời đã kéo theo sự phát triển và hình thành củanhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liênquan khác, tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hútnhiều lao động Vai trò tạo việc làm của làng nghềcòn thể hiện rất rõ ở sự phát triển lan toả của làngnghề sang các vùng, đã giải quyết việc làm chonhiều lao động, góp phần thúc đẩy cho sự pháttriển kinh tế - xã hội ở vùng đó

- Làng nghề Việt Nam là một trong những nơi giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống lâu đời của

Trang 5

dân tộc một cách bền vững: Lịch sử phát triển của

làng nghề Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển

văn hoá của dân tộc Nhiều sản phẩm của làng

nghề mang tính nghệ thuật cao, tính nhân văn sâu

sắc Mỗi sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật

chứa đựng những nét đặc sắc của văn hoá dân tộc,

là sự kết tinh, bảo tồn các giá trị văn hoá lâu đời

của dân tộc và là sự bảo lưu những tinh hoa nghệ

thuật, kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác

Nó tạo nên những thế hệ nghệ nhân tài ba với

những sản phẩm độc đáo mang bản sắc riêng

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

thôn theo hướng công nghiệp hoá: Mục tiêu cơ

bản của CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là tạo

ra một cơ cấu kinh tế mới, hợp lý và hiện đại ở

nông thôn Trong quá trình vận động và phát triển,

các làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc

tăng trưởng tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ

công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông

nghiệp Sự phát triển lan toả của làng nghề đã mở

rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút nhiều

lao động Cho đến nay, cơ cấu kinh tế ở nhiều

làng nghề đạt 60-80% công nghiệp và dịch vụ,

20-40% nông nghiệp

- Thu hút nguồn lực to lớn trong dân cho sự

phát triển kinh tế chung: Đặc điểm của sản xuất

trong làng nghề là quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao

động không nhiều nên rất phù hợp với khả năng

huy động vốn và các nguồn lực vật chất của các

hộ gia đình Trong điều kiện hiện nay thì đó là một

lợi thế để các làng nghề có thể huy động các loại

vốn nhàn rỗi trong dân vào hoạt động sản xuất

kinh doanh Bên cạnh đó, do đặc thù của làng nghề

việc sử dụng lao động thủ công là chủ yếu, nơi sản

xuất cũng chính là nơi ở của người lao động, vì

vậy, bản thân nó có khả năng tận dụng và thu hút

nhiều loại lao động, lao động thời vụ nông nhàn,

các loại lao động có độ tuổi khác nhau

- Làng nghề góp phần tạo ra nguồn sản phẩm

phong phú đa dạng cho xã hội: sản phẩm từ các

làng nghề vô cùng phong phú và đa dạng Hầuhết các sản phẩm này phục vụ chủ yếu cho nhucầu xã hội, một phần phục vụ xuất khẩu gópphần thúc đẩy phát triền kinh tế - xã hội cho mỗiđịa phương

- Làng nghề còn là nơi quảng bá hình ảnh dân

tộc Việt Nam một cách sinh động thông qua các sản phẩm đặc sắc của mỗi làng nghề: Mỗi sản

phẩm là đặc trưng của từng vùng, đặc biệt lànhững sản phẩm lưu niệm được làm từ đá, sơnmài, tơ lụa, mây tre đan giới thiệu, quảng bá ViệtNam thông qua hình ảnh cây cầu, chùa chiền,đình làng, lăng tẩm hay ngọn núi Ngũ Hành

III Các giải pháp phát triển làng nghề Việt Nam

Làng nghề hiện nay đang tồn tại một số bất cập

và phải có các chính sách phù hợp để phát triển,nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

1 Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường

Mặt trái của sự phát triển là hầu hết các làngnghề Việt Nam hiện nay đã và đang bị ô nhiễm ở

cả ba dạng: Ô nhiễm nước, ô nhiễm rác thải vàkhí thải Một trong những nguyên nhân của tìnhtrạng trên là do cách thức tổ chức quản lý sản xuấtcủa các làng nghề hiện nay chưa thật sự hiệu quả

Đa số làng nghề sản xuất với hình thức nhỏ lẻ,thiếu sự hỗ trợ về vốn, công nghệ, cũng như thôngtin thị trường… Nhằm giải quyết tình trạng nàythì việc quy hoạch không gian sản xuất gắn vớibảo vệ môi trường là một trong những giải phápthu được hiệu quả đáng kể Tuy nhiên, hiện nayviệc quy hoạch các làng nghề còn hạn chế về sốlượng do thiếu sự đồng bộ, công tác quản lý cònchồng chéo, phân định chưa rõ ràng giữa tráchnhiệm của Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn

Trước những khó khăn đó, đòi hỏi cần cónhững chính sách phát triển các làng nghề phùhợp sao cho tận dụng được những lợi thế của cácđịa phương trong quá trình phát triển, vượt qua

Trang 6

những thử thách của hội nhập và đảm bảo cho sự

phát triển lâu dài, hiệu quả

Hiện nay, một mô hình quy hoạch khác đang

được triển khai là: Chính quyền địa phương và

các hộ sản xuất trong làng nghề cùng xem xét

phương án quy hoạch đưa khu vực sản xuất làng

nghề ra khỏi nơi sinh hoạt của gia đình Địa

phương sẽ quy hoạch khu đất riêng thuộc điạ bàn

của xã Các hộ gia đình sẽ được cho thuê đất để

chuyển hướng sản xuất ra ngoài Hạ tầng cơ sở sẽ

do địa phương và hộ nghề cùng góp vốn xây

dựng Mô hình này đã được thực hiện thành công

ở nhiều địa phương Tuy nhiên, hiện một số địa

phương vẫn gặp khó khăn về quỹ đất để bố trí mặt

bằng cho việc di dời này

Ngành TTCN ngày một phát triển Bên cạnh

những nét truyền thống thì còn được đan xen bởi

những yếu tố mới, điều này đem lại cho ngành

TTCN và làng nghề một diện mạo mới Các làng

nghề TTCN ngày nay cần phải vận động theo xu

hướng: Đẩy mạnh việc áp dụng khoa học công

nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất kinh doanh;

Bên cạnh các làng nghề truyền thống, mở rộng và

phát triển các làng công nghiệp tạo ra bước phát

triển mới cho ngành TTCN; Hình thành nhiều

làng nghề mới, Phát triển làng nghề truyền thống

theo cả chiều rộng và chiều sâu; Phát triển hình

thức du lịch làng nghề

2 Tạo nguồn nguyên liệu

Không phải nơi có nguồn nguyên liệu là nơi

có nguồn nhân lực chế biến sâu các sản phẩm thủ

công mỹ nghệ Thực tế một số dự án khuyến công

với thời lượng dạy nghề ngắn hạn, không có cơ

sở sản xuất tại chỗ nên người học không làm được

nghề Mặt khác, với cách khai thác nguồn nguyên

liệu tự nhiên không theo hướng bền vững (đối với

nhóm gỗ, mây tre lá ) nên nguồn nguyên liệu

đang ngày càng suy giảm về lượng và không đủ

tiêu chuẩn về chất lượng thậm chí có loại đã bị

khai thác theo hướng tàn diệt

Do đó các địa phương có nguồn nguyên liệucung cấp phải chú ý đến khía cạnh phát triển bềnvững về lĩnh vực này, bên cạnh đó các dự ánkhuyến công, các cơ sở sản xuất sản phẩm hoànchỉnh cần có những hợp đồng dài hạn có kiểmsoát ràng buộc để phát triển nguồn nguyên liệucây trồng, vật nuôi khoáng sản phục vụ sản xuất,tạo được tín nhiệm giữa bên bán, bên mua, bảođảm lợi ích các bên Hiện nay và sắp tới, TTCN

ở nước ta sẽ nhập nhiều nguyên liệu, mẫu sảnphẩm gia công xuất khẩu, để tận dụng tối đanguồn nhân lực các doanh nghiệp xuất khẩu cầnchú ý khai thác các hợp đồng gia công quốc tếgiúp các hợp tác xã có thêm việc làm Một nềnkinh tế được gọi là hội nhập thuận lợi khi sảnxuất, làm dịch vụ xuất khẩu hướng theo giá trị giatăng hơn là cố gắng nội địa hoá đầu vào, tiêu thụtrong nước thay thế nhập khẩu

3 Phát triển thương hiệu và tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm

Các HTX và doanh nghiệp nhỏ còn mặc cảm,

tự ti, lo ngại thủ tục nên chưa đăng ký thươnghiệu Ở TP Hồ Chí Minh có đến 90% HTX chưađăng ký thương hiệu Tuy nhiên, có nhiều hìnhthức đăng ký thương hiệu, ví dụ như HTX ở làngnghề dùng thương hiệu của làng nghề hoặc HTXđăng ký thương hiệu giúp cả làng nghề như HTXLụa Vạn Phúc đã đăng ký Mỗi làng một sảnphẩm là mô hình thành công ở nhiều quốc giachâu Á Chứng nhận xuất xứ hàng hoá theo tiêuchuẩn quốc tế cũng là cách quảng bá thương hiệunhư nước mắm Phú Quốc

Việc đăng ký thương hiệu cần có sự hỗ trợ củaNhà nước, các HTX và doanh nghiệp liên kếtcùng đăng ký thương hiệu theo nhóm sản phẩm,

tự kiểm soát chất lượng Để khuếch trươngthương hiệu cần xây dựng các kênh thông tin nhưcác cattaloge, sách in, băng đĩa đặc biệt cần xâydựng một cơ sở dữ liệu riêng về các sản phẩmcông nghiệp nông thôn tiêu biểu của các địa

Trang 7

phương trên toàn quốc Bên cạnh đó, các trang

web của bộ, ngành, địa phương cần mở chuyên

mục giới thiệu sản phẩm thương hiệu, nhu cầu

đầu tư thương mại theo “Chương trình phát triển

sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu” quy

định tại Quyết định 136/2007/QĐ-TTg Các

HTX, các cơ sở sản xuất chủ động cung cấp thông

tin và chịu trách nhiệm về thông tin giới thiệu trên

các website

Việc xúc tiến thương mại cần áp dụng nhiều

kênh, không nhất thiết các HTX phải có gian hàng

riêng nhưng HTX cần được hỗ trợ chi phí gửi sản

phẩm, gửi các tài liệu như bản in, băng đĩa hình…

giới thiệu ở các hội chợ quốc tế Xây dựng thương

hiệu là một quá trình bền bỉ, liên tục cùng với việc

duy trì chất lượng sản phẩm, bổ sung mẫu mã sản

phẩm, thông qua nhiều kênh thông tin Mặt khác,

các doanh nghiệp xuất khẩu, các tổ chức xúc tiến

thương mại cần nắm bắt và phổ biến nhu cầu thị

trường nước ngoài (theo từng khu vực địa lý, thậm

chí theo mùa…), chuyển các đơn hàng của thị

trường quốc tế đến những HTX, doanh nghiệp làng

nghề Mỗi địa phương, thành phố lớn, làng nghề cần

có một gian hàng trưng bày sản phẩm, ghi rõ xuất

xứ định kỳ tổ chức, giới thiệu sản phẩm, nghệ nhân

4 Truyền nghề và phát triển nguồn nhân lực

Trong các làng nghề truyền thống vai trò của

các nghệ nhân là hết sức quan trọng, được coi là

nòng cốt của quá trình sản xuất và sáng tạo ra nghệ

thuật Thực tế những thợ cả nghệ nhân đã truyền

nghề cho những lao động trong gia đình, họ hàng,

người yêu nghề đạt kết quả tốt (bằng chứng là

nhiều thợ không qua các lớp mà được truyền nghề,

đến 97% thành nghề là do cha truyền con nối)

Trong thời gian vừa qua, một số dự án khuyến

công thiếu thầy dạy, thời gian thực hành ngắn, dạy

nghề không phù hợp với thực tế địa phương về

nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, học nghề xong

không có việc làm, dẫn đến khai giảng, bế giảng

khá đủ nhưng người học thành nghề rất ít.Cần song hành đào tạo tập trung và truyềnnghề tại nơi sản xuất Các trung tâm khuyến côngcấp tỉnh phối hợp với địa phương, đoàn thể, hợptác xã, doanh nghiệp nghiên cứu nhu cầu họcnghề, xây dựng chương trình chuẩn về giáo trình,giáo cụ thực hành, kết hợp dạy nghề và khởinghiệp, hình thành nhóm học viên từ 10 ngườitrở lên cùng nhau thành lập hợp tác xã, tổ hợp tác

có sự giúp đỡ của chính quyền về thủ tục thànhlập cùng các ưu đãi, các doanh nghiệp giúp HTX

về điều kiện sản xuất như góp vốn, cho vay baotiêu sản phẩm, bán thành phẩm Thực tế nhiềudoanh nghiệp chế biến chè ở Yên Bái, TháiNguyên rất thành công khi hình thành tổ hợp tácthanh niên thu mua, sơ chế chè nguyên liệu.Hiện nay đã có chính sách hỗ trợ hình thứctruyền nghề, các dự án khuyến công, đào tạonghề ngắn hạn ở nông thôn cần có đội ngũ thợ,nghệ nhân được bồi dưỡng kiến thức sư phạmmiễn phí, biên soạn tài liệu, dạy nghề, truyềnnghề được hỗ trợ theo chế độ của giảng viên,được thu học phí

Cục Công nghiệp Địa phương-Bộ CôngThương cần tiếp tục hướng dẫn các trung tâmkhuyến công tổng hợp và công khai danh sách,địa chỉ các nghệ nhân, thợ lành nghề, giảng viêntheo nhóm ngành nghề Tiểu thủ công nghiệp đểban tổ chức lớp học, học viên, hợp tác xã, doanhnghiệp, khách hàng chủ động tiếp cận Đó cũng

là cách tôn vinh nghề, quảng bá hình ảnh nghềmang nhiều hiệu quả./

Nguồn: Quy hoạch Phát triển làng nghề thành phố Đà Nẵng; Đề tài“Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường phục vụ phát triển bền vững làng nghề chế biến thực phẩm Dương Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội”

Biên tập: Quỳnh Vân

Trang 8

Từ khi ra đời đến nay, các Hợp tác xã

(HTX) Việt Nam đã trải qua nhiều

giai đoạn phát triển cùng với quá

trình phát triển của nền kinh tế - xã hội của đất

nước Trong mỗi giai đoạn, các HTX đều cĩ

những dấu ấn riêng và cĩ những đĩng gĩp

quan trọng vào thành tựu phát triển chung của

đất nước Đặc biệt các HTX ở Việt Nam đã trải

qua một bước chuyển đổi quan trọng từ HTX

kiểu cũ chuyển sang HTX kiểu mới theo Luật

HTX sửa đổi năm 2003

1 Hiện trạng các HTX tiểu thủ cơng nghiệp

Việt Nam

Cho đến thời điểm 2011, cả nước cĩ 44 liên

hiệp HTX, 17.900 HTX và 320.000 tổ hợp tác

(THT) Cĩ khoảng 12,5 triệu xã viên và người

lao động tham gia trong các HTX và cĩ khoảng

3,5 triệu lao động tham gia vào THT Quy mơ

của các HTX là rất khác nhau, phụ thuộc vào

đặc thù của từng vùng địa lý Hầu hết các HTX

nơng nghiệp thường cĩ quy mơ trên 100 xã

viên, trong khi đĩ phần lớn (60%) các HTX tiểu

thủ cơng nghiệp chỉ cĩ quy mơ 10-20 xã viên

Các HTX tiểu thủ cơng nghiệp phát triển

chuyên ngành và đa ngành, theo kết quả điều

tra của Liên minh hợp tác xã cơng bố năm

2011 tại 30 tỉnh phía Bắc cĩ 3.550 HTX phi

nơng nghiệp trong đĩ HTX tham gia vào các

ngành: 11 HTX sản xuất máy mĩc, thiết

bị; 115 HTX sản xuất cơ khí, phụ tùng; 3 HTX

sản xuất thiết bị điện; 9 HTX sản xuất máy mĩc

thiết bị điện; 10 HTX sản xuất phụ tùng ơ tơ

-phương tiện vận tải; 19 HTX luyện kim; 55

HTX dệt may, giầy, da; 81 HTX chế biến nơng

sản; 30 HTX chế biến thuỷ sản; 250 HTX chếbiến lâm sản; 423 HTX sản xuất cơng nghiệpkhác Trong số đĩ cĩ 110 HTX cĩ sản xuấtnơng lâm nghiệp thuỷ sản, 8 HTX dịch vụ tưvấn, đào tạo nghề tiểu thủ cơng nghiệp, hơn

2000 HTX làm các dịch vụ khác ngồi ngànhnghề, sản phẩm chính theo phương châm đăng

ký kinh doanh những ngành nghề pháp luậtkhơng cấm, kinh doanh những ngành, nghề, sảnphẩm khơng địi hỏi điều kiện kinh doanh.Cùng với sự phát triển của các HTX, trongnhững năm qua hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa các HTX đã được nâng cao một bước Hoạtđộng của nhiều HTX được đổi mới, thiết thựcgắn với lợi ích của các thành viên Nhiều HTX

đã khắc phục được sự trì trệ yếu kém, nỗ lựcvươn lên, phát triển với quy mơ lớn hơn, chấtlượ̣ng hoạt động ổn định và cĩ tính bền vữnghơn Số HTX cĩ lãi nhiều hơn và mức lãi trungbình trong một HTX cũng cao hơn Điều tra1.244 HTX thuộc tất cả các ngành nghề chothấy 87% đã cĩ lãi, 90% cĩ trích lập quỹ, 55%chia lãi cho xã viên Ngồi số HTX hoạt độngkhơng hiệu quả đã bị giải thể, các HTX chuyểnđổi trong nơng nghiệp đã bước đầu khắc phụcbinh trạng thua lỗ kéo dài Số HTX nơngnghiệp hoạt động cĩ lãi đã chiếm 68% Năm

2010, theo phân loại của Liên minh HTX cáctỉnh, thành phố, số HTX khá, giỏi hiện chiếm42% (tăng 2% so với năm 2004), HTX trungbình chiếm 44% (giảm 0,9%) và số HTX yếukém chiếm 14% (giảm 1%)

2 Những khĩ khăn chủ yếu khiến cho các HTX kinh doanh thiếu hiệu quả

Trình độ chuyên mơn kỹ thuật của đội ngũ

Hiện trạng và giải pháp hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế Hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp

Trang 9

cán bộ chủ chốt trong HTX rất hạn chế: Chỉ có

khoảng 10% số chủ nhiệm HTX có trình độ cao

đẳng hoặc đại học, chỉ tiêu này tương ứng với

các chức danh Kế toán trưởng và Trưởng Ban

kiểm soát là 12% và 8%

Một trong những lý do quan trọng khiến

trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động

trong HTX tiểu thủ công nghiệp thấp là do họ

ít có cơ hội được tham gia các chương trình

đào tạo, bồi dưỡng Các chương trình này

thường hạn chế về số lượng và bất cập về nội

dụng, phương thức đào tạo Cũng do trình độ

thấp nên các HTX tiểu thủ công nghiệp còn

gặp nhiều lúng túng, vướng mắc trong việc tổ

chức, quản lý, điều hành các hoạt động sản

xuất kinh doanh Vì vậy, các HTX rất cần nhận

được sự hỗ trợ, tư vấn

Cơ sở vật chất của các HTX nghèo nàn,

máy móc thiết bị cũ, trình độ công nghệ lạc

hậu, sản xuất thủ công là phổ biến Chỉ có

17% HTX có máy móc, phương tiện làm việc

đáp ứng được nhu cầu sản xuất; 33% chưa đáp

ứng được nhu cầu sản xuất; 50% HTX rất

thiếu máy móc, phương tiện làm việc Do công

nghệ sản xuất lạc hậu nên các HTX chỉ tập

trung chủ yếu vào một lĩnh vực truyền thống,

mẫu mã sản phẩm đơn điệu không đáp ứng

được nhu cầu của thị trường Chính vì vậy, các

HTX hiện nay rất cần hỗ trợ, phổ biến thông

tin, chuyển giao công nghệ

Cùng với việc nguồn vốn nội bộ hạn chế,

các HTX cũng rất khó tiếp cận với nguồn vốn

từ bên ngoài Các HTX thường bị thiếu thông

tin về các nguồn tài chính, tín dụng, không

hiểu rõ qui trình, thủ tục, không biết cách xây

dựng các dự án để huy động nguồn vốn từ bên

ngoài Ngoài ra, các HTX chưa tạo được uy tín

cao đối với các tổ chức tín dụng nên việc vay

vốn thường gặp nhiều trở ngại hơn so với các

3.1 Tổ chức liên kết

Hiện nay sản xuất công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp ở ngành gỗ mỹ nghệ, mây tre đan,gốm sứ đá, sơ chế nông lâm, thuỷ sản phân tán

ở các hộ, nhóm thông qua các đơn đặt hàngcủa các HTX, doanh nghiệp, hoặc ký gửi ở cáccửa hàng Cách này giúp các hộ giảm rủi ronhưng giá trị gia tăng phân chia không hợp lý

so với công sức lao động, vốn và thời gian sảnxuất của lao động tham gia mỗi công đoạn Đểtăng giá trị sản xuất, các hộ cần liên kết thànhlập HTX của mình HTX làm tốt dịch vụ đầuvào, chế tác từng khâu, dịch vụ tiêu thụ sảnphẩm để giảm chi phí sản xuất cho xã viên, ví

dụ như HTX đầu tư khâu làm đất, đốt lò, kéosợi, nhuộm, vận tải, đăng ký thương hiệu,…giảm chi phí cho mỗi xã viên Việc nào, côngđoạn nào sản xuất tập trung có hiệu quả thìHTX làm

Nghiên cứu một số mô hình mà Luật Hợptác xã cho phép thành lập công ty trách nhiệmhữu hạn một thành viên trực thuộc HTXchuyên làm dịch vụ tập trung cho xã viên,hoặc tổ chức sản xuất tập trung như: HTXNông nghiệp Duy Sơn II (Quảng Nam) đầu

tư 450 khung dệt bằng gỗ, sắt, tập trung ởphân xưởng và phân tán tại nhà dân, thu hútgần 500 lao động, mỗi năm sản xuất từ 3 - 4triệu mét vải thành phẩm các loại

Trang 10

3.2 Thương hiệu và thị trường

Đây là một nội dung quan trọng nhất của

chính sách khuyến công đã đang thực hiện

Kinh nghiệm chỉ ra để có 1 lao động nghề

gốm mỹ nghệ phải có đầu vào trên 20 học

viên cùng với trợ cấp học việc tối thiểu 20

nghìn đồng/ngày Nhiều chủ nhiệm HTX, chủ

doanh nghiệp cho biết khó khăn nhất là đào

tạo lao động có nghề, yêu nghề sống với

nghề Thực tế những thợ cả, nghệ nhân đã

truyền nghề cho những lao động trong gia

đình, họ hàng, người yêu nghề đạt kết quả tốt

(bằng chứng là nhiều thợ không qua các lớp

mà được truyền nghề, đến 97% thành nghề là

do “cha truyền con nối”)

Hiện nay đã có chính sách hỗ trợ hình thức

truyền nghề, các dự án khuyến công, đào tạo

nghề ngắn hạn ở nông thôn cần có đội ngũ thợ,

nghệ nhân được bồi dưỡng kiến thức sư phạm

miễn phí, biên soạn tài liệu, dạy nghề truyền

nghề được hỗ trợ theo chế độ của giảng viên,

được thu học phí

Khi đó, Cục Công nghiệp địa phương (Bộ

công Thương) cần hướng dẫn các Trung tâm

khuyến công tổng hợp và công khai danh sách,

địa chỉ các nghệ nhân, thợ lành nghề, giảng

viên theo nhóm ngành nghề tiểu thủ công

nghiệp (100 nghề và 2.000 làng nghề) để ban

tổ chức lớp học, học viên, HTX, doanh nghiệp,

khách hàng chủ động tiếp cận Đó cũng là cách

tôn vinh nghề, quảng bá hình ảnh nghề mang

nhiều hiệu quả

Các đơn vị xuất khẩu lao động, doanh

nghiệp khi đầu tư ra nước ngoài, các công ty

du lịch, cơ sở đào tạo cần nắm bắt thị trường

nước ngoài để thực hiện trao đổi nhân lực, đào

tạo, du lịch, làm việc với những người thợ,

nghệ nhân của nước ta và các nước học hỏi

kinh nghiệm

3.3 Truyền nghề và phát triển nguồn nhân lực

Không phải nơi có nguồn nguyên liệu là nơi

có nguồn nhân lực chế biến sâu các sản phẩmthủ công mỹ nghệ Thực tế một số dự ánkhuyến công với thời lượng dạy nghề ngắn hạn,không có cơ sở sản xuất tại chỗ nên người họckhông làm được nghề Mặt khác, với cách khaithác nguồn nguyên liệu tự nhiên không theohướng bền vững (đối với nhóm gỗ, mây trelá ) nên nguồn nguyên liệu đang ngày càngsuy giảm về lượng và không đủ tiêu chuẩn vềchất lượng thậm chí có loại đã bị khai thác theohướng tàn diệt

Các dự án khuyến công, các cơ sở sản xuấtsản phẩm hoàn chỉnh cần có nhưng hợp đồngdài hạn có kiểm soát, ràng buộc để phát triểnnguồn nguyên liệu cây trồng, vật nuôi, khoángsản Để tạo được tín nhiệm giữa bên bán, bênmua cần có quy ước điều chỉnh giá hợp lý bảođảm lợi ích các bên

Hiện nay và sắp tới, TTCN ở nước ta sẽ nhậpnhiều nguyên liệu, mẫu sản phẩm gia công xuấtkhẩu, để tận tối đa nguồn nhân lực các doanhnghiệp xuất khẩu cần chú ý khai thác các hợpđồng gia công quốc tế giúp các HTX có thêm việclàm Một nền kinh tế được gọi là hội nhập thuậnkhi sản xuất, làm dịch vụ xuất khẩu hướng theogiá trị gia tăng hơn là cố gắng nội địa hoá đầu vào,tiêu thụ trong nước thay thế nhập khẩu

3.4 Tạo nguồn nguyên liệu

Các tỉnh có các HTX, làng nghề cần quyhọach các vùng trồng nguyên tập trung, tạo

sự chủ động trong sản xuất nguyên liệu, ưutiên cho các cơ sở thuê đất để phát triểnnguyên liệu, xây dựng hình thức tổ hợp tác,hội ngành nghề để gắn kết giữa các HTX, cáclàng nghề, nghệ nhân, thợ thủ công và cácdoanh nghiệp trong việc mở rộng quy mô sảnxuất, truyền nghề

Trang 11

Đối với nhóm ngành nghề truyền thống định

hướng phát triển với tốc độ trung bình từ nay đến

năm 2020 như chế biến thực phẩm, sơ chế ca cao,

sấy nhãn… và nhóm ngành nghề truyền thống

phát triển với tốc độ thấp do thị trường tiêu thụ

nội địa như sản xuất nước chấm, chằm lá, cưa xẻ

gỗ…, tỉnh hỗ trợ khôi phục gắn kết với xây dựng

mô hình du lịch sinh thái - làng nghề để tạo thêm

thị trường tiêu thụ cho sản phẩm

Hướng đầu tư tạo nguồn nguyên liệu kèm

theo các giải pháp kinh tế, kỹ thuật như: HTX

Mây tre lá Ba Nhất (TP.Hồ Chí Minh), HTX

Quang Minh (Tiền Giang), các Tổ hợp tác, HTX

làng nghề ở Hà Tây, Bắc Ninh, Hà Nội,… tích

luỹ nhiều kinh nghiệm theo cách dạy nghề khai

thác, sơ chế, sản xuất một số sản phẩm, bán

thành phẩm tạo thêm việc làm thu nhập

3.5 Triển khai bằng dự án

Khuyến khích cán bộ HTX, xã viên, người

lao động tham gia dự án đầu tư đổi mới công

nghệ, tạo sản phẩm mới, thị trường mới, nâng

cao tay nghề qua đào tạo, học hỏi kinh nghiệm,

truyền nghề, cấy nghề, tổ chức lại sản xuất kinh

doanh Mỗi dự án cần có ý tưởng hay, có nội

dung thiết thực là việc làm, thu nhập bằng sản

phẩm, dịch vụ tạo ra

Các trung tâm khuyến công, các doanh

nghiệp, HTX có kinh nghiệm cần hỗ trợ tư vấn

dự án cho các HTX, nhấn mạnh ý tưởng của

chủ dự án, lập luận tính khả thi, chú trọng tính

khác biệt của sản phẩm Thông thường, mỗi

dự án khuyến công kết thúc phần vốn ngân

sách hỗ trợ cần tiếp tục đầu tư thông qua dự

án vay vốn ưu đãi, các dự án do khách hàng

đặt mua sản phẩm

4 Định hướng phát triển hoạt động hỗ trợ HTX

Để HTX phát triển trong thời gian tới, nên

cần xúc tiến công tác hỗ trợ HTX theo các

hướng sau:

1) Hỗ trợ là chức năng hàng đầu của Liênminh HTX Việt Nam Hỗ trợ HTX phát triển làchức năng chính, là một nội dung công tác giữvai trò quan trọng của Liên minh HTX ViệtNam, là động lực góp phần thúc đẩy kinh tếHTX phát triển Liên minh HTX Việt Nam làđầu mối tổ chức triển khai, tối ưu hóa các nguồnlực và trợ giúp về cơ chế, chính sách, tạo lậpmôi trường pháp lý cho HTX phát triển

2) Phát triển hoạt động hỗ trợ phải gắn vớinhu cầu phát triển HTX Công tác hỗ trợ phảigắn với sự phát triển của kinh tế hợp tác, HTX,gắn với các thành viên, tập trung giải quyếtnhững vấn đề mà thành viên thực sự có nhu cầu;đồng thới phải giúp cho các thành viên nâng caonăng lực quản lý, mở rộng và đổi mới hoạt độngsản xuất kinh doanh trong điều kiện thị trường

và hội nhập

3) Huy động mọi nguồn lực cho hoạt động

hỗ trợ phát triển HTX Công tác hỗ trợ pháttriển của Liên minh HTX Việt Nam phải gắn vớiviệc triển khai các chương trình phát triển chungcủa Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực: đào tạo,KHCN, các chương trình, dự án kinh tế - xã hội,đồng thời phải gắn với các chương trình pháttriển của các bộ, ngành và các địa phương nhằmtối ưu hóa việc khai thác, tổ chức quản lý và sửdụng các nguồn lực cho sự phát triển của HTX.4) Xây dựng các dịch vụ hỗ trợ theo hướngchuyên nghiệp hóa Khuyến khích phát triểncác hoạt động hỗ trợ theo hướng chuyênnghiệp hóa Chuyển một số hoạt động hỗ trợtheo hướng dịch vụ hóa, cạnh tranh về hiệuquả và chất lượng phục vụ

Luôn luôn chủ động linh hoạt tìm hiểu, đápứng những nhu cầu mới của thị trường và nhucầu thiết thực của HTX./

Nguồn: cpv.org.vn; vca.org.vn.

Biên tập: Lê Tú

Trang 12

I Thực trạng tiểu thủ cơng nghiệp tỉnh Lào Cai

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển

kinh tế - xã hội trên địa bàn, sản xuất tiểu thủ cơng

nghiệp (TTCN) tỉnh Lào Cai đã cĩ bước phát triển

vượt bậc và đúng hướng, khai thác tốt các tiềm

năng, thế mạnh trên địa bàn về vùng nguyên liệu,

lao động và nghề truyền thống , tốc độ tăng

trưởng bình quân cao so với giai đoạn trước Đầu

tư cho sản xuất TTCN tăng mạnh, số cơ sở tăng

nhanh, quy mơ cơ sở được mở rộng, chất lượng

và hiệu quả hoạt động được nâng cao Đến nay

trên địa bàn tồn tỉnh cĩ 6.810 cơ sở sản xuất

TTCN (91 doanh nghiệp, 102 HTX và 6.617 hộ

cá thể) tập trung vào các ngành nghề như: Chế

biến chè 288 cơ sở; chế biến lương thực, thực

phẩm 1.068 cơ sở; chế biến rượu bia, nước giải

khát 1.412 cơ sở; chế biến lâm sản 422 cơ sở; gia

cơng cơ khí, sửa chữa máy mĩc nơng cụ 784 cơ

sở; sửa chữa điện tử, đồ gia dụng 479 cơ sở; thủ

cơng mỹ nghệ 206 cơ sở; sản xuất khai thác vật

liệu xây dựng 307 cơ sở; dệt may 447, cơ sở; sản

xuất nguyên liệu thuốc lá 150 cơ sở và các ngành

- Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn

2006-2010 đạt 23,16%, cao hơn 5,9% so với giai

đoạn 2001-2005

- Nộp ngân sách nhà nước 90,57 tỷ đồng, bằng

3,85 lần so với năm 2005 và cả giai đoạn 2006

-2010 là 312 tỷ đồng, bằng 4,7 lần so với giai đoạn

2001 - 2005

- Tạo việc làm cho 15.380 lao động với thunhập bình quân bình quân trên 20 triệuđồng/người/năm

Sản phẩm TTCN đa dạng, phong phú; chấtlượng, mẫu mã được nâng cao Một số sản phẩm

đã cĩ thương hiệu trên thị trường như: Rượu SanLùng, rượu Bắc Hà, rượu Nậm Cần, rượu CốcNgù, gạo đặc sản Séng Cù, Tương ớt MườngKhương, thổ cẩm Sa Pa Các cơ sở sản xuấtTTCN tăng nhanh cả về số lượng cũng như quy

mơ sản xuất

- Năm 2012, thành phố hồn thành việc di dời

116 cơ sở TTCN ra khỏi khu dân cư Đây lànhững cơ sở đang gây ơ nhiễm mơi trường, ơnhiễm tiếng ồn, nguồn nước, khĩi bụi cho khơnggian sống của các hộ dân liền kề

II Định hướng phát triển tiểu thủ cơng nghiệp

1 Bảo quản, chế biến nơng, lâm sản và thực phẩm

1.1 Chế biến nơng sản, thực phẩm

1.1.1 Chế biến chè:

Lào Cai cĩ vùng nguyên liệu lớn và tập trung.Năm 2010 cĩ 3.629 ha tập trung chủ yếu ở cáchuyện: Bảo Thắng, Mường Khương, Bảo Yên,Bắc Hà, Bát Xát với tổng sản lượng 12.300 tấnbúp tươi/năm Trong thời gian tới đầu tư mở rộngdiện tích thêm 1.000 ha và tổ chức thâm canh tăngnăng suất từ 4,5 tấn lên 7 tấn/ha Đến năm 2015đạt diện tích 4.630 ha với tổng sản lượng 28.000tấn chè búp tươi Để chế biến hết sản lượng chèbúp tươi nêu trên và hạn chế dần phương thức chế

Phát triển tiểu thủ công nghiệp tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011-2015

Trang 13

biến thủ công, ngoài việc đầu tư mở rộng nhà máy

chè Phong Hải (30 tấn búp tươi/ngày), Nhà máy

chè Xuân Tiến, Xuân Quang (13 tấn búp tươi/ngày),

Xưởng chế biến chè Thanh Bình (Mường Khương),

Bản Liền (Bắc Hà) với quy mô công nghiệp.Trong

giai đoạn tới cần:

- Duy trì sản xuất của các cơ sở hiện có

- Đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến chè tại:

Bản Sen (Mường Khương), Bản Phiệt và thị trấn

Phong Hải (Bảo Thắng), Mường Hum (Bát Xát)

với công suất 03 tấn búp tươi/ngày/xưởng

- Đầu tư xây dựng nhà máy chè công nghệ cao

(Sa Pa) công suất 03 tấn búp tươi/ngày

1.1.2 Chế biến lương thực, thực phẩm:

Lào Cai có những vùng lúa đặc sản cho gạo có

chất lượng và giá trị kinh tế cao như: Gạo Séng Cù

(Mương Khương, Mường Vi (Bát Xát), gạo Tàu

Bay (Sa Pa) và sản lượng ngô, khoai, sắn hàng hoá

khá lớn (trên 200 nghìn tấn các loại mỗi năm),

Để đáp ứng các sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu

dùng trong hiện tại cũng nhưng trong tương lai,

nâng cao giá trị nông sản và thương hiệu gạo đặc

sản Lào Cai Giai đoạn 2011-2015 ngoài việc duy

trì hoạt động của các cơ sở hiện có cần đầu tư:

- Đầu tư mở rộng, nâng công suất cơ sở xay

xát, đánh bóng gạo Séng Cù tại xã Mương Vi (Bát

Xát) từ 0,7 lên 01 tấn/giờ; nâng công suất sản xuất

tương ớt Mường Khương từ 30 lên 50 nghìn

lít/năm; giữ nguyên công suất 10 nghìn tấn/năm

và nâng cấp dây chuyền công nghệ chế biến tinh

bột sắn Tân An (Văn Bàn)

- Đầu tư xây dựng cơ sở xay xát, đánh bóng

gạo Séng Cù tại thị trấn Mường Khương công

suất 01 tấn/giờ; xây dựng nhà máy chế biến tinh

bột ngô tại thành phố Lào Cai công suất 100

nghìn tấn/năm và đầu tư các cơ sở xay xát nhỏ,

công suất 0,2 - 0,5 tấn/giờ tại các thôn, bản trong

tỉnh; nghiên cứu đầu tư xây dựng cơ sở sản xuấtcồn công nghiệp từ sắn tại cụm công nghiệp XuânQuang (Bảo Thắng) công suất 200 nghìn lít/năm

1.1.3 Sản xuất, chế biến rượu đặc sản:

Lào Cai có nhiều loại rượu đặc sản được sảnxuất theo công nghệ truyền thống của bà con dântộc thiểu số với men là các loại thảo dược tự nhiên

đã và đang được khách hàng ngày càng ưachuộng Trong giai đoạn tới ngoài việc duy trì các

cơ sở hiện có trên cơ sở nâng cao chất lượng vệsinh an toàn thực phẩm cần tập trung đầu tư một

số cơ sở sản xuất, tinh chế rượu để có được sảnphẩm chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh an toànthực phẩm, mẫu mã, bao bì, kiểu dáng đẹp là mặthàng chủ lực xâm nhập các thị trường lớn trong

và ngoài nước Cụ thể:

- Đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất, tinh chế:Rượu San Lùng tại KCN Bắc Duyên Hải (thànhphố Lào Cai) công suất 200 nghìn lít/năm; RượuNậm Pung (Bát Xát) 15 nghìn lít/năm, Rượu ThócThanh Kim (Sa Pa) 72 nghìn lít/năm và một sốxưởng tinh chế các loại rượu: Cốc Ngù (MườngKhương, Mản Thẩn), Nậm Cần (Văn Bàn), vớicông suất 15 nghìn lít/cơ sở

1.1.4 Sản xuất thức ăn gia súc:

Nguyên liệu dùng để chế biến thức ăn gia súctại Lào Cai tương đối dồi dào (ngô trên 100 nghìntấn, đậu tương 20 nghìn tấn ) Hiện nay đã cómột số cơ sở chế biến nhỏ lẻ nhưng chất lượngsản phẩm chưa cao, công tác tiếp thị bán hàng hạnchế do đó sản phẩm khó tiêu thụ được Trong khi

đó hàng năm thị trường Lào Cai tiêu thụ khoảng

250 -300 nghìn tấn thức ăn gia súc do các tỉnhkhác cung cấp và nhập khẩu từ Trung Quốc.Nhằm khai thác nguồn nguyên liệu sẵn có, tronggiai đoạn tới cần:

- Đầu tư mở rộng, cải tiến dây truyền công nghệcác cơ sở hiện có tại huyện Bát Xát, Bảo Thắng,

Trang 14

thành phố Lào Cai nhằm tăng chất lượng sản

phẩm, đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá sản phẩm

- Đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất thức ăn

gia súc tại các huyện và thành phố Lào Cai với

quy mô nhỏ, công suất khoảng 500 - 700

tấn/năm/cơ sở

1.2 Chế biến lâm sản

Tỉnh Lào Cai là tỉnh giầu tài nguyên rừng, hiện

có gần 285 nghìn ha rừng các loại, trữ lượng gỗ

đạt 18 triệu m3, trên 200 triệu cây tre, nứa Rừng

có trữ lượng gỗ tập trung (cấp 3) chiếm 46% phân

bố ở vùng có địa hình núi cao, vùng sâu, vùng xa,

còn lại là rừng hỗn giao (trữ lượng đạt cấp 4) Sản

lượng khai thác hàng năm: gỗ tự nhiên khoảng 5

nghìn m3, gỗ rừng trồng gần 40 nghìn m3và gần

5 triệu cây tre, nứa, vầu, luồng, Để sử dụng hiệu

quả, hợp lý tài nguyên rừng, gắn khai thác với

trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng Trong giai đoạn

tới, ngoài việc duy trì hoạt động, đổi mới thiết bị,

công nghệ của các cơ sở hiện có cần đầu tư xây

dựng mới một số cơ sở sản xuất:

1.2.1 Đối với lĩnh vực chế biến gỗ:

Ưu tiên phát triển các cơ sở sản xuất mặt hàng

chất lượng cao, mẫu mã đáp ứng thị hiếu (bàn,

ghế, tủ) Bên cạnh đó đi sâu phát triển các sản

phẩm gỗ thủ công, các sản phẩm trang trí nội thất

có tính thẩm mỹ, giá trị sử dụng và giá trị kinh tế

cao như đèn, khung tranh, bình hoa, sử dụng gỗ

rừng trồng Khuyến khích mở rộng các cơ sở sản

xuất mộc dân dụng hiện tại đi sâu sản xuất các

mặt hàng cao cấp Trong giai đoạn 2011-2015

ngoài việc duy trì sản xuất ổn định và đầu tư thay

thế dần thiết bị, máy móc các cơ sở chế biến lâm

sản hiện có với tổng công suất khoảng 40 nghìn

m3 gỗ nguyên liệu/năm cần đầu tư mới các cơ sở

sản xuất tại thành phố Lào Cai, Bảo Thắng, Bảo

Yên, Văn Bàn, Bát Xát với tổng công suất 10

nghìn m3 gỗ nguyên liệu/năm

1.2.2.Về sản xuất hàng mây tre đan:

Lào Cai có lợi thế về nguyên liệu để sản xuấtmây tre đan (200 triệu cây tre nứa, 800 nghìn métsong mây) tập trung chủ yếu ở Sa Pa, Bảo Yên,Văn Bàn Trong giai đoạn tới, cần hình thành cáclàng nghề mây tre đan xuất khẩu và duy trì các cơ

sở mây tre đan hiện có đồng thời đầu tư hỗ trợhình thành một số cơ sở mới:

- Đầu tư có chiều sâu và xây dựng HTX chếbiến mây tre đan tại 02 huyện trọng điểm là BảoThắng và Văn Bàn Vùng nguyên liệu cần quyhoạch tại huyện Văn Bàn và Bảo Yên

1.2.3 Sản xuất, chế biến dược liệu:

Nhằm khai thác lợi thế của tỉnh có nhiều loạicây dược liệu quý Trên địa bàn tỉnh đã có Trạmnghiên cứu trồng cây thuốc tại Sa Pa của Việndược liệu Giai đoạn 2011-2015 để chế biến dượcliệu của tỉnh Lào Cai phát triển ổn định, vữngchắc, cần phối hợp với Viện Dược liệu tiến hànhquy hoạch vùng nguyên liệu để tránh tình trạngkhai thác tự nhiên làm cạn kiệt nguồn gen quýhiếm Trong thời gian tới cần:

- Phát triển sản xuất dược liệu tại huyện BảoThắng công suất 150 tấn dược liệu/năm

- Phát triển nghề làm thuốc Bắc tại TT Sa Paphục vụ khách du lịch

- Bảo tồn và phát triển nghề chế biến nước tắmngười Dao đỏ tại xã Tả Phìn và xã Thanh Kim,huyện Sa Pa

2 Sơ chế lá thuốc lá

Theo Quy hoạch vùng trồng cây thuốc lá trênđịa bàn tỉnh Lào Cai đến năm 2015 có khoảng1.500 ha trồng cây thuốc lá tại 05 huyện (Bát Xát,Mường Khương, Bảo Thắng, Bắc Hà và Si MaCai) với sản lượng 2.500 đến 3.000 tấn lá thuốc

lá sây khô Để đáp ứng công đoạn sấy cần duy trìhoạt động 1.889 lò và đầu tư mới thêm khoảng1.000 lò sấy cụ thể:

Trang 15

- Huyện Bát Xát khoảng: 300 lò

- Huyện Mường Khương khoảng: 300 lò

- Huyện Si Ma Cai khoảng: 250 lò

- Huyện Bắc Hà khoảng: 100 lò

- Huyện Bảo Thắng khoảng: 50 lò

3 Nghề rèn đúc, gia công, sửa chữa cơ khí

Đây là các ngành nghề phục vụ sinh hoạt và

sản xuất của nhân dân, các sản phẩm rèn đúc, gia

công, sửa chữa cơ khí ngày càng có nhu cầu cao,

đặc biệt là sản xuất các trang thiết bị máy móc

phục vụ cơ giới hoá nông nghiệp như thiết bị làm

đất, thu hoạch, bảo quản… Trong thời gian tới

ngoài việc duy trì hoạt động của các cơ sở hiện

có ít gây ô nhiễm môi trường và đảm bảo mỹ

quan đô thị cần:

- Di dời khoảng 200 cơ sở vào trong các khu,

cụm công nghiệp trên địa bàn (Thành phố Lào

Cai: 70 cơ sở, Bảo Thắng: 50 cơ sở, Bắc Hà: 30

cơ sở, Văn Bàn: 30 cơ sở, các huyện khác mỗi

huện 20 cơ sở)

- Đầu tư mới 20 cơ sở công suất từ 500 - 1.000

tấn sản phẩm/năm tại các trung tâm cụm, xã thuộc

các huyện trong tỉnh

- Đầu tư mở rông các cơ sở rèn, đúc quy mô

nhỏ (hộ gia đình) nâng công suất từ 500 nghìn sản

phẩm lên 1.000 sản phẩm các loại/năm và phát

triển các cơ sở sửa chữa cơ điện có tay nghề cao

phục vụ đời sống nhân dân ở các địa phương

trong tỉnh

4 Sản xuất vật liệu xây dựng

Nhu cầu sử dụng vật liệu xây dựng (cát, đá,

sỏi, gạch, gói…) trong giai đoạn tới rất lớn phục

vụ xây dựng dân dụng và các công trình công

cộng trong tỉnh Đây là cơ hội để tiếp tục phát

triển ngành sản xuất vật liệu xây dựng

4.1 Sản xuất gạch

Với chủ trương chung, dần xoá bỏ lò gạch thủcông trên địa bàn toàn tỉnh Ngoài việc đẩy nhanhtốc độ đầu tư các nhà máy sản xuất gạch tuy lencần khuyến khích ứng dụng công nghệ mới để sảnxuất gạch không nung, công nghệ gạch đất hoáđá… cụ thể:

- Đầu tư cơ sở sản xuất gạch bê tông siêu nhẹcông suất 3 triệu viên/năm và cơ sở sản xuấtgạch không nung (công nghệ đất hoá đá) côngsuất 5 triệu viên/ năm tại thành phố Lào Cai vàmột số cơ sở sản xuất gạch không nung với tổngcông suất từ 5 - 10 triệu viên/năm tại các địaphương vùng sâu, vùng xa phương tiện giaothông đi lại khó khăn

4.2 Sản xuất cát, đá, sỏi

Rà soát lại quy hoạch khai thác cát, đá, sỏi trênđịa bàn tỉnh Lào Cai, xem xét các cơ sở sản xuấtcát, đá, sỏi hiện có để cấp phép hay dừng hoạt độngsản xuất Hướng sản xuất lĩnh vực này tập trung tại:

- Cát sỏi tại: Bảo Nhai (Bắc Hà), Bến Đền(Bảo Thắng);

- Đá xây dựng tại: Bản Cầm, Phong Niên (BảoThắng), Ô Quý Hồ (Sa Pa), Na Hối (Bắc Hà),Cốc Sâm (Bát Xát)…

5 Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ

Là tỉnh có tiềm năng về du lịch nhờ đó hàngthủ công mỹ nghệ của Lào Cai có điều kiện pháttriển tốt, đặc biệt là hàng dệt may thổ cẩm truyềnthống, nghề trạm khắc bạc, hàng sơn mài, hàngmộc mỹ nghệ

5.1 Nghề dệt, may thổ cẩm

Nghề dệt, may và thêu thổ cẩm Lào Cai lànghề truyền thống đã có từ lâu đời, sản phẩm dệt,may thổ cẩm mang đậm bản sắc văn hóa dân tộcđang được du khách trong và ngoài nước ưachuộng Trong giai đoạn tới cần:

Trang 16

- Duy trì hoạt động sản xuất của các cơ sở

hiện có ở Khánh Yên Thượng, Khánh Yên

Trung, Chiềng Ken, Liêm Phú (Văn Bàn); Tả

Phìn, San Sả Hồ, Sa Pả, Trung Chải (Sa Pa); Cán

Cấu (Si Ma Cai); Bản Phố (Bắc Hà)

- Hỗ trợ đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất thêu

thổ cẩm của câu lạc bộ thổ cẩm Tả Phìn (Sa Pa)

nâng công suất từ 8 nghìn sản phẩm lên 13

nghìn sản phẩm các loại/năm và đầu tư mở rộng

cơ sở thêu dệt thổ cẩm của HTX Phố Núi (Sa

Pa) nâng công suất từ 10 nghìn lên 15 nghìn sản

phẩm các loại/năm

- Tiếp tục đầu tư thành lập cơ sở may, thêu

thổ cẩm Sa Pa; hỗ trợ thành lập một số HTX

dệt, may, thêu thổ cẩm tại các địa phương:

Khánh Yên Thượng, Khánh Yên Trung, Chiềng

Ken, Liêm Phú - Văn Bàn; Tả Phìn, San Sả Hồ,

Sa Pả, Trung Chải - Sa Pa; Cán Cấu - Si Ma

Cai; Bản Phố - Bắc Hà

5.2 Nghề chạm khắc bạc

Nghề chạm khắc bạc là nghề thủ công với

những bí quyết mang dấu ấn dân tộc thực sự là di

sản văn hoá dân gian đặc sắc và là vốn quý của

của cư dân thiểu số cần được bảo tồn và phát

triển Với các chính sách khuyến khích phát triển

trong giai đoạn 2011-2015 duy trì và mở rộng các

cơ sở chạm khắc bạc hiện có

III Giải pháp phát triển tiểu thủ công nghiệp

1 Giải pháp về cơ chế, chính sách

- Xây dựng cơ chế và chính sách hỗ trợ đầu tư

hạ tầng kỹ thuật các cụm công nghiệp đã được

quy hoạch tạo mặt bằng thu hút đầu tư phát triển

TTCN theo hướng:

+ Đa dạng hoá hình thức đầu tư: Đầu tư,

khai thác và chuyển giao (BOT); Đầu tư và

chuyển giao (BT); Đầu tư chuyển giao và khai

thác (BTO)

+ Miễn giảm, ưu đãi về thuế, đất theo chínhsách của Nhà nước và của tỉnh với mức caonhất;

+ Ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí đền bù,giải phóng mặt bằng và hỗ trợ tối đa không quá

03 tỷ đồng/cụm công nghiệp để xây dựng hạtầng kỹ thuật

- Tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoàn thiệnchính sách khuyến khích phát triển TTCN, bổsung cơ chế chính sách, quy định hiện hànhtheo hướng mở rộng thêm các nội dung và hìnhthức hỗ trợ, tăng thêm mức hỗ trợ và đơn giảnhoá thủ tục hỗ trợ cho các đối tượng được thụhưởng

- Củng cố và đẩy mạnh hoạt động khuyếncông, từng bước phát triển mạng lưới khuyếncông viên đến cấp huyện, xã

2 Giải pháp về vốn

- Tiếp tục triển khai có hiệu quả “Quy định

về khuyến khích phát triển TTCN Lào Cai” để

hỗ trợ một phần kinh phí cho các cơ sở sản xuấtTTCN

- Tăng cường quảng bá, thu hút các nhà đầu

tư vào lĩnh vực sản xuất TTCN

- Phát triển các mô hình: Công ty cổ phần,HTX, Tổ hợp tác trong sản xuất TTCN để huyđộng nguồn lực trong nhân dân

- Xây dựng cơ chế cho vay đối với các dự

án phát triển ngành nghề truyền thống và làngnghề Hình thành và phát triển Quỹ bảo lãnh tíndụng đối với các Dự án sản xuất TTCN

3 Giải pháp về nguồn nhân lực

- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡngnguồn nhân lực, có chính sách thỏa đáng để thuhút nhân tài, người có tay nghề cao, nghệ nhântham gia hoạt động trong lĩnh vực TTCN Đồng

Trang 17

thời đẩy mạnh xã hội hoá công tác đào tạo để

đáp ứng kịp thời nguồn nhân lực cho phát triển

TTCN Khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng

nguồn lao động của địa phương, đặc biệt quan

tâm giải quyết việc làm cho các hộ phải di

chuyển do giải phóng mặt bằng nhường đất cho

các dự án CN - TTCN

- Phối hợp với các trường đại học, viện

nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo nghề,

nâng cao kiến thức về quản lý, quản trị kinh

doanh đối với công nghiệp nông thôn, nhất là

các làng nghề, nghề thủ công đáp ứng trong thời

kỳ hội nhập kinh tế

- Có chính sách quan tâm đến đội ngũ nghệ

nhân, thợ giỏi trong lĩnh vực sản xuất TTCN:

- Các trung tâm, cơ sở dạy nghề cần mở rộng

hợp tác với các nghệ nhân, thợ giỏi trong và

ngoài tỉnh trong đào tạo nghề thủ công truyền

thống, nhân cấy nghề nhằm tạo ra nguồn nhân

lực cho các làng nghề và giải quyết việc làm ở

nông thôn

4 Giải pháp về khoa học công nghệ

- Chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học

công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng

nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất TTCN;

- Chuyển giao ứng dụng các dây chuyền thiết

bị quy mô nhỏ và vừa với công nghệ tiên tiến

vào sản xuất, từng bước thay thế thiết bị, công

nghệ lạc hậu để tăng năng suất, chất lượng, cải

thiện mẫu mã, kiểu dáng các sản phẩm TTCN

đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường;

- Hỗ trợ ứng dụng các công nghệ mới vào sản

xuất để tăng giá trị sản phẩm chế biến sâu, tiến

đến sản xuất nhiều mặt hàng xuất khẩu

- Tăng cường công tác khuyến nông cho

công đoạn sản xuất nguyên liệu, khuyến công

cho công đoạn công nghệ sau thu hoạch

5 Giải pháp thị trường

- Tăng cường công tác tư vấn, hỗ trợ xúctiến thương mại cho các đơn vị sản xuấtTTCN, làng nghề thông qua quảng cáo, thamgia hội chợ, thăm quan, khảo sát, cung cấpthông tin,

- Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn giúp

đỡ các cơ sở sản xuất TTCN trong việc nângcao nhận thức về đăng ký và bảo vệ thươnghiệu, xây dựng mẫu, kiểu dáng công nghiệp,công bố quản lý chất lượng sản phẩm

- Tăng cường ứng dụng công nghệ mới, cảitiến công nghệ, thay đổi thiết bị để nâng caochất lượng sản phẩm

6 Giải pháp vùng nguyên liệu

Để phát triển ổn định, bền vững ngành côngnghiệp chế biến vấn đề cung cấp nguyên liệu

- Tăng cường hỗ trợ đầu tư phát triển vùngnguyên liệu, thực hiện cam kết bao tiêu nôngsản sau thu hoạch; Tạo mối liên hệ gắn bó chặtchẽ giữa “Bốn nhà”

Nguồn: Dự án phát triển TTCN tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011-2015

Biên tập: Việt Trung

Trang 18

I Thực trạng phát triển 10 nghề và làng

nghề tại Quảng Ngãi

1 Làng nghề chế biến hải sản Thạch Bi

Trong những năm qua, nghề đã mở rộng được

thị trường tiêu thụ rộng lớn sang các nước Trung

Quốc, Lào và Campuchia, tăng giá trị sản xuất và

tiêu thụ nên đã thu hút được sự đầu tư của các

doanh nghiệp, cơ sở sản xuất (CSSX) Bên cạnh

đĩ, với lợi thế của làng nghề nằm ven biển và sát

đường quốc lộ 1A, việc thu mua cũng như vận

chuyển sản phẩm khá thuận lợi

Tuy nhiên, việc thu mua nguyên liệu của làng

nghề đang gặp trở ngại và thiếu ổn định do sự sạt

lở của cảng biển gây khĩ khăn cho các tàu thuyền

ra vào cập bến Thị trường mở rộng sang nước

ngồi nhưng chiếm tỷ lệ thấp trong giá trị tiêu thụ

do thiếu vốn sản xuất, thiếu sự gắn kết giữa các

doanh nghiệp, CSSX và tâm lý e ngại của người

làm nghề Bên cạnh đĩ, sản xuất của làng nghề

cũng gây ảnh hưởng đến mơi trường sống xung

quanh làng nghề nhưng mức độ cịn thấp

2 Làng nghề sản xuất nước mắm xã Đức

Lợi - Mộ Đức

Nghề nước mắm ở xã Đức Lợi, huyện Mộ

Đức cĩ nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển

như sau: Là nghề truyền thống nên được người

dân ở đây gắn bĩ với nghề; Lao động được thuê

dễ dàng từ nguồn lao động nhàn rỗi trong vùng

với giá nhân cơng thấp; Nguyên liệu được cung

ứng từ nhiều nguồn khác nhau nên ít khi rơi vào

tình trạng thiếu hụt; Đặc biệt, trong thời gian

gần đây, trên địa bàn thơn Vinh Phú đang triển

khai xây dựng cụm cơng nghiệp làng nghề với

diện tích 2 ha

Tuy nhiên, làng nghề vẫn cĩ một số khĩkhăn, thách thức, đĩ là:

+ Thị trường thị trường tiêu thụ nhỏ hẹp, chủyếu giới hạn trong địa bàn tỉnh

+ Việc tiếp cận các loại vốn vay ưu đãi từNhà nước và các tổ chức tín dụng vẫn gặp khĩkhăn nên hạn chế về mở rộng sản xuất, chấtlượng và mẫu mã sản phẩm

+ Ngồi ra, vấn đề nước thải và mùi hơi xuấtphát từ hoạt động của nghề cũng là một tháchthức lớn bởi việc xử lý triệt để khơng phải dễdàng

3 Làng nghề sản xuất bánh tráng, bún Hành Trung

Nghề bánh tráng khá đơn giản với hình thứclàm chủ yếu là thủ cơng nên dễ học và dễ làm,hầu hết các lao động sau một thời gian học nghềngắn đã cĩ thể làm nghề thành thạo Hiện nay,nghề phát triển chủ yếu theo hình thức hộ giađình và sản xuất nhỏ lẻ Trong những năm gầnđây, một số hộ đã đầu tư dây truyền sản xuấtcơng nghiệp, tạo tiền đề cho mơ hình sản xuấtbánh tráng dây chuyền tập trung trong tương lai Tuy nhiên, việc phát triển nghề gặp nhiềukhĩ khăn do nhiều nguyên nhân như trình độhọc vấn của người lao động cịn hạn chế nênkhĩ khăn trong tiếp thu khoa học cơng nghệ;giá cả thấp và khơng ổn định do buơn bán chủyếu thơng qua tiểu thương và phụ thuộc vào giá

cả của lúa gạo; mẫu mã sản phẩm cổ truyềnchưa cĩ sự thay đổi, chưa đăng ký thương hiệusản phẩm nên chưa tạo dựng được thị trườngtại các vùng khác; thiếu tính liên kết giữa các

hộ sản xuất

Phát triển nghề và làng nghề tại Quảng Ngãi

Trang 19

4 Nghề sản xuất thịt bò khô thành phố

Quảng Ngãi

Nhân công của nghề đơn giản, không đòi hỏi

tay nghề, vì vậy các cơ sở sản xuất có thể tận dụng

nhiều đối tượng và độ tuổi khác nhau

Tuy nhiên, các CSSX vẫn gặp không ít khó

khăn Nguyên liệu thịt bò trong tỉnh vẫn chưa đáp

ứng được nhu cầu sản xuất của các cơ sở, có thời

điểm khan hiếm thịt bò Do đó, việc mua thịt bò

ở ngoài tỉnh đã làm cho chi phí sản xuất ở một số

thời điểm tăng cao Bên cạnh đó, nguồn phụ gia

cho sản xuất phải nhập khẩu từ Ấn Độ với giá cả

liên tục gia tăng trong những năm gần đây đã gây

không ít khó khăn cho các CSSX Việc tiêu thụ

sản phẩm vẫn bị cạnh tranh bởi hàng giả, hàng

kém chất lượng Một số cơ sở có nhu cầu đăng ký

thương hiệu nhưng vẫn còn tâm lý e ngại Ngoài

ra, các CSSX đều nằm trong thành phố do đó việc

mở rộng mặt bằng gặp khó khăn, trong khi những

chính sách khuyến khích như cho thuê đất với giá

ưu đãi rất khó thực hiện

5 Nghề sản xuất kẹo, đường thành phố

Quảng Ngãi

Nghề sản xuất kẹo đường có nhiều ưu thế về

kinh nghiệm, lao động và nguyên liệu, đồng thời

chủ động được trong tìm kiếm nguyên liệu Việc

sản xuất đơn giản nên dễ dàng thuê nhân công với

giá nhân công rẻ

Tuy nhiên, nghề kẹo đường truyền thống bị

cạnh tranh bởi các loại đường sản xuất theo

phương thức công nghiệp

Tính đa dạng trong công dụng của đường phèn

chưa được người dân hiểu một cách rõ ràng, thấu

đáo Điều này khiến cho việc tiêu thụ mặt hàng

này gặp nhiều trở ngại Mặt khác, vốn đầu tư vào

hoạt động sản xuất của nghề còn thiếu, chủ yếu

là vốn tự có của CSSX nhưng việc tiếp cận với

các nguồn vốn cho vay của Nhà nước, các tổ chứctín dụng còn nhiều khó khăn

6 Làng nghề trồng cây cảnh thôn Hoà Tân, Nghĩa Hoà

Nghề trồng hoa cây cảnh những năm gần đây

đã nhận được sự ủng hộ và tham gia của nhiềungười dân địa phương Nghề đã mang lại thu nhậpđáng kể cho người dân bởi chi phí thấp nhưng giáthành sản phẩm tương đối cao Sản phẩm củanghề góp phần làm đẹp cho phong cảnh của làngquê tạo tiềm năng thu hút khách du lịch

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển người laođộng gặp không ít khó khăn Lao động đòi hỏi taynghề cao và không ngừng học hỏi, năm bắt xuhướng mới để có thể đáp ứng thị hiếu ngày càng

đa dạng của khách hàng Trong khi đó, việc nângcao kỹ năng, kinh nghiệm và hiểu biết về giốngcây trồng, khả năng tiếp thu và ứng dụng tiến bộ

kỹ thuật chưa được quan tâm thích đáng Ngoài

ra, sản phẩm của địa phương còn chịu sự cạnhtranh quyết liệt của nhiều làng nghề cây cảnh ởcác địa phương khác

Bên cạnh đó, đối với những cơ sở lớn, việc mởrộng mặt bằng tại địa phương gặp nhiều khó khăn.Ngoài ra, những biến đổi thất thường của thời tiết

ở địa phương cũng là khó khăn lớn của nghề

7 Làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, mây tre đan, Phổ Ninh

Do sản xuất theo đơn đặt hàng của Công tyThân Thanh Long nên hoạt động sản xuất củalàng nghề chỉ được thể hiện bằng hình thức làm

ra sản phẩm, người lao động nhận công theo giáđịnh sẵn Điều này tạo thuận lợi cho những ngườitham gia bởi họ không phải lo tính toán đầu vào,đầu ra cho sản phẩm Tuy nhiên, chính sự phụthuộc này khiến cho nghề tồn tại một cách thiếuđịnh hướng, không có nội lực phát triển Người

Trang 20

dân không chủ động được nguồn nguyên liệu và

thị trường tiêu thụ, không thu hút được đội ngũ

lao động trẻ kế thừa Vì vậy, trong trường hợp

Công ty Thân Thanh Long bất ổn, ngừng trệ hoặc

gặp khó khăn thì khả năng tồn tại của làng nghề

sẽ suy giảm

8 Làng nghề chổi đót Phổ Phong, Đức Phổ

Nghề có nhiều lợi thế trong phát triển thị

trường tiêu thụ do sản phẩm nhẹ, giá rẻ Đồng

thời, đây là nghề dễ làm, dễ học, thu nhập cao và

tương đối ổn định, vì vậy đã thu hút được lao

động thuộc mọi lứa tuổi tham gia, đã giải quyết

được việc làm cho lao động nhàn rỗi trong xã

Thu nhập mang lại từ nghề tương đối khá, nghề

chủ yếu làm hoàn toàn bằng thủ công nên tiết

kiệm được chi phí trong việc mua sắm máy móc,

điện nước…

Tuy nhiên, nghề còn tồn tại nhiều khó khăn

trong quá trình phát triển do nhiều nguyên nhân:

Nguồn nguyên liệu có tính quyết định trong phát

triển nghề ngày càng khan hiếm do tác động của

chặt phá rừng và khai thác bừa bãi của người dân

Thiếu vốn để quay vòng trong quá trình sản xuất

đã hạn chế quá trình phát triển của nghề, đặc biệt

trong thu mua nguyên liệu và đưa sản phẩm tới

các thị trường ngoài nước

9 Làng nghề mây tre đan, đũa tre Tịnh Ấn

Tây, Sơn Tịnh

Nghề tre đan là nghề dễ học và dễ làm, dễ tạo

ra thu nhập cho người làm nghề nên thu hút được

một lực lượng lao động nhàn rỗi tham gia Xã

Tịnh Ấn Tây cũng nằm gần đường quốc lộ 1A nên

tạo thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán và vận

chuyển sản phẩm tới thị trường tiêu thụ

Tuy nhiên bên cạnh những tiềm năng của

nghề, thì còn tồn tại nhiều khó khăn và thách thức

Hiện nay, nghề đang ở giai đoạn phát triển cầm

chừng với những sản phẩm đơn giản, thô sơ, kémtinh xảo làm bằng thủ công, chủ yếu phục vụ chomột số hoạt động sinh hoạt hằng ngày nên khôngquan tâm đến việc mở rộng thị trường cũng nhưđăng ký thương hiệu vì vậy chỗ đứng trên thịtrường tiêu thụ ngày càng hạn chế Thêm vào đó,nguồn nguyên liệu khan hiếm do việc chặt phárừng và giải tỏa, thu hồi đất sản xuất gây khó khăntrong việc tiêu thụ sản phẩm

10 Nghề mộc dân dụng xã Tịnh Minh, Sơn Tịnh

Những lao động tham gia nghề này đa số đềuđược thừa hưởng kinh nghiệm của những thế hệtrước Thị trường tiêu thụ cũng nhờ tiếng tăm từxưa mà có thể thu hút được sự chú ý của nhữngvùng xung quanh

Tuy nhiên, thị trường truyền thống đang ngàycàng bị suy giảm do sự cạnh tranh với các thươnghiệu lớn trong và ngoài nước với những các sảnphẩm cùng loại có mẫu mã đa dạng, sắc sảo nhưnhư gỗ Đồng Kỵ hoặc các mặt hàng sản xuất từnhựa, gỗ ép Nguyên nhân là tay nghề của laođộng tại đây chưa thể đạt đến độ tinh xảo cao như

ở các địa phương khác trong khi giá thành sảnphẩm không thể thấp hơn các sản phẩm làm bằngnhựa hoặc gỗ ép

Bên cạnh đó, khi nguồn nguyên liệu gỗ tựnhiên, đặc biệt là các loại gỗ quý không dễ dàng

để thu mua, giá cả liên tục biến động thì nguồnvốn để tích trữ gỗ phục vụ sản xuất còn hạn chế.Như vậy, quá trình sản xuất phụ thuộc quá nhiềuvào biến động của nguồn nguyên liệu và giá cảnguyên liệu

II Các giải pháp phát triển

1 Nghiên cứu và mở rộng thị trường tiêu thụ

+ Thiết lập mạng lưới phân phối ở các khu vựcnội thị, nội thành của tỉnh Quảng Ngãi cũng như ởmột số thành phố lớn (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh,

Ngày đăng: 01/02/2015, 00:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w