1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong các thế kỷ XI - XIX

117 706 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong các thế kỷ XI - XIX
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Yến
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Thanh Thanh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 617,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ kinh tế, Việt Nam, Trung Hoa , thế kỷ XI - XIX

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Ngọc Yến

QUAN HỆ KINH TẾ CỦA VIỆT NAM VỚI TRUNG HOA TRONG CÁC THẾ KỈ XI – XIX

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN THỊ THANH THANH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2010

THƯ

VIỆN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Ngọc Yến

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, mối quan hệ của Việt Nam với các nước bên ngoài, đặc biệt là với Trung Hoa láng giềng là hết sức quan trọng và phức tạp Việt Nam luôn là đối tượng bị xâm lấn trong chính sách bành trướng lãnh thổ xuống phía nam của các triều đại phong kiến Trung Hoa Mỗi khi chiến tranh xảy ra, quan hệ láng giềng giữa hai nước lại trở nên rất căng thẳng Khi chiến tranh kết thúc, dù thắng trận nhưng Việt Nam thường chủ động giảng hoà, thiết lập mối quan hệ thân thiết trở lại với Trung Hoa Trong quan hệ ngoại giao với Trung Hoa, Việt Nam luôn tỏ ra là nước nhỏ, thần phục Trung Hoa để mong tránh xung đột, giữ vững sự ổn định của quốc gia, tập trung lực lượng cho công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ lâu dài nền độc lập tự chủ của mình Đồng thời với mối quan hệ chính trị ngoại giao, mối quan hệ về kinh tế giữa hai nước cũng luôn được duy trì Trung Hoa có nền văn minh lâu đời, ảnh hưởng rất lớn đối với các nước bên ngoài, trong đó có Việt Nam Sự giao lưu, ảnh hưởng về kinh tế, chính trị, văn hoá giữa hai nước Việt Nam – Trung Hoa đã diễn ra liên tục do có nhiều thuận lợi về đặc điểm cư dân và lãnh thổ

Hiện nay, việc nhận thức lịch sử Việt Nam một cách đầy đủ, chính xác đòi hỏi người nghiên cứu cần tiếp cận nhiều nguồn tư liệu lịch sử khác nhau, cần có thêm những kiến giải khoa học, những nhận định thỏa đáng Việc nghiên cứu về mối quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong một thời kỳ lịch sử sẽ góp phần cung cấp thêm tư liệu, làm phong phú thêm tri thức lịch sử trong lĩnh vực này, đồng thời đối với tác giả luận văn có thể góp phần nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn, phục vụ hiệu quả công tác nghiên cứu và giảng dạy

Trong quá trình hội nhập của Việt Nam với thế giới hiện nay, quan hệ về kinh tế được đẩy mạnh sẽ thúc đẩy mối quan hệ hợp tác cùng phát triển kinh tế với các nước, giúp Việt Nam có thêm những bước tiến mới về kinh tế – xã hội, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, đồng thời bảo vệ được nền độc lập tự chủ của mình Những bài học lịch sử về mối quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong thời phong kiến cũng góp phần giúp Việt Nam rút ra những kinh nghiệm quí báu vận dụng vào việc phát triển nền kinh tế hiện nay và tương lai Bên cạnh đó, các nước bên ngoài cũng có cơ hội hiểu biết sâu sắc hơn về các chính sách kinh tế đối ngoại của nhà nước Việt Nam, từ đó có các kế hoạch, chính sách thiết lập các mối quan hệ hợp tác lâu dài với Việt Nam

Trang 4

Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, tôi quyết định chọn vấn đề quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong thời kì phong kiến làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp chương trình cao học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Mối quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa chủ yếu được đề cập với nội dung trao đổi hàng hoá, vật phẩm giữa hai nước, trong đó có nhiều hình thức trao đổi như sau:

- Nhân dân thực hiện việc buôn bán, trao đổi hàng hoá dọc theo biên giới của hai nước và hải cảng, giang cảng của Việt Nam

- Nhà nước thực hiện việc trao đổi hàng hoá, vật phẩm qua hình thức cống phú, trong các hoạt động ngoại giao

Ngoài ra, quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa còn thể hiện qua việc lĩnh hội và tiếp thu những kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp, trong cách thức mua bán, trao đổi hàng hóa,…

Với quan niệm về nội dung quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa như trên, những thăng trầm trong mối quan hệ về chính trị của Việt Nam với Trung Hoa và do nhận thức hạn chế của thời phong kiến về kinh tế thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương, tài liệu ghi chép về quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa khá ít ỏi Có thể kể một số công trình tiêu biểu:

Đại Việt sử kí toàn thư do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn, là tài liệu biên

niên các sự kiện lịch sử của nước ta từ thời Lý đến thời Lê Sơ, có những đoạn ghi chép rải rác, lẻ tẻ về các hoạt động đi sứ, việc cống phú và các sự kiện giao thương của Việt Nam với Trung Hoa

Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, biên soạn vào thời Nguyễn ở thế kỷ

XIX, ghi chép các sự kiện lịch sử của Việt Nam theo từng nội dung khác nhau từ thời Lý cho

đến hết thời Lê, trong đó, phần Quốc dụng chí (quyển XXX – XXXII) ghi chép việc đúc tiền, dùng tiền, chế độ thuế khoá của nhà nước, phần Bang giao chí (quyển XLVI – XLVII) ghi chép

mối quan hệ với các nước, trong đó có Trung Hoa, về các năm đi sứ, thực hiện triều cống, danh sách vật cống,… Đây là nguồn tư liệu có giá trị cho việc nghiên cứu vấn đề quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong thời phong kiến

Các tác phẩm của Quốc sử quán triều Nguyễn như: Đại Nam thực lục, Quốc triều chính biên toát yếu, Đại Nam nhất thống chí,… đã cung cấp những thông tin lịch sử theo hình thức

Trang 5

biên niên về chính sách kinh tế, những hoạt động ngoại giao (trong đó có quan hệ kinh tế) của các vua Nguyễn

Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ của Nội các triều Nguyễn tập hợp các chỉ dụ của vua

Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức (1802-1883), các tấu sớ của quan lại, các bản đình nghị của triều thần đã được nhà vua phê chuẩn và ban hành, phản ánh nội dung lịch sử ở thời Nguyễn theo từng cơ quan nhà nước và chức năng của việc quản lý nhà nước bấy giờ, trong đó phần

Bang giao có nội dung về các quan hệ với nước ngoài Những ghi chép tương đối có hệ thống,

có liên quan đến quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa dưới thời Nguyễn thuộc các quyển: Từ quyển 128 đến 131 ghi chép rõ các lần nhà Nguyễn cử người đi sứ, danh mục các lễ phẩm, cống phẩm,… phản ánh mối quan hệ trao đổi, buôn bán hàng hóa, vật phẩm thông qua con đường ngoại giao Quyển 44 – 49 ghi chép các khoản thuế của nhà nước Quyển 53 ghi chép về pháp luật và tiền tệ Quyển 54 ghi chép về các kho chứa, các đơn vị đo lường, các lệnh cấm,… Quyển 64 – 67 ghi chép các sản vật, đồ dùng nhà nước thu mua từ Trung Hoa như lụa Tàu, các vị thuốc, các thứ quả, vật dụng,

Tác phẩm Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỉ XVII, XVIII và đầu XIX của Thành Thế Vỹ do

Nhà xuất bản Sử học xuất bản năm 1961 có đề cập hoàn cảnh trong nước và thế giới liên quan đến ngoại thương của Việt Nam trong các thế kỉ XVII, XVIII, XIX, đồng thời nêu khái quát tình hình ngoại thương của Việt Nam cũng như cách thức mua bán, trong đó có quan hệ buôn bán với Trung Hoa

Cuốn sách Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn của tác giả Nguyễn Thế

Anh có chương thứ năm viết về thương nghiệp, trong đó có đề cập đến nền ngoại thương và vai trò của thương nhân Hoa kiều trong nền ngoại thương Việt Nam dưới triều Nguyễn Tác phẩm

do Nhà xuất bản Trình Bày, Sài Gòn xuất bản năm 1968

Tác phẩm Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc (thế kỉ XV – đầu thế kỉ XVI) của Tạ

Ngọc Liễn có chương hai đề cập đến vấn đề sách phong và triều cống trong quan hệ Việt Nam – Trung Hoa, trình bày tương đối khái quát về các lễ vật cống trong thời kì đầu nhà nhà Lê, chương ba đề cập đến quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Trung Hoa ở thế kỉ XV – đầu thế kỉ XVI rất chi tiết Đây là tác phẩm có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu mảng đề tài này Tác phẩm do Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Hà Nội xuất bản năm 1995

Trang 6

Tác giả Đỗ Bang với Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn do Nhà xuất bản Thuận Hoá xuất bản năm 1997, đã khai thác hiệu quả nguồn tài liệu gốc từ Đại Nam thực lục và Mục lục Châu bản triều Nguyễn, đề cập về vấn đề giao thông, tiền tệ, đo lường và chính sách

của nhà Nguyễn đối với thương nghiệp, trong đó có buôn bán với Trung Hoa

Xứ Đàng Trong – Lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỉ XVII và XVIII là công trình nghiên

cứu của Li Tana – một nhà nghiên cứu Việt Nam học người Trung Hoa Trong tác phẩm này, tác giả viết về thành phần thương gia và tiền tệ, thương mại ở vùng đất Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn, trong đó có hoạt động buôn bán của người Hoa ở Đàng Trong Sách do Nguyễn Nghị dịch, Nhà xuất bản Trẻ xuất bản năm 1999

Tác phẩm Buôn bán qua biên giới Việt – Trung Lịch sử – Hiện trạng – Triển vọng do Ngô

Minh Hằng chủ biên, có chương một đề cập ngắn gọn đến quan hệ buôn bán qua biên giới của hai nước Việt Nam – Trung Hoa từ thời kì đầu thành lập nhà nước cho đến thế kỉ XX Qua tác phẩm, người đọc nắm được sơ lược toàn bộ mối quan hệ buôn bán qua biên giới hai nước Việt Nam – Trung Hoa trong lịch sử Sách do Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội xuất bản năm 2001

Bộ sách Bang giao Đại Việt (5 tập) của tác giả Nguyễn Thế Long đã khắc hoạ lại bức

tranh ngoại giao của Việt Nam với các nước ở các triều đại phong kiến Việt Nam qua từng câu chuyện riêng biệt, trong đó ghi chép nhiều về mối quan hệ với Trung Hoa Trong tác phẩm, tác giả đề cập đến quá trình quan hệ ngoại giao của Việt Nam với Trung Hoa dưới các hình thức đi sứ, nộp cống, báo tin, chúc mừng,… Tác giả cũng nêu các sự kiện sứ giả học hỏi kĩ thuật tiến bộ của Trung Hoa về chỉ dạy cho người Việt, hoặc trong những lần đi sứ, các sứ giả đem hàng trong nước theo bán và mua hàng hoá từ Trung Hoa về Bộ sách do Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin xuất bản năm 2005

Ngoài ra, về vấn đề quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong thời kì phong kiến, còn có nhiều tài liệu khác đề cập:

- Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn của Đỗ Bang, Nhà xuất bản

Thuận Hoá, Huế năm 1998

- Việt Nam thế kỉ XIX của Nguyễn Phan Quang, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh

năm 2000

- Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập do Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu

Hãn chủ biên, Nhà xuất bản Giáo Dục năm 2003

Trang 7

Một số bài viết trong các tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu kinh tế có liên quan đến

lĩnh vực nghiên cứu vấn đề:

- “Vài nét về công thương nghiệp triều Nguyễn” của Chu Thiên, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (số 33), năm 1961

- “Nhà Nguyễn với các thương nhân người Hoa thế kỉ XIX” của Trương Thị Yến, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (số 3), năm 1981

- “Sản xuất hàng hoá và thương nghiệp ở Nam Bộ thế kỉ XVII – đầu XIX” của Lê Văn

Năm”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (số 5+6), năm 1988

- “Thương nghiệp ở nông thôn Việt Nam truyền thống: mấy hiện tượng đáng lưu ý” của

Nguyễn Quang Ngọc, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (số 5), năm 1989

- “Vài nét về thương nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX” của Trương Thị Yến, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (số 6), năm 1993

- “Hải cảng miền Đông Bắc và hệ thống thương mại Đàng Ngoài thế kỉ XVII (qua các

nguồn tư liệu phương Tây)” của Hoàng Anh Tuấn, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (số 1), năm 2007

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập vấn đề quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong các thế kỉ XI đến XIX ở nhiều khía cạnh khác nhau Nhìn chung, vấn đề liên quan thường được đề cập hoặc trình bày lẻ tẻ về thời gian hoặc giới hạn trong một không gian nhất định và thường được trình bày trong tình hình ngoại thương nói chung của Việt Nam chứ chưa chủ yếu tập trung vào đối tượng buôn bán là Trung Hoa Vì vậy, một công trình chuyên khảo về mối quan hệ kinh tế với Trung Hoa trong các thế kỉ XI – XIX trong lịch sử Việt Nam là một nhu cầu cần thiết đối với người nghiên cứu và học tập lịch sử Luận văn này được thực hiện trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những tư liệu, những kết quả nghiên cứu và các kiến giải khoa học của các công trình nói trên đồng thời làm rõ các vấn đề sau:

- Những điều kiện về tự nhiên, xã hội tác động đến mối quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa

-Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của hai nước Việt Nam – Trung Hoa có liên quan đến quan hệ kinh tế của hai nước

- Quan hệ về kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa qua các thời kì lịch sử

- Vai trò của quan hệ kinh tế với Trung Hoa trong lịch sử Việt Nam, (mặt tích cực và hạn chế)

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Như tên đề tài đã chỉ rõ, luận văn này tập trung nghiên cứu các mối quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong thời kì phong kiến độc lập của Việt Nam (từ thế kỉ XI đến cuối thế kỉ XIX), cụ thể từ khi thành lập vương triều Lý năm 1010 mở ra thời kì phát triển của quốc gia Đại Việt về mọi mặt, đến năm 1884, khi triều Nguyễn kí hàng ước với thực dân Pháp, đất nước ta rơi vào vòng đô hộ

Trong mối quan hệ với Trung Hoa, những chủ trương, chính sách và quá trình lịch sử được xem xét từ phía quốc gia Đại Việt và các vương triều Đại Việt

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi sử dụng phương pháp lịch sử để phản ánh bản thân sự kiện lịch sử cần nghiên cứu, đồng thời kết hợp với phương pháp lôgic để nhận thức được bản chất của sự kiện lịch sử trong mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với Trung Hoa Ngoài ra, các phương pháp khác như thống kê, phân tích các số liệu được áp dụng nhằm góp phần hệ thống hoá các sự kiện

5 Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Điều kiện tự nhiên – xã hội của quan hệ kinh tế với nước ngoài của Việt Nam Chương 2: Quan hệ của Việt Nam với Trung Hoa về mặt kinh tế

Chương 3: Vai trò lịch sử của quan hệ kinh tế với Trung Hoa

Trang 9

kinh đông trên bán đảo Hòn Gốm (tỉnh Khánh Hòa) Phía Bắc Việt Nam giáp với Trung Hoa, phía Tây giáp với Lào và Campuchia, phía Đông và Nam giáp với biển Đông (Thái Bình Dương) Lãnh thổ Việt Nam có đặc điểm hẹp về chiều ngang và có đường bờ biển chạy dài từ Bắc tới Nam (dài 3.260 km) Do đó, ngay từ thời cổ đại, ở Việt Nam đã hình thành các mối quan hệ về kinh tế, chính trị, xã hội với các nước láng giềng, trong đó có nước Trung Hoa rộng lớn ở phía Bắc

Việt Nam nằm trên những con đường biển quốc tế đi từ Ấn Độ Dương lên Bắc Thái Bình Dương, từ bán đảo Đông Dương đến các quần đảo của châu Đại Dương, khống chế một ngã tư đường biển trọng yếu Việt Nam nằm ở vị trí giữa hai nền văn minh lớn là Ấn Độ và Trung Hoa, lại là nơi tiếp giáp của hai vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á Do đó, ngay từ rất sớm Việt Nam đã nắm giữ một vị trí chiến lược quan trọng trong hoạt động giao lưu kinh tế, văn hoá giữa Đông và Tây, Nam và Bắc

Việt Nam có vị trí trung chuyển, trú đỗ trên con đường biển thuộc hệ thống thương mại châu Á, có vị trí thuận lợi nằm trên đường giao thương giữa Trung Hoa với Ấn Độ và thế giới phương Tây, cóù đường bờ biển dài, nhiều vùng vịnh kín gió là điều kiện thuận lợi để xây dựng các cảng biển cho tàu bè qua lại, neo đỗ, tiếp thêm lương thực, nước uống Mặc dù Việt Nam không phải là đích đến cuối cùng trên con đường giao thương quốc tế, song các thương nhân Ấn Độ và phương Tây đến Trung Hoa và ngược lại cũng đều ghé đến Việt Nam như một trạm dừng

Ở đây, họ cũng tìm thấy những nguồn lợi kinh tế lớn qua việc trao đổi buôn bán hàng hóa và

Trang 10

sản vật nên ngay từ rất sớm ở Việt Nam đã có sự trao đổi giao thương qua đường biển với các nước bên ngoài

Đặc biệt, biên giới đất liền Việt Nam giáp giới với Trung Hoa rất dài (1.400 km) trên toàn bộ vùng Tây Bắc – Bắc và Đông Bắc, chung đường bờ biển dài và chịu chế độ bán nhật triều là điều kiện thuận lợi để cư dân hai nước qua lại buôn bán Từ đó, các tụ điểm buôn bán dọc theo biên giới của hai quốc gia được hình thành gọi là các bạc dịch trường như: Vĩnh Bình, Hoành Sơn (ở Việt Nam), Khâm Châu, Liêm Châu (ở Trung Hoa) và các hải cảng Phố Hiến, Hội An, Hà Tiên,… Các địa điểm này diễn ra hoạt động buôn bán tấp nập của cư dân hai nước Việt Nam, Trung Hoa trong suốt tiến trình lịch sử lâu dài

1.1.2 Tài nguyên, thổ nhưỡng:

Việt Nam nằm trong vành đai nóng quanh năm nhận được một lượng nhiệt rất lớn của Mặt Trời, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 đến 270 C Ngoài nhiệt ra, Việt Nam quanh năm cũng nhận được một lượng ẩm rất lớn Độ ẩm tương đối dao động từ 80 đến 100% với lượng mưa đều đặn hàng năm Đất nước trải dài giáp biển nên chịu ảnh hưởng rất lớn của chế độ gió mùa Nhờ có lượng bức xạ mặt trời và độ ẩm phong phú như trên nên rừng rậm rạp và có nhiều tầng, cây cối quanh năm ra hoa kết quả, ruộng đồng mỗi năm làm được từ hai đến ba vụ Do đó,

ở Việt Nam có nguồn sản vật, khoáng vật rất phong phú như giáng hương, trầm hương, tốc hương, song mây, gỗ mun, gỗ lim, gỗ hoa nu, gỗ kiền kiền, hương liệu, ngà voi, sừng tê giác, nhân sâm, yến sào, mật ong, sáp ong, ngũ cốc, hải sản, diêm tiêu, vàng, bạc, đồng, sắt, kẽm, thiếc,… Như các thương nhân Trung Hoa nhận xét “An Nam nơi đô hội lớn ở phía Nam, ruộng tốt lúa, đất tốt dâu, núi chứa vàng bạc, biển sinh châu ngọc” [103, tr.103] Chính nguồn sản vật, khoáng vật này là đối tượng thèm muốn, vơ vét của Trung Hoa, đồng thời là nguồn hàng hóa cho giao thương hai nước, tạo điều kiện để Việt Nam trao đổi phẩm vật, đổi lấy sự hòa hiếu, thân thiện, yên ổn

Môi trường tự nhiên của Việt Nam thuận lợi phát triển nông nghiệp Khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, mưa đều đặn với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, đất phù sa màu mỡ là điều kiện sinh trưởng tốt cho cây lúa và nhiều lại cây trồng khác (có nhiều loại cây quí và dược liệu quí): cau, hồ tiêu, mía, trầm hương, kì nam hương, nhân sâm, phục vụ cho đời sống và trao đổi với nước ngoài

Trang 11

Chính gió mùa đã đem lại cơ hội giao lưu, trao đổi hàng hóa cho người Việt Nam Với hai mùa rõ rệt Đông Bắc (khoảng giữa tháng 8 đến đầu tháng 3) và Tây Nam (giữa tháng 3 đến giữa tháng 8), gió mùa đã tạo nên những luồng giao thương trên biển theo mùa Những thương nhân từ Trung Hoa đến Ấn Độ, các nước phương Tây và ngược lại phải đón hướng gió để đi Trong thời gian đợi hướng gió thay đổi để có thể quay ngược hành trình thì Đông Nam Á trong đó có Việt Nam là một điểm dừng lí tưởng cho thương nhân các nước Qua đó, hoạt động trao đổi hàng hóa được diễn ra giữa người bản xứ và các thương nhân nước ngoài

Thiên nhiên ưu đãi cho Việt Nam nguồn tài nguyên phong phú và thổ nhưỡng thích hợp cho nền nông nghiệp Việt Nam phát triển và khai thác các sản vật tự nhiên Nguồn hàng hóa phong phú đã tạo nhiều thuận lợi cho Việt Nam trong quan hệ buôn bán, trao đổi với Trung Hoa

1.1.3 Địa hình, sông ngòi:

Địa hình Việt Nam có đặc điểm dốc về phía biển theo hướng Tây Bắc – Đông Nam với hệ thống sông ngòi chằng chịt tạo thành những đồng bằng châu thổ và dải đồng bằng ven biển trù phú, thuận lợi cho sản xuất và sinh sống Theo tác giả Lê Bá Thảo: “Hệ thống kênh rạch tự nhiên trong đồng bằng có thể coi là có mật độ lớn bậc nhất thế giới, chúng trở thành những đường giao thông thủy tiện lợi làm người ta có thể đi xuồng len lỏi vào những nơi hẻo lánh nhất” [92, tr 44] Chính vì thế, ngay từ tất sớm, cư dân đã tập trung sinh sống đông đúc, tạo nên những trung tâm kinh tế, những tụ điểm buôn bán, những đầu mối trao đổi vật phẩm từ vùng núi đến đồng bằng và ngược lại

Các vùng dân cư hình thành ở đồng bằng, ở các cửa sông và dọc theo các con sông tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu, liên kết giữa các vùng, các khu vực với nhau, từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông (hướng giao lưu chính) và ngược lại Do điều kiện địa hình bằng phẳng, nhiều sông ngòi, thuận lợi cho việc sản xuất và sinh sống của nhân dân, thuận lợi cho việc giao lưu rộng rãi các vùng trong nước nên vua Lý đã chọn vùng đất Thăng Long làm kinh đô Kinh đô Thăng Long qua các triều đại dần dần trở thành đô thị lớn, là trung tâm kinh tế của cả nước, quy tụ nhiều làng nghề, phường nghề vừa sản xuất vừa bán hàng thủ công Đặc biệt là gốm sứ,

tơ lụa, hàng mỹ nghệ, là những thứ được thương nhân nước ngoài rất ưa chuộng

Việt Nam có nhiều cửa biển, hải cảng, bến sông như Vân Đồn (Quảng Ninh), Phố Hiến (Hưng Yên), Hội An (Quảng Nam), Cần Hải, Hội Thống, Triều Khẩu (Nghệ An), Lạch Bạng

Trang 12

(Thanh Hóa), Hà Tiên,… nên giao thông đường bộ, đường thủy thuận lợi, là điều kiện quan trọng cho hoạt động trao đổi hàng hóa các vùng trong nước và với nước ngoài

Từ xa xưa Việt Nam và Trung Hoa đã có mối giao lưu, liên hệ mật thiết về mọi mặt, nhất là về kinh tế, văn hóa, dân cư Với vị trí địa lí giáp giới với Trung Hoa, Việt Nam có nhiều thuận lợi và thách thức trải qua hàng ngàn năm Hai quốc gia với địa hình núi liền núi, sông liền sông rất dễ dàng hòa hợp thân thiện, liên hệ mật thiết gắn bó như trong một nhà Tuy nhiên, do lãnh thổ gắn liền với nhau nên Trung Hoa dễ xâm chiếm, xâm lấn Xung đột, chiến tranh, sự đối đầu thường xuyên đã cản trở sự giao lưu, phát triển kinh tế Mặc khác, Việt Nam là một nước nhỏ, thế và lực đều yếu hơn Trung Hoa nên mọi quan hệ đều không bình đẳng Việt Nam luôn tỏ ra là một nước nhỏ, lệ thuộc Trung Hoa, chịu nộp cống,… để mong được yên ổn Trong quan hệ ngoại giao, khi trao đổi phẩm vật, đôi khi Việt Nam nhận được từ Trung Hoa những thứ hàng hóa rất cần thiết cho việc xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là việc tiếp thu, lĩnh hội được những kĩ thuật tiến bộ của Trung Hoa để áp dụng vào sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp

1.2 Điều kiện xã hội:

1.2.1 Chính sách đối ngoại của các triều đại phong kiến Việt Nam:

Trong thời kỳ độc lập tự chủ từ thế kỷ XI – XIX, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn quán triệt đường lối đối ngoại thân thiện với các nước bên ngoài, đặc biệt là với Trung Hoa Tuy nhiên, khi nền độc lập bị đe dọa, đất nước bị xâm lấn thì Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ dân tộc lên hàng đầu, quyết tâm chống giặc ngoại xâm

Năm 1022, quân dân nhà Tống thuộc Khâm Châu và Như Hồng đến quấy phá vùng đất Quảng Yên Vua Lý “xuống chiếu cho Dực Thánh Vương đem quân đi đánh bộ lạc Đại Nguyên Lịch, quân ta đi sâu vào trại Như Hồng đất Tống, đốt kho vựa rồi về” [22, I, tr 251]

Trước âm mưu xâm lược của nhà Tống, triều đình nhà Lý đã chủ động mang quân tấn công giặc với kế hoạch “tiên phát chế nhân” Năm 1075, Lý Thường Kiệt đã mang quân vượt biên giới tấn công vào Châu Ung, Châu Khiêm và Châu Liêm, đốt phá kho binh lương mà quân Tống chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Với thắng lợi này, nhà Lý đã bước đầu làm suy yếu lực lượng và giáng một đòn mạnh vào âm mưu xâm lược Việt Nam của nhà Tống, đồng thời là bước đệm quan trọng cho chiến thắng vang dội trên sông Như Nguyệt năm 1077

Trang 13

Thời nhà Trần, quân Mông – Nguyên đã ba lần sang xâm lược Việt Nam Dựa vào sức mạnh quân sự của mình, quân Nguyên nhiều lần cử sứ giả sang kêu gọi vua quan nhà Trần đầu hàng Vua Trần đã nhiều lần từ chối sang chầu Trước sự tấn công của quân Nguyên, vua quan nhà Trần đã đoàn kết một lòng, ba lần đánh thắng quân xâm lược, lập nên những chiến công vang dội vào các năm 1258, 1285, 1287 – 1288 Những chiến thắng đó là thành quả của cuộc đấu tranh bền bỉ trên mặt trận ngoại giao của vua quan nhà Trần Thắng lợi trước kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ đã giúp Việt Nam giữ vững nền độc lập, tự chủ của dân tộc Đất nước bước vào thời kì độc lập xây dựng và phát triển

Khi nhà Hồ lên thay nhà Trần, nhà Minh ở Trung Hoa đã cử quân sang xâm lược nước ta Cuộc kháng chiến của nhà Hồ chống giặc Minh thất bại, Việt Nam bị đô hộ trong hai mươi năm (1407-1427), đến khi Lê Lợi đánh đuổi được chính quyền đô hộ nhà Minh, khôi phục nền độc lập tự chủ của dân tộc, lập nên một triều đại mới: Nhà Hậu Lê

Triều Quang Trung tiếp theo thực hiện cuộc kháng chiến chống quân Thanh thành công vào mùa Xuân Kỉ Dậu (1789), đã giáng một đòn nặng nề vào âm mưu xâm lược của nhà nước phong kiến Trung Hoa Nền hòa bình được lập lại, đất nước được thống nhất, Quang Trung đã bắt tay vào xây dựng đất nước về mọi mặt

Đối với các triều đại phong kiến phương Bắc, ý đồ xâm lược, dựng lại ách đô hộ lên đất nước ta vẫn được các vua Tống, Nguyên, Minh, Thanh thực hiện mỗi khi có tiềm lực mạnh mẽ, thời cơ thuận lợi Điển hình là các cuộc xâm lược của nhà Tống thời Lý, giặc Nguyên thời Trần, giặc Minh thời Hồ, giặc Thanh thời Tây Sơn,… Những âm mưu này đều bị các triều đại phong kiến Việt Nam đánh bại bằng những chiến thắng quân sự vẻ vang ở những địa điểm như sông Như Nguyệt, sông Bạch Đằng, cửa Hàm Tử, Chương Dương, Đông Bộ Đầu, Vạn Kiếp,… Sau khi hòa bình được lập lại, bề ngoài các triều đại phong kiến Việt Nam vẫn giữ quan hệ hòa hiếu, thần phục và chịu cống nạp cho các triều đại phong kiến Trung Hoa với mong muốn giữ mối quan hệ hòa bình, thân thiện giữa hai nước, nhưng cũng rất cương quyết trước những hành động xâm chiếm đất đai, quấy phá biên giới của các triều đại phong kiến Trung Hoa Trên cơ sở mối quan hệ ngoại giao thân thiện này, mối quan hệ kinh tế giữa hai nước Việt Nam – Trung Hoa được duy trì trong suốt thời gian dài

1.2.2 Cư dân:

Trang 14

Việt Nam ở vào khu vực là ngã ba đường của Đông Nam Á nên đã sớm trở thành nơi sinh trưởng, gặp gỡ và tiếp xúc giữa các bộ lạc thuộc nhiều thành phần nhân chủng khác nhau và các luồng giao lưu kinh tế văn hóa của nhiều dân tộc khác nhau trên đất liền và các hải đảo của vùng Nam Á Hơn nữa, qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, người Việt đã có sự giao lưu lâu dài với người Trung Hoa Chính sự hội tụ đa dạng này tạo nên một nền kinh tế và văn hóa Việt Nam hết sức phong phú Người Việt khá cởi mở và tiếp thu nhanh chóng mọi tinh hoa của các nền kinh tế, văn hóa khác nhau trên thế giới, không cực đoan về tín ngưỡng tôn giáo và phong tục tập quán Do đó, kinh tế, văn hóa Việt Nam có điều kiện phát triển sớm

Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nên ngay từ rất sớm

cư dân đã sinh sống đông đúc Đất nước với diện tích không lớn nhưng dân số rất đông (theo tổng điều tra dân số ngày 1 4 2009 là 85.789.573 người)gồm 54 dân tộc tạo nên một nền kinh tế, văn hóa đa dạng Cư dân Việt Nam vốn quen canh tác lúa nước, chinh phục đồng bằng, nên sinh sống tập trung ở vùng ven sông, ven biển Nguồn sống chính của họ là kinh tế nông nghiệp với nghề trồng lúa nước Những lúc nông nhàn, đàn ông đẵn gỗ, chặt tre, làm nhà cửa, đan thúng mủng, rèn cái cày, cái cuốc,… phụ nữ dệt vải, đan chiếu, chăm sóc con cái,… họ sống quây quần trong cộng đồng thôn xóm, làng xã

Bên cạnh các đặc tính đó, người Việt còn có tư tưởng sống gắn chặt với quê hương của mình Họ hiếm khi rời khỏi lũy tre làng Họ chịu ảnh hưởng Nho giáo về địa vị của các tầng lớp trong xã hội: sĩ, nông, công, thương Thương nhân bị xếp hạng cuối cùng Người dân Việt Nam còn cho rằng “buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện” Đặc điểm trên tạo ra tính thụ động của người Việt đối với hoạt động buôn bán

Người dân Việt Nam thường xuyên phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, với giặc ngoại xâm tàn bạo nên phải gồng mình lên bằng đức tính cần cù, thông minh, khéo léo để tồn tại và phát triển Nhận thức được sự khó khăn của nhà nước non trẻ, còn nhiều hạn chế, người Việt nêu cao tinh thần học hỏi những tiến bộ trong sản xuất, những nghề mới đặc biệt là của Trung Hoa Những khi có dịp đi sứ sang Trung Hoa, các sứ thần đều tranh thủ học tập một nghề mới về truyền dạy lại cho nhân dân Những người Hoa sang Việt Nam định cư đã đem theo nghề của mình để sinh sống và sẵn sàng truyền dạy lại cho người Việt, qua đó tạo ra một khối lượng hàng hóa phong phú phục vụ trong nhân dân và bán ra nước ngoài

1.2.3 Cơ sở kinh tế:

Trang 15

Trong thời kì phong kiến dân tộc, nền kinh tế nông nghiệp giữ vị trí quan trọng Nhà nước và nhân dân cùng chăm lo phát triển kinh tế nông nghiệp Chính sách “trọng nông” được thực hiện trong suốt thời kì phong kiến dân tộc Các triều đại phong kiến Việt Nam đều thực hiện các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp: làm thủy lợi, bảo vệ sức kéo, phát triển giống cây nông nghiệp, khai khẩn,… Nhờ đó, sản xuất nông nghiệp tăng lên, các mặt hàng nông nghiệp phong phú có sản lượng lớn: lúa, tiêu, cau, các loại củ quả Ngoài ra, các sản phẩm được thu thập từ tự nhiên như cá, hải sản, các loại gỗ quí, sừng tê, ngà voi,… góp phần cải thiện, ổn định cuộc sống người dân Nền thủ công nghiệp và thương nghiệp trong nước cũng được mở rộng Các làng nghề và phường buôn bán xuất hiện ngày càng nhiều mang tính chuyên nghiệp cao như làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội), nghề làm đồ sành, đồ vại ở làng Thổ Hà (Bắc Ninh), nghề khắc bản in ở làng Liễu Tràng, Liễu Lục (Hải Dương), làng dệt nón ở Triều Sơn, làng làm Giấy ở Đốc Sơn, làng làm mui thuyền ở Dã Lễ,… Các làng này góp phần to lớn, thúc đẩy hoạt động trao đổi hàng hóa phát triển Các làng nghề thủ công thể hiện tính chuyên môn cao Sự hưng khởi của nhiều ngành kinh tế trong nước và mối liên hệ giữa miền ngược với miền xuôi, giữa trung tâm kinh tế đồng bằng với các vùng biên viễn xa xôi đã củng cố tiềm lực và tạo đà cho kinh tế ngoại thương phát triển Chợ có ở khắp nơi, họp đều kì Kinh đô Thăng Long là trung tâm của cả nước, có 61 phường buôn bán tấp nập, nhộn nhịp cả về ban đêm Những năm cuối thế kỉ XIII, “vua Trần Anh Tôn đêm đêm thường đi kiệu cùng vài chục người dạo chơi khắp kinh thành đến gà gáy mới trở về cung” [50, tr 51] Vân Đồn, sau có thêm Phố Hiến, Hội

An, Hà Tiên,… là những địa điểm giao thương quốc tế, trao đổi hàng hóa giữa Việt Nam với các nước khác

1.2.4 Tâm lí dân tộc:

Việt Nam và Trung Hoa là hai quốc gia liền kề nhau nằm trong khu vực châu Á do đó từ sớm có sự giao lưu kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội Sự tiếp giáp biên giới rộng lớn làm cho Việt Nam luôn luôn trong tình trạng chống chọi với âm mưu xâm lược nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi để người Việt tiếp thu những thành tựu rực rỡ của văn minh Trung Hoa Sự ảnh hưởng chủ yếu diễn ra trong thời kì Việt Nam bị Trung Hoa đô hộ hơn một ngàn năm Trong hơn một ngàn năm đô hộ, hệ tư tưởng Nho giáo phong kiến có tác động mạnh đến kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam Một trật tự xã hội theo khuôn khổ Nho giáo được duy trì, qui định chặt chẽ các thứ bậc trong xã hội Thiết chế nhà nước theo chế độ quân chủ chuyến chế với sự tập trung

Trang 16

quyền lực vào tay vua được duy trì trong suốt thời kì phong kiến Việt Nam Hệ tư tưởng “trọng nông ức thương” được duy trì để củng cố, bảo vệ quyền lợi cho nhà nước phong kiến

1.2.5 Nhu cầu quốc phòng:

Quốc phòng là một lĩnh vực quan trọng đối với mỗi triều đại phong kiến Việt Nam, là công cụ để duy trì ổn định đất nước, bảo vệ biên cương, hải đảo, bảo vệ đất nước khi có giặc ngoại xâm Các triều đại phong kiến ở Việt Nam luôn chú tâm và xây dựng một lực lượng quân đội mạnh để có thể bảo vệ biên cương và lãnh thổ Quân đội còn là công cụ để nhà nước duy trì và bảo vệ quyền lợi của mình, đàn áp lại những cuộc nổi loạn trong dân chúng Lực lượng quân đội ngày càng được tổ chức có qui mô, hoàn chỉnh trong công tác huấn luyện và trang bị vũ khí Các vua đã biết kế thừa kinh nghiệm xây dựng lực lượng quân sự ở các triều đại trước, đồng thời cũng nghiên cứu và học tập binh chế của Trung Hoa, nhằm xây dựng cho mình một lực lượng quân sự hùng mạnh

Thời Lý, quân đội được chia làm bốn bộ phận, bao gồm: Thiên tử quân, quân các lộ, quân vương hầu và dân binh Để xây dựng quân đội, nhà Lý thực hiện chế độ nhân đinh trong khắp cả nước, thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” Quân đội gồm đủ bốn binh chủng: bộ binh, thủy binh, tượng binh và kị binh, trong đó bộ binh và thủy binh có số lượng đông nhất

Thời nhà Trần, quân đội gồm hai bộ phận: cấm quân và quân các lộ Cấm quân là lực lượng vũ trang thường trực, có nhiệm vụ bảo vệ vua, bảo vệ kinh thành và triều đình trung ương Quân các lộ là lực lượng vũ trang ở địa phương, có nhiệm vụ bảo vệ chính quyền và trật tự xã hội ở các địa phương Ngoài cấm quân và quân các lộ, dưới thời Lý, Trần còn có lực lượng vũ trang tư nhân, do các bậc Vương tước và Hầu tước tuyển chọn, huấn luyện và chỉ huy Ở các làng xã, nhân dân còn có lực lượng bán vũ trang do họ tổ chức, đó là các đội dân binh

Bên cạnh đó là lực lượng quân đội của các tù trưởng dân tộc miền núi Đây là một bộ phận quan trọng có nhiệm vụ bảo vệ vùng biên cương và góp sức vào các cuộc kháng chiến chống xâm lược của Việt Nam Các triều đại luôn cố gắng duy trì mối quan hệ tốt đẹp với các tù trưởng miền núi, coi đó là một trong những chính sách quan trọng trong việc duy trì, bảo vệ quyền lực của mình và hòa bình của đất nước

Quân đội được trang bị đầy đủ vũ khí hiện đại nhất lúc bấy giờ, được tập luyện có bài bản, theo qui chế, với chủ trương “quân lính cốt tinh nhuệ, không cần nhiều” Thời Trần, quân

Trang 17

đội được huấn luyện theo binh pháp của Đại Việt, sự ra đời của bộ Binh thư yếu lược do Trần

Hưng Đạo biên soạn đã đánh dấu sự phát triển của khoa học quân sự Việt Nam lúc bấy giờ

Dưới thời Lê sơ nhà nước nắm độc quyền tổ chức huấn luyện quân đội và huấn luyện lực lượng vũ trang, độc quyền sản xuất và quản lí vũ khí,… đây chính là điểm khác biệt so với các triều đại trước của Việt Nam Thời vua Lê Thái Tổ, nhà nước đã qui định rõ số ngạch cho từng đạo quân và lệnh cho các tướng lĩnh, quân sĩ trong năm đạo Vua chia số quân làm năm phiên: một phiên tại ngũ, bốn phiên về nhà sản xuất nông nghiệp theo chính sách “Động ư binh, tịnh ư nông” Chế độ tuyển lựa và huấn luyện quân đội được qui định rõ ràng, chặt chẽ, cứ ba năm nhà nước kiểm tra dân số một lần Tất cả dân đinh từ 18 tuổi trở lên được chia làm sáu hạng khác nhau: Tráng, Quân, Dân, Lão, Cố và Cùng Tráng hạng thì nhập ngũ Quân hạng chỉ đăng

kí tên trong sổ lính nhưng vẫn được ở nhà sản xuất Chính sách “ngụ binh ư nông” được tiếp tục duy trì Chính sách này góp phần giữ vững nhịp độ sản xuất nông nghiệp và giảm được chi phí quốc phòng, lại có thể duy trì được một đội quân hùng mạnh Lực lượng quân đội hùng mạnh là

cơ sở để nhà nước bảo vệ bình yên ở vùng biên cương, đặc biệt là ở biên giới phía Bắc

Quân đội ở Đàng Trong và Đàng Ngoài được tổ chức chặt chẽ với số lượng lớn để tiến hành các cuộc chiến tranh phân chia quyền lực Ở Đàng Ngoài, quân đội được tổ chức thành hai bộ phận chính: quân túc vệ và ngoại binh Chính quyền Đàng Ngoài mở các trường dạy võ, tổ chức các kì thi võ để chọn nhân tài Trong ghi chép của Cristophoro Borri về Đàng Trong năm

1621, ông có đề cập đến lực lượng quân sự ở Đàng Ngoài: “… còn quân đội thì như chúng tôi đã nói ở trên, có thể lên tới 80.000 người Nên không khó gì khi chúa muốn thì chúa có thể mộ thêm cho tới 300.000 hoặc hơn với đầy đủ vũ khí, bởi vì các tướng lãnh trong nước như ở nước chúng ta có các công hầu bá tước, họ phải tự lực cung cấp đủ cho cuộc chiến tranh Còn lực lượng của nhà vua thì không quá 40.000 binh lính hộ vệ” [17, tr 125] Ở Đàng Trong, quân đội của chúa Nguyễn gồm có 3 loại: quân túc vệ, quân chính qui ở các dinh và thổ binh Quân đội được chia thành cơ, đội, thuyền Quân lính được huấn luyện theo binh pháp, được trang bị đầy đủ các loại vũ khí, các chiến thuật chiến đấu “Về binh pháp và cách cai trị trong chinh chiến thì cũng gần như ở châu Âu Họ cũng giữ các luật lệ để huấn luyện binh lực, đánh du kích, tấn công và rút quân” [17, tr 83] Qua ghi chép của Cristophoro Borri thì lực lượng quân sự của Đàng Trong là rất mạnh, được trang bị đầy đủ các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh: “… ngài có một trăm thuyền chiến và hơn nữa, chúa rất mạnh về đường biển, như đã mạnh về đường bộ về súng

Trang 18

ống … việc họ buôn bán thường xuyên với người Nhật đã đem lại cho chúa rất nhiều đao hay gươm đao theo kiểu Nhật Bản, với nước thép rất tốt Trong nước còn rất nhiều ngựa, tuy thấp bé hơn, nhưng rất tốt và rất can đảm, dùng để cưỡi và bắn nỏ, hằng ngày không ngớt thao luyện Thế lực của chúa rất mạnh đến nỗi khi ngài muốn, ngài có thể tuyển ngay được tám mươi ngàn quân binh chiến đấu” [17, tr 83 – 84] “… ngoài biển họ chiến đấu trên thuyền như đã nói, mỗi thuyền có súng đại bác và nhiều súng musqueton Và người ta sẽ không thấy làm lạ khi biết chúa Đàng Trong luôn luôn có tới một trăm thuyền chiến có đủ súng ống và nghiêm chỉnh nghênh chiến” [17, tr 84] Với sức mạnh về quân sự của mình, Đàng Trong và Đàng Ngoài đã bảo vệ, ổn định được chính quyền cai quản của mình tạo cơ sở cho các hoạt động kinh tế, văn hóa,… phát triển

Thời Quang Trung, quân đội được kiện toàn và củng cố, bao gồm thủy binh, bộ binh, tượng binh, kị binh và pháo binh Chiến thuyền có nhiều loại, có loại lớn chở được voi chiến, trang bị 50, 60 đại bác, chở được 500 – 700 quân Vũ khí có giáo mác, cung tên, súng trường, đại bác, hỏa hổ Để huy động lực lượng nhân dân, Quang Trung đã tiến hành việc lập lại sổ hộ

ở các xã Nhân đinh được chia làm ba hạng: tráng hạng (18 – 55 tuổi), lão hạng (56 – 60 tuổi), lão nhiêu (trên 60 tuổi) Tất cả trai tráng, không phân biệt sang hèn, xuất thân đều phải ghi tên vào sổ hộ Nhà nước phát thẻ tín bài cho mọi dân đinh, đi đâu đều phải mang theo vì có ghi họ tên, quê quán và điểm chỉ Thời Quang Trung, vấn đề biên cương ở phía Bắc được ổn định, nhân dân hai nước qua lại trao đổi hàng hóa tấp nập, tạo nên khung cảnh buôn bán sầm uất

Quân đội dưới triều Nguyễn được đầu tư xây dựng mạnh Quân đội chia thành ba bộ phận: Thân binh (hộ vệ vua), Cấm binh (phòng thủ hoàng thành), Tinh binh hay Biền binh (ở kinh đô và các địa phương) Ngoài ra có một số thuộc binh (lính lệ, hộ vệ các quan) Theo nhận định của hai người Pháp làm ở triều Gia Long là Baredi (Barisy) và Senhô (Chaigneau): “bấy

giờ có 115.000 bộ binh và 17.600 thủy binh” [83, tr 440] Theo Đại Nam thực lục: “tổng số quân

năm 1820 là hơn 204.220 người; năm 1840 là hơn 212.290 người Ước tính các loại là 4 vạn bộ binh bảo vệ triều đình trung ương, 15.000 thủy binh và 10 vạn biền binh Ngoài ra còn có một đạo tượng binh mạnh (riêng ở kinh thành có 105 thớt voi với hơn 500 quân, Bình Định có 15 thớt voi với 119 quân, Hà Nội có 13 thớt voi với 122 quân, Quảng Nam có 25 thớt với 223 quân,…) và một lực lượng pháo binh lớn (các thành tỉnh đều có đại bác: Hà Nội 150 cỗ, Nam Định, Hải

Trang 19

Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh: đều 200 cỗ,… các thành phủ, thành huyện cũng đặt đại bác,…) thêm một số quân dùng súng tay” [83, tr 440].

Nhận thức được sự cần thiết của quốc phòng, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã có sự đầu tư nhất định cho quân đội Nhờ có lực lượng quân đội hùng mạnh, nước Việt Nam đủ sức đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc, ổn định được đất nước Trên cơ sở đó tạo nhiều thuận lợi cho hai nước Việt Nam – Trung Hoa thiết lập mối quan hệ kinh tế

Các chính sách của các triều đại phong kiến Việt Nam, về cư dân, đặc điểm tâm lí, nhu cầu quốc phòng,… thuận lợi cho quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước bên ngoài, trong đó có sự tiếp xúc và quan hệ với Trung Hoa, nước láng giềng lớn mạnh Cả hai nước đã có sự giao lưu về kinh tế, văn hóa lâu đời, đến các thế kỉ Việt Nam độc lập, mối quan hệ này được củng cố và đẩy mạnh

Tuy nhiên, do hạn chế bởi tư tưởng phong kiến, nền kinh tế Việt Nam chỉ bó hẹp trong phạm vi cả nước, với nền nông nghiệp là cơ bản nhất, thương nghiệp kém phát triển nên mối quan hệ với bên ngoài gặp nhiều khó khăn Các kĩ thuật để Việt Nam mở rộng quan hệ với các nước cũng rất hạn chế như kĩ thuật đóng tàu thuyền còn rất yếu (không có nghề thủ công đóng tàu đi biển), cư dân không có kinh nghiệm buôn bán và thói quen hoạt động thương mại Chỉ có hoạt động thương mại của các nước bên ngoài đến Việt Nam mà thôi

Trang 20

CHƯƠNG 2:

QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI TRUNG HOA VỀ MẶT KINH TẾ

2.1 Những điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội tác động đến quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa:

2.1.1 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở Việt Nam:

2.1.1.1 Sự thịnh vượng dưới hai triều Lý, Trần (thế kỉ XI đến thế kỉ XIV):

Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Thuận Thiên, lập nên nhà Lý Nhà Lý được thành lập mở ra một thời kì mới của dân tộc – thời kì phát triển và ổn định của chế độ phong kiến Việt Nam Nhà Lý thiết lập bộ máy cai trị hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương, dựa trên tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến Trung Hoa Nhà nước do vua đứng đầu, vua đặt quan lại, luật pháp, xây dựng quân đội và làm mọi việc để củng cố khối đoàn kết dân tộc trên đất nước Việt Nam

Với sự thành lập vương triều Lý đã chứng tỏ rằng từ thế kỉ XI, Việt Nam đã là một quốc gia phong kiến tồn tại độc lập, không còn phụ thuộc Trung Hoa nữa Chính vì vậy, cũng từ thế

kỉ XI, mối quan hệ mới về chính trị, kinh tế, xã hội giữa hai nước Việt Nam, Trung Hoa được hình thành trên cơ sở hai nước độc lập có chung biên giới quốc gia

Vừa lên ngôi, mùa thu năm 1010, Lý Công Uẩn cho dời đô từ Hoa Lư sang thành Đại La Trong lời chiếu dời đô có nói: “Ngày xưa nhà Thương đến Bàn Canh là năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương là ba lần dời đô há phải là các vua đời tam đại ấy theo ý riêng mà tự dời đô bậy đâu, là vì mưu chọn chỗ ở chính giữa làm kế cho con cháu ức muôn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo lòng dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi Bởi thế ngôi truyền dài lâu, phong tục giàu thịnh Thế mà nhà Đinh, nhà Lê lại theo lòng riêng, lơ là mệnh trời, không noi theo việc cũ của nhà Thương nhà Chu, yên ở nơi quê quán, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, muôn vật không nên Trẫm rất xót thương, không thể không dời đi nơi khác Huống chi, đô cũ của Cao Vương ở thành Đại La, ở giữa Nam – Bắc – Đông – Tây, tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp nước Việt, chỗ ấy là nơi hơn cả Thực là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi thượng đô của kinh sư muôn đời” [22, I, tr 241] Sau đó, Lý Công Uẩn đổi tên thành Đại La thành Thăng Long, từ đó Thăng Long trở thành kinh đô của các triều đại

Trang 21

phong kiến Việt Nam suốt từ nhà Lý đến hết nhà Lê (1789) Việc nhà Lý dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long là một bước tiến bộ mới trong sự trưởng thành của ý thức dân tộc và của giai cấp phong kiến Sự kiện này có ý nghĩa lớn lao: mở ra một triển vọng to lớn cho sự phát triển của cả dân tộc Việt Nam Quyết định dời đô về Thăng Long cho thấy sự sáng suốt của một ông vua tài giỏi, biết quan tâm đến kinh tế, coi kinh tế là yếu tố quyết định để xây dựng đất nước hùng mạnh, để đủ sức bảo vệ nền độc lập tự chủ của đất nước Vì thế vua Lý đã chọn một nơi có nhiều thuận lợi để dân cư tập trung sinh sống, làm ăn

Triều Lý tồn tại đến năm 1225 thì suy yếu, chính quyền chuyển sang dòng họ Trần (1225 – 1400) Trong thời kì cai trị đất nước cả hai triều Lý, Trần đều đặc biệt quan tâm đến kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và cả thương nghiệp

Kinh tế nông nghiệp là cơ sở của nhà nước phong kiến và của cả xã hội phong kiến cho nên các vua Lý, Trần đều có những chính sách quan tâm đến nông nghiệp Để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, nhà nước chú ý đảm bảo phân công lao động cho nông nghiệp Lý Công Uẩn vừa lên ngôi đã ra lệnh cho những người phiêu tán về quê quán làm ăn Mùa đông, tháng 10 năm 1266, vua Trần “xuống chiếu cho các vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập những người xiêu tán không có sản nghiệp làm nô tì để khai khẩn ruộng hoang lập điền trang” [22, I, tr 441] Nhà Lý, Trần thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” cho quân lính luân phiên về quê sản xuất, vừa có lợi cho nhà nước đỡ gánh nặng nuôi quân vừa đảm bảo sức lao động cho nghề nông

Các luật lệnh để bảo vệ trâu bò, nhằm duy trì sức kéo được các vua coi trọng Nhà nước còn chú trọng đến thuỷ lợi Năm 1108, nhà Lý cho đắp đê Cơ Xá (đê sông Hồng ở Phúc Xá, Hà Nội) Năm 1248, vua Trần cho đắp đê Quai Vạc,… Để đảm bảo đê điều được tốt, nhà Trần còn đặt chức hà đê chánh phó sứ để trông coi

Ngoài ra, để khuyến khích sản xuất nông nghiệp, các nghi lễ nông nghiệp cũng được các vua thường xuyên thực hiện như: lễ cày tịch điền, lễ hạ điền đầu mùa cày cấy,… có tác dụng khuyến khích người dân lạc quan, tin tưởng vào giai cấp thống trị, tin tưởng vào trời đất, vào thần thánh mà yên tâm lo việc nhà nông và cũng là biện pháp giúp nhà nước có thể thân dân hơn

Những thành tựu trong các chính sách nông nghiệp của nhà nước Lý, Trần về thuỷ lợi, về bảo vệ con người – sức lao động, bảo vệ số lượng trâu bò – sức kéo nông nghiệp,… đã thể hiện

Trang 22

tính tích cực của nhà nước Lý, Trần trong các thế kỉ XI đến XIV Nhờ đó mà xã hội Việt Nam có thể đứng khá vững chắc, đời sống của cư dân tương đối ổn định và đủ sức mạnh để thực hiện cuộc kháng chiến chống Tống, Nguyên thành công, bảo vệ Tổ quốc

Bên cạnh sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp thời Lý, Trần cũng có những bước phát triển đáng kể với những nghề: dệt vải, làm gốm, đúc đồng, làm giấy, khai thác vàng,…

Dưới thời Lý, Đại Việt sử kí toàn thư ghi năm 1040 “Vua đã dạy cung nữ dệt được gấm

vóc, tháng ấy, xuống chiếu phát hết gấm vóc của nước Tống ở kho để may áo ban cho các quan, từ ngũ phẩm trở lên thì áo bào bằng gấm, từ tứ phẩm trở lên thì áo bào bằng vóc để tỏ ra vua không dùng gấm vóc của nhà Tống nữa” [22, I, tr 276]

Nghề làm gốm phát triển mạnh với nhiều loại có giá trị: gốm đàn hoa nâu, gốm men ngọc,… một số trung tâm sản xuất gốm như Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội), đồ sành, đồ vại ở làng Thổ Hà (Bắc Ninh) nổi tiếng xuất hiện

Nghề đúc đồng có những thành tựu đáng kể: đúc tượng, đúc chuông, đúc tiền, vũ khí và

các đồ dùng sinh hoạt Theo Việt sử lược “năm 1198, nhà nước tổ chức khai thác mỏ đồng ở

Lạng Châu” [83, tr 145]

Để thuận tiện cho việc đi lại, nhà Lý, Trần còn cho đào vét các sông ngòi, đắp đường, làm cầu Năm 1029, Lý Thái Tông cho đào sông Đản Nãi (Ái Châu); năm 1051, cho đào kênh Lãm (thuộc Bắc Thái) Năm 1192, khơi sâu sông Tô Lịch; năm 1231, đào sông Trầm và sông Hào ở Thanh Hoá đến nam Diễn Châu; năm 1357, đào thêm sông ở Nghệ An, Thanh Hoá,… thuyền bè đi sông, đi biển đều thuận lợi

Nhờ có nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển nên khối lượng hàng hoá được tạo ra nhiều, loại hàng hoá phong phú, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, ngoài ra còn có sản phẩm để trao đổi, buôn bán với nước ngoài

Nền kinh tế thương nghiệp thời Lý, Trần cũng được nhà nước quan tâm Mặc dù có phần

bị hạn chế do xuất phát từ tư tưởng kinh tế “trọng nông” Để bảo vệ nền độc lập của đất nước, các vua Lý, Trần của Việt Nam đều chủ trương quan hệ hoà hảo với nhà Tống, Nguyên của Trung Hoa, hàng năm đều nộp cống phú và tỏ ra thần phục, biểu hiện rõ qua việc cầu phong, xin được công nhận là vua nước An Nam Các vua Lý, Trần còn chủ động xin được buôn bán với

Trang 23

Trung Hoa ở những vùng gần biên giới hai nước Do đó, mối quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa dưới triều Lý, Trần diễn ra thuận lợi và khá phát triển

Nhìn chung, trong các thế kỉ XI đến XIV, nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập, tự chủ được xây dựng chặt chẽ, các vua đều quan tâm đến kinh tế để phát triển đất nước, tạo cơ sở thúc đẩy mối quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước bên ngoài, đặc biệt là với Trung Hoa rộng lớn

Cuối thế kỉ XIV, sự suy yếu của nhà Trần và việc chiếm đoạt quyền lực của họ Hồ đã làm cho tình hình đất nước trở nên rối loạn, tạo điều kiện cho quân Minh sang xâm lược nước ta

2.1.1.2 Chính sách đô hộ của nhà Minh:

Sau khi đánh bại cuộc kháng chiến của nhà Hồ, quân Minh thủ tiêu nền độc lập của nước

ta và đặt nước ta thành quận Giao Chỉ thuộc nhà Minh Nhà Minh thi hành chính sách đàn áp và nô dịch tàn khốc đối với nhân dân Việt Nam

Về chính trị, quân sự, nhà Minh thi hành chính sách vừa mua chuộc, chia rẽ vừa trấn áp khủng bố bằng thủ đoạn “chia để trị”, “dùng người Việt trị người Việt”, dùng những thủ đoạn man rợ đối với những hành động phản kháng của nhân dân ta Nhà Minh ra lệnh bắt nhân dân nộp hết mọi thứ khí giới và tuyệt đối cấm đóng thuyền chiến, chế tạo vũ khí để dễ dàng đàn áp, bóc lột và nô dịch

Về văn hoá, quân Minh thi hành chính sách đồng hoá đối với nhân dân Việt Nam Chính sách chung là bắt nhân dân ta phải bỏ những phong tục tập quán cũ của dân tộc, để theo những phong tục tập quán mới của Trung Hoa “Năm 1414, Hoàng Phúc ra lệnh cấm con trai, con gái không được cắt tóc ngắn, phụ nữ phải mặc áo ngắn quần dài” [95, tr 6] Để làm cho nhân dân

ta quên đi dĩ vãng đấu tranh anh dũng, bất khuất, quên đi quá trình xây dựng đất nước lâu dài và đầy sáng tạo của mình, chính quyền đô hộ lại chủ trương thu vét hết những tài liệu văn hoá từ

trước tới đây của nước ta đưa về Trung Hoa Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy

Chú thì các sách văn học, lịch sử, hình luật, chính trị của ta từ nhà Trần trở về trước đều bị mất hết

Về giáo dục, nhà Minh một mặt triệt để thi hành chính sách ngu dân, mặt khác ra sức hạn chế việc thi cử

Về kinh tế, nhà Minh thi hành chính sách bóc lột vơ vét rất tàn ác Nhà Minh đặt ra vô số thứ thuế đánh vào mọi hạng người và mọi nghề làm ăn của nhân dân, từ thuế ruộng, thuế thủ

Trang 24

công, thuế muối, thuế lâm thổ sản,… đặc biệt thuế ruộng, cho tăng gấp ba lần so với mức thuế thời nhà Hồ, nắm độc quyền về muối, cấm việc thông thương với nước ngoài

Hai mươi năm đô hộ của nhà Minh được ghi vào lịch sử của dân tộc ta như hai mươi năm tội ác của đế chế phong kiến Trung Hoa ở thế kỉ XV Dưới ách thống trị nặng nề của chính quyền đô hộ nhà Minh, mất mùa, đói kém, bệnh tật liên tiếp xảy ra Nhân dân sống đói khổ, thợ thủ công bị bắt đưa về Trung Hoa, những người còn lại chịu thuế khóa nặng nề Thủ công nghiệp suy sụp, sự buôn bán không thể có điều kiện phát triển lên được, đồng thời lại bị sách nhiễu, khám xét, cấm đoán luôn nên lại càng đình trệ Việc đi lại buôn bán bị hạn chế: “nhân dân các xứ ra khỏi ngoài trăm dặm buôn bán làm ăn hay mua bán thóc gạo và các thứ thực phẩm đều phải trình báo với các quan sở tại”, “người nào không trình báo, tự ý đi xa đều bị tù tội” [84, tr 208]

Như vậy, trong hai mươi năm đô hộ của nhà Minh, mối quan hệ kinh tế giữa hai nước Việt Nam – Trung Hoa không được thực hiện, thay vào đó là công cuộc vơ vét, bóc lột tàn bạo của nhà Minh đối với nước ta để thu lợi Từ đó tạo nên một sự mâu thuẫn rất lớn giữa nhân dân Việt Nam với nhà Minh Nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam chống chính quyền đô hộ nhà Minh diễn ra liên tục, rộng khắp

2.1.1.3 Quá trình xây dựng đất nước của vương triều Lê (đầu thế kỉ XV đến đầu thế kỉ XVI):

Dưới ách đô hộ của nhà Minh, nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam đã nổ ra, trong đó lớn mạnh nhất là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo Sau mười năm trường

kì gian khổ (1418 – 1428), cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng đất nước, khôi phục nền độc lập dân tộc, mở ra một giai đoạn phát triển rực rỡ của quốc gia Việt Nam

Tháng 4 năm 1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi Hoàng đế, mở đầu triều đại nhà Lê Trong khoảng bảy mươi năm (1428 – 1503), trải qua các đời vua Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông, Thánh Tông, Hiến Tông đất nước Việt Nam dần dần được khôi phục và phát triển cao về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục Đây cũng là điều kiện thuận lợi để thiết lập trở lại mối quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia Việt Nam – Trung Hoa, tạo điều kiện cho mối quan hệ kinh tế được duy trì

Trang 25

Đất nước trở lại độc lập, nhà nước và nhân dân với ý thức tự hào dân tộc sâu sắc đã hợp sức cùng nhau nhanh chóng khôi phục sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh và sau đó là đưa nền kinh tế phát triển lên một giai đoạn mới Nhà nước rất quan tâm đến việc bảo vệ và khuyến

khích nông nghiệp Theo Đại Việt sử kí toàn thư: “Năm Đinh Mùi [1427]: Hạ lệnh cho dân xiêu

tán về quê quán cũ mà cày cấy Người nào không có điền sản thì cho được buôn bán Người nào bỏ nghề nghiệp thì xử tội nặng” [22, II, tr 50] Nhà nước ngăn cấm việc bỏ hoang ruộng đất, ruộng đất giao cho làng xã quản lí theo chế độ quân điền Nhà nước chú trọng đến khai hoang, mở rộng diện tích canh tác Nhiều làng xóm ven biển Sơn Nam, Thanh Hoá, Nghệ An đã ra đời

Nhà Lê cũng như các triều Lý, Trần đều rất chăm lo đến nông nghiệp Công tác thuỷ lợi, các qui định về bảo vệ sức kéo của trâu bò,… được nhà nước coi trọng

Như vậy, với sự nỗ lực của nhà nước và nhân dân, nền nông nghiệp được phục hồi và phát triển, thúc đẩy sản xuất xã hội, kích thích sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp

Để tiện cho việc buôn bán, trao đổi, nhà Lê bỏ tiền giấy nhà Hồ, đúc tiền đồng mới, qui định rõ: 1 quan bằng 10 tiền, 1 tiền bằng 60 đồng Các đơn vị đo lường cũng được thống nhất

Về ngoại thương, nhà nước nắm độc quyền và hạn chế nghiêm ngặt Thuyền buôn ngoại quốc chỉ được vào một số cửa biển nhất định như Vân Đồn, Càn Hải (Cửa Hội), Hội Thống (Nghệ An), Hội Triều (Thanh Hoá) Ở các nơi này có Sát hải sứ để kiểm soát tàu bè, có An phủ

ty và Đề bạc ty để kiểm soát việc đi lại, mua bán Nhà nước nghiêm cấm nhân dân không được buôn bán lén lút, vi phạm sẽ bị phạt rất nặng

Về đối ngoại, các vua Lê luôn cố gắng tạo ra một quan hệ bang giao hoà hoãn, một mặt triều đình nhà Lê thi hành chính sách mềm dẻo, không để mất thể diện của kẻ vừa bị nhân dân

ta đánh bại Lê Lợi cử một đoàn sứ bộ do Lê Thiếu Dĩnh dẫn đầu lên đường sang Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay) mang theo đồ cống, thư “tạ lỗi” vì đã chống cự thiên triều, cùng một bản danh sách tù binh gồm quân tướng Minh bị bắt ở Việt Nam sẽ được Lê Lợi trao trả cho Trung Hoa Sau đó, Lê Lợi sai sứ sang cầu phong và nộp cống phẩm hàng năm, mặt khác nhà Lê kiên quyết bảo toàn lãnh thổ và giữ vững chủ quyền của một nước độc lập Thế là sau hai mươi năm

bị cắt đứt, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với Trung Hoa đã được xây dựng trở lại

Sau khi Trung Hoa và Việt Nam mở cửa ải thông sứ, quan hệ ngoại giao giữa hai nước trong những năm đầu chưa ổn định, còn có nhiều trở ngại và ở đây đã diễn ra cuộc đấu tranh

Trang 26

khá gay go, phức tạp mà nội dung chủ yếu là vấn đề phía Việt Nam đòi nhà Minh phải công nhận Lê Lợi là người lãnh đạo chiến thắng ở Việt Nam Bị thất bại nặng nề về quân sự, buộc phải rút khỏi Việt Nam, nhưng triều đình Minh vì lợi ích ở Việt Nam không thể không thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Do đó buộc phải công nhận Lê Lợi Về phía mình, Lê Lợi tiến hành xây dựng quan hệ ngoại giao với triều Minh trong hoàn cảnh đất nước đã giành được độc lập hoàn toàn, ở thế mạnh mẽ của người chiến thắng Việc nhà Minh – một đế quốc lớn không ngừng nuôi tham vọng thôn tính Việt Nam, chịu kiến lập quan hệ hoà bình với Việt Nam, thông qua quyết định tấn phong Lê Lợi – người vừa đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của triều Minh, khẳng định Lê Lợi đã thành công trong đường lối đối ngoại khôn khéo của mình Từ đây, đất nước Việt Nam lại có điều kiện được khôi phục và phát triển về mọi mặt Thông qua mối quan hệ ngoại giao hoà bình này, mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Trung Hoa được thiết lập trở lại, góp phần thúc đẩy nền kinh tế hai nước phát triển

Như vậy, các chính sách của chính quyền nhà Lê về chính trị, kinh tế, văn hoá, đối ngoại,… luôn gắn liền với việc bảo vệ an ninh, sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, để đưa mọi hoạt động của xã hội vào qui chuẩn, khuôn phép Và cũng chính vì để bảo vệ an ninh quốc gia nên nhà Lê thi hành chính sách kiểm soát chặt chẽ đối với ngoại thương, đối với các hoạt động buôn bán tư nhân, chính vì thế đã ảnh hưởng đến hoạt động buôn bán với các nước bên ngoài, trong đó có Trung Hoa

Từ nửa sau thế kỉ XV, nhà nước phong kiến Lê suy yếu, các vua Uy Mục, Tuơng Dực sao nhãng việc triều chính, ăn chơi sa đoạ, các thế lực phong kiến tranh chấp lẫn nhau Trong đó có thế lực của Mạc Đăng Dung là mạnh hơn cả và đã đánh bại được các thế lực phong kiến khác Năm 1527, Mạc Đăng Dung bắt vua Lê nhường ngôi cho mình Nhà Mạc được thành lập

2.1.1.4 Sự phân liệt Nam – Bắc triều và chính sách thống trị của nhà Mạc:

Quốc gia Việt Nam trải qua hơn năm thế kỉ thống nhất với một nhà nước trung ương tập quyền ngày càng được củng cố Nhưng đến đầu thế kỉ XVI, sự mục nát của nhà Lê đã đến đỉnh điểm và Mạc Đăng Dung giành lấy ngôi vua vào năm 1527, thì đó cũng là sự mở đầu của một thời kì nội chiến phân liệt triền miên giữa các tập đoàn phong kiến Ra đời trong sự thoán đoạt vương quyền, nhà Mạc luôn gặp phải sự chống đối của các cựu thần muốn khôi phục cơ đồ thống trị của nhà Lê

Trang 27

Cuộc chiến tranh Lê – Mạc (còn gọi là cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều) mở đầu sự chia cắt đất nước Nhà Mạc thành lập trong hoàn cảnh đất nước khủng hoảng về mọi mặt, gặp phải sự chống đối của các cựu thần nhà Lê, nhà Minh nhân cơ hội này cũng phao tin sang xâm lược Việt Nam, mặc dù lúc này nhà Minh đang gặp rất nhiều khó khăn Ở phía Bắc, nhà Minh đang phải tập trung vào việc phòng ngự phương Bắc, chống sự xâm nhập, cướp phá của các bộ tộc Mông Cổ ở miền Sơn Tây, Thiểm Tây, Hà Bắc Mặc khác, nhà Minh phải dồn nhiều lực lượng vào việc đàn áp phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nông dân Trung Hoa đang bùng lên ở các tỉnh Phúc Kiến, Chiết Giang, Hồ Bắc, Quảng Đông và nhiều nơi khác Tình hình này không cho phép nhà Minh tiến hành xâm lược nước ta Tuy nhiên, nhà Minh vẫn không từ bỏ dã tâm xâm lược, nhân sự cầu cứu của một số cựu thần nhà Lê, nhà Minh muốn uy hiếp nhà Mạc buộc phải đầu hàng Rõ ràng ý chí xâm lược của nhà Minh đã bị nhân dân ta giáng cho một đòn mãnh liệt từ sau cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Tuy vậy, trước thái độ hèn nhát của Mạc Đăng Dung, nhà Minh vẫn tìm cách hư trương thanh thế, giả vờ chuẩn bị rậm rịch ở biên giới, phao tin sẽ kéo quân sang đánh nước ta “Năm 1537, nhà Minh phái Cừu Loan làm tổng đốc quân vụ và Mao Bá Ôn làm tán lý quân vụ, xuống miền Lưỡng Quảng, Vân Nam điều động quân lính đóng dọc biên giới nước ta, nhằm uy hiếp nhà Mạc Nhà Minh còn sai viết hịch kể tội Mạc Đăng Dung và treo thưởng “nếu ai bắt sống hay chém được đầu cha con Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh thì thưởng một vạn lạng bạc”; lại dụ bảo cha con Mạc Đăng Dung nếu biết tự trói mình đền tội, thành khẩn dâng hết sổ sách điền hộ thì được tha tội chết” [75, I, tr 64 – 65] Run sợ trước thế lực của nhà Minh, để yên mặt Bắc, Mạc Đăng Dung cho sứ giả đến cửa quân nhà Minh trần tình và nguyện xin ra biên giới đầu hàng Nhà Mạc cắt đất năm động Ti Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liêu Cát và La Phù thuộc châu Vĩnh An để cho lệ thuộc vào Khâm Châu của nhà Minh, thực hiện triều cống đầy đủ Với chính sách đầu hàng nhục nhã đó, nhà Mạc tạm thời ổn định được mặc Bắc, lo chống lại cuộc khởi nghĩa “phù Lê” Chính vì thế, mối quan hệ kinh tế giữa hai nước Việt Nam – Trung Hoa vẫn tiếp tục được diễn ra thông qua hình thức cống sứ, đồng thời nhân dân hai nước cũng tiếp tục buôn bán dọc theo biên giới hai nước

2.1.1.5 Cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn và chính sách cai trị của chính quyền Đàng Trong, Đàng Ngoài:

Tình trạng phân liệt Nam – Bắc triều chấm dứt chưa được bao lâu thì xảy ra sự phân chia Đàng Trong, Đàng Ngoài, chiến tranh Trịnh – Nguyễn bùng nổ

Trang 28

Mầm mống của sự phân liệt bắt nguồn từ sự kiện Nguyễn Kim bị sát hại (1545) Nguyễn Kim là một trong những vị đại thần đi đầu trong việc phù Lê diệt Mạc, nhưng khi cuộc khởi nghĩa “phù Lê” đang lên cao thì Nguyễn Kim bị sát hại, quyền lực vào tay con rể là Trịnh Kiểm và con cháu họ Trịnh Trịnh Kiểm ngày càng chuyên quyền đã cho giết Nguyễn Uông và mưu hại Nguyễn Hoàng để trừ hiểm hoạ về sau Trước biến cảnh đó, khi được lời khuyên của Nguyễn Bỉnh Khiêm “hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân” (một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời) Nguyễn Hoàng đã xin vào trấn thủ vùng đất Thuận Hoá Trịnh Kiểm đồng ý để Nguyễn Hoàng ra đi với mưu đồ đẩy ông vào vùng đất hiểm vắng và sẽ trừ khử sau khi sự nghiệp diệt Mạc hoàn thành Đến vùng đất mới, Nguyễn Hoàng đẩy mạnh việc xây dựng thế lực cát cứ, lập ra một vương quốc riêng, phá vỡ sự thống nhất quốc gia Cuộc xung đột vũ trang giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn bắt đầu diễn ra từ những năm 20 của thế kỉ XVII, không phân thắng bại, đưa đất nước đến chỗ chia cắt Đàng Ngoài, Đàng Trong

Chính quyền Đàng Ngoài sau khi kết thúc chiến tranh với nhà Mạc (1677), để thu phục nhân tâm, họ Trịnh có phần nhượng bộ nhân dân trong các chính sách kinh tế, xã hội: miễn thuế cho ruộng đất ẩn lậu, cho phép ruộng khai hoang trở thành ruộng tư, cấm quan lại không quấy nhiễu, khám xét,… Tình hình kinh tế, xã hội tương đối ổn định, kinh tế nông nghiệp có phần được phục hồi: “… hàng năm người ta cấy hai vụ, thu hoạch được rất nhiều, việc trồng rau, trồng cây ăn trái cũng rất phổ biến” [83, tr 354]

Ở Đàng Trong, trong buổi đầu lập nghiệp, các chúa Nguyễn cố gắng tập trung sức dân khai hoang để mở rộng lãnh thổ và phát triển kinh tế, thi hành các chính sách tương đối rộng rãi, chế độ thuế khoá được khoan nhẹ,… những chính sách ưu đãi của các chúa Nguyễn cùng với tiềm năng của một vùng đất chưa khai phá đã thu hút luồng dân từ Đàng Ngoài vào khẩn hoang lập làng, biến vùng Thuận Hoá trở thành một khu vực có nền kinh tế độc lập, làm cơ sở cho công cuộc cát cứ, thoát dần quan hệ lệ thuộc vào họ Trịnh

Trên cơ sở của nền kinh tế hàng hóa thế kỉ XV, cùng với chính sách khuyến khích phát triển kinh tế của chính quyền ở hai Đàng, kinh tế hàng hóa ở Việt Nam trong thế kỉ XVI – XVII có điều kiện phát triển

Số lượng các nghề thủ công tăng thêm, các làng chuyên môn xuất hiện ngày càng nhiều Sử cũ cho biết thời kì này có các nghề sau: nghề làm các đồ kim khí như thợ thiếc làm chóp nón, quai ấm; thợ bạc làm đồ trang sức, nghề thợ khóa, nghề đúc soong chảo, nghề đúc tượng

Trang 29

đồng Các nghề truyền thống trước đây cũng phát triển ở nhiều địa phương: nghề làm gốm, dệt, làm đồ gỗ, làm chiếu, làm giấy, thuộc da, làm quạt, lọng, nghề sơn, làm hương, làm nón,

Các làng chuyên môn tăng thêm khá nhiều Ở Đàng Ngoài có Đào Lâm và Trúc Lâm (Hải Dương) làm nghề thuộc da và đóng giày dép; nghề dệt vải ở Cương Thôn (Sơn Tây); nghề dệt sa lĩnh ở La Khê (Hà Đông), làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm); nghề làm đồ sành, đồ vại ở làng Thổ Hà (Bắc Ninh); nghề khắc bản in ở Liễu Tràng, Liễu Lục (Hải Dương),… Ở Đàng Trong tuy thủ công nghiệp không phát triển bằng Đàng Ngoài nhưng cũng có các làng thủ công như làng Phù Trạch làm chiếu và cánh buồm, làng Triều Sơn dệt nón, làng Đốc Sơn làm giấy, làng Dã Lễ làm mui thuyền,… thậm chí có cả một huyện trừ vài làng làm nghề thủ công Các trung tâm trao đổi hàng hóa vì thế cũng xuất hiện nhiều hơn và hàng hóa lưu thông cũng tăng lên làm cho thương nghiệp cả hai Đàng phát triển

Từ đầu thế kỉ XVII, cả ở Đàng Trong, Đàng Ngoài chính quyền phong kiến đều thi hành chính sách “mở cửa” về ngoại thương với ý đồ lợi dụng để phát triển về quân sự và kinh tế Do vậy mà quan hệ buôn bán được mở rộng với tất cả các nước muốn đặt quan hệ buôn bán với Việt Nam Chính sách mở rộng đối với ngoại thương tạo điều kiện cho thương nhân các nước đến Đàng Trong, Đàng Ngoài buôn bán đông đúc, đặc biệt là ở Đàng Trong (do có nguồn hàng hoá phong phú) Chúa Nguyễn còn cho phép thương nhân nước ngoài định cư buôn bán lâu dài, cho xây dựng khu phố có qui chế riêng như xã Minh Hương của người Hoa, Ba Phố của người Nhật ở Hội An… Ở Đàng Ngoài, mối quan hệ buôn bán với người Hoa chủ yếu được duy trì thông qua vùng biên giới và một số hải cảng ở phía Bắc

Như vậy, để củng cố quyền cai trị vùng đất riêng của mình, chính quyền Đàng Ngoài, Đàng Trong đều quan tâm đến kinh tế, quan tâm đến việc buôn bán với các nước bên ngoài, qua đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho cư dân người Hoa và thương nhân người Hoa đến sinh sống làm ăn Chính sách “mở cửa” đối với ngoại thương của chính quyền Đàng Ngoài, Đàng Trong đã có một phần tác dụng tích cực đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là thương nghiệp

Tuy nhiên, tình trạng chiếm đoạt ruộng đất, quan lại tham ô là một hiện tượng diễn ra xuyên suốt trong sự phát triển của chế độ phong kiến Đàng Trong và Đàng Ngoài

Ở Đàng Ngoài, nạn quan lại tham nhũng, thuế khoá liên tiếp tăng lên, kinh tế nông nghiệp không được chăm sóc đẩy nhân dân đến cuộc sống bần cùng nghèo khổ, lưu tán khắp nơi Lợi dụng tình trạng đó, giai cấp địa chủ tăng cường việc chiếm đoạt ruộng đất: “… những

Trang 30

nông dân phiêu tán ruộng phải bỏ hoang phần nhiều bị bọn thế gia và các làng lân cận chiếm cày, lập văn khế giả, làm bằng cứ giả, có khi ruộng đã cày cấy hết mà khai là ruộng hoang phế Dân lưu vong dù có muốn trở về cũng không có ruộng cày cấy mà kiện cáo thì khổ nỗi không đủ sức…” [48, tr.188] Xã hội Đàng Ngoài chứa đựng nhiều mâu thuẫn, trong đó mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ ngày càng gay gắt Đó là nguyên nhân đưa đến sự bùng nổ một làn sóng khởi nghĩa nông dân làm cho xã hội càng thêm xáo trộn

Ở Đàng Trong, bọn quan lại tranh nhau đoạt những thành quả lao động của người dân trong quá trình khẩn hoang hoặc dùng uy thế chiếm ruộng tư của nông dân và ruộng công của làng xã làm ruộng riêng Người dân phải chịu nhiều thứ thuế: “… Thuế thổ sản có đến hàng ngàn thứ, lấy thuế đến cả những sản vật vụn vặt Lúc nhà nước cần sản vật gì đặt thêm thuế sản vật ấy Năm 1769, nhà nước cần mỡ lợn để lau súng đại bác, lệnh đánh thuế mỡ lợn ở chợ vùng Thuận Quảng …” [74, II, tr 40 – 41] Mỗi lần xây cung điện thì nhân dân nộp gỗ, mây, song, lá gồi,… Còn những người buôn bán phải đóng thuế tuần, thuế thuyền, thuế đầu nguồn, thuế chợ,… mức thuế ngày càng tăng, cuộc sống người dân ngày càng điêu đứng

Như vậy, đến những năm 70 của thế kỉ XVIII, chính quyền phong kiến họ Nguyễn ở Đàng Trong cũng như họ Trịnh ở Đàng Ngoài đã lâm vào tình trạng khủng hoảng Các tập đoàn phong kiến vơ vét, bóc lột dân chúng, đẩy nhân dân vào bước đường cùng, phong trào khởi nghĩa theo đó bùng lên Một xã hội như vậy không phải là môi trường tốt cho các nước thiết lập quan hệ kinh tế, do đó, trong mối quan hệ kinh tế với Trung Hoa thời kì này cũng có phần giảm sút

Từ năm 1771, cuộc chiến tranh nông dân lớn nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam đã nổ ra Ranh giới Đàng Ngoài, Đàng Trong bị xoá bỏ, một triều đại mới được thiết lập bước đầu khôi phục và phát triển nền kinh tế đất nước – đó là phong trào nông dân Tây Sơn

2.1.1.6 Những chủ trương cải cách của Quang Trung:

Năm 1771, khởi nghĩa nông dân bùng nổ ở đất Tây Sơn (thuộc Qui Nhơn, Bình Định) do

ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo Phong trào Tây Sơn diễn ra vào thời điểm đất nước bị chia cắt, chiến tranh liên miên giữa các thế lực phong kiến: Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn Chính vì vậy, cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng được sự ủng hộ của nhân dân và nhanh chóng giành thắng lợi, biên giới Đàng Trong, Đàng Ngoài bị xoá bỏ Một triều đại phong kiến mới được thiết lập, đất nước thống nhất được khôi phục trở lại Năm 1788, Nguyễn Huệ lên

Trang 31

ngôi Hoàng đế, lập ra triều đại Quang Trung Do điều kiện lịch sử chi phối, các thủ lĩnh Tây Sơn sau đó cũng đi vào con đường phong kiến hoá, xưng vương, xưng đế, phân chia khu vực cai trị: toàn bộ Bắc Hà thuộc phạm vi cai trị của triều đại Quang Trung; Nguyễn Nhạc chiếm giữ khu vực ở giữa chạy dài từ Quảng Nam đến Nam Trung Bộ; Nguyễn Lữ coi giữ đất Gia Định Nhìn chung, phong trào Tây Sơn chưa tạo được cơ sở phát triển mạnh cho nền kinh tế, chưa phát huy được những điều kiện thuận lợi để góp phần thiết thực vào công cuộc khôi phục đất nước, đáp ứng mọi nhu cầu của đời sống nhân dân Trong phạm vi lãnh thổ Quang Trung cai trị, xét về chủ trương cải cách, có thể coi triều đại Quang Trung là triều đại phong kiến tiến bộ nhất về mọi mặt, nhất là trong lĩnh vực kinh tế

Về xây dựng chính quyền, Quang Trung biết trọng dụng người tài, tổ chức thi cử để chọn

ra những người tài giỏi tham gia vào bộ máy nhà nước, xoá dần tệ quan lại tham nhũng, thực hiện chế độ bổng lộc đối với quan lại bằng cách cấp cho họ một số dân đinh để thu thuế, không ban cấp ruộng lộc điền Với qui định này, ruộng đất được mở rộng đến tay người nông dân, cho họ có tư liệu sản xuất Năm 1790, Quang Trung cho lập lại sổ hộ khẩu, qui định chế độ trưng tập quân lính, phát thẻ tín bài, tất cả căn cứ trên tuổi tác chứ không phân biệt danh phận Đây là những biện pháp tiến bộ không chỉ có lợi về mặt quân sự mà còn có tác dụng về mặt kinh tế, tài chính và ổn định xã hội

Về kinh tế, sau thời kì khủng hoảng kéo dài, năm 1789, Quang Trung ban bố chiếu khuyến nông, đề ra những biện pháp tích cực để giải quyết nạn lưu vong và tình trạng ruộng đất bỏ hoang: “Dân phiêu tán đều phải trở về quê quán nhận ruộng cày, chỉ trừ những người đã sinh

cơ lập nghiệp ở nơi khác trên ba đời thì cho nhập tịch ở xã ấy Những nông dân lưu tán trở về quê được cấp ruộng đất công cày cấy Quá thời hạn đã định mà không thanh toán hết diện tích ruộng đất bỏ hoang thì nếu là ruộng công sẽ phải nộp thuế gấp đôi, ruộng tư bị tịch thu làm ruộng công” [74, II, tr 102] Nhờ đó, trong vòng ba, bốn năm, sản xuất nông nghiệp đã được phục hồi nhanh chóng, cuộc sống người dân dần ổn định

Thời Quang Trung, tình hình công thương bị đình trệ hàng thế kỉ trước cũng được phục hồi dần Quang Trung thực hiện chính sách phát triển công thương nghiệp trong nước và mở rộng quan hệ ngoại thương Quang Trung chủ động mở rộng quan hệ ngoại thương trước hết là với nhà Thanh ở Trung Hoa và đấu tranh buộc nhà Thanh phải mở cửa buôn bán với nước ta, khiến cho hàng hoá không ngưng đọng, để làm lợi cho sự tiêu dùng của nhân dân

Trang 32

Về quan hệ đối ngoại với Trung Hoa, sau chiến thắng Đống Đa năm Kỉ Dậu (1789), vua Quang Trung đã phải tiến hành một chính sách ngoại giao khôn khéo với nhà Thanh để tránh đương đầu bằng quân sự, giữ vững hoà bình và kiến thiết đất nước Trước khi xuất quân tiêu diệt giặc Thanh, đường lối ngoại giao của Quang Trung đã được thể hiện trong lời nói với các tướng lĩnh: “Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có sẵn Chẳng qua mươi ngày có thể đuổi được người Thanh Nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo báo thù Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao, không phải Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được Chờ mười năm nữa, cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh, thì ta có sợ gì chúng?” [71, tr 221] Đúng với phương châm ngoại giao như trên, nên sau khi chiến thắng quân Thanh, Quang Trung đã thi hành một chính sách ngoại giao thời hậu chiến trên cơ sở nhận thức đúng đắn vị thế của Việt Nam: “về phía Bắc thì nuớc ta hăng hái chống cự không để cho nước Tàu chinh phục, nhưng vẫn biết phận mình nhỏ yếu nên đời vua nào cũng chịu xưng thần” [2, tr 37] Quang Trung đã dâng biểu “tạ tội”, xin giảng hoà với nhà Thanh, phản ánh chiến lược ngoại giao mềm dẻo trong quan hệ với Trung Hoa nhằm cố gắng tranh thủ thời gian xây dựng đất nước, xây dựng lực lượng mạnh để đủ sức đối phó với kẻ thù

Bên cạnh đó, Quang Trung cũng có thái độ ngoại giao kiên quyết, luôn kiên định lập trường bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ quyền lợi tối cao của quốc gia, bảo vệ quốc thể Sự kiên quyết này được thể hiện hầu như trong mọi hoạt động cụ thể với nhà Thanh, qua thái độ, lời lẽ cứng rắn trong thư từ, văn kiện ngoại giao, qua việc Quang Trung thoái thác không chịu sang triều cận vua Thanh,…

Sự kiên quyết của Quang Trung khiến nhà Thanh phải nhiều lần nhượng bộ Trong tác

phẩm Chuyện đi sứ, tiếp sứ thời xưa, tác giả Nguyễn Thế Long đã nhận xét: “Chưa bao giờ trong

lịch sử ngoại giao của nước ta, “thiên triều” lại bị động, xuống thang, không trịch thượng như thế” [51, tr 281]

Như vậy, những chính sách tiến bộ của Quang Trung đã khôi phục được đất nước sau một thời gian dài xảy ra chiến tranh liên miên, tạo điều kiện cho đất nước phát triển, nhất là về kinh tế Đặc biệt, chính sách ngoại giao khôn khéo của Quang Trung đã giúp cho hai nước Việt Nam, Trung Hoa có thời gian hoà bình để thiết lập mối quan hệ kinh tế Quang Trung rất coi trọng

Trang 33

việc buôn bán với Trung Hoa, thực hiện mọi biện pháp để thúc đẩy ngoại thương phát triển Chính vì thế, dưới thời Quang Trung quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa diễn ra tốt đẹp, góp phần phát triển nền kinh tế hàng hoá của cả hai nước, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân

Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử, những chính sách tiến bộ của Quang Trung còn nhiều hạn chế Bộ máy nhà nước quân chủ tập quyền của Quang Trung căn bản vẫn không khác bộ máy cũ của các triều đại trước, Quang Trung sử dụng lại một số lớn quan lại thời Lê, Trịnh, do đó, nhiều người tham gia chính quyền của Quang Trung nhưng vẫn có ý chờ thời cơ hay ngấm ngầm phá hoại, biến những chủ trương tích cực thành những việc phiền hà Chính sách ruộng đất vẫn nằm trong quan hệ sản xuất phong kiến, duy trì chế độ sở hữu ruộng đất công làng xã và quyền chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ Người dân chưa có cơ sở giữ mảnh ruộng cày cấy không bị chiếm đoạt trở lại, kinh tế tiểu nông không phát triển Mâu thuẫn xã hội ngày càng tăng, nhất là sau cái chết của Quang Trung Trong khi đó, Nguyễn Ánh được sự giúp đỡ của thế lực tư bản phương Tây cuối cùng đã lật đổ vương triều Tây Sơn, trở lại thiết lập sự thống trị vào đầu thế kỉ XIX

2.1.1.7 Chính sách cai trị của nhà Nguyễn:

Sau khi đánh bại Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, đánh dấu sự khôi phục quyền lực của dòng họ Nguyễn (1802) Lần đầu tiên trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, đất nước được thống nhất trên một lãnh thổ rộng lớn trải dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, đây là tiền đề tốt cho công cuộc xây dựng đất nước Đất nước thống nhất, xã hội yên bình, nhà nước và nhân dân bắt tay vào xây dựng và phát triển kinh tế, tạo đều kiện cho mối quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa được tiếp tục diễn ra

Nhà Nguyễn tiếp tục xây dựng đất nước theo thiết chế quân chủ chuyên chế, tập trung mọi quyền hành vào trong tay vua Bộ luật Gia Long được ban hành mang tính chất hà khắc hơn là công lí Về cuộc sống của người dân thì đúng như lời nhận xét của Sê-nhô (một người làm quan dưới thời Gia Long): “Dân chúng vô cùng đói khổ, vua quan bóc lột thậm tệ Công lí là một món hàng mua bán, kẻ giàu có thể công khai sát hại người nghèo và tin chắc rằng với thế lực đồng tiền, lẽ phải sẽ về tay chúng” [74, II, tr 143] Tình trạng chiếm đoạt ruộng đất của giai cấp địa chủ, nạn quan lại cường hào, tham nhũng, chế độ tô thuế lao dịch khắc nghiệt của nhà nước làm cho nền kinh tế tiểu nông bị phá sản, xóm làng xơ xác, người dân phải lưu tán Cảnh

Trang 34

chợ búa tấp nập – biểu tượng cho một nền nông nghiệp phồn thịnh thưa thớt dần Hoạt động buôn bán, trao đổi của nhân dân trong nước với các nước cũng vì thế mà ngày càng ít đi Khởi nghĩa nông dân nổ ra, tăng thêm sự bất ổn của tình hình đất nước, sức sản xuất giảm sút, nội lực đất nước cũng suy yếu dần

Dưới thời Trịnh – Nguyễn và triều đại Tây Sơn, việc mở cửa giao lưu buôn bán được tiến hành rộng rãi với các nước, trong đó có các nước phương Tây Sang thế kỉ XIX, trước những tin tức thế giới đưa lại về những chuyện người Hà Lan xâm chiếm Indonesia; Anh, Pháp bành trướng Ấn Độ; người Bồ Đào Nha chiếm Ma Cao; người Ý ở Phi Luật Tân,… mỗi khi có tàu nước ngoài đến, dù đã quen như nước Pháp, dù chỉ đưa thư hay xin buôn bán, truyền đạo, nhà Nguyễn đều chối từ, lui về thế phòng thủ mong tránh khỏi sự nhòm ngó bên ngoài Ngược lại, nhằm giữ yên vùng biên giới Việt – Trung, vùng biên giới được xác định là quan trọng nhất, nhà Nguyễn nhanh chóng thiết lập mối quan hệ hoà hiếu, thần phục Trung Hoa, chịu nhận sách phong và triều cống,…

Bài học ngoại giao “biết mình, biết người” trong quan hệ với Trung Hoa thật cần thiết Đường lối ngoại giao hoà bình được coi là xuyên suốt của các triều đại phong kiến nước ta đã có tác dụng tích cực trong việc giữ vững nền độc lập, triều Nguyễn đã tiếp tục kế thừa và phát huy, nhằm duy trì sự giao hảo giữa hai nước Mặc khác, vua Nguyễn là Gia Long còn muốn qua việc nối lại quan hệ với nhà Thanh để giành được sự công nhận của Trung Hoa Khi Trung Hoa công nhận Gia Long cũng có nghĩa là trên thực tế nhà Lê không còn tồn tại, và triều Nguyễn đã xác lập quyền lợi và vị trí của mình một cách chính thức trong quan hệ quốc tế

Để đảm bảo sự bình yên trong nước, sự hoà hiếu với lân bang và để xác lập, củng cố thế đứng của dòng họ, vua Gia Long và các vua tiếp theo đã thực hiện bình thường hoá quan hệ với Trung Hoa, tiếp tục truyền thống ngoại giao mềm dẻo với nhà Thanh Các vua Nguyễn đã bày tõ thiện chí với vua Thanh “sẵn sàng chịu phận một chư hầu nhỏ bé ở phương Nam”, rằng:

“Thần chỉ là kẻ chúng thần láng giềng bé nhỏ của đế quốc bệ hạ, và ước nguyện lớn nhất của Thần là được tưới bởi cơn mưa tâm hồn vĩ đại của bệ hạ” [20, tr 37] Do đó, mối quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa được đẩy mạnh

Nhà Nguyễn thi hành chính sách “bế quan toả cảng”, “nhà nước nắm độc quyền về ngoại thương” nhưng lại dành nhiều đặc ân cho thương nhân người Hoa Người Hoa có nhiều điều kiện thuận lợi để hoạt động kinh tế ở Việt Nam

Trang 35

Như vậy, trải qua gần mười thế kỉ độc lập (thế kỉ X đến thế kỉ XIX), mối quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa được diễn ra liên tục, gắn liền với từng triều đại Tuy nhiên, do chi phối bởi những điều kiện về chính trị, xã hội, kinh tế, ngoại giao,… mà ở từng triều đại ở Việt Nam, mối quan hệ kinh tế với Trung Hoa có những bước thăng trầm khác nhau, ảnh hưởng đến nền kinh tế của cả hai nước

2.1.2 Tình hình của Trung Hoa:

2.1.2.1 Trung Hoa dưới triều Tốâng, Nguyên (thế kỉ X đến thế kỉ XIV):

Năm 960, nhà Tống thành lập, mở ra một triều đại cai trị mới ở Trung Hoa Từ khi thành lập, nhà Tống thường xuyên xảy ra chiến tranh với các nước Liêu, Hạ Năm 979, nạn chia cắt thời Ngũ đại Thập quốc hoàn toàn chấm dứt Trừ vùng đất đai ở phía bắc và phía tây bắc bị người Khiết Đan (Liêu) và Hạ chiếm, phần đất rộng lớn còn lại thuộc về nhà Tống Giống như các triều đại trước, nhà Tống tiếp tục thực hiện chính sách bành trướng xuống phía nam khi có

cơ hội

Năm 979, nhân tình hình Việt Nam gặp khó khăn, cha con Đinh Tiên Hoàng bị ám sát, tình hình trong triều không ổn định, nhà Tống cho quân sang xâm lược Việt Nam năm 981 nhưng thất bại

Đến thập kỉ 70 của thế kỉ XI, nhà Tống lại xâm lược nước ta một lần nữa với hi vọng có thể tạo nên được một thắng lợi để tăng thêm uy thế cho Tống, làm cho Liêu, Hạ kiêng nể Cuộc viễn chinh xâm lược lần thứ hai của nhà Tống bị thất bại nặng nề trước sức mạnh về quân sự và tài chỉ huy của các tướng lĩnh nhà Lý Chẳng những không làm cho Liêu, Hạ khiếp sợ được, mà

uy thế lại bị giảm đi rất nhiều

Năm 1279, nhà Tống bị người Mông Cổ tiêu diệt, lập ra nhà Nguyên Nhà Nguyên lên nắm quyền cai trị tiếp tục mang quân sang xâm lược Việt Nam Nhà Nguyên ba lần mang quân xâm lược Việt Nam vào các năm 1258, 1285, 1287 – 1288 nhưng đều gặp phải cuộc kháng chiến quyết liệt của quân dân Việt Nam nên đều bị thất bại nặng nề, phải rút quân về nước

Trong thời gian xảy ra chiến tranh với Việt Nam, quan hệ giữa hai nước rất căng thẳng, vấn đề kiểm soát biên giới càng chặt chẽ hơn do đó mà quan hệ kinh tế giữa hai nước bị hạn chế, hầu như chấm dứt hẳn Nhà Tống “muốn khiêu khích sinh sự để lấy cớ cất quân, bèn cấm các châu huyện không được mua bán với nước ta” [18, III, tr 277] Tuy nhiên, khi chiến tranh giữa hai nước kết thúc, mặc dù Việt Nam ở thế thắng trận nhưng luôn luôn duy trì mối quan hệ

Trang 36

hoà hiếu, vẫn luôn tôn trọng nước lớn phương Bắc và chịu thần phục, cống nộp Các vua Lý, Trần đều cử sứ giả sang thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Hoa, vua Lý lại xưng thần, dâng cống, xin kinh,… chính vì thế, mối quan hệ kinh tế giữa hai nước Việt Nam – Trung Hoa được thiết lập trở lại sau khi chiến tranh kết thúc

Từ thế kỉ XIII, khi nhà Nguyên lên nắm quyền cai trị Trung Hoa, một số người Hoa sang Việt Nam xin cư trú và làm ăn “Năm 1274, người nước Tống sang Đại Việt qui phụ (gọi là người Hồi Kê hoặc Kê Quốc), đem ba mươi chiếc thuyền biển chở đầy của cải và vợ con vượt biển đến nguồn La Cát, rồi được dẫn về kinh đô và ngụ tại phường Nhai Tuân và sau đó họ mở chợ bán thuốc và vóc đoạn Họ cũng là lực lượng tham gia vào hoạt động thương nghiệp của Đại

Việt” [22, I, tr 445] Theo sách Đô thị cổ Việt Nam “Trong lòng xã Hưng Yên ngày nay, quanh

khu vực hồ Bán nguyệt dọc theo bờ sông Hồng về phía biển, gần đây có các địa danh: Lương Điền, Phương Cái, Mậu Dương Đó là tên của ba xã cổ: Hoa Điền, Hoa Cái, Hoa Giang, gọi tắt là Tam Hoa Tam Hoa là tên gọi về sau của Hoa Dương Hoa Dương chính là nơi, từ thời nhà Trần, vua Trần đã đã cho viên thái giám họ Du, người Trung Quốc thời Tống tị nạn giặc Nguyên, đem đồng loại đến cư trú Ở khu vực này còn có địa danh và đơn vị hành chính: Vạn Lai Triều Đó cũng là nơi người Trung Quốc đến sinh sống, nhưng muộn hơn về sau này Tấm bia Anh Linh Vương năm Bảo Thái thứ 4 (1723) cũng ở ngay Hưng Yên ghi rõ những người dựng bia này là: “những người các tỉnh của Trung Quốc đến cư ngụ tại Vạn Lai Triều” [87, tr 197] Như vậy, trong thời kì ở Trung Hoa xảy ra chiến tranh, người Trung Hoa đã rải rác tới sinh sống, làm ăn ở Việt Nam Chính những lớp người đầu tiên này đã góp phần vào hoạt động kinh tế ở Việt Nam và phát triển ngày càng đông đúc về sau này

2.1.2.2 Trung Hoa dưới thời Minh (thế kỉ XIV đến thế kỉ XVII):

Triều Nguyên là triều đại của kẻ chinh phục ngoại tộc, do đó xã hội Trung Hoa tồn tại hai mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp Cuối đời Nguyên, tập đoàn Mông Cổ càng thối nát xa xỉ Đê điều bị hỏng nặng, thiên tai, dịch bệnh, nạn đói lan tràn, phong trào nông dân nổ ra khắp nơi, cuối cùng, Chu Nguyên Chương đánh bại nhà Nguyên, lên ngôi lập ra nhà Minh (năm 1368)

Nhà Minh thành lập thi hành các chính sách đối nội tích cực, tạo điều kiện cho nhân dân hăng hái sản xuất Đối với bên ngoài, năm 1371, nhà Minh thực hiện chính sách “hải cấm” hạn chế tiếp xúc với các nước bên ngoài Với chính sách “hải cấm”, việc buôn bán của nước ngoài

Trang 37

với Trung Hoa gặp rất nhiều khó khăn, thương nhân Trung Hoa chỉ có thể buôn bán lén lút với các nước bên ngoài, nhưng rất hạn chế Các thương nhân Trung Hoa vượt biển buôn bán không dám trở về nữa, phải ở lại sinh cơ lập nghiệp tại nước ngoài Việt Nam vừa trở thành nơi trung gian buôn bán của người Hoa với các nước bên ngoài, đồng thời vừa có những kiều dân Trung Hoa ở lại buôn bán làm ăn trở thành một lớp Hoa kiều ngày càng đông Năm 1576, nhà Minh bãi bỏ chính sách “hải cấm”, lúc đó hoạt động buôn bán của Trung Hoa với các nước bên ngoài được diễn ra thuận lợi hơn

Như vậy, với những biến động của tình hình chính trị, những thay đổi trong chính sách đối ngoại, kinh tế của nhà Minh đã có ảnh hưởng đến quan hệ kinh tế với Việt Nam

2.1.2.3 Trung Hoa dưới triều Thanh (thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX):

Cuối thế kỉ XVII, nhà Minh bị suy yếu, tạo điều kiện cho người Mãn Châu thôn tính Trung Hoa Năm 1644, người Mãn Châu lập nên nhà Thanh – chính thức cai trị Trung Hoa Để đối phó với sự xâm nhập của phương Tây (nguy cơ đe doạ nền độc lập của Trung Hoa), nhà Thanh đã thi hành chính sách “bế quan toả cảng” Chính sách “bế quan toả cảng” đã làm cho thương nhân phương Tây và Hoa thương sinh sống ở Đài Loan và Đông Nam Á gặp nhiều khó khăn trong việc buôn bán trực tiếp với Trung Hoa Hàng hoá của Trung Hoa và các nước phải thông qua nước trung gian mới buôn bán được, trong đó, Việt Nam được coi là nơi có vị trí trung gian thuận lợi nhất trong hoạt động buôn bán này Do đó, dưới triều Thanh, nền kinh tế Trung Hoa có ảnh hưởng đến nền kinh tế của Việt Nam

Nhà Thanh lên nắm quyền, một bộ phận quan lại và quân lính trung thành với triều đình nhà Minh không chấp nhận sự thống trị của nhà Thanh đã vượt biển đến Đàng Trong (Việt

Nam) tìm đất sinh sống, làm ăn Sách Đại Nam thực lục chép: “Kỷ Mùi, năm thứ 31 (1679), mùa

Xuân, tháng Giêng, tướng cũ nhà Minh là Long Môn tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến, tổng binh Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình đem hơn 3000 quân và hơn 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung và Đà Nẵng, tự trần là bô thần nhà Minh, nghĩa không chịu làm tôi nhà Thanh, nên đến để xin làm tôi tớ Bấy giờ bàn bạc rằng “Phong tục, tiếng nói của họ đều khác, khó bề sai dung, nhưng họ bị thế cùng bức bách đến đây thì không nỡ cự tuyệt Nay đất Đông Phố (tên cổ của Gia Định) nước Chân Lạp đồng ruộng phì nhiêu nghìn dặm, triều đình chưa rỗi mà kinh lí, chi bằng nhân lấy sức của họ cho đến khai khẩn để ở, làm một việc mà lợi ba điều” Chúa theo lời bàn, bèn sai đặt yến uý lạo khen thưởng, trao cho

Trang 38

quan chức khiến đến ở đất Đông Phố Lại cáo dụ nước Chân Lạp rằng như thế là có ý không để nước Chân Lạp ra ngoài Bọn Ngạn Địch đến cửa khuyết tạ ơn để đi Binh thuyền của Ngạn Địch và Hoàng Tiến vào cửa Lôi Lạp (nay thuộc đất Gia Định) đến đóng ở Bàn Lân (nay thuộc Biên Hoà) Họ vỡ đất hoang, dựng phố xá, thuyền buôn của người Thanh và các nước Tây

Dương, Nhật Bản, Chà Và đi lại tấp nập…” [30, tr 29 – 30] Sách Đại Nam nhất thống chí, căn

cứ vào các dấu tích hoạt động cụ thể đã cho biết nhóm Trần Thượng Xuyên đến Biên Hoà “mở đất, lập phố”, còn nhóm Dương Ngạn Địch đến Mỹ Tho “dựng nhà cửa, họp người Kinh, người

Di, kết thành làng xóm” [30, tr 29 – 30]

Cùng thời gian này, Mạc Cửu là người xã Lôi Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông (Trung Hoa) cũng vì việc nhà Minh mất mà “để tóc dài chạy sang phương Nam” đến Hà Tiên mở sòng bạc lấy xâu Sau đó chiêu tập dân lưu tán đến ở và lập nên bảy xã thôn ở vùng ven vịnh Thái Lan Ông lập phố xá và phát triển việc buôn bán

Còn ở Đàng Ngoài, “khi nhà Thanh đặt nền thống trị ở Trung Hoa, những người Trung Hoa còn khá nhiều luyến tiếc nhà Minh, nên đã theo con đường buôn bán mà di cư hẳn sang đất Việt Nam Họ tập họp lại ở Thăng Long (Hà Nội), ở Phố Hiến (Hưng Yên) đến một mức khá đông đúc, khiến cho họ Trịnh phải lo ngại Vì vậy, năm 1668, họ Trịnh đã phải ra lệnh cho các Hoa kiều phải có sự sinh hoạt riêng, không được ở lẫn lộn với người Việt Nam” [106, tr 68]

Như vậy, với sự biến động tình hình chính trị của Trung Hoa vào thế kỉ XVII, số lượng người Hoa di cư vào Việt Nam rất đông ở cả miền Bắc lẫn miền Nam Những người di cư này đến sinh sống ở Việt Nam đã có tác động đến nền kinh tế Việt Nam, làm cho nền kinh tế Việt Nam có bước phát triển mới

Ngoài ra để tạo điều kiện trao đổi các hàng hóa thông qua sứ bộ các nước, “năm 1665, nhà Thanh ra lệnh cho phép những người đi sứ sang Trung Hoa cứ 3 ngày hoặc 5 ngày một được buôn bán” [106, tr 45]

Như vậy, trong thời gian tồn tại của các triều đại phong kiến Trung Hoa từ các thế kỉ X đến thế kỉ XIX, mỗi triều đại của Trung Hoa đều thực hiện âm mưu xâm lược vùng đất phía nam – đó là Việt Nam Chiến tranh liên miên đã có tác động đến mối quan hệ của hai nước, do vậy mà quan hệ kinh tế cũng có phần bị hạn chế Tuy nhiên, do những biến động về chính trị, những chính sách kinh tế của nhà nước Trung Hoa, đã tạo nên những lớp người di cư đến Việt

Trang 39

Nam sinh sống đông đúc, chính những lớp người này đã góp một phần rất lớn vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam

2.1.3 Nhận xét:

Việt Nam và Trung Hoa là hai quốc gia có chung đường biên giới nên việc qua lại, trao đổi với nhau đã được diễn ra từ rất sớm Đặc biệt, với vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị và là cửa ngõ giao thương quốc tế, Việt Nam càng trở nên quan trọng đối với Trung Hoa, do đó mối quan hệ giữa hai nước luôn luôn được duy trì để phục vụ cho lợi ích của cả hai nước Bên cạnh đó, sự tương đồng về mặt văn hoá, kinh tế, chính trị giữa hai nước càng tạo điều kiện cho mối quan hệ kinh tế giữa hai nước được diễn ra dễ dàng, liên tục

Trong các thế kỉ độc lập, các vua Việt Nam luôn thiết lập mối quan hệ ngoại giao thân thiết với Trung Hoa, trong đó mối quan hệ về kinh tế cũng được tiến hành Tuy nhiên, ở từng triều đại của Việt Nam, Trung Hoa có những bước thăng trầm khác nhau mà cả hai nước có những chính sách về chính trị, kinh tế khác nhau, ảnh hưởng đến mối quan hệ kinh tế của hai nước Bên cạnh đó, những lúc hai nước xảy ra chiến tranh, mối quan hệ giữa hai nước rất căng thẳng, cả hai nước đều thực hiện các chính sách ngăn chặn mọi sự xâm lấn cũng như dò xét tình hình của nước đối đầu, do đó, mối quan hệ về kinh tế giữa hai nước cũng bị chi phối theo và hầu như là ngừng hẳn

Mối quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa đã có từ lâu đời, đã diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó buôn bán, trao đổi qua hình thức cống sứ đều được thực hiện đều đặn giữa nước nhỏ Việt Nam với nước lớn Trung Hoa, ngoài ra giao lưu buôn bán hàng hoá giữa hai nước cũng được diễn ra liên tục, sôi động thông qua biên giới giữa hai nước, thông qua các cảng biển,… nhưng nhìn chung quan hệ này bị hạn chế, không phát triển được so với đương thời

Do ý thức hệ phong kiến, ngoại thương của cả hai nước Việt Nam và Trung Hoa đều do nhà nước nắm và cả hai đều thực hiện chính sách hạn chế ngoại thương Nếu có thông thương thì cũng đặt trong những qui định rất nghiêm ngặt Nhà nước phong kiến của cả hai nước đều chú trọng đến nông nghiệp nên thương nghiệp bị coi nhẹ, chính vì thế mối quan hệ kinh tế của hai nước chỉ diễn ra trong một chừng mực nhất định

2.2 Quan hệ của Việt Nam với Trung Hoa về mặt kinh tế:

2.2.1 Thời Lý:

2.2.1.1 Về nông nghiệp:

Trang 40

Sản xuất nông nghiệp là cơ sở kinh tế của chế độ phong kiến Việt Nam Trong giai đoạn đầu của các triều đại phong kiến, sản xuất nông nghiệp thường được đặc biệt quan tâm Dưới ách đô hộ thời Bắc thuộc, những kĩ thuật canh tác tiến bộ của họ được nhân dân Việt Nam tiếp thu Đến thời Lý, nhà nước tiếp tục áp dụng những kĩ thuật tiến bộ của Trung Hoa vào sản xuất nông nghiệp Cày tịch điền là một nghi lễ cổ truyền nhằm khuyến khích nhân dân sản xuất đã có từ thời Lê Hoàn được tiếp tục thực hiện Đây là nghi lễ có từ các triều đại cổ xưa ở Trung Hoa nhưng phù hợp với một nước nông nghiệp, nên các vua nước ta vẫn sử dụng cho mục đích nông nghiệp Khi thực hiện nghi lễ, nhà vua trực tiếp cày ruộng để nêu gương cho nhân dân và để thân dân hơn

Do hoàn cảnh tự nhiên, nước ta thường xuyên có nhiều lũ lụt nên nhà nước quan tâm nhiều việc trị thủy và thuỷ lợi Ngay từ thời Bắc thuộc, kĩ thuật làm thuỷ lợi của người Trung

Hoa đã được áp dụng ở nước ta Sách Nam Việt chí phản ánh việc Mã Viện “chất đá làm thành đê để ngăn sóng biển” ở vùng Tạc Khẩu (Tam Điệp, Ninh Bình) Hậu Hán thư ghi lại sự việc

Mã Viện “sửa sang kênh ngòi” [83, tr 69] Việc trị thủy và thuỷ lợi đã phần nào khống chế được sự tàn phá của lũ lụt Các vua nước ta đều rất quan tâm và cho đắp nhiều đê nổi tiếng như đê Cơ Xá (thời Lý), đê Quai Vạc (thời Trần),…

Bên cạnh kĩ thuật làm thuỷ lợi, việc sử dụng sức kéo của trâu bò, cách làm và dùng các loại phân bón để bón ruộng cũng được nhân dân ta tiếp thu từ kĩ thuật của người Trung Hoa đã góp phần làm cho nông nghiệp phát triển, nâng cao năng suất, mỗi năm người Việt đã trồng được hai vụ lúa vào mùa hè và mùa đông Như vậy, quá trình giao lưu, ảnh hưởng kinh tếõ đã tác động đến kỹ thuật sản xuất nông nghiệp của Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp làm cơ sở ổn định và bảo vệ nền độc lập của đất nước

Do nhu cầu vận chuyển vật cống, thuế khoá thu được của nước ta đem về Trung Hoa, chính quyền đô hộ đã chăm lo việc tu sửa, xây đắp đường sá, tạo điều kiện dễ dàng cho sự thông thương giữa Việt Nam với Trung Hoa Ở thời Lý, đường sá được mở rộng cùng với chính sách ngoại giao mềm dẻo đã thúc đẩy hoạt động trao đổi buôn bán giữa hai nước phát triển

2.2.1.2 Về thủ công nghiệp:

Trong thời Bắc thuộc, ở nước ta đã xuất hiện tiền của Trung Hoa, nhưng chủ yếu sử dụng trong giai cấp thống trị Khi đất nước giành được độc lập, một trong những công việc đầu tiên của các vua Việt Nam là thực hiện việc đúc tiền Đúc tiền để giải quyết nhu cầu lưu thông là

Ngày đăng: 31/03/2013, 16:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thế Anh (1968), Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, Nhà xuất bản Trình Bày Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Trình Bày
Năm: 1968
2. Đào Duy Anh (1994), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nhà xuất bản Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Thuận Hoá
Năm: 1994
3. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hóa sử cương, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
4. Đỗ Bang (1998), Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung, Nhà xuất bản Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: Nhà xuất bản Thuận Hoá
Năm: 1998
5. Đỗ Bang (1997), Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn, Nhà xuất bản Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: Nhà xuất bản Thuận Hoá
Năm: 1997
6. Đỗ Bang (1993), “Mối quan hệ giữa các phố cảng Đàng Trong với phố Hiến – thế kỉ XVII – XVIII”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (số 1), tr. 62 – 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa các phố cảng Đàng Trong với phố Hiến – thế kỉ XVII – XVIII”, "Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 1993
7. Đỗ Bang (1999), “Phát triển kinh tế và quốc phòng của các chúa Nguyễn thế kỉ XVII – XVIII ở Sài Gòn – Gia Định”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (số 1), tr.57 – 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế và quốc phòng của các chúa Nguyễn thế kỉ XVII – XVIII ở Sài Gòn – Gia Định”, "Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 1999
8. Đỗ Bang (1992), “Phố cổ Thanh Hà”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (số 2), tr. 43 – 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phố cổ Thanh Hà”, "Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 1992
9. Đỗ Bang (1999), “Kinh tế thương nghiệp Phú Xuân – Thanh Hà thế kỉ XVII - XVIII”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (số 256), tr. 49 – 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thương nghiệp Phú Xuân – Thanh Hà thế kỉ XVII - XVIII”, "Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 1999
10. Đỗ Bang (1996), “Chính sách ngoại thương của triều Nguyễn – thực trạng và hậu quả”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (số 219), tr. 58 – 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ngoại thương của triều Nguyễn – thực trạng và hậu quả”, "Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 1996
11. Đỗ Bang (1998), Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn – Những vấn đề đặt ra hiện nay, Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn – Những vấn đề đặt ra hiện nay
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: Nhà xuất bản Thuận Hoá
Năm: 1998
12. Đỗ Bang, Đỗ Quỳnh Nga (2002), “Ngoại thương Đàng Trong thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1614 – 1635)”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (số 6), tr. 30 – 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại thương Đàng Trong thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1614 – 1635)”," Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Đỗ Bang, Đỗ Quỳnh Nga
Năm: 2002
13. Đỗ Bang (2006), “ Phố cảng Thanh Hà – Bao Vinh, trung tâm thương mại Phú Xuân – Huế thế kỉ XVII – XVIII – XIX”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (số 5), tr. 3 – 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phố cảng Thanh Hà – Bao Vinh, trung tâm thương mại Phú Xuân – Huế thế kỉ XVII – XVIII – XIX”, "Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 2006
14. Biên niên Lịch sử cổ trung đại Việt Nam (từ đầu đến giữa thế kỉ XIX) (1987), Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên niên Lịch sử cổ trung đại Việt Nam (từ đầu đến giữa thế kỉ XIX)
Tác giả: Biên niên Lịch sử cổ trung đại Việt Nam (từ đầu đến giữa thế kỉ XIX)
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội
Năm: 1987
15. Nguyễn Thị Phương Chi, Nguyễn Tiến Dũng (2007), “Về các mối giao thương của quốc gia Đại Việt thời Lý, Trần (thế kỉ XI – XIV)”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (số 7), tr. 23 – 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các mối giao thương của quốc gia Đại Việt thời Lý, Trần (thế kỉ XI – XIV)”, "Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Chi, Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2007
16. Nguyễn Thị Phương Chi (2005), “Vài nét về tình hình kinh tế thời Trần Nhân Tông (1258 – 1308)”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (số 5), tr. 24 – 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Phương Chi (2005), “Vài nét về tình hình kinh tế thời Trần Nhân Tông (1258 – 1308)”, "Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Chi
Năm: 2005
17. Cristophoro Borri (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Đàng Trong năm 1621
Tác giả: Cristophoro Borri
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
18. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, 2 và 3, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội
Năm: 1992
19. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (1995), Các triều đại Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh Niên, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Niên
Năm: 1995
20. Đinh Thị Dung (2001), Quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX, Luận án tiến sĩ lịch sử, Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX
Tác giả: Đinh Thị Dung
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Danh sách sứ bộ Việt Nam đi sứ sang Trung Hoa thời Lê - Quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong các thế kỷ XI - XIX
Bảng 2.1 Danh sách sứ bộ Việt Nam đi sứ sang Trung Hoa thời Lê (Trang 53)
Bảng 2.2: Danh sách sứ bộ nhà Minh đi sứ sang Việt Nam (thời Lê) - Quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong các thế kỷ XI - XIX
Bảng 2.2 Danh sách sứ bộ nhà Minh đi sứ sang Việt Nam (thời Lê) (Trang 55)
Bảng 2.3: Bảng thuế tàu Trung Hoa ở Đàng Trong - Quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong các thế kỷ XI - XIX
Bảng 2.3 Bảng thuế tàu Trung Hoa ở Đàng Trong (Trang 65)
Bảng 2.4: Danh sách sứ bộ Việt Nam đi sứ sang Trung Hoa thời Hậu Lê - Quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong các thế kỷ XI - XIX
Bảng 2.4 Danh sách sứ bộ Việt Nam đi sứ sang Trung Hoa thời Hậu Lê (Trang 72)
Bảng 2.5: Đơn vị đo diện tích thời Nguyễn - Quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong các thế kỷ XI - XIX
Bảng 2.5 Đơn vị đo diện tích thời Nguyễn (Trang 84)
Bảng 2.7: Đơn vị đo trọng lượng thời Nguyễn - Quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong các thế kỷ XI - XIX
Bảng 2.7 Đơn vị đo trọng lượng thời Nguyễn (Trang 85)
Bảng 2.6: Đơn vị đo dung tích thời Nguyễn - Quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong các thế kỷ XI - XIX
Bảng 2.6 Đơn vị đo dung tích thời Nguyễn (Trang 85)
Bảng 2.8: Thuế cảng Gia Định thời Nguyễn - Quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong các thế kỷ XI - XIX
Bảng 2.8 Thuế cảng Gia Định thời Nguyễn (Trang 86)
Bảng 2.10: Bảng thống kê thuyền buôn Trung Hoa đến Việt Nam thời Nguyễn - Quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Hoa trong các thế kỷ XI - XIX
Bảng 2.10 Bảng thống kê thuyền buôn Trung Hoa đến Việt Nam thời Nguyễn (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w