1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TRUYÊNTHOONGFF PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NA HANG TỪ 1945-2010

40 196 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 645,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến nay giáo dục Nà Hang đã phát triển mạnh so với những năm 40 của thế kỷ XX, toàn huyện có 37 trường học trong đó 3 trường Trung học phổ thông, 1trường Phổ thông dân tộc nội trú, 6 trư

Trang 1

ttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttt

CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN Ban Thường vụ Huyện ủy Na Hang

BIÊN SOẠN Đ/C Phạm Cao Đáng Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo

Đ/C Đinh Thị Hồng Khánh Phó Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN NA HANG

Trang 2

Đ/C Hoàng Anh Tuấn Phó Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo Đ/C Phạm Thanh Bình chuyên viên phòng Giáo dục và Đào tạo

THẨM ĐỊNH NỘI DUNG

Trang 3

“Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.

Thư gửi các cháu thiếu nhi nhân ngày khai trường 1946

Hồ Chí Minh toàn tập

BẢN ĐỒ HUYỆN NA HANG

Trang 4

MỞ ĐẦU NGÀNH GIÁO DỤC HUYỆN NÀ HANG - ĐIỀU KIỆN

Trang 5

TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÀ TRUYỀN THỐNG

có diện tích tự nhiên là 146.368 ha1 trong đó có 7.257,42 ha đất nông nghiệp;85.665,38 ha đất lâm nghiệp, còn lại là núi đá, sông suối và các loại đất chuyêndụng khác

Địa hình của Nà Hang khá hiểm trở, bị chia cắt bởi các dãy núi cao và sôngsuối, vì vậy nhiều vùng gần như biệt lập, giao thông đi lại rất khó khăn, sự gắn kếtgiữa các vùng dân cư, các điểm kinh tế - xã hội hết sức hạn chế Do đặc điểm địahình, sự phân bố dân cư và yêu cầu của việc quản lý địa bàn đảm bảo cho sự pháttriển chung, huyện hình thành 3 khu vực chủ yếu: Khu A gồm các xã: Vĩnh Yên,Thanh Tương, Sơn Phú, Năng Khả, Trùng Khánh và thị trấn Nà Hang (trung tâm làthị trấn Nà Hang) Khu B gồm các xã: Thượng Lâm, Khuôn Hà, Đức Xuân, ThúyLoa, Lăng Can, Xuân Lập, Phúc Yên (trung tâm là Thượng Lâm) Khu A và B củahuyện là vùng thấp, tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ Khu C gồm các xã: Đà

Vị, Hồng Thái, Yên Hoa, Côn Lôn, Khau Tinh, Thượng Nông, Thượng Giáp, SinhLong (trung tâm là Yên Hoa) Đây là khu vực tập trung nhiều đồi, núi có độ dốccao, đặc biệt khó khăn về kinh tế, xã hội

Nằm trên vòng cung sông Gâm, Nà Hang có nhiều dãy núi lớn, nhiều đỉnhnúi cao trên 1.000 mét Núi đất và núi đá xen kẽ nhau, tạo thành nhiều thung lũnglớn, nhỏ

Nà Hang có sông Gâm và sông Năng Sông Gâm bắt nguồn từ Trung Quốc,chảy qua tỉnh Hà Giang, đổ vào địa phận Nà Hang qua các xã: Thuý Loa, ĐứcXuân, Thượng Lâm, Trùng Khánh, Năng Khả, Vĩnh Yên, Thị trấn, Thanh Tươngvới độ dài 53 km, sau đó xuôi qua huyện Chiêm Hoá rồi hợp với sông Lô tại huyệnYên Sơn Đây là đường thuỷ duy nhất nối Nà Hang với tỉnh lỵ Tuyên Quang SôngNăng bắt nguồn từ tỉnh Cao Bằng, chảy qua Chợ Rã, cửa hồ Ba Bể (Bắc Kạn)xuống thác Đầu Đẳng vào địa bàn huyện Nà Hang theo hướng Đông-Tây, qua địaphận các xã Đà Vị, Khau Tinh, Sơn Phú, Vĩnh Yên với chiều dài 25 km, hợp lưuvới sông Gâm tại chân núi Pác Tạ Từ năm 2002, khi công trình thủy điện TuyênQuang được khởi công xây dựng, ngoài khúc sông chảy qua địa phận thị trấn NàHang và xã Thanh Tương, những khúc chảy qua địa phận các xã còn lại nay trởthành lòng hồ thuỷ điện Tuyên Quang

Ngoài sông Gâm và sông Năng, huyện còn có 2 suối lớn là Khuổi Trang vàBắc Vãng (Nặm Vang) cùng hàng chục suối nhỏ khác

Sông suối của huyện có tốc độ dòng chảy lớn, nhiều thác ghềnh, thường lũtrong mùa mưa, tuy có gây một số khó khăn trong phát triển kinh tế, xã hội songcũng có những tiềm năng, giá trị về mặt kinh tế Ngoài cung cấp nước phục vụ đời

1

Trang 6

sống, sản xuất, sông suối Nà Hang còn có nguồn thủy sản khá phong phú, có giá trịkinh tế cao, là đường giao thông quan trọng giữa các vùng và tiềm năng phát triểnthuỷ điện, du lịch

2 Khí hậu

Do ảnh hưởng của địa hình, khí hậu Nà Hang không đồng nhất giữa cácvùng, phụ thuộc vào độ cao và đặc điểm của núi Vùng cao trên 800 mét mang sắcthái khí hậu á nhiệt đới, nhiệt độ cao nhất trong năm khoảng trên 30 độ Vùng thấpdưới 800 mét mang sắc thái khí hậu nhiệt đới, nóng, ẩm Khí hậu trong năm chialàm 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình trong năm 22 độ, độ ẩm không khí khoảng85%, lượng mưa trung bình là 1.800 mm

Nằm sâu trong nội địa, được che chắn bởi nhiều dãy núi cao, Nà Hangkhông chịu ảnh hưởng của bão biển song thường hay có gió xoáy, gió lốc thấtthường, không theo chu kỳ Mùa lạnh nhiều sương, đầu mùa hè hay có mưa đá,mùa mưa thường có các trận lũ ngắn đột ngột

3 Tài nguyên khoáng sản

Rừng Nà Hang có nhiều loại gỗ, thảo dược và muông thú quý, hiếm, là thếmạnh kinh tế cơ bản của huyện Nằm ở thượng nguồn sông Gâm, do vậy rừng NàHang có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ nguồn nước, hạn chế tác hại của lũ, lụtđối với vùng hạ lưu

Diện tích đất nông nghiệp của huyện tuy không lớn song mầu mỡ, thíchhợp với việc phát triển cây lương thực, cây công nghiệp Bên cạnh đó, huyện còn

có thảm thực vật phong phú để phát triển chăn nuôi đại gia súc Đất đai và khíhậu một vài nơi cho phép trồng các loại cây ăn quả ôn đới như mận, đào, lê…

Ngoài nguồn tài nguyên chính là rừng, Nà Hang còn có các loại khoáng sản:thiếc, ăng-ti-moan, vàng sa khoáng… Trữ lượng các loại khoáng sản không lớn,khó khai thác vì địa hình phức tạp, giao thông vận tải khó khăn

Điều kiện tự nhiên tạo cho huyện những thuận lợi lớn để phát triển nền kinh

tế nông, lâm nghiệp Tuy vậy, sự phức tạp của địa hình gây khó khăn lớn cho việcphát triển giao thông liên lạc, xây dựng các trung tâm dân cư, kinh tế - văn hoá - xãhội Nằm ở vùng giáp ranh của nhiều tỉnh, địa hình hiểm trở, dân cư phân tán, trình

độ dân trí còn hạn chế, Nà Hang vừa có vị trí chiến lược về quân sự, song cũng lạigặp nhiều khó khăn trong công tác xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh

Nà Hang cũng là nơi có nhiều cảnh đẹp: Núi Pác Tạ, thung lũng ThượngLâm, thác Pác Ban (thác Mơ) khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung… Sự kếthợp, hoà quyện giữa cảnh quan thiên nhiên đa dạng sinh học với các điểm dân cưgiàu bản sắc văn hoá truyền thống đã tạo nên sự hấp dẫn, cuốn hút du khách có dịpđến với Nà Hang

4 Dân cư văn hóa xã hội

Nà Hang là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc Tính đến năm 2010, dân số củahuyện là 60.151 người sinh sống tại 17 xã, thị trấn, trong đó dân tộc Tày chiếm55,18%, Dao 25,72%, Kinh 10,11%, Mông 7,52% Mỗi dân tộc có địa bàn cư trú

Trang 7

phù hợp và phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa riêng Đồng bào Kinh, Tàythường ở vùng thấp, nơi có những cánh đồng, soi bãi rộng, giao thông thuận lợi;đồng bào Dao, Mông hay ở thành từng làng, “lũng”, bản độc lập trên các triền núi.Trong xu thế phát triển chung, sự xen kẽ nhiều dân tộc trên cùng một địa bàn ngàycàng trở thành phổ biến, khoảng cách về trình độ phát triển giữa các dân tộc đượcrút ngắn dần

Về mặt văn hoá, xã hội, Nà Hang là vùng kém phát triển do chính sách ngudân của thực dân Pháp Với số dân khoảng một vạn người nhưng cả huyện không

có một trường tiểu học nào Từ năm 1940, mới có trường hương học, chỉ dạy đến

sơ học yếu lược (lớp Đồng ấu, Dự bị, Sơ đẳng) bằng tiếng Pháp, giành cho con emnhà giàu, có chức sắc Một số gia đình khá giả đón thầy về dạy tư, song chủ yếu làdạy chữ nho Nạn thất học là một trong những nguyên nhân chính làm kéo dài,trầm trọng thêm các hủ tục mê tín, dị đoan, đẩy đồng bào các dân tộc vào vòngsống u tối

Đến nay giáo dục Nà Hang đã phát triển mạnh so với những năm 40 của thế

kỷ XX, toàn huyện có 37 trường học trong đó 3 trường Trung học phổ thông, 1trường Phổ thông dân tộc nội trú, 6 trường mầm non, 12 trường tiểu học, 12 trườngtrung học cơ sở và 5 trường tiểu học và Trung học cơ sở có trên 15 nghìn học sinh.với đội ngũ giáo viên gần 1.200 giáo viên

Năm 1995 huyện Na Hang được công nhận đạt chuẩn Quốc gia về Phổ cậpgiáo dục tiểu học và chống mù chữ; Năm 2001 huyện Na Hang được công nhận đạtchuẩn quốc gia Phổ cập giáo dục trung học cơ sở; năm 2004 toàn huyện được côngnhận hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi

Hơn 60 năm hình thành và phát triển giáo dục huyện Na Hang đã góp phầnnâng cao dân trí xóa dần khoảng cách miền xuôi với miền ngược

PHẦN I

CHƯƠNG I

GIÁO DỤC NA HANG TRONG THỜI KỲ CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM

LƯỢC NĂM 1945 ĐẾN 1954Ngày 3-2-1930, Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập, từ đó phong tràocách mạng nước ta phát triển sôi nổi, rộng khắp Tháng 6-1937, đồng chí Hoàng Văn

Trang 8

Lịch được Đảng cử tới tuyên truyền, xây dựng cơ sở cách mạng tại Tuyên Quang.Ngày 20-3-1940, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Tuyên Quang được thànhlập Cùng thời gian này, phong trào cách mạng cũng đã phát triển tới các huyện tiếpgiáp với Nà Hang như Bảo Lạc (Cao Bằng), Chợ Rã, Chợ Đồn (Bắc Kạn)

Đến tháng 5-1945, chính quyền cách mạng đã được thành lập ở tất cả các xã.Hầu hết các xã đều mang tên mới: Yên Hoa là Phan Thanh, Thượng Nông là Đống

Đa, Thượng Giáp là Lam Sơn, Đà Vị là Bạch Đằng, Khuôn Hà là Minh Đường,Thượng Lâm là Thành Hưng, Côn Lôn là Tri Phương, Sơn Phú là Lê Lai, ThanhTương là Lê Lợi, Lăng Can là Quốc Tuấn, Năng Khả và Trùng Khánh là MinhQuang… Địa dư hành chính tạm thời của các xã được lấy theo phạm vi hoạt độngcủa các tiểu tổ vũ trang trong từng thời điểm và địa bàn cư dân có đại biểu thamgia thành lập chính quyền hoặc Ban Việt Minh xã Cuối tháng 5-1945, các tổngVĩnh Yên, Thượng Lâm, Côn Lôn tiến hành thành lập Ban Việt Minh tổng

Châu Xuân Trường ra đời là một dấu mốc, bước ngoặt trọng đại trong lịch

sử phát triển của huyện Nà Hang Thắng lợi của cuộc đấu tranh giành chính quyền

là kết quả quá trình bền bỉ xây dựng cơ sở, tập hợp sức mạnh toàn dân; là kết quảcủa sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, của Liên Tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng, của Banlãnh đạo Khu Thiện Thuật kết hợp với tinh thần dũng cảm và sức mạnh đấu tranhcủa nhân dân các dân tộc Nà Hang

Ngay sau khi được thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính quyềnhuyện vừa tổ chức, hướng dẫn các xã hoạt động, thực hiện các chính sách củaMặt trận Việt Minh

Tháng 10-1945, huyện thành lập Ban bình dân học vụ Giáo dục Na Hangquyết tâm thanh toán nạn mù chữ phù hợp khát vọng ngàn đời của nhân dân, đãlàm bùng lên một không khí náo nức ở các thôn xóm Phong trào học tiếng phổthông, học chữ quốc ngữ của quần chúng rất sôi nổi, đa số học sinh các trườnghương học trước đây được huy động làm giáo viên bình dân học vụ, thôn bản nàocũng có lớp học Song song với nhiệm vụ chống giặc đói, giặc dốt, công tác xâydựng, củng cố trường lớp học được đẩy mạnh

Năm 1948, Hồ Chủ tịch phát động phong trào thi đua ái quốc, huyện tổ chức

lễ phát động tại phố Bắc Giòn, động viên quân, dân trong huyện thi đua theo cácnội dung cụ thể: Thi đua học bình dân học vụ để diệt giặc dốt

Công cuộc diệt giặc dốt, xóa nạn mù chữ được phát động và triển khai trong

cả nước từ tháng 10 năm 1945 (tháng 9/1945 thành lập Nha Bình dân học vụ thuộc

Bộ Giáo dục, do ông Vương Kiếm Toàn làm Giám đốc) Đến năm 1950, cả tỉnh đã

có 41.796 người thoát nạn mù chữ, huyện Sơn Dương là huyện đầu tiên trong toànquốc đã thanh toán xong nạn mù chữ và được Hồ Chủ Tịch gửi thư khen ngợi

Tại Nà Hang, đi đôi với phát triển kinh tế, Huyện ủy quan tâm chỉ đạo côngtác giáo dục, năm 1949, huyện có 5 trường tiểu học, mỗi lớp học có trên hai chục

Trang 9

học sinh Bước đầu triển khai công tác xóa mù chữ cho nhân dân, huyện đã có 2thôn thanh toán được nạn mù chữ, song toàn huyện còn tới 4.746 người mù chữ

Thực tế công tác giáo dục thời gian này cho ta bài học kinh nghiệm là muốnthành công trong công tác phát triển giáo dục, ngoài việc làm cho nhân dân thấy rõích lợi và quyền được học, cần có sự đầu tư thỏa đáng về mọi mặt chúng ta cần cócách thức tổ chức các trường lớp và chương trình học tập phù hợp với từng địabàn, từng dân tộc

Ngoài đạt được những thành tích về giáo dục trong giai đoạn này, nhưng vẫncòn những hạn chế, trường, lớp ở các xã không đồng đều, thiếu giáo viên, thiếusách, vở, nhất là sách giáo khoa và tài liệu bằng tiếng đại phương; Nhưng phải thấyrằng phong trào học tập của quần chúng rất cao: Người nào cũng muốn học, cán bộmuốn học, quần chúng muốn học, người thợ muốn học, cả đến đồng bào (dân tộc ítngười) cũng đi học, các sách vở chỉ lưu hành ở thành thị trước đây đã thâm nhập cảvào thôn quê, báo chí xuất bản ngày một nhiều nhưng vẫn chưa đáp ứng kịp với sựđòi hỏi của nhân dân »

(Trích báo cáo của đồng chí Trần Thanh Quang Bí thư Tỉnh ủy tại Hội nghị đại biểu toàn tỉnh lần thứ 4, (6/1949) Tài liệu lưu trữ tại Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Tuyên Quang).

Tháng 2-1950, Đảng bộ huyện tổ chức Hội nghị đại biểu Đảng toàn huyệnlần thứ 14 Lần đầu tiên từ khi thành lập, Đảng bộ có một Hội nghị quy mô lớn,bàn khá toàn diện về các mặt công tác Hội nghị đã nghe báo cáo tình hình các mặtcông tác trong năm 1949, đánh giá những ưu khuyết điểm; thảo luận và thông qua

Đề án công tác Đảng năm 1950, Đề án công tác dân vận, Đề án công tác kinh tế văn hoá, xã hội

-Về văn hóa - xã hội: Mở rộng các trường học, tăng cường lực lượng giáo viên,phát triển các lớp bình dân học vụ để thanh toán nạn mù chữ

Lĩnh vực văn hóa - xã hội được Đảng bộ quan tâm, các lớp bình dân học vụ,trường tiểu học phát triển Số học sinh tăng dần qua các năm, tỷ lệ người mù chữgiảm Phong trào học bổ túc văn hóa sôi nổi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.Tiếp tục khắc phục hậu quả do “chính sách ngu dân” của Thực dân Pháp để lại vàđẩy mạnh quá trình nâng cao trình độ dân trí, Huyện Nà Hang tập trung chỉ đạocông tác xóa nạn mù chữ, nhất là đối với đồng bào thiểu số, mở thêm nhiều loạihình, đồng thời nâng cao trình độ, chất lượng của cấp học để phục vụ sự nghiệp giáodục đào tạo

Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp là thời kỳ nhân dân các dân tộc

Nà Hang vượt qua những hạn chế về trình độ văn hóa, khó khăn về mọi mặt để xâydựng chế độ mới, một chế độ tốt đẹp chưa từng có trong lịch sử của dân tộc nóichung và của huyện nói riêng; đóng góp sức người sức của, làm tròn nhiệm vụ hậuphương, căn cứ địa, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến

Mặc dù còn những khuyết điểm, hạn chế: Kinh tế nghèo nàn, đời sống nhândân khó khăn, nạn đói rách vẫn còn Sản xuất nông nghiệp chưa đáp ứng được nhucầu về lương thực, ruộng đất còn bị bỏ hoang Công tác xóa mù chữ triển khai chậm;Tuy nhiên, những kết quả đạt được đã khắc phục một bước rất quan trọng tình trạngđói khổ của nhân dân, đẩy lùi sự lạc hậu về văn hóa xã hội

Trang 10

Chương II GIÁO DỤC NA HANG TỪ NĂM (1954- 1975) ( giai đoạn chống đế quốc Mỹ xâm lược)

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, cách mạng Việt Nam tiếp tục bướcvào giai đoạn mới với đặc điểm nổi bật là đất nước tạm thời bị chia cắt làm 2 miền:miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội;miền Nam vẫn còn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, tiếp tục cuộc đấutranh hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân

Cùng cả nước bước vào giai đoạn cách mạng mới, ngành giáo dục Nà Hang

có những thuận lợi Các thầy cô giáo của huyện đã được rèn luyện, thử thách vàtrưởng thành qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Kết quả phát triển văn hóa

xã hội giai đọan trước tạo cơ sở vững chắc cho bước phát triển giáo dục tiếp theo củađịa phương Bên cạnh thuận lợi đó, Nà Hang là huyện miền núi nghèo, kinh tế chậmphát triển, giao thông đi lại khó khăn, nạn đói còn tồn tại khá phổ biến, dân cư thưathớt; một số phần tử phản động lợi dụng điều kiện địa hình phức tạp, nhiều dân tộc,trình độ dân trí thấp để hoạt động chống phá cách mạng Tình hình an ninh chính trị

có biểu hiện diễn biến phức tạp, những khó khăn đó phần nào ảnh hưởng tới việcduy trì và phát triển hệ thống giáo dục

Trong ba năm khôi phục kinh tế, sự nghiệp giáo dục, bắt đầu phát triển, đi vàochiều sâu Huyện chăm lo củng cố phong trào bình dân học vụ, bổ túc văn hóa, từngbước mở rộng, phát triển các trường cấp I và cấp II Nhân dân các dân tộc huyện nhàtích cực học tập, nâng cao trình độ văn hóa Mặc dù còn rất khó khăn về kinh tế,Phòng Giáo dục tham mưu cho cấp Ủy Đảng, chính quyền về công tác giáo dục trongtoàn huyện tổ chức các lớp học phổ thông và thanh toán nạn mù chữ cho 1.348 người

Về bổ túc văn hoá, có 702 học viên lớp 1; 334 học viên lớp 2; 45 học viên lớp 3 và 13học viên lớp 4 Hệ thống trường phổ thông được củng cố và phát triển, đầu năm 1958mới có 2 trường (trường cấp I Nà Hang và Côn Lôn) có đến lớp 4; năm 1960 có 3trường có đến lớp 4 (trường cấp I Nà Hang, Côn Lôn, Thượng Lâm), 1 trường cấp 2

có lớp 5 và 6 (trường cấp II Nà Hang) Số lượng học sinh ngày càng tăng, đến năm

1960, toàn huyện có 114 học sinh lớp 1; 323 học sinh lớp 2; 213 học sinh lớp 3; 118học sinh lớp 4; 41 học sinh lớp 5; 29 học sinh lớp 6

I THỰC HIỆN KẾ HOẠCH NHÀ NƯỚC 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960) vạch rađường lối chung của miền Bắc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; thôngqua kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế, văn hoá (1961-1965) với các nhiệm vụ cơbản: Ra sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp, hoàn thành công cuộc cải tạo xãhội chủ nghĩa, nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân lao động; cải thiện một

Trang 11

bước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tăng cường củng cố quốc phòng

và an ninh

Bước vào giai đoạn mới, Nà Hang đã hoàn thành về cơ bản công cuộc cảitạo xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất mới dần được thiết lập, nhân dân phấn khởihăng hái lao động, kinh tế đã bước đầu được phát triển Cấp uỷ, chính quyền vàcác đoàn thể quần chúng được củng cố một bước Tuy nhiên, quan hệ sản xuất mớichưa thực sự vững chắc, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, lạc hậu

Năm 1961 là năm đầu tiên của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, cũng là nămdiễn ra Đại hội Đảng bộ tỉnh với sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh lên thăm và làmviệc với tỉnh Huyện phát động các phong trào thi đua lao động sản xuất, thực hiệnmục tiêu Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ IV đề ra, phong trào "sông Lô nổi sóng,nông xuân đại thắng" được phát động với khí thế "gió Đại Phong, sóng Duyên Hải,

cờ Bắc Lý"; cùng với đợt sinh hoạt chính trị nhân dịp tiến hành bầu cử Hội đồngnhân dân cấp huyện, cấp xã đã động viên cổ vũ phong trào thi đua trong toànhuyện trên mọi lĩnh vực

Được sự quan tâm của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Giáo dục

Na Hang được thành lập vào tháng 01 năm 1962 do ông Nguyễn Văn Mậu làmTrưởng phòng Giáo dục (từ năm 1962 đến năm 01/1977), 16 năm ông cùng cán bộphòng Giáo dục Nà Hang lăn lộn, vận động và đạt được kết quả cao

Cùng với phong trào thi đua cả nước các thầy cô giáo cũng thi đua cải tiếnphương pháp dạy học nhiều giáo viên tiêu biểu đó là thầy giáo Triệu Văn Hài làChiến sỹ thi đua đầu tiên của ngành giáo dục Nà Hang

Tuy mới ra đời song Phòng Giáo dục đã tham mưu Ủy ban nhân dân huyệnphát triển trường, lớp, huy động vận động trẻ đến trường, toàn huyện có 121 thầy

Trong 3 tháng đầu năm 1961, được sự hỗ trợ của tỉnh, huyện đã khai thông,

mở rộng đường Chiêm Hoá - Nà Hang, hoàn thành cầu treo Bản Lãm, năm 1962

mở thêm được 4 km đường Nà Hang - Bản Lãm Tiến hành quy hoạch mạng lướigiao thông nông thôn ở 5 xã, đi đôi với việc lập quy hoạch đã vận động nhân dân

tu sửa và mở rộng thêm được trên 20 km đường liên thôn bản để ngựa thồ hoặc xetrâu đi được Việc đi lại thuận tiện góp phần cho giáo dục của huyện nhà có nhữngbước đi vững chắc

Năm 1963 là: "Ra sức phát huy những thành tích, ưu điểm, tận dụng hết khả

năng thuận lợi sẵn có, tích cực khắc phục những khó khăn khuyết, nhược điểm để đưa phong trào huyện ta tiến lên một bước mới mạnh mẽ vững chắc hơn, với tinh thần thi đua không mệt mỏi nhằm hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch năm 1963 để tạo thuận lợi sang thực hiện kế hoạch năm 1964 năm thứ 4 của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất".

Trang 12

Về công tác giáo dục, văn hoá, y tế, thế dục thể thao: thanh toán mù chữ cho

650 người, đẩy mạnh bổ túc văn hoá, củng cố và phát triển các lớp vỡ lòng, nângcao chất lượng giảng dạy ở các trường phổ thông

Cấp uỷ, chính quyền tăng cường chỉ đạo, động viên nhân dân tích cực sảnxuất, tiếp tục đẩy mạnh phong trào: "Sóng Duyên Hải, gió Đại Phong, cờ Bắc Lý",

"Thi đua mỗi người làm việc bằng hai" trong toàn huyện, bước đầu khắc phục khókhăn về lương thực, ổn định đời sống nhân dân, tiến tới tự túc lương thực và làmtròn nghĩa vụ đối với nhà nước

Hai năm 1963-1964, vượt qua những khó khăn thử thách về mọi mặt, Đảng

bộ huyện đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc quyết tâm phấn đấu vươn lên, thực hiệncác mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ V đề ra

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ, chính quyền, sự giúp đỡ của TyGiáo dục và sự cố gắng của cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ giáo viên, công tácthanh toán mù chữ và bổ túc văn hoá của huyện có nhiều tiến bộ Đến 1965, đã cómột nửa dân số từ 12 đến 40 tuổi biết đọc, biết viết, đại bộ phận cán bộ xã có trình

độ lớp 2, lớp 3 Hầu hết cán bộ thoát ly có trình độ cấp I, một số có trình độ cấp II,cấp III Tuy nhiên, công tác thanh toán nạn mù chữ và bổ túc văn hoá của huyệnvẫn chậm, tỷ lệ tái mù cao, phong trào phát triển không ổn định Trước thực trạng

đó, ngày 24-7-1965, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã ra Nghị quyết số NQ/NH về công tác thanh toán nạn mù chữ và bổ túc văn hoá năm 1965 Thựchiện Nghị quyết, huyện thành lập Ban chiến dịch diệt dốt, chỉ đạo cơ sở xây dựng,củng cố lại trường lớp, ngoài đội ngũ giáo viên phổ thông, các xã, hợp tác xã đều

61-cử giáo viên của xã, hợp tác xã mình; đưa kết quả chiến dịch diệt dốt vào đánh giákết quả công tác của cấp ủy chính quyền Các cơ quan: Ban Tuyên giáo Huyện uỷ,Phòng Giáo dục, Phòng Văn hoá phối hợp tổ chức phát động phong trào diệt dốt,triển khai các hình thức tuyên truyền, cổ động phong trào

Từ những năm 1962 đến năm 1964 Ngành giáo dục Na Hang được nhiều lầnvinh dự được các vị lãnh đạo của Bộ giáo dục lên thăm và động viên như: Giáo sưTiến sỹ Bộ trưởng Bộ giáo dục Nguyễn Văn Huyên, Thứ trưởng Võ Thuần Nho,Thứ trưởng Hồ Chúc lên thăm và động viên nhân dân các dân tộc, cán bộ, giáoviên hoàn thành tốt dạy và học ở huyện vùng cao Nà Hang

Nhờ những biện pháp tích cực, đến cuối năm 1965 toàn huyện đã có 6 xãcăn bản thanh toán xong nạn mù chữ, xoá mù thêm cho 259 người Trường Thanhniên dân tộc đã tuyển sinh thêm 64 học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 Chất lượng giảngdạy, học tập trong giáo dục phổ thông bước đầu được củng cố, có những chuyểnbiến tiến bộ; kết thúc năm học 1964-1965, tỷ lệ học sinh thi đỗ tốt nghiệp cấp I đạt92%, cấp II đạt 97% Sang năm học 1965-1966, phát triển thêm 14 lớp cấp I, 3 lớpcấp II Số học sinh cấp I có 1.494 em, cấp II có 243 em

Chặng đường 1961-1965, Ngành giáo dục Na Hang đã tham mưu, đề xuấtvới cấp ủy Đảng, chính quyền về công tác giáo dục đã đạt được kết quả nhất định,

tỷ lệ người biết chữ được nâng lên, quy mô trường lớp đã phát triển hơn thời kỳtrước cả về chất lượng và số lượng Thành quả đó là cơ sở vững chắc để giáo

Trang 13

huyện Na Hang tiến lên giành những thắng lợi mới trong thời kỳ mới - chống chiếntranh phá hoại của đế quốc Mỹ, xây dựng quê hương ngày càng vững mạnh

II GIÁO DỤC NÀ HANG TRONG NHỮNG NĂM KHÁNG CHIẾN

CHỐNG MỸ LEO THANG RA MIỀN BẮC

Thực hiện chiến lược "Chiến tranh cục bộ", đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân trựctiếp tiến hành chiến tranh xâm lược ở miền Nam, mở rộng chiến tranh phá hoạimiền Bắc bằng không quân và hải quân nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắccho miền Nam, làm lung lay ý chí, quyết tâm kháng chiến của quân, dân ta, nâng

đỡ tinh thần quân Ngụy Sài Gòn

Ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ bắt đầu leo thang tiến hành cuộcchiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân với quy mô ngày càng

ác liệt Trước tình hình và nhiệm vụ mới cả nước có chiến tranh, Trung ương Đảng

ra Chỉ thị xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa để có tiềm lực kinh tế và quốcphòng vững mạnh, là hậu phương vững chắc chi viện sức người sức của cho miềnNam với tinh thần tất cả cho tiền tuyến, tất các cả để đánh thắng giặc mỹ xâm lược.Sẵn sàng đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ

Giáo dục huyện Nà Hang trong sáu tháng đầu năm 1966 đã cơ bản thanhtoán xong nạn mù chữ ở 3 xã: Năng Khả, Trùng Khánh, Đà Vị, phong trào bổ túcvăn hoá được duy trì Tuy nhiên, việc thanh toán nạn mù chữ còn chậm, phong trào

bổ túc văn hoá chưa thực sự vững chắc, cán bộ đảng viên chưa gương mẫu đi học

bổ túc tại các lớp tập trung Để khắc phục những tồn tại trên, Ban Thường vụHuyện uỷ ra Chỉ thị Về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác thanhtoán nạn mù chữ và bổ túc văn hoá Cụ thể hóa Chỉ thị, Uỷ ban nhân dân huyện chỉđạo Phòng Giáo dục có kế hoạch cụ thể hướng dẫn cho các trường phổ thông, các

xã tổ chức thực hiện Các ban đảng uỷ, chi uỷ các chi bộ tăng cường kiểm tra đônđốc, cán bộ đảng viên gương mẫu trong việc học và tổ chức lớp học, có chế độchính sách đối với giáo viên bổ túc văn hoá nhờ những biện pháp cụ thể đó, trongnăm 1966, huyện đã căn bản thanh toán xong nạn mù chữ tại 9 xã

Để tăng cường hơn nữa công tác xây dựng Đảng, ngày 14-6-1966, Ban Chấphành Đảng bộ huyện đã có Nghị quyết số 09/NQ-HU Về công tác xây dựng Đảngnăm 1966, đề ra phương hướng chung của Đảng bộ là: Lấy giáo dục chính trị, tưtưởng và bổ túc văn hoá để nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuậtcho cán bộ đảng viên làm trọng tâm

Những thành tích đạt được là cố gắng lớn của toàn Đảng bộ và nhân dân cácdân tộc trong huyện Song, so với yêu cầu và nhiệm vụ của tình hình mới thì nhữngkết quả về giáo dục còn thấp xóa mù chữ của toàn huyện thấp, do nhân dân chưanhận thức đúng đắn về học tập, thiếu giáo viên, kinh tế còn khó khăn, việc mởtrường, mở lớp chưa đáp ứng nhu cầu

Trong 2 năm 1965-1966 ngành giáo dục huyện Na Hang đã thanh toán xongnạn mù chữ ở các xã khu A Thượng Lâm, Khuôn Hà, Lăng Can, Đà Vị, Côn Lôn

Đế quốc Mỹ tăng cường chiến tranh phá hoại Miền Bắc xã hội chủ nghĩa,các trường học đã sơ tán vào các nơi an toàn để đảm bảo học tập, cho nên sự

Trang 14

nghiệp giáo dục chuyển sang chủ đề "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược",

"Không có gì quý hơn độc lập tự do", "Cần kiệm xây dựng bảo vệ Tổ quốc", "dùkhó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy thật tốt, học thật tốt", đến năm 1967 toànhuyện có 23 trường cấp I, 49 trường thôn tổng số học sinh 2.701 học sinh, so vớinăm 1966 tăng 20%; thi tốt nghiệp đạt 88,6%; cấp II có 6 trường gồm 367 họcsinh; mẫu giáo vỡ lòng có 90 lớp với 2.021 học sinh…

Đến 1968, huyện xây dựng được 36 trường ở vùng cao với 294 học sinh theohọc các lớp; gửi 58 học sinh đi học các trường chuyên nghiệp do Khu, tỉnh mở

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong những năm 1967-1968, công tácgiáo dục chưa đáp ứng nhu cầu việc thanh toán nạn mù chữ còn thấp, chất lượnggiảng dạy của giáo viên còn hạn chế;

Nhằm tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng

bộ hai năm 1967-1968, đề ra phương hướng của Đảng bộ trong giai đoạn tiếp theo,đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Ngày 29-8-1968, Đại hội đại biểuĐảng bộ huyện Nà Hang lần thứ VIII được triệu tập,

Kiểm điểm tình hình mọi mặt công tác trong nhiệm kỳ 1967-1968, Đại hộinhận định: cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc Nà Hang đã đoàn kết mộtlòng vượt qua nhiều khó khăn gian khổ, các phong trào của huyện được duy trì và

có mặt đang có chiều hướng vươn lên Đại hội phân tích, làm rõ nguyên nhân củanhững tồn tại, hạn chế, đồng thời thống nhất phương hướng nhiệm vụ của huyệntrong giai đoạn 1968-1970

Thanh toán nạn mù chữ cho 3 xã còn lại, chống tái mù, đẩy mạnh bổ túc vănhoá, nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên

Thực hiện các chủ trương của Đảng, Nhà nước, của tỉnh và tiếp tục thựchiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ VIII, cán bộ, đảng viên và nhândân các dân tộc huyện Nà Hang phấn khởi thi đua phấn đấu thực hiện thắng lợi cácnhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, quốc phòng an ninh, xây dựng Đảng,củng cố hệ thống chính trị

Ngày 2- 9-1969, sau một thời gian lâm bệnh nặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

từ trần, thọ 79 tuổi Đây là một tổn thất vô cùng lớn lao, nỗi đau thương vô hạn củatoàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta Thực hiện Chỉ thị ngày 29/9/1969 của Bộ Chính

trị và chủ trương của tỉnh mở đợt sinh hoạt chính trị "Toàn đảng, toàn dân, toàn

quân học tập làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh" Huyện tổ chức Hội

nghị Ban Chấp hành Đảng bộ huyện mở rộng nghiên cứu Nghị quyết 194 của

Trung ương, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát động cuộc vận động "Học tập

và làm theo Di chúc của Hồ Chủ tịch" tạo không khí thi đua sối nổi trong cán bộ,

đảng viên và nhân dân các dân tộc toàn huyện

Công tác giáo dục có nhiều tiến bộ về mặt giảng dạy và xây dựng cơ sở vậtchất Hệ thống trường lớp phát triển mạnh, đến năm 1970, huyện đã có 19 trườngcấp I, 7 trường cấp II và 1 trường cấp III Tổng số học sinh các cấp là 3.361 họcsinh (trong đó cấp I có 2.612 em, cấp II có 673 em, cấp III có 76 em), giáo dụcmầm non bước đầu được quan tâm, đã có 2 lớp mẫu giáo với 60 cháu Công tác

Trang 15

tuyển sinh cho trường Thanh niên dân tộc, trường Bổ túc văn hóa và tổ chức khaigiảng năm học đạt yêu cầu, chất lượng giảng dạy ở một số trường khá, lực lượnggiáo viên được tăng cường.

Chăm lo công tác giáo dục là nhiệm vụ thường xuyên của Đảng bộ, Huyện ủy

đã tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh về mở đợt sinh hoạt chínhtrị học tập và làm theo Di chúc của Hồ Chủ tịch, nâng cao chất lượng đảng viên; Nghịquyết 19 của Tỉnh uỷ về thực hiện 4 nghị quyết lớn của Bộ Chính trị Ban Chấp hànhTrung ương Đảng

Năm 1971 ngành giáo dục đảm bảo học sinh mẫu giáo 200 học sinh, vỡlòng 3.000 học sinh, hệ thống phổ thông 3.720 học sinh Sự nghiệp văn hoá, giáodục đã được quan tâm và từng bước đầu tư, chất lượng giáo dục đã có nhiềuchuyển biến.Tổ chức khai giảng năm học sớm, tỷ lệ thi chuyển cấp, lớp đạt khá,trường, sở được xây dựng bán kiên cố, đội ngũ thầy, cô giáo đã vượt qua khó khănthực hiện dạy tốt, học tốt

Khắc phục tình trạng trình độ của đội ngũ cán bộ, đảng viên còn thấp, chưa đápứng yêu cầu nhiệm vụ, ngày 7-6-1973, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ra Chỉ thị số62/CT-TQ Về việc đẩy mạnh phong trào Bổ túc văn hoá trong tình hình mới, đặt ramục tiêu phấn đấu trong 3 năm 1973-1975 là: cán bộ chủ chốt ở xã, huyện, đảng viêntrẻ, đoàn viên phải phấn đấu học hết cấp II và học lên cấp III; những đồng chí học hếtcấp III và tốt nghiệp trung cấp phải học tiếp đại học; Cán bộ công nhân viên trongbiên chế phải học hết cấp I; toàn dân phấn đấu 50% phổ cập cấp I; bố trí trường lớpphù hợp để thu hút con em các dân tộc ít người vào học phổ thông; đảng viên tuyệtđối không được mù chữ Để đạt được mục tiêu trên, các biện pháp thực hiện là: Cácđơn vị dành mỗi tuần hai buổi tối để cán bộ, đảng viên đi học bổ túc; ngành giáo dụcthực hiện một hội đồng hai nhiệm vụ, đảm bảo giáo viên cấp I mỗi tuần có 2 buổi,giáo viên cấp II, III có 4 tiết dạy bổ túc văn hoá; Công đoàn, Đoàn Thanh niên, HộiPhụ nữ làm nòng cốt trong xây dựng và duy trì phong trào, theo dõi, động viên khenthưởng kịp thời; các cơ quan đơn vị đưa việc học bổ túc văn hoá là một trong nhữngtiêu chuẩn thi đua của tập thể, cá nhân

Đại hội Đảng bộ huyện xác định phương hướng, nhiệm vụ chung của quý IVnăm 1973 và năm 1974: Trước hết phải giải quyết vấn đề lương thực và thực phẩm đểgóp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, chi viện cho miền Nam, đấu tranhthống nhất nước nhà và bồi dưỡng sức dân trên cơ sở phát huy 3 thế mạnh của miềnnúi Thực hiện tốt 3 cuộc cách mạng, lấy cách mạng khoa học kỹ thuật làm then chốt,đồng thời phải đẩy mạnh hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế và lưu thông phân phối Tăng cường công tác xây dựng Đảng, chính quyền, lực lượng dân quân tự vệ, giữ gìntrật tự, an ninh xã hội và củng cố các tổ chức đoàn thể quần chúng, bảo đảm thực hiệnthắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng bộ

Đại hội đề ra mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể đối với giáo dục năm 1974: Bảo đảmcon em đến tuổi đều được đến trường, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất cho cáctrường phổ thông và lớp mẫu giáo vỡ lòng, củng cố tốt trường bổ túc văn hóa vàtrường thanh niên dân tộc vừa học,

Trang 16

Với những quyết tâm và nỗ lực của nhân dân các dân tộc huyện nhà, sự nghiệpgiáo dục có nhiều tiến bộ, các xã đều có trường cấp I, lớp mẫu giáo; bình quân mỗi xã

có 1 trường cấp II; huyện đã có trường cấp III, trường Bổ túc văn hoá tập trung,trường Thanh niên dân tộc vừa học vừa làm, đảm bảo con em đến tuổi đều có trường

để học Số học sinh tăng đều qua từng năm, năm học 1974-1975, toàn huyện có 2 lớpmẫu giáo (20 cháu), 74 lớp vỡ lòng (242 học sinh), 104 lớp cấp I (3.469 học sinh), 31lớp cấp II (874 học sinh), 4 lớp cấp III (120 học sinh), 97 học sinh trường Bổ túc vănhoá, 120 học sinh trường Thanh niên dân tộc; năm học 1975-1976, cứ 100 người dânthì có 24 học sinh Các trường ra sức phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy và học,nhất là thực hiện các chương trình cuối kỳ, cuối cấp…

Trong những năm tháng ác liệt chống Mỹ cứu nước nhiều thầy cô giáo, họcsinh đã xếp bút nghiêng lên đường chiến đấu một phần họ đã ra đi mãi mãi ở cái tuổi

20, họ đã chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc Xong ở hậu phương những thầy côgiáo và học sinh dấy lên phong trào “Hai tốt” thực hiện lời Bác Hồ Dạy “Dù khó khăn

gian khổ đến đâu cũng tiếp tục thi đua dạy tốt- học tốt” (trích thư Bác Hồ gửi ngành

giáo dục năm 1968); Học sinh Nà Hang ngày ngày đến trường với chiếc mũ rơm trên

đầu, lớp học trong rừng xa khu dân cư hay trong hang đá Thầy cô giáo miệt mài bênngọn đèn dầu leo lét soạn từng trang giáo án, những mong truyền hết tâm huyết vàkiến thức cho họ sinh thân yêu; chính trong cuộc chiến khốc liệt đó đã có nhiều tậpthể cá nhân đạt Tập thể xã hội chủ nghĩa như tập thể trường cấp I Năng Khả do thầygiáo Nguyễn Hữu Nghị làm Hiệu trưởng, tập thể cấp II Đà Vị do thầy giáo Nình VănTinh làm Hiệu trưởng, tấm gương học giỏi như em Trần Thị Thủy học sinh lớp 4 cấp

I Năng Khả đạt giải 3 môn Văn toàn quốc Sự nghiệp giáo dục đã phát triển mạnhtoàn huyện hầu hết đã có trường cấp I và 2/3 số xã có trường cấp II; tổng số giáo viêntoàn ngành đã tăng hơn 500 người

Giai đoạn 1954-1975, dưới sự lãnh đạo của các cấp các ngành, giáo dụchuyện Nà Hang đã có nhiều khởi sắc số trường, lớp, học sinh đã được tăng lêntừng bước phát triển kinh tế - văn hoá, hoàn thành nhiệm vụ với Đảng, Nhà nướctrong công tác giáo dục

Những thành tựu giáo dục đạt được trong giai đoạn 1954-1975 là tiền đềvững chắc, là động lực quan trọng động viên thầy, cô giáo vững tin bước vào thời

kỳ lịch sử mới - Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa

Trang 17

PHẦN II CHƯƠNG III GIÁO DỤC NÀ HANG TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI THEO

ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG (1976 - 1990)

Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mở ra một thời

kỳ mới trong lịch sử dân tộc: Cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp vào tháng 9-1975, đãquyết dịnh những vấn đề trọng đại của Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới

là hoàn thành thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước bước vào chặng đường đầu củathời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Ngày 20-9-1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng (khoá III) ra Nghị quyết số245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh, tại kỳ họp thứ hai, ngày 27-12-1975, Quốchội khoá V quyết nghị hợp nhất hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang thành tỉnh HàTuyên Nà Hang trở thành một đơn vị hành chính của tỉnh Hà Tuyên

Giai đoạn 1977-1979, Đảng bộ và nhân dân Nà Hang bắt tay vào thực hiện

kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ hai trong bối cảnh nhiều khó khăn: Thời tiếtdiễn biến không thuận lợi, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp, cuộc chiếntranh trên biên giới phía Bắc Tổ quốc đã gây xáo trộn và ảnh hưởng rất lớn đếnmọi mặt công tác của địa phương

Đảng bộ quan tâm lãnh chỉ đạo công tác giáo dục, năm 1977, để chuẩn bịcho năm học mới, tạo cơ sở cho thực hiện Cải cách giáo dục, Ban Thường vụHuyện uỷ ra Chỉ thị Về việc tổ chức hoạt động hè Đối với phong trào giáo dục ởvùng sâu vùng xa, Huyện uỷ có Thông tri số 13/TT-HU ngày 16-12-1978 Về việcđẩy mạnh phong trào giáo dục ở những vùng xa xôi hẻo lánh trong huyện Sựnghiệp giáo dục của huyện ngày càng được củng cố, phát triển từ vùng thấp đếnvùng cao, mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh được chú trọng Năm học1977-1978, số trường lớp được duy trì và phát triển, tổng số học sinh của 3 cấp I-II-III là 7.933 học sinh Năm học 1978-1979, tuy có những khó khăn, giáo viên,

cơ sở vật chất thiếu, nhưng được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyềnkết quả thi chuyển lớp, chuyển cấp của học sinh đạt 85%, trong đó tốt nghiệp cấp

II đạt 95,7% Trong nhiệm kỳ mở thêm được 3 trường cấp II ở 3 xã, mở thêm cáclớp học trong mỗi cấp, đưa giáo viên về các bản xa trường tổ chức xoá mù chữ

Để nâng cao trình độ văn hoá cho cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc, đápứng yêu cầu nhiệm vụ, Huyện uỷ ra Chỉ thị số 06-CT/HU Về việc đẩy mạnhphong trào bổ túc văn hoá, chỉ đạo cấp uỷ, chính quyền các cấp có phương hướnglãnh đạo và chỉ đạo công tác bổ túc văn hoá, thường xuyên kiểm tra đôn đốc, đưaviệc học bổ túc thành nội dung sinh hoạt của chi bộ Thực hiện Chỉ thị, trường bổtúc văn hoá huyện đã cải tiến phương pháp giảng dạy và học tập của giáo viên vàhọc sinh; mở lớp bổ túc cấp II, cấp III tại các cơ quan xung quanh huyện; tổ chứccác lớp cấp I, cấp II tại các hợp tác xã

Từ tháng 2-1979, khi chiến sự xảy ra, sự lãnh đạo của Đảng đối với công tácquân sự được tăng cường Là huyện nằm trong tuyến I của tuyến phòng thủ biên giới

Trang 18

toàn tỉnh, lực lượng vũ trang của huyện được tổ chức, biên chế thành các đơn vị dự

bị, được huấn luyện trang bị vũ khí, sẵn sàng lên đường chiến đấu

Trực tiếp chi viện cho các huyện tuyến trước, nhiều thầy cô giáo đã tham giadân công hỏa tuyến đi xây dựng phòng tuyến biên giới

Giai đoạn 1977-1979, Đảng bộ lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất,phát triển kinh tế xã hội đồng thời xây dựng lực lượng, đảm bảo sẵn sàng chiến đấu

và phục vụ cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ

Đi đôi với lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, củng cố quốc phòng

- an ninh; công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể quầnchúng được Đảng bộ thường xuyên quan tâm, chỉ đạo, đảm bảo đáp ứng yêu cầunhiệm vụ

Giai đoạn 1976-1980, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Nà Hang đã

nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn do thiên tai, địch họa, khắc phục những yếukém, hạn chế để tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trên quê hương cách mạng; gópphần đánh bại âm mưu và hành động chiến tranh nhiều mặt của các thế lực thù địch,

tổ chức cho nhân dân sản xuất, xây dựng cuộc sống mới, giữ vững an ninh chính trị

và trật tự an toàn xã hội, cùng cả nước vững bước vào chặng đường mới

I- KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN, PHÁT HỆ THỐNG GIÁO DỤC GÓP

PHẦN XÂY DỰNG TỔ QUỐC

Cùng cả nước, ngành giáo dục Nà Hang bước vào thực hiện nhiệm vụ 5năm 1981-1985 trong hoàn cảnh nhiều khó khăn phức tạp: đất nước ta vẫn trongtình trạng vừa có hoà bình, vừa có chiến tranh, khủng hoảng kinh tế - xã hội; thiêntai liên tiếp xảy ra, nền kinh tế trì trệ, kém phát triển, đời sống của nhân dân, nhất

là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa còn rất nhiều khó khăn, phần nàocũng ảnh hưởng đến công tác duy trì giữ vững nhiệm vụ giáo dục mà Đảng, nhànước giao cho

Đi đôi với phát triển kinh tế, ngành giáo dục huyện Na Hang luôn chú trọngđến lĩnh vực văn hoá, xã hội Hệ thống các trường phổ thông cơ sở, lớp mẫu giáo, vỡlòng đã phát triển ở hầu hết các xã, thôn xóm, kể cả vùng xa xôi hẻo lánh Năm học1981-1982, bắt đầu thực hiện cải cách giáo dục, chất lượng giáo dục từng bước đượcnâng cao, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học đạt 94%, phong trào bổ túcvăn hoá tiếp tục được duy trì, để thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách giáo dục cấp tiểuhọc một loạt giáo viên dạy vỡ lòng ăn công điểm hợp tác xã được bồi dưỡng nghiệp

vụ, bồi dưỡng về chuyên môn được tuyển dụng vào biên chế để dạy lớp 1 cải cách

Giai đoạn 1979-1982, dù gặp nhiều khó khăn do cuộc chiến tranh biên giới,dưới sự lãnh đạo Đảng bộ lãnh đạo nhân dân trong huyện khắc phục khó khăn, trởngại, phấn đấu thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII Cùng vớinhững kết quả đạt được, quá trình lãnh, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị củaĐảng bộ cũng bộc lộ một số khuyết điểm thiếu sót: Chất lượng giáo dục chưađồng đều, giữa các xã còn có tâm lý trông chờ ỷ lại, do nề kinh tế lâm vào khủngkhoảng có nhiều thầy cô giáo bỏ nghề nên quy mô trường, lớp, học sinh, chấtlượng giáo dục có nhiều giảm sút; Trong điều kiện khó khăn về kinh tế, sự nghiệp

Trang 19

văn hoá, giáo dục vẫn luôn được coi trọng Huyện đã đầu tư xây dựng Trường cấp1-2 Năng Khả được xây dựng kiên cố, để góp phần củng cố mạng lưới trường lớphọc phù hợp với giai đoạn phát triển của đất nước.

Thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ HàTuyên, Huyện uỷ đề ra chủ trương nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, côngtác giáo dục có chuyển biến tích cực Cơ sở vật chất được chú ý đầu tư sửa chữa

và xây dựng thêm, tất cả các xã, kể cả những bản làng xa xôi đều có trường học.Năm học 1981-1982, năm học đầu tiên thực hiện chương trình cải cách giáo dụctheo tinh thần Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 11-1-1979 của Bộ Chính trị, mặc dùcòn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất nhưng số học sinh lên lớp vẫn đạt 87%, sốhọc sinh tốt nghiệp đạt 86,3% kế hoạch, so với năm học trước, tăng hơn 17,3%.Các trường phổ thông trung học năm học 1981-1982, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt94%, số học sinh lên lớp đạt 92% Năm học 1982-1983, tổng số học sinh mẫu giáo

là 155 cháu, học sinh cấp I là 7.574 em, học sinh cấp II là 1.882 em, toàn huyện có

19 nhà trẻ, với tổng số 250 cháu Năm học 1982-1983, toàn huyện có 21 trường:mẫu giáo có 6 lớp, cấp I có 382 lớp, cấp II có 144 lớp

Từ năm 1986 đến năm 1989, do khó khăn về đời sống, lương cán bộ côngchức thấp, giá cả tăng cao, nạn đào đãi vàng ngành Giáo dục Nà Hang đứngtrước khó khăn và thách thức lớn: Chất lượng dạy và học giảm sút, tình trạng họcsinh bỏ học và giáo viên bỏ nghề tăng lên, những xã vùng sâu, vùng xa thiếu giáoviên trầm trọng; số trẻ em trong độ tuổi đi học chưa được huy động đến trường,lớp và số người mù chữ chiếm tỷ lệ cao Trước những khó khăn đó, ngành giáodục cố gắng khắc phục khó khăn, duy trì số học sinh phổ thông, củng cố các lớpmẫu giáo, nhà trẻ, nhóm trẻ đã có

Từ ngày 26 đến ngày 28/01/1989, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nà Hanglần thứ XV được tổ chức: Đại hội khẳng định những thành tựu đã đạt được trongnhiệm kì XIV của Đảng bộ huyện, đánh giá cao tinh thần vượt khó của cán bộ,đảng viên và nhân dân các dân tộc trong huyện;

Phát triển sự nghiệp văn hoá - xã hội, nâng cao dần đời sống văn hoá, tinh thầncủa nhân dân Phấn đấu đến năm 1990, huyện có số học sinh là 11.500 em;

Ngành Giáo dục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, làm cho mọi người dânhiểu rõ: Giáo dục là nhiệm vụ chung của toàn xã hội Hội đồng nhân dân huyện cóNghị quyết trích kinh phí bổ sung cho công tác văn hoá - giáo dục ở các xã Nhờ

có sự quyết tâm, sự đồng thuận của cấp ủy, chính quyền, các cơ sở giáo dục vànhân dân, tình trạng học sinh bỏ học được hạn chế, giáo viên không còn bỏ trườnglớp, một số xã như Xuân Lập, Khau Tinh, Trùng Khánh đã kết hợp cùng vớitrường học tạo điều kiện về đời sống cho đội ngũ giáo viên Đến tháng 12 - 1989,tổng số giáo viên của huyện có 683 người, duy trì và củng cố được các lớp mẫugiáo, nhà trẻ, nhóm trẻ Thực hiện Chỉ thị số 02-CT/HU ngày 18-11-1990 củaHuyện uỷ về Tăng cường chỉ đạo công tác giáo dục và xoá mù chữ, với phươngchâm "Nhà nước và nhân dân cùng làm," cấp uỷ, chính quyền đã vận động nhândân các dân tộc đóng góp công sức, tiền của, tự xây dựng được hàng chục lớp học,đóng hàng trăm bộ bàn ghế cho học sinh và giáo viên phổ thông Phong trào bổ túcvăn hoá được duy trì, các thôn bản tự cử giáo viên, vận động mọi người chưa biết

Trang 20

chữ ở độ tuổi từ 15-35 đi học; phát động cán bộ, công nhân viên chức, nhân dâncác dân tộc trong huyện đóng góp xây dựng quỹ "xoá mù" để chi thù lao cho giáoviên và văn phòng phẩm cho các lớp học

15 năm (1976-1991), trong hoàn cảnh nhiều khó khăn do hậu quả của cuộcchiến tranh chống Mỹ để lại và cuộc chiến tranh biên giới, đặc biệt là những khókhăn gay gắt về kinh tế - xã hội trong giai đoạn đầu thực hiện công cuộc đổi mới

do Đảng khởi xướng; dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ Hà Tuyên, ngành gióadục huyện Nà Hang đã vượt qua khó khăn thử thách, thực hiện tốt một hội đồnghai nhiệm: dạy tốt các lớp phổ thong và tăng cường dạy bổ túc văn hóa cho thanhniên, phụ nữ các thôn bản

Giáo dục Nà Hang cũng có những kết quả lần đầu tiên dự thi giáo viên dạygiỏi cấp tỉnh năm 1991 có 3 giáo viên đạt giải giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh: cônHoàng Thị Gấm giáo viên trường tiểu học Năng Khả, cô Dương THị KHoa giáoviên trường tiểu học Thị trấn Na Hang, cô Nguyễn Thanh Phương giáo viên trườngtrung học cơ sở thị trấn Na Hang

Song những thành tựu mà ngành giáo dục Nà Hang đạt được từ năm 1976đến đầu năm 1991, cùng với những kinh nghiệm tích luỹ được trong quá trình lãnhđạo của ngành giáo dục huyện là tiền đề quan trọng cho sự phát triển giáo dục giaiđoạn mới

CHƯƠNG IV PHÒNG GIÁO DỤC LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA (1991 - 2000)

I- PHÁT GIÁO DỤC THEO CƯƠNG LĨNH, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA TỈNH, HUYỆN

Bước vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, tình hình quốc tế ,trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hộichủ nghĩa ở Đông Âu, những khó khăn về kinh tế, xã hội của đất nước và địaphương đã tác động xấu đến tư tưởng cán bộ, đảng viên, nhân dân và công cuộcđổi mới của huyện Kiên định con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo, Đảng

bộ và nhân dân Nà Hang vững vàng bước vào một giai đoạn mới đầy khó khăn thửthách

Về giáo dục: Phải chủ động tạo nguồn giáo viên cho các xã, nhất là vùngsâu, vùng xa, động viên toàn dân chăm lo đến sự nghiệp giáo dục; thường xuyêncủng cố cơ sở vật chất, đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượngdạy và học Các trường học, lớp học được tổ chức đến tận cơ sở xã và từng thôn,bản vùng sâu, vùng xa, số học sinh đến trường tăng, nạn bỏ học giảm hẳn, công tácxoá mù và phổ cập tiểu học được quan tâm thực hiện

Song song với phát triển kinh tế, các hoạt động văn hoá, xã hội cũng đượcchú trọng Quán triệt sâu sắc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vềlĩnh vực văn hoá, xã hội, đặc biệt triển khai thực hiện các Nghị quyết Trung ương 4

Ngày đăng: 31/01/2015, 15:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w