Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Bệnh viêm phổi trâu bò đã và đang phát hiện trên tất cả các huyện, thị tỉnh Lạng Sơn, gây thiệt hại lớn vẻ kinh tế.. Tuy nhiên, những tư liệu nghiên
Trang 2
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Nông nghiệp I nam 2003
Người hướng dẫn khoa học:?
„
GS.TSKH Hồ Văn Nam
Phản biện thứ nhất:
GSTS Đào Trọng Đạt Phản biện thứ hai:
PGS TS Lê Minh Trí
EHẩn biện thứ ba:
PGS TS Lê Văn Tạo
Luận án sẽ được bảo vệ tại hội đồng chấm luận án Nhà nước,
họp tại Trường Đại học Nông nghiệp I
Vào lúc: £ giờ /Z tháng Q/ năm 2003
Có thể tìm luận án tại thư viện:
- Quốc gia Hà Nội
- Trường Đại học Nông nghiệp I
Trang 3
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Bệnh viêm phổi trâu bò đã và đang phát hiện trên tất cả các huyện, thị tỉnh Lạng Sơn, gây thiệt hại lớn vẻ kinh tế Trong vòng 10 năm trở lại đây từ
1991 đến 2000, năm nào cũng xảy ra bệnh viêm phổi Năm trâu bò chết ít do bệnh viêm phổi gây nên cũng hàng ngàn con (năm 1998); năm chết nhiều là vài ngàn con trâu bò (năm 2000) gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng Tuy nhiên, những tư liệu nghiên cứu về nguyên nhân, đặc điểm bệnh lý, triệu chứng, bệnh tích và biện pháp phòng chống bệnh viêm phổi ở trâu nước ta hầu như chưa
có, cho nên nghiên cứu của chúng tôi những vấn đề trên là cần thiết, để từ đó đưa ra các biện pháp phòng và trị bệnh viêm phổi có kết quả, đạc biệt trong điều kiện một tỉnh miền núi như Lạng Sơn
2 Mục đích nghiên cứu
- Hiểu được thực trạng bệnh viêm phổi ở trâu tỉnh Lạng Sơn
~ Nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng, bệnh tích, cơ chế sinh bệnh, các chỉ tiêu chẩn đoán và biện pháp phòng chống bệnh
- Đưa ra được các giải pháp phòng, trị bệnh viêm phổi ở trâu, góp phần trong sự nghiệp phát triển chăn nuôi trâu bò ở Lạng Sơn
3 Những đóng góp mới của luận án
Ý nghĩa khoa học:
Những kết luận của luận án là những tư liệu tương đối đầy đủ về: nguyên nhân gây bệnh, diễn biến bệnh lý, các triệu chứng thường gặp của bệnh viêm phổi ở trâu và biện pháp phòng chống những vấn đề còn rất thiếu các tư liệu
nghiên cứu cụ thể đặc biệt ở nước ta
Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu đã đưa ra được giải pháp về phòng và trị bệnh viêm phổi ở trâu tỉnh Lạng Sơn, giúp người chăn nuôi nâng cao hiệu quả trong quá trình phát triển chăn nuôi trâu trên địa bàn tỉnh.
Trang 4Giúp cán bộ thú y cơ sở các chỉ tiêu chẩn đoán và phác đồ trị bệnh viêm
phổi ở trâu
4 Nội dung nghiên cứu
1 Điều tra thống kê số lượng trâu bị bệnh viêm phổi trong thời gian 6 năm (1992 - 1997) ở các tháng trong năm, các vùng địa lý của
tỉnh Lạng Sơn nhằm làm rõ ảnh hưởng của sự thay đổi khí hậu và tập
quán chăn nuôi trong việc phát sinh bệnh viêm phổi
2 Phân tích một số yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến tình hình trâu chết do bệnh viêm phổi tại Lạng Sơn từ năm 1992 -1997
3 Tìm hiểu sự biến động của những vi khuẩn hiếu khí thường gặp
4 Quan sát các triệu chứng lâm sàng: thân nhiệt, mạch đập, tần số
hô hấp, các rối loạn hô hấp - ho, khó thở
Biến động các chỉ tiêu máu: số lượng hồng cầu và số lượng bạch cầu,
độ kiểm dự trữ, các chỉ tiêu protein huyết thanh
5 Bệnh tích: Mổ khám trâu bị bệnh viêm phổi kiểm tra phổi về biến đổi tổ chức đại thể, biến đổi vi thể
6 Gây bệnh thực nghiệm viêm phổi ở trâu
7 Xây dựng các chỉ tiêu để chẩn đoán bệnh viêm phổi ở trâu
§ Các phương pháp phòng trị bệnh
Š Bố cục của luận án
Luận án được trình bày trên 131 trang (t.); trong đó: phần mở đầu và
tổng quan tài liệu 25 tr., phương pháp và nội dung nghiên cứu 9 tr., kết quả nghiên cứu 66 tr., thảo luận kết quả và kết luận 16 tr và 15 tr liệt kê 51 tài liệu trong nước và 104 tài liệu tiếng nước ngoài đã được trích dẫn Trong luận
án có 27 bảng số, 5 đồ thị và 22 ảnh chụp
Ngoài ra còn có phần phụ lục 16 tr., giới thiệu địa lý tỉnh Lạng Sơn - địa phương tiến hành thử nghiệm và một số ảnh minh hoạ các xét nghiệm vi
khuẩn
Trang 5CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số nguyên nhân gây bênh viêm phổi
Những tư liệu về bệnh viêm phổi ở gia súc lớn có sừng được ghi chép chủ yếu là ở bò
Bệnh viêm phổi xay ra phổ biến ở bò nuôi tập trung, cũng như nuôi gia đình ở hầu hết các nước trên thế giới Bệnh thường phát sinh khi thời tiết thay đổi từ ấm sang lạnh Bê non dưới 1 năm tuổi mắc bệnh với tỷ lệ cao và nặng hơn ở bò trưởng thành (Leroy.G Bicht, 1982)
Theo Maninge (1982), súc vật hay mắc bệnh viêm phổi khi các điều kiện
ngoại cảnh không thuận lợi, sức đề kháng giảm thấp Bình thường người ta vẫn phân lập được vi sinh vật gây bệnh trong bộ máy hô hấp của bò như: virut Adeno, Mycoplasma, vi khuẩn: Pasteurella sp, Streptococcus sp; Staphylococcus sp nhưng chúng chỉ gây bệnh cho bò, nhất là bê non khi thời tiết-chuyển lạnh, thức an thiếu và chăm sóc nuôi dưỡng kém, làm cho súc vật gầy còm,
giảm sức đề kháng
Nhiều tác giả nhấn mạnh ý nghĩa to lớn của khí hậu chuồng nuôi: nền
chuồng lạnh, độ ẩm cao, gió lùa, nồng độ amoniac và những khí độc khác trong chuồng cao là nguyên nhân gây bệnh ở cơ quan hô hấp Một số tác giả
còn chú ý tới các yếu tố Stress (nhất là ở những cơ sở kiểu chăn nuôi công nghiệp và những phức hợp chăn nuôi công nghiệp) và ảnh hưởng của các đặc
điểm đất đai, khí hậu của vùng (Niconxki, 1986)
Các ký sinh trùng: ấu trùng giun đũa, giun phổi, gây thương tổn cơ giới
phổi tạo điều kiện cho vi khuẩn viêm phổi thứ phát (Campbell, 1957;
Cumingham, 1982) Các loài nấm cũng gặp trong nhiều trường hợp viêm phổi
ở bò, nhất là bê non (David H Ellis, 1994)
1.2 Bệnh ở phổi
Ở gia súc thường gặp tương đối nhiều bệnh của phổi gây thiệt hại lớn
Trang 6về kinh tế Trong tất cả các bệnh ở phổi, người ta phân biệt những bệnh có đặc trưng không gây viêm và các bệnh gây viêm (viêm phổi, hoại tử phổi), thường gặp nhất là các bệnh viêm phổi Theo đặc điểm của quá trình viêm, người ta phân biệt viêm phổi thành 2 dạng: viêm phổi thuỳ (Pneumonia
crouposa) và viêm phổi đốm (Broncho ‘pneumonia catarrhalis) Người ta con
phân biệt các bệnh viêm phổi thành: viêm xuất huyết, viêm cata, viêm do ngoại vật và viêm do di căn (Kolexnik, 1985; Hồ Văn Nam và cộng sự,
1997)
1.3 Phòng trị bệnh phổi ở gia súc
Biện pháp phòng chống bệnh đường phổi chủ yếu được thực hiệm ở lợn,
bò Các biện pháp phòng chống bệnh khác nhau mang lại hiệu quả khác nhau (Linquits, 1974; Hogg và Underda, 1980; Schimmel và cộng sự, 1990; Blaha
và cộng sự, 1990)
Hiệu quả điều trị kháng sinh đối với viêm phổi nhiễm khuẩn ở lợn phụ thuộc vào thời điểm điều trị và các loại kháng sinh sử dựng (Farrington, 1986; Pott và Edward, 1990; Nguyễn Thị Nội và cộng sự, 1993),
CHƯƠNG II : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: là trâu giống địa phương
+ Số liệu về thời tiết khí hậu từ 1992 đến 1997 do đài khí tượng thuỷ văn Lạng Sơn cung cấp
+ Bệnh phẩm xét nghiệm vi khuẩn, làm tiêu bản giải phẫu bệnh - các khí
quan: Khí phế quản, phổi, hạch và máu trâu khoẻ và trâu bệnh viêm phổi, sau khi lấy được bảo quản theo yêu cầu xét nghiệm và đưa ngay về trường Đại học Nông nghiệp I để xét nghiệm
+ Xét nghiệm máu tại khoa huyết học, bệnh viện Lạng Sơn
Trang 7+ Môi trường hoá chất do Viên Thú y Quốc gia, Viện Vệ sinh dịch tế,
hãng Oxid (Anh)
Phương pháp nghiên cứu:
+ Điều tra dịch tễ bệnh viêm phổi bằng cách thống kê số liệu (biểu điều
tra theo bệnh) và lưu trữ ở chỉ cục Thú y tỉnh kết hợp khám tại chỗ
+ Mổ khám trâu theo phương pháp thông thường
+ Quan sát bệnh biến tổ chức viêm phổi của trâu được tiến hành tại các điểm
giết mổ trâu và mổ khám các trâu viêm phổi đã được chẩn đoán
+ Phan lap Pasteurella multocida theo phuong phap Carter (1984)
+ Phan lap Staphylococcus, Streptococcus, theo phương pháp Nguyễn Vĩnh Phước (1976), Nguyễn Lân Dũng và cộng sự (1979), Phạm Kim Anh
(1991)
+ Quan sát triệu chứng lâm sàng ở trâu viêm phổi tự nhiên và viêm phổi thực nghiệm
+ Quan sát tổ chức bệnh lý tổ chức vi thể qua tiêu bản tổ chức vi thể,
nhuộm bằng Hematêin - Eosin
+ Kiểm tra số lượng hồng cầu, bạch cầu bằng buồng đếm Neubauer
+ Kiểm tra tỷ khối hồng cầu (Haematocrit): Ding may ly tam TH - 12 + Công thức bạch cầu theo Schilling
+ Định lượng độ kiểm dự trữ theo phương pháp Nevodop
+ Định lượng lượng huyết sắc tố theo phương pháp Shali
+ Định lượng lượng Protein trong huyết thanh bằng khúc xạ kế Zena
+ Kiểm tra các tiểu phần Protein huyết thanh bằng phương pháp điện di
trên băng axetatxelluloza
+ Lầm kháng sinh đồ theo Heathley cải tiến
Trang 8+ Gây bệnh thực nghiệm viêm phổi theo phương pháp Farrington, 1986; Pijoan, 1986; Ciprian và cộng sự, 1988; Hall và cộng sự, 1988
+ Số liệu thu được qua nghiên cứu được xử lý theo toán thống kê trên máy vi tính theo chương trình Excel
CHƯƠNG II : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Tình hình bệnh viêm phổi ở trâu tỉnh Lạng Sơn
Thống kê theo dõi tình hình bệnh viêm phổi ở trâu các địa phương tỉnh
Lạng Sơn trong thời gian 1992-1997 nhằm sơ bộ xác định các nguyên nhân về
khí hậu, đặc điểm chăn nuôi có liên quan đến bệnh viêm phổi
Kết quả bảng 3.1 và bảng 3.2 cho thấy: Từ năm 1992 đến 1997 ở Lạng
Sơn đàn trâu hàng năm chết do viêm phổi khoảng 0,83%, có vùng tỷ lệ đó
thấp 0,53%, nơi trâu viêm phổi chết nhiều 1,22%
Các trâu viêm phổi chết chủ yếu là nghé (0,2 tháng - 2 năm tuổi) và trâu trên 12 năm tuổi(trâu già)
Trong điều kiện thời tiết của tỉnh Lạng Sơn trâu viêm phổi chết, bất đầu
từ tháng 10 và chết nhiều trong các tháng 1, tháng 2, tháng 3 năm sau Các tháng 4 đến tháng 9 không có trâu viêm phổi dẫn đến chết
3.2 Phân tích một số yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến tình hình trâu chết
do bệnh viêm phổi tại Lạng Sơn từ năm 1992 -1997
Điều kiện thời tiết và khí hậu ở Lạng Sơn thông qua các yếu tố nắng,
nhiệt độ, ẩm độ ảnh hưởng đến tình hình dịch ở gia súc nói chung tại Lạng
Sơn Do đó, chúng tôi phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố khí hậu đến tình hình trâu chết do bệnh viêm phổi
Trang 9
Bảng 3.1 Tỷ lệ trâu các lứa tuổi chết do bệnh viêm phổi trong từng vùng
của tỉnh Lạng Sơn từ năm1992 - 1997
Trang 10Bảng 3.3.a Một số chỉ tiêu về khí hậu ảnh hưởng đến tình hình trâu chết
do bệnh viêm phổi ở Lạng Sơn (1992 - 1997)
Ghỉ chú:N : Số giờ nắng trung bình tháng/thời gian điều tra (h)
T: Nhiệt độ trung bình tháng/thời gian điều tra (°C)
A: Am độ trung bình tháng/thời gian điều tra (%)
TC: Số trâu chết do bệnh viêm phổi theo điều tra (con)
Các số liệu về khí hậu trong 6 nam (1992-1997) ở Lạng Sơn do Đài khí
tượng và thủy văn tỉnh cung cấp
Các yếu tố nắng, nhiệt độ, ẩm độ đều ảnh hưởng đến số trâu chết viêm phổi:
+ Hệ số tương quan giữa yếu tố nhiệt độ và trâu V.P chết = -0,82
Trang 11Bảng 3.3.b Tình hình trâu chết do viêm phổi ở các tháng trong năm ở
Lạng Sơn (1992 - 1997)
Số giờ nắng trong ngày tỉ lệ nghịch với số trâu chết ở các tháng trong năm (r = - 0,85) Chỉ tiêu số giờ nắng cho thấy, cũng như nhiệt độ trong nam,
Trang 13trời nắng nhiều số trâu chết do viêm phổi càng ít (Bảng 3.3.a, 3.3.b)
Độ ẩm không khí ở Lạng Sơn và số trâu chết hàng tháng như bảng 3.3.a, 3.3.b cho thấy mối liên quan không lớn (r = 0,27 )
3.3 Kết quả phân lập vi khuẩn hiếu khí thường gặp trong đường hô hấp của trâu ở tỉnh Lạng Sơn và tìm hiểu biến động của chúng khi viêm phổi
Trong đường hô hấp ở trâu Lạng Sơn, kết quả xét nghiệm của chúng tôi (bảng 3.4 và 3.5) cho thấy, thường gặp một nhóm vi khuẩn hiếu khí:
Trong dịch ngoáy mũi: Pasteurella mmlocida 12,94%; ŠIrepIococcus
32,94% (Streptococcus gay dung huyét chiém 9,02+1,25%, Streptococcus
không gay dung huyết 23,92+2,80%); Staphylococcus 38,04%
(Staphylococcus aureus chiém 9,02+2,39%, céc ching Staphylococcus khac 29,02+1,77%) và ở tổ chức phổi: vi Thun Ì Staphylococcus 4,76% (Sraphylococcus aureus chiếm 1,59%, các chủng Staphylococcus khac 3,17%) streptococcus 3,17% (Streptococcus gay dung huyết chiếm 1,59%, Streptococcus khéng gay dung huyết 1,59%); không tìm thấy vi khuẩn
Pasteurella multocida
Khi viêm phổi chúng tôi phân lập thấy (bang 3.6), tham gia quá trình gây bệnh viêm phổi vẫn nhóm vi khuẩn hiếu khí đường phổi đã phân lập được ở trâu khoẻ, song các vi khuẩn bội nhiễm, tỷ lệ nhiễm tăng lên rất rõ: Pøsfeurella multocida 57,76%; Streptococcus 53,45% (Streptococcus gay dung huyét chiếm
50,86+2,53%, Streptococcus khong gay dung huyết: 2,6030,98%);
Staphylococcus 49,14% (Staphylococcus aureus chiém 37,07+2,43%, cdc ching
Staphylococcus khac 12,07+1,34%).:
Khi gây viêm phổi thực nghiệm ở trâu chúng tôi có nhận xét: Tỉnh dầu
thông tác động chỉ gây viêm phổi nhẹ
aie
Trang 16-13-Chỉ các vi khuẩn Pasteurella multocida, Staphylococcus, Streptococcus tic
động không gây viêm phổi tiên phát Các vi khuẩn đó làm cho quá trình bệnh
lý viêm phổi (do tác động của hoá chất) nặng thêm Như vậy, trong tự nhiên, các diéu kiện ngoại cảnh bất lợi có lẽ là nguyên nhân gây viêm phổi tiên phát,
sau đó là các vi khuẩn có sẵn trong đường hô hấp tác động
3.4 Giải phẫu bệnh lý trâu viêm phổi
Kết quả mổ khám các trâu đến giết mổ ở các điểm giết mổ ở thị xã Lạng
Sơn, huyện Chi Lãng, huyện Hữu Lũng (bảng 3.7, bảng 3.8) cho thấy:
Bệnh viêm phổi ở trâu Lạng Sơn số đông là thể viêm phế quản phổi
(Pneumonia crouposa) va mot s6 viém ph6i hod ma (Abscesus pulmorum)
Giải phẫu bệnh đại thể và vi thể
Vùng phổi tổn thương có màu đỏ, xám, vàng tuỳ theo giai đoạn phát triển của bệnh, số đông tổn thương tập trung ở phân trước thuỳ đỉnh, thuỳ tim, thuỳ hoành, thường đối xứng hai bên phổi
Trâu viêm phổi đốm: Vùng phổi tổn thương phân tán và xen kẽ Lòng
phế quản chứa nhiều dịch nhày, màu xám hồng Tổ chức phổi xung quanh phế quản viêm thường xung huyết màu đỏ
Tổ chức phổi viêm, phù, các mao huyết quản thường giãn rộng chứa đầy hồng cầu, lòng phế quản, phế nang chứa nhiều thanh dịch trong đó có bạch cầu, các tế bào biểu mô tróc ra
Các phế nang quanh phế quản viêm mức độ tổn thương khác nhau, các
phế nang gần phế quản viêm, viêm nặng (viêm mủ), càng xa viêm càng nhẹ (viêm tơ huyết, viêm thanh dịch) hoặc là viêm hỗn hợp
Thể viêm phổi thuỳ: Vùng phổi viêm rộng, có khi chiếm hết cả một thuỳ,