KINH TẾ, XÃ HỘI TỈNH AN GIANG , NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2005
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học, quý thầy cô khoa sử đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin đặc biệt tỏ lòng kính trọng, biết ơn TS Lê Văn Đạt, thầy đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn Ban Giám Hiệu trường THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành việc học tập và nghiên cứu
Tôi xin tỏ lòng biết ơn đến các Ban Ngành tỉnh An Giang, Thư viện tỉnh An Giang, biết ơn đối với gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Trân trọng biết ơn!
Tác giả luận văn
Phạm Thị Tuyết Nga
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
An Giang - một tỉnh đồng bằng phía Tây nam của tổ quốc - mảnh đất giàu truyền thống lịch
sử - văn hóa, có tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội Nhiều thế kỷ trôi qua, vùng đất và con người
An Giang đã góp công to lớn vào những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam không chỉ trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm mà còn cả trong lao động sản xuất
Sau ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng (30/04/1975), nhân dân An Giang với đức tính cần cù, chịu thương chịu khó và tinh thần cách mạng kiên cường đã nhanh chóng bắt tay vào công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội Qua 10 năm khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội (1975 – 1985), bằng sự nổ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân, tỉnh An Giang đã thu dược những thắng lợi cơ bản, đời sống vật chất – tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể so với trước giải phóng Tuy vậy, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
An Giang giai đoạn này cũng tồn tại những hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) với đường lối đổi mới đúng đắn đã tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và tỉnh An Giang nói riêng Vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng phù hợp với thực tế địa phương, trong những năm 1986 –
2005, kinh tế - xã hội An Giang đã có những chuyển biến mạnh mẽ, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao rõ rệt Mặc dù vậy, quá trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang trong giai đoạn đầu thực hiện công cuộc đổi mới cũng còn bộc lộ những hạn chế nhất định
Chính vì vậy, việc dựng lại bức tranh chân thực và sinh động quá trình phát triển kinh tế - xã hội từ sau ngày giải phóng đến năm 2005 đặc biệt để thấy được thành tựu, sự chuyển biến mạnh
mẽ về kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2005) ở tỉnh An Giang là một vấn đề mới, có
ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc
Trước hết, nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta có cách nhìn toàn diện, hệ thống, đánh giá khách quan những thành tựu và hạn chế trong công cuộc đổi mới đất nước nói chung, của một tỉnh đồng bằng Nam bộ nói riêng mà An Giang là một trong những điển hình Đó cũng là căn cứ khoa học giúp cho các cơ quan có thẩm quyền hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp,
Trang 4từ đó tạo động lực cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở An Giang đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu về: “Kinh tế - xã hội tỉnh An Giang từ 1986 đến 2005” có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu, giảng dạy lịch sử địa phương, giúp cho thế hệ trẻ có những hiểu biết bổ ích về truyền thống hào hùng của quê hương, về công cuộc đổi mới của Đảng và nhà nước, qua đó thấy được trách nhiệm của mình đóng góp vào sự nghiệp xây dựng quê hương, Tổ quốc ngày càng giàu mạnh
Đồng thời, quá trình hoàn thành đề tài này còn giúp tôi rèn luyện công tác nghiên cứu khoa học, vận dụng vào công tác giảng dạy của mình, đặc biệt phần lịch sử địa phương thời kỳ đổi mới
Với những ý nghĩa như vậy, tôi quyết định chọn vấn đề: “Kinh tế - xã hội tỉnh An Giang từ năm 1986 đến năm 2005” làm đề tài luận văn Thạc sỹ sử học của mình
2 Lịch sử vần đề
Nghiên cứu về kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới của đất nước nói chung và ở các vùng nông thôn nói riêng là một vấn đề cấp thiết được nhiều nhà khoa học, nhiều nhà nghiên cứu ở các Trung ương và địa phương quan tâm
Trước hết phải kể đến các bài viết của những nhà lãnh đạo Đảng, nhà nước ta như: “Đổi mới
để tiến lên” của đồng chí Nguyễn Văn Linh, “Sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội” của đồng chí
Đỗ Mười, hay “Đổi mới - bước phát triển tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của đồng
chí Nguyễn Khánh, Nhìn chung, các tác phẩm này tập trung tìm hiểu những vấn đề kinh tế - xã hội có tính khái quát trên cả nước, qua đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới, đồng thời cũng rút ra những kinh nghiệm, đưa ra những định hướng, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần làm cho chủ trương và đường lối đổi mới của Đảng nhanh chóng phát huy tác dụng trong cuộc sống
Các cuốn sách: “Đổi mới kinh tế và phát triển” của tác giả Đoàn Thị Thu Hà, nhà xuất bản Khoa học xã hội 1995; “Định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận cấp bách” của Trần Xuân Tường, nhà xuất bản Chính trị quốc gia 1996; “Đổi mới chính sách xã hội: Luận cứ và giải pháp” của tác giả Phạm Xuân Nam, xuất bản 1997; “Đổi mới để phát triển”, nhà
xuất bản Chính trị quốc gia 2002, đã đề cập, nghiên cứu những vấn đề kinh tế - xã hội của nước
ta trong thời kỳ đổi mới mang tính khái quát cả phương diện lý luận và thực tiễn
Trang 5Một số công trình khác nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới như: “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, thành tựu và triển vọng” của tác giả Nguyễn Văn Bích, nhà xuất bản Hà Nội 1994; “Đổi mới và phát triển nông nghiệp nông thôn”, nhà xuất bản Nông nghiệp 1998; “Đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã nông nghiệp nông thôn” của Lương Xuân Quý, nhà xuất bản Hà Nội 1999; “Đổi mới nông nghiệp và nông thôn dưới góc độ thể chế”, Trường Đại học kinh tế quốc dân xuất bản năm 2000; “Chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn sau Nghị quyết 10”, nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2000, Trong mức độ nhất định,
các công trình này đã cung cấp cách nhìn, đánh giá công cuộc đổi mới trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Thời kỳ 1954 – 1975 có nhiều công trình nghiên cứu về Nam Bộ, vùng đất An Giang hoặc
có đề cập đến kinh tế - xã hội An Giang được công bố
Dưới chính quyền Sài Gòn, Ban nghiên cứu Tòa Hành chính An Giang còn cho biên soạn
các quyển địa phương chí như: Địa phương chí tỉnh Long xuyên 1956, Địa phương chí tỉnh Châu Đốc 1956, Địa phương chí An Giang 1959, Địa phương chí An Giang 1961, Địa phương chí An Giang 1963, Địa phương chí tỉnh An Giang 1967, Địa phương chí tỉnh Châu Đốc 1968, Địa phương chí tỉnh An Giang 1973,… đã đề cập một cách tổng quát về lịch sử, điều kiện tự nhiên,
hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội, danh lam thắng cảnh của tỉnh
Thoại Ngọc Hầu và công cuộc khẩn hoang vùng Hậu Giang của Nguyễn Văn Hầu được
xuất bản năm 1973 Tác giả viết về công trình đào kênh, mở đường khẩn hoang lập làng ở An Giang của Thoại Ngọc Hầu giai đoạn cuối thời vua Gia Long đầu thời vua Minh Mạng
Lịch Sử khẩn hoang miền Nam của Sơn Nam xuất bản năm 1973, cũng đã cung cấp những
tư liệu về cuộc khẩn hoang lập làng ở vùng đất Nam Bộ nói chung, An Giang nói riêng vào thế kỷ XVIII – XIX
Tác phẩm Gia Định xưa, nhà văn Sơn Nam đã đề cập đến vấn đề đất đai, thiên nhiên, phong
thổ, phong tục, tạp quán của vùng đất Nam bộ và công cuộc khẩn hoang vùng biên giới Tây Nam
Từ sau năm 1975, có nhiều công trình nghiên cứu về đồng bằng sông Cửu Long và An Giang, với những vấn đề sâu hơn
Tác phẩm Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ do Huỳnh Lứa chủ biên, đã góp phần tìm hiểu
sâu hơn về quá trình khai phá vùng đất Nam bộ, trong đó có An Giang Tác giả đã khái quát quá
Trang 6trình di chuyển dân cư, khai hoang lập đồn điền, tổ chức sản xuất nông nghiệp, những biến đổi về mặt xã hội
Quyển Những trang về An Giang của Trần Thanh Phương xuất bản năm 1984 Đây là quyển
sách địa chí, đã đề cập đến thiên nhiên, con người, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế An Giang trong các thế kỷ XVIII – XX
Trong Lịch sử An Giang của Sơn Nam được xuất bản vào năm 1988, tác giả đã đề cập đến
những biến đổi về mọi mặt của vùng đất An Giang từ khi hòa hợp vào lãnh thổ nước ta đến thời Pháp thuộc
Quyển Văn hóa và cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Công Bình, Lê
Xuân Diệm, Mạc Đường xuất bản năm 1990 đã nghiên cứu về các tộc người đang sinh sống trên mảnh đất đồng bằng sông Cửu Long Các tác giả đã đề cập đến mọi mặt trong sinh hoạt về mặt kinh tế - xã hội của cư dân đã từng sinh sống ở vùng đất này
Tác phẩm Về dân tộc ở vùng đồng bằng sông cửu Long xuất bản năm 1991 đã đề cập khá
chi tiết về sinh hoạt kinh tế của các dân tộc Khmer, Chăm, Hoa đang sinh sống ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, vùng đất An Giang nói riêng
Quyển Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX của Huỳnh Lứa
xuất bản năm 2000 Tác giả có đề cập đến quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ, khai hoang lập ấp, công cuộc đào kênh, các hoạt động kinh tế ở An Giang trong hai thế kỷ XVIII – XIX
Bên cạnh đó còn có các tác phẩm Đồng bằng sông Cửu Long nghiên cứu và phát triển do Nguyễn Công Bình chủ biên, Nghề nông Nam Bộ của Trần Xuân Kiêm biên soạn năm 1992, Lược
sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam của Vũ Minh Giang chủ biên
Ngoài ra, các bài viết trong các kỷ yếu hội thảo khoa học như Nam Bộ và Nam Trung Bộ những vấn đề lịch sử thế kỷ XVII – XIX do Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, Lịch sử phát triển kinh Vĩnh Tế, Lịch sử hình thành vùng đất An Giang do Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang và Sở Khoa học Công nghệ Môi trường tỉnh An Giang đã phối hợp với Viện khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, …; các bài viết trên các báo chuyên ngành được công bố thường xuyên có liên quan đến kinh tế - xã hội An Giang
Kinh tế - xã hội tỉnh An Giang thời kỳ đổi mới được Đảng bộ, các cấp chính quyền tỉnh An Giang đặc biệt quan tâm
Trang 7Quyển An Giang 25 năm xây dựng và phát triển của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang xuất
bản 2000 đã đề cập đến những vấn đề kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang trong giai đoạn sau năm
1975 – 2000
Quyển An Giang 30 năm xây dựng và phát triển của Tỉnh ủy An Giang xuất bản năm 2005
viết về những thành tựu đạt được về kinh tế - xã hội của tỉnh trong 30 năm qua
Quyển Những bước đột phá của An Giang trên chặng đường đổi mới kinh tế của Đỗ Hoài
Nam và Đặng Phong chủ biên xuất bản 2006 Đây là sách viết về bối cảnh lịch sử An Giang trước giải phóng, những ngày sau giải phóng, An Giang cùng cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện những mũi đột phá trên nhiều lĩnh vực khác nhau, để từ đó đi đến đổi mới toàn diện nền kinh
Về không gian, đề tài tìm hiểu về An Giang một tỉnh đồng bằng ở phía Tây Nam tổ quốc
Về thời gian, đề tài chủ yếu tìm hiểu kinh tế - xã hội tỉnh An Giang giai đoạn từ 1986 đến
2005
3.3 Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu quá trình xây dựng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang từ 1986 đến 2005 Trên cơ sở đó dựng lại bức tranh kinh tế - xã hội tỉnh An Giang trong 20 năm đổi mới (1986 – 2005)
Trang 8Từ thực tiễn sinh động của quá trình phát triển cũng như những thành tựu kinh tế - xã hội tỉnh An Giang đạt được, đề tài rút ra những đặc điểm riêng về kinh tế - xã hội tỉnh An Giang trong thời kỳ đổi mới, những bài học kinh nghiệm của quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang
Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị cho tỉnh An Giang trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để nghiên cứu, giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi dựa vào các nguồn tư liệu sau: Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin bàn về kinh tế - xã hội, các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước, của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể tỉnh An Giang về vấn đề phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới
Những công trình nghiên cứu về kinh tế - xã hội các vùng nông thôn An Giang, các niên giám thống kê lưu trữ tại cục thống kê An Giang
Nguồn tư liệu gốc viết về tỉnh An Giang như: Các báo cáo chính trị tại những lần Đại hội Đảng bộ tỉnh từ 1975 đến 2005, Báo cáo tổng kết và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch 5 năm, Báo cáo tổng kết và phương hướng hàng năm của Ủy ban nhân dân tỉnh, Số liệu thống kê lưu giữ
ở các Sở, Ban, Ngành tỉnh An Giang
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng tư liệu điền dã thông qua những lần thực tế tại một số di tích lịch sử, đơn vị kinh tế, xã hội trên địa bàn An Giang, các tư liệu trên báo chí, mạng Internet để làm phong phú và sáng tỏ nội dung của đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, phương pháp lịch sử và phương pháp logic được xác định là những phương pháp cơ bản để tiến hành nghiên cứu
Hỗ trợ cho phương pháp lịch sử và phương pháp logic là phương pháp thống kê nhằm hệ thống các số liệu, dữ kiện làm cơ sở để kết hợp đồng thời với phương pháp tổng hợp rút ra những kết quả tổng hợp, đáp ứng yêu cầu của một đề tài lịch sử kinh tế - xã hội
Ngoài ra phương pháp so sánh cũng được vận dụng để giúp làm sáng tỏ những hoạt động và chuyển biến của kinh tế - xã hội tỉnh An Giang so với các thời kỳ trước và sau đó
Trang 9Phương pháp khảo sát điền dã: Tác giả luận văn đã tiếp xúc với những người trồng lúa ở huyện Châu Phú, nghề sản xuất gạch ở huyện châu Thành, làm mắm ở Châu Đốc,… Các cán bộ như: Sở y tế, Sở Văn hóa Thông tin, Ban dân tộc, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn… Đồng thời còn thu thập tài liệu điền dã để có thêm cơ sở nhận định về kinh tế - xã hội tỉnh An Giang trong 20 năm đổi mới
5 Đóng góp của luận văn
Dựng lại bức tranh toàn cảnh về sự chuyển biến kinh tế - xã hội tỉnh An Giang trong gần 20 năm đổi mới (1986 – 2005)
Nêu bật những thành tựu, đặc điểm, bài học kinh nghiệm trong xây dựng, phát triển kinh tế -
xã hội tỉnh An Giang thời kỳ đổi mới từ 1986 đến 2005
Đề xuất một số giải pháp cho tỉnh An Giang trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế -
xã hội giai đoạn hiện nay
Có thể dùng luận văn làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy lịch sử địa phương, giáo dục thế hệ trẻ, đặc biệt đối với tỉnh An Giang
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Khái quát về vùng đất, con người, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh An Giang trước năm 1986
Chương 2: Kinh tế tỉnh An Giang từ năm 1986 đến năm 2005
Chương 3: Xã hội tỉnh An Giang từ năm 1986 đến năm 2005
Trang 10Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ
HỘI TỈNH AN GIANG TRƯỚC NĂM 1986
1.1 Khái quát về vùng đất, con người An Giang
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
An Giang là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa vĩ tuyến 100 và 110 Bắc, giữa kinh tuyến 104,710 và 105,50 Đông, ở phía Tây Nam của nước Việt Nam Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp; phía tây Bắc giáp vương quốc Campuchia với đường biên giới dài gần 96,6 km; phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh kiên Giang; phía Đông Nam giáp thành phố Cần Thơ
Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 3.406 km2, bằng 1,03% diện tích cả nước và đứng thứ 4
so với 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm: thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và 9 huyện là Châu Thành, Thoại Sơn, Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, Chợ mới, Phú Tân, Tân Châu và An Phú với 150 xã, phường, thị trấn Hai Huyện Tịnh Biên
và Tri Tôn được chính phủ công nhận là huyện miền núi
Là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, có hệ thống giao thông thủy, bộ rất thuận tiện Giao thông chính của tỉnh là một phần của mạng lưới giao thông liên vùng quan trọng của quốc gia và quốc tế, có cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, Vĩnh Xương – Tân Châu và Long Bình – An Phú Đó là lợi thế cho quá trình mở cửa, phát triển và hội nhập kinh tế An Giang với các tỉnh trong khu vực, ngoài nước, nhất là khu vực Đông Nam Á
An Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ rệt Mùa mưa
từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng 270C; lượng mưa trung bình năm khoảng 1.130 mm, có năm lên tới 1.700 – 1.800 mm, độ
ẩm trung bình 80% - 85% và có sự dao động chế độ mưa theo mùa Khí hậu cơ bản thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
An Giang có nguồn nước mặt và nước ngầm rất dồi dào Sông Tiền và sông Hậu chảy song song từ Tây Bắc xuống Đông Nam trong địa phận của tỉnh dài gần 100 km, lưu lượng trung bình năm 13.800 m3/s Bên cạnh đó có 280 tuyến sông, rạch và kênh lớn, nhỏ, mật độ 0,72 km/km2 Chế độ thủy văn của tỉnh phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ nước của sông Mê Kông, hàng năm có
Trang 11gần 70% diện tích tự nhiên bị ngập lũ, thời gian ngập lũ từ 3 – 4 tháng, vừa đem lại lợi ích to lớn – đưa lượng phù sa, vệ sinh đồng ruộng nhưng cũng đã gây ra những tác hại nghiêm trọng Trong
30 năm qua đã có đến 5 lần ngập cao làm thiệt hại tính mạng, mùa màng, cơ sở hạ tầng, nhà ở của
cư dân làm cho suất đầu tư của tỉnh thường ở mức cao nhưng hiệu quả mang lại bị hạn chế
Về đất đai và thổ nhưỡng, An Giang có 6 nhóm chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất phù sa 151.600 ha chiếm 44,5% diện tích đất tự nhiên; nhóm đất phù sa có phèn 93.800 ha chiếm 27,5%; nhóm đất phát triển tại chỗ và đất phù sa cổ 24.700 ha chiếm 7,3%; còn lại là đất phèn và các nhóm khác
Hệ thống sông rạch tỉnh An Giang đã góp phần hình thành 72% diện tích đất phù sa hoặc
có nguồn gốc phù sa do bù đắp hàng năm Địa hình bằng phẳng, độ thích nghi đối với các loại cây trồng khá rộng Diện tích đất nông nghiệp từ 289.316 ha năm 1976, bình quân khoảng 0,212 ha/người, đến năm 2005 dự kiến đất nông nghiệp còn 258.523 ha, bình quân khoảng 0,117 ha/người, thấp hơn nhiều tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long
An giang có trên 583 ha rừng tự nhiên thuộc rừng ẩm nhiệt đới, đa số là cây lá rộng, với
154 loài cây quý hiếm thuộc 54 họ Sau 1975 một thời gian diện tích rừng bị thu hẹp, những năm đầu của thập niên 90 trở đi tỉnh đã chú ý nhiều tới việc gây lại vốn rừng Năm 2000 đất rừng 12.443 ha và với 30.500 ha diện tích cây phân tán, đến năm 2005 đất rừng 15.755 ha và với 50.000
ha cây phân tán, độ che phủ khoảng 19% Động vật rừng An Giang cũng khá phong phú và có loài quý hiếm Rừng tập trung chủ yếu ở vùng Bảy núi tạo nên nhiều phong cảnh đẹp cùng với những
di tích văn hóa – lịch sử, góp phần phát triển kinh tế địa phương tương đối đa dạng
Nguồn lợi thủy sản trên hai con sông Tiền sông Hậu không nhỏ, và cùng với hệ thống kênh, rạch, ao, hồ đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi cá bè, ao hầm, tôm trên chân ruộng mà từ lâu nó đã trở thành nghề truyền thống của nhân dân địa phương – đây cũng là thế mạnh đặc trưng ở An Giang
So với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, An Giang có tài nguyên khoáng sản khá phong phú, với trữ lượng: đá granít trên 7 tỷ m3; đá cát kết 400 triệu m3; sét gạch ngói 40 triệu
m3; cao lanh 2,5 triệu tấn; than bùn 16,4 triệu tấn; vỏ sò 30 – 40 triệu m3; ngoài ra còn các loại puzolan; penspat, bentonite, cát, sỏi
Trang 12Tài nguyên khoáng sản là lợi thế của tỉnh so với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhất là đá, cát, đất sét là nguyên liệu cho việc sản xuất vật liệu phục vụ cho nhu cầu xây dựng trong tỉnh, vùng.
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa khá phổ biến, tập trung nhiều nhất ở vùng Tân Châu, Chợ Mới Cho đến đầu thế kỷ XX, lụa Tân Châu đã nổi tiếng một thời vừa bền, vừa đẹp Ở Bảy Núi, Châu Giang (Châu Đốc), đồng bào Khơmer, Chăm đã cần cù dệt nên những chiếc “Xà Rong”, khăn đội đầu, khăn choàng tắm, áo,… nhiều màu sặc sở
Nghề mộc cũng sớm phát triển trên đất Chợ Mới Ở An Giang và cả Miền Tây đều biết đến những người thợ miệt Chợ Thủ (Chợ Mới) qua những sản phẩm thủ công tinh xảo có tính nghệ thuật cao, từ đơn giản đến cầu kỳ, phức tạp
Ở núi Sam, núi Sập do nhu cầu tiêu dùng của xã hội, dần dần hình thành tầng lớp “thợ” chuyên khai thác đá Ngoài đá xây dựng ra, họ còn làm ra những đồ dùng như cối giã gạo, chày đâm tiêu, cối xay bột, mặt bàn… và cả đồ trang sức bằng đá quý
Nghề đan bàng, đưng tập trung ở vùng Tịnh Biên, Tri Tôn Với bàn tay khéo léo của người nông dân, từ những cây cỏ ngoài đồng sâu đã biến thành những vật dụng cần thiết cho gia đình như mái nhà, đệm, giỏ xách… Đặc biệt là cây bàng đã tạo ra chiếc nón kỳ diệu để sau này cùng với cây tầm vông đi vào lịch sử đấu tranh oai hùng của dân tộc, in đậm trong ký ức của người dân vùng đồng bằng châu thổ
Tuy nghề thủ công có phát triển, nhưng cơ nghiệp của người dân An Giang dựng lên được hàng trăm năm nay chủ yếu là bắt nguồn từ cây lúa Những người dân An Giang đầu tiên cũng chỉ biết làm ruộng cấy ở vùng Cù lao, Bảy Núi, còn ở vùng ngập nước thì đánh bắt cá, tôm hoặc trồng hoa màu phụ sinh sống qua ngày Cảnh “phá sơn lâm, đâm hà bá” ngày càng không phù hợp với
sự gia tăng dân số Bản thân cây lúa cũng bị hạn chế về diện tích gieo trồng, không đối đầu được
Trang 13với mùa nước nổi hàng năm Người dân An Giang trong quá trình lao động cần cù sau này đã tìm cho mình cây lúa nổi đủ sức vươn mình và tồn tại lên trên mặt nước mênh mông Cây lúa nổi đối với cư dân An Giang là một biểu tượng tuyệt vời về sức sống mãnh liệt trong quá trình mở đất và giữ đất
Nhìn chung, tiềm năng kinh tế của tỉnh An Giang là khá đa dạng, nhân dân An Giang lại cần cù, khéo tay và năng động Đây là cơ sở quan trọng để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân An Giang ra sức xây dựng và bảo vệ quê hương trong thời kỳ mới
Từ chỗ cùng nhau khai khẩn đất hoang dựng lên làng mạc, cư dân An giang (gồm người Việt, Khmer, Hoa, Chăm…) sống chan hòa trong sự hòa hợp giữa các nền văn hóa, hình thành tính cách thói ăn, nết ở
Những người Việt đến đây thì đa số là những người không chịu được áp bức, bóc lột, yêu
tự do, giàu lòng nhân ái, đùm bọc lẫn nhau khai hoang lập ấp
Người Khmer cần cù lao động, quây quần bám đất, kính Phật, thật thà, chất phác Người Hoa chịu cực, chịu khó giúp đỡ lẫn nhau, chuyên mua bán, dễ dàng hòa hợp Người chăm ươm tơ dệt vải, chài lưới mua bán đổi chác đều thành thạo
Sự giao hòa dân tộc, văn hóa để lại những dấu ấn trong đời sống tinh thần, ngôn ngữ, nghệ thuật, phong phú hài hòa Tiếng hò man mác trên sông nước mênh mông, các điệu lý, điệu hoài lang gợi cảm; điệu múa “lâm thôn”, làng điệu dân ca “Ayay”, tiếng trống “xay ăm” rộn ràng hòa lẫn với những giọt mồ hôi, những giọt máu đã đổ xuống cho những mảnh đất hoang vu này ngày càng thêm xanh tươi, trù phú
Từ sau ngày miền Nam giải phóng đến nay, người việt và các dân tộc anh em vẫn luôn đoàn kết, gắn bó trong công cuộc bảo vệ và xây dựng quê hương An Giang ngày càng giàu đẹp
Trang 14Cũng như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, do những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử nên An Giang có nhiều tôn giáo Những đạo mà đến nay vẫn còn khá đông tín đồ là: Đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Hồi, đạo Cao Đài, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu nghĩa… Phật giáo Hòa Hảo khai sinh năm 1939, có tín đồ đông nhất ở An Giang hiện nay
Trong suốt quá trình định cư, lập nghiệp hàng trăm năm, người dân An Giang đã để lại dưới chân núi Sam, trên vùng Bảy Núi, ở đất Cù lao nhiều công trình kiến trúc có tính lịch sử và nghệ thuật cao như Lăng Thoại Ngọc Hầu (1829), chùa Tây An (1847), nhà thờ Cù lao Giêng (Chợ Mới), chùa Giồng Thành (Phú Tân), chùa Linh Sơn (Thoại Sơn), chùa Xà Tón (Tri Tôn), chùa Ông Bắc (Long Xuyên) và hàng trăm ngôi đình, chùa, miếu mang sắc thái riêng của từng dân tộc, từng tôn giáo
An Giang tuy là một trong những vùng đất được mở mang sau cùng trên bước đường Nam tiến của các chúa Nguyễn Nhưng ngày nay, vùng đất này đã trở thành nơi “đất lành chim đậu” Quá trình lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh kiên cường hằng trăm năm nay đã khẳng định được khả năng của bàn tay, khối óc và cả trái tim của những con người nơi đây
Đất An Giang vẫn mãi mãi in dấu của đoàn quân Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đi mở đất phương Nam năm 1699 Dù rừng thiêng nước độc đã sớm cướp đi cuộc đời của người đi mở cõi, nhưng tên gọi Cù lao Ông Chưởng vẫn đời đời gợi nhớ đến một vị công thần khai quốc
Thoại Ngọc Hầu với dòng kênh Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế đã mang dòng nước mát, mang
ấm no đến cho biết bao người Công lao của Thoại Ngọc Hầu mãi mãi được nhân dân An Giang ghi nhớ
Trong đấu tranh giành độc lập, Tôn Đức Thắng – người con ưu tú của An Giang và biết bao vị anh hùng cách mạng đã hiến dâng cuộc đời mình cho lịch sử, để khẳng định truyền thống yêu nước là dòng chảy không ngừng dẫn tới chiến thắng lịch sử của quân và dân An Giang, góp phần cùng cả nước giải phóng Miền Nam, thống nhất tổ quốc
Từ những điều kiện đặc thù của nền kinh tế, văn hóa, xã hội ở An Giang Để giữ gìn mảnh đất này, bảo vệ những giá trị tinh thần, vật chất mới xây dựng, người dân An Giang đã không tiếc xương máu trong các cuộc đấu tranh chống xâm lược qua các thời kỳ, nhằm bảo vệ biên cương tổ quốc
1.1.3 Truyền thống đấu tranh bất khuất của nhân dân An Giang qua các thời kỳ lịch
sử
Trang 15Suốt trong thời kỳ dài, từ cuối thế kỷ XVIII đến năm 1846, nhân dân vùng Châu Đốc vùng Châu Đốc, Hà Tiên, Sa Đéc đã nhiều lần phải chiến đấu chống lại quân xâm lược Xiêm Thà chết, một tấc đất của biên thùy, nhân dân An Giang cũng không để rơi vào tay giặc
Ngày 22/6/1867, đạo quân Pháp do tên đô đốc La -Gờ -răng-đe, đem quân đánh chiếm toàn tỉnh An Giang từ đó an giang trở thành thuộc địa của Pháp
Nhân dân An Giang cùng nhân dân cả nước nối tiếp truyền thống cha ông đứng lên đánh Pháp Các phong trào chống Pháp từ hưởng ứng hịch Cần Vương, rồi theo cờ Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, Quản cơ Trần Văn Thành (Bảy Thưa - Châu Phú), diễn ra liên tục và mạnh mẽ…
Từ năm 1880-1886, vùng Bảy Núi, đặc biệt là khu vực núi Tượng là nơi đón nhận nhiều nghĩa quân từ khắp Lục tỉnh tựu về Đây là những người từng tham gia phong trào Trương Định, Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Quân, một số đông muốn chờ cơ hội để hoạt động, tạm thời sống tiêu cực Số khác thì chủ trương bạo động, hướng về phong trào Cần Vương ủng hộ vua Hàm Nghi
Năm 1916, tại Núi Cấm có một cuộc khởi nghĩa chống Pháp đã nổ ra Linh hồn của cuộc khởi nghĩa năm 1916 là “ông thầy Núi Cấm” (với nhiều tên: Mã Văn, Bảy Đỏ, Tư Khánh, Lê Văn Khánh, Cao Văn Long) đã làm cho thực dân Pháp hoang mang, lo sợ
Năm 1927, chi bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội đầu tiên được thành lập ở
xã Long Điền gồn ba đồng chí: Châu Văn Liêm, Lâm Văm Cẩn và Bùi Trung Phẩm, do đồng chí Châu Văn Liêm làm bí thư Sau đó tổ chức này phát triển rất nhanh ở huyện Chợ Mới, các xã ở cù lao Tây, Châu Thành, Tân Châu, Châu Đốc Đây là đốm lửa nhỏ, nhưng sức mạnh bùng cháy của
nó rất lớn trong những năn sau này Tháng 8/1927, hai thanh niên có nhiều hành động chống thực dân Pháp lúc còn học sinh là đồng chí Nguyễn Văn Cưng và đồng chí Trần Văn Thạnh cùng với nhiều đồng chí thanh niên ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sang Quảng Châu (Trung Quốc) học khóa 3 trường Tổng bộ Tại đây các đồng chí ấy được học những bài lý luận cách mạng đầu tiên do đồng chí Nguyễn Ái Quốc biên soạn Học xong các đồng chí được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và tuyên thệ tước mồ Liệt sĩ Phạm Hồng Thái, rồi trở về nước hoạt động
Tháng 2/1928, tại Long Xuyên tỉnh bộ Việt Nam cách mạng thanh niên thành lập do đồng chí Châu Văn Liêm làm bí thư
Trang 16Ngày 3/2/1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời Đây là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam Từ đây Long Xuyên và Châu Đốc đã có một Đảng của giai cấp công nhân trực tiếp lãnh đạo
Tháng 5/1930 lần đầu tiên cờ đỏ búa liềm được treo trên cột dây thép xã Long Điền, truyền đơn rải dán khắp nơi, cả trong văn phòng làm việc của địch, nhằm cổ vũ cho các cuộc đấu tranh của nông dân, của thợ dệt diễn ra khắp nơi trong tỉnh
Ngày 23/11/1940, cả vùng nông thôn Nam Kỳ rung chuyển trước sức nổi dậy của quần chúng Lần đầu tiên cờ đỏ sao vàng xuất hiện trong các cuộc biểu tình thị uy Long xuyên – Châu Đốc nhận lệnh khởi nghĩa chậm 7 ngày, khi các nơi khác nổ ra cao trào, nhưng quần chúng tham gia khởi nghĩa rất dũng cảm Thực dân Pháp và bọn tay sai Việt gian, Miên gian đàn áp quần chúng khởi nghĩa, chúng bắn xả vào đoàn biểu tình tay không, đốt nhà, xé xác trẻ em ném vào lửa, nhiều đồng chí, đồng bào yêu nước bị bắt, bị tù đày, bị xử tử Theo Báo cáo chính trị tháng 12/1940 của thống đốc Nam Kỳ, gởi toàn quyền Đông Dương, riêng ở liên tỉnh Long Xuyên chúng bắt 315 vụ Ngoài số đồng chí bị đem đi xử tử ở Cần Thơ, bọn thực dân đã xử bắn 3 đảng viên ưu
tú của tỉnh ở đầu bờ Núi Sam (Vĩnh Tế - Châu Đốc)
Ngày 25/8/1945, cùng với Sài Gòn – Gia Định và các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, nhân dân các xã, huyện kéo vào thị xã Long Xuyên, Châu Đốc giành toàn bộ chính quyền Sau cách mạng tháng Tám, các lực lượng vũ trang cách mạng ở An Giang lần lượt ra đời và không ngừng lớn mạnh Ở Tân Châu, Tịnh Biên, Hồng Ngự (thuộc tỉnh Châu Đốc lúc bấy giờ) đều có trung đội Quốc gia tự vệ Tháng 6/1946, Quân khu 9 chi viện cho Châu Đốc một đại đội… tiếp theo đó nhân dân An Giang thắng lợi ở nhiều nơi, đến tháng 4/1949, bộ đội An Giang phục kích đánh chìm tàu Pháp trên sông Tiền Tháng 10/1950, nhân dân An Giang mở chiến dịch “Long Châu Hà 1”, đánh vào vùng Vĩnh Thông, Vĩnh Điều, Vĩnh Gia …, mở đường tiến về Bảy Núi và thị xã Châu Đốc
Từ ngày 10/2/1951 đến 15/3/1951 nhân dân An Giang mở chiến dịch “Long Châu Hà 2”, tiêu diệt 300 tên và thu nhiều khí giới khác, phá hủy lô cốt và nhiều tháp canh làm cho pháp và ngụy hoang mang Đảng bộ An Giang thì gây dựng được nhiều cơ sở ở Long Xuyên, Châu Đốc
Đến năm 1953, đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Phạm Hùng cùng Trung ương cục miền Nam đã quyết định “chuẩn bị đón lấy thời cơ mới” Trung ương cục chủ trương đẩy mạnh cuộc tấn công về quân sự, chính trị, kết hợp với “chiến dịch địch, ngụy vận” để phối hợp với chiến trường
Trang 17chính Vì vậy, ở Mỹ Tho, Long Châu Sa, phong trào rã ngũ lan rộng trong binh lính Hòa Hảo, Cao Đài
Tháng 5/1954 quân dân ta giành thắng lợi ở mặt trận Điện Biên Phủ Ngày 21/7/1954 Hiệp định Giơ- ne - vơ được ký kết Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi
Thực dân Pháp bại trận đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam thay chân Pháp, đặt ách thống trị thực dân mới ở miền Nam Từ năm 1955-1956 thực hiện sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng, tỉnh Đảng bộ Long Xuyên và Châu Đốc được thành lập
Tháng 6/1956, Bộ chính trị Trung ương Đảng ta ra nghị quyết nêu rõ: Tuy tình hình đấu tranh của ta trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh chính trị nhưng như thế không có nghĩa là không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định Bộ chính trị còn nhấn mạnh: Phải cũng cố lực lượng vũ trang, nửa vũ trang hiện có, xây dựng cá căn cứ làm chỗ dựa đồng thời xây dựng các
cơ sở quần chúng vững mạnh là điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang
Tháng 8/1956, đồng chí Lê Duẩn, Ủy viên Bộ chính trị Trung ương Đảng, lúc này phụ trách đảng bộ miền Nam, đã viết tài liệu Đường lối cách mạng miền Nam, vạch rõ con đường giải phóng miền Nam là con đường cách mạng Đồng bào và chiến sĩ Long Xuyên, châu Đốc chiến đấu theo hướng đó Ở Bảy Núi, hàng ngàn đồng bào Khmer kéo tới dinh quận trưởng đấu tranh, vạch trần Mỹ là xâm lược, ngụy là tay sai bán nước Phong trào đấu tranh ngày càng lên cao trong nhân dân Cơ sở cách mạng ngày càng nhiều và vững chắc
Năm 1957, ta hợp nhất hai tỉnh lại thành tỉnh An Giang, theo đơn vị hành chính của địch
để tiện việc bám sát tình hình địch và bố trí lực lượng đấu tranh của ta Từ lực lượng tự vệ, tỉnh đã xây dựng thành lực lượng vũ trang do đồng chí Nguyễn Khắc Sương làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 364 và đồng chí Nguyễn Sên (nay là đồng chí Nguyễn Văn Hơn) làm chính trị viên
Sau đó, các lực lượng vũ trang liên tiếp đánh địch ở nhiều nơi, ghi nhiều chiến công Tại Bảy Núi, tiểu đoàn 512 được thành lập Những tháng đầu năm 1960 An Giang đã có nhiều trận tiến công địch, như ở xã Vọng Thê, ta diệt gọn 3 đồn giặc, thu hơn 50 súng các loại, phá tan khu trù mật Ở Tân Châu đồng bào đấu tranh với chính quyền địch đòi bồi thường thiệt hại cho 400 gia đình bị chính quyền Ngô Đình Diệm đốt phá nhà cửa để dồn họ vào trại tập trung; Thới sơn là xã thí điểm đồng khởi của tỉnh
Lực lượng kháng chiến của ta ngày càng mạnh, kẻ thù càng hoảng sợ, điên cuồng, gây ra biết bao tội ác Nhân trận lụt năm 1961 Mỹ - Diệm thừa dịp thiên tai dùng máy bay, đại bác tàn sát
Trang 18đồng bào vùng lũ Những năm tiếp theo nhiều cuộc dấu tranh chính trị nổ ra và giành thắng lợi tiêu biểu là cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 Trong những ngày chiến đấu sôi nổi này, quân và dân An Giang đã loại khỏi vòng chiến đấu 8.500 tên địch, có 71 tên Mỹ, 10 sĩ quan ngụy, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước
Ngày 3/5/1970 quân và dân An Giang kại cùng lúc tiến công gần 20 vị trí đồn bót, căn cứ quân sự địch ở huyện Tri Tôn, Tịnh Biên tiêu diệt hơn 500 tên, diệt gọn và đánh thiệt hại nặng một ban chỉ huy tiểu đoàn và bốn đại đội ngụy, bắn rơi 4 máy bay, phá hủy 4 súng lớn, đốt cháy một kho xăng lớn
Năm 1971 – 1972, tại Cô Tô – Tức Dụp diễn ra một cuộc đọ sức giữa ta và địch, tại đây hố bom chồng hố bom, có tất cả 18 tiểu đoàn thay nhau đánh, thường xuyên có một trung đoàn thường trực sẵn sàng chiến đấu với quân giải phóng Qua chín tháng tám ngày bị bao vây, địch vẫn không chiếm được đồi Tức Dụp mà còn bị tiêu tốn hơn 2 triệu đô la và ngót 4000 sinh mạng binh
sĩ đủ loại, đủ cỡ
Sau hiệp định Pari, theo yêu cầu củ chiến trường, ta liên tếp tiến công địch: Tiểu đoàn A 12 bám trụ, đánh địch, giải phóng dọc theo tuyến kinh Tân Hội và giải phóng vùng Ba Thê Tiểu đoàn A11 đánh đồn Sóc Xoài, giải phóng xã Mỹ Lâm (huyện Châu Thành) Cả hai tiểu đoàn này bám trụ, đánh địch suốt 7 ngày đêm Địch tăng viện hai trung đoàn của sư 9 và sư 21 Ta kiên quyết đáh trả lại, diệt 252 tên, thu hàng chục tấn vũ khí, bắt tại trận hàng chục tên; các đồn bót địch bị ta san bằng Tháng 1/1974, đại đội 4 thuộc thuộc tiểu đoàn A12 tập kích một đại đội địch, diệt 25 tên, phá hủy một khẩu pháo 105 ly và một khẩu súng cối 120 ly Tháng 11/1974, tiểu đoàn A12 đánh một tiểu đoàn địch ở núi Ba Thê, diệt và làm bị thương hơn 130 tên, bắt tại chỗ hàng chục tên, thu toàn bộ vũ khí; ta làm chủ trận địa suôt 4 ngày đêm Tháng 12/1974, tiểu đoàn A11, A12 phối hợp tác chiến, tiêu diệt hoàn toàn quân địch ở chi khu 11, diệt hơn 200 tên, phá hủy 3 khẩu pháo 105 ly
và 2 khẩu súng cối 120 ly, bắt nhiều tên Thừa thắng hai tiểu đoàn tập kíc địch ở Ba Hòn (Hòn
Me, Hòn Đất, Hòn Sóc) tiêu diệt hầu hết bọn địch sống ở đây, thu toàn bộ vũ khí, trong đó có 5 khẩu pháo 105 ly, 5 súng cối 120 ly
Cùng với toàn chiến trường miền Nam, cho đến cuối năm 1974, tình hình chống Mỹ cứu nước ở An Giang có những chuyển biến căn bản Cùng với khí thế cả nước, tại thị xã Châu Đốc, tối 30/4/1975 địch ở tiểu khu được lệnh rút về tử thủ ở vùng “Thánh địa Hòa Hảo” Trước khi rút
đi, chúng đã đốt kho bạc và tài liệu hồ sơ, nhưng đồng bào đã kịp thời dập tắt ngọn lửa, cứu được
Trang 1911 thùng bạc và các giấy tờ, hồ sơ cần thiết cho cách mạng Sau giải phóng Tân Châu, bộ đội địa phương của tỉnh, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 cùn với bộ đội huyện tiến xuống “Thánh địa” theo hai mũi: bờ sông Tiền và bờ sông Hậu Khi tiểu đoàn 2 tiến đến gần kinh xáng An Long định vượt qua
cù lao Tây thì bị địch bắn ngăn chặn quyết liệt Lại không đủ phương tiện sang sông Đồng bào đã huy động xuồng ghe cho bộ đội
Số địch ngoan cố lại trốn về nhập chung với bọn tàn quân, co cụm lại ngôi chùa cổ - ngôi chùa Tây An Cổ Tự thuộc quận Chợ Mới, cũng với danh nghĩa là bộ đội Phật giáo Hòa Hảo Trước khi giải quyết điểm co cụm này, ta đã giải phóng thị xã Long Xuyên Ở đây cùng với các giới đồng, các giáo chức và học sinh trong phong trào nổi dậy chiếm chính quyền
Kháng chiến chống Mỹ cứu nước là quá trình gian khổ hy sinh Quân và dân An Giang đã chiến đấu kiên cường, giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, trong lúc nhân dân ta đang ra sức xây dựng, hàn gắn vết thương chiến tranh, bè lũ Pôn pốt – Iêng Xary, gây ra chiến tranh biên giới phía Tây Nam tổ quốc ta Trong đó có biên giới An Giang
Tháng 5/1975, chúng cho quân đổ bộ lên đảo Phú Quốc và đảo Thổ Chu, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam từ Hà Tiên đến Tây Ninh Cuối năm 1975 và đầu năm 1976, chúng lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam thuộc các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc Từ giữa năm 1976, chúng kích động trong nhân dân và quân đội của chúng tư tưởng sô vanh, tâm lý chống Việt Nam, coi Việt Nam là
“kẻ thù truyền kiếp”, “kẻ thù số một” Ngày 30/4/1977, chúng dùng nhiều sư đoàn tiến công trên toàn tuyến biên giới tỉnh An Giang nước ta, mở rộng cuộc chiến tranh xung đột vũ trang ở biên giới hai nước thật sự thành một cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam [81, tr.14-15]
Kế thừa và phát huy truyền thống cách mạng trong hai cuộc kháng chiến, năm 1979, quân
và dân An Giang góp phần cùng nhân dân cả nước bảo vệ vững chắc biên giới Tây Nam của tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia hồi sinh
Bước vào giai đoạn mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân An Giang tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, vượt qua khó khăn, thử thách, tập trung sức vào công cuộc tái thiết quê hương, từng bước ổn định cuộc sống nhân dân lao động, các hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa mới ở các cơ sở được tiến hành và chú trọng
Mỗi một năm qua đi từ sau ngày giải phóng, thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhân dân An Giang đã phát huy truyền thống cách mạng trong kháng chiến,
Trang 20xây dựng An Giang ngày càng giàu đẹp, ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế - xã hội, cùng các địa phương khác trong cả nước bước vào công cuộc đổi mới: thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Cùng
cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
1.2 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh An Giang từ sau ngày giải phóng đến trước đổi mới
(1975 - 1985) 1.2.1 Tình hình kinh tế
1.2.1.1 Nông nghiệp
An Giang là tỉnh nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long, mật độ dân số đông, đất không rộng, bình quân đầu người là 0,12 ha đất canh tác, nhưng có tiềm năng kinh tế đa dạng và phong phú Thời tiết tuy có mặt thuận lợi, nhưng cũng rất khắc nghiệt “Nửa năm đồng khô nước kiệt, nửa năm nước lũ dâng cao”, khoảng 5-7 năm có một trận lụt lớn Trước giải phóng nạn đói giáp hạt: “Ngoài đồng vàng mơ, trong nhà mờ con mắt” cứ hàng năm đè nặng lên cuộc sống người lao động
Sau 30/4/1975 trung ương phải chi viện cứu đói 5000 tấn lương thực cho địa phương Mặt khác, khi tiếng súng chiến thắng đế quốc Mỹ và tay sai vừa chấm dứt, cũng là lúc tiếng súng đánh phá lấn chiếm biên giới Tây Nam Tổ quốc ta của bọn Pônpốt cũng đã bắt đầu Lợi dụng tình hình
đó, lực lượng phản động trong ngụy quân ngụy quyền, tôn giáo, với thức phục thù giai cấp cao độ cũng đấu tranh hoạt động vũ trang chống cách mạng, cài, cấm người vào dân, vào tổ chức cách mạng, nuôi ảo vọng ngoài đánh vào, trong bạo loạn lật đổ chính quyền cách mạng
Trước tình hình thực tế ấy, Đảng bộ An Giang đã dứt khoát khẳng định: phải tiếp tục phát động quần chúng truy quét địch ở nội địa và chiến đấu bảo vệ biên giới Tổ quốc, nhanh chóng ổn định trật tự an ninh, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nhân dân, đồng thời phát triển kinh tế -
xã hội, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân Trong hai nhiệm vụ cực kỳ quan trọng
ấy, ngay từ đầu An Giang cũng đã nhận rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân phải được đặt lên hàng đầu, trước hết là ăn, bởi vì có ăn mới đánh thắng được địch, có ăn mới xây dựng được chủ nghĩa xã hội
Trang 21Trên cơ sở tiếp thu, quán triệt nghị quyết 24 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa 3), vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của An Giang, Tỉnh ủy đã xác định phải đẩy mạnh phát triển cả công nghiệp và nông nghiệp nhưng phải coi phát triển sản xuất nông nghiệp là hàng đầu, trước hết
là lương thực, thực phẩm
Đây là một quyết định hết sức đúng đắn, phù hợp với đường lối, quan điểm tư tưởng của Đảng, phù hợp với thực tiễn, vừa giải quyết mâu thuẫn trực tiếp trước mắt, vừa đáp ứng yêu cầu cơ bản lâu dài của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới Để giải quyết nhanh vấn đề lương thực, Tỉnh ủy chỉ đạo tích cực động viên quần chúng, điều chỉnh ruộng đất trong nhân dân, làm thủy lợi, cải tạo đồng ruộng, sử dụng giống mới, ngắn ngày, có năng suất cao, tập trung chuyển vụ đông xuân và tăng vụ hè thu Từ hơn 10.000 ha vụ đông xuân 1974 - 1975 (trước khi giải phóng) lên 45.000 đông xuân 1976 – 1977 và tăng vụ hè thu 1977 là 36.000 ha
Quán triệt đường lối chung và đường lối xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV vạch ra với nội dung chủ yếu là: “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ ” và nghị quyết 3 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IV về phát triển sản xuất nông nghiệp Lãnh đạo tỉnh đã khẳng định rõ phương hướng: tập trung phát triển nông nghiệp mà hàng đầu là lương thực, thực phẩm, đồng thời bổ sung chỉ đạo phát triển nông nghiệp với cải tạo quan hệ sản xuất trong nông nghiệp để từng bước đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Đồng thời xây dựng quyết tâm, nâng cao trách nhiệm, phát huy cao độ ý thức tự cường, tinh thần cách mạng tiến công, tập trung lực lượng và đầu tư phấn đấu liên tục khắc phục những khó khăn lớn về thiên tai, địch họa, thời tiết, khí hậu, giải quyết hàng loạt những mâu thuẫn do thực tiễn cách mạng, thực tiễn chiến đấu, thực tiễn lao động sản xuất và tổ chức cuộc sống
Chính nhờ những nhận thức trên, trong quá trình sản xuất nông nghiệp, mặc dù gặp vô vàng những khó khăn, nhưng địa phương đã giải quyết đúng và kịp thời Hàng loạt biện pháp khoa học
kỹ thuật được triển khai áp dụng Đó là chuyển vụ, tăng vụ, thâm canh, thủy lợi, đê bao, cống bửng phục vụ sản xuất và bảo vệ sản xuất, đổi giống mới, dùng phân bón, thuốc trừ sâu, cải tạo ruộng đất và vệ sinh đồng ruộng
Cũng từ thực tiễn, tỉnh đã nghiên cứu và đề ra ba vùng sản xuất và 4 công thức cho cây trồng là một thắng lợi lớn, góp phần đắc lực cho công tác chỉ đạo sản xuất nông nghiệp Do vậy tỉnh đã phát triển tương đối nhanh toàn diện đúng hướng và khá vững chắc, xóa nhanh sự bóc lột
Trang 22của địa chủ, phú nông từng bước khắc phục dần cách sản xuất quảng canh và những mất cân đối trong sản xuất nông nghiệp
Quá trình sản xuất nông nghiệp cũng là quá trình gắn với đẩy mạnh cải tạo quan hệ sản xuất trong nông nghiệp Ngay từ năm đầu An Giang đã cải tạo xong đối tượng địa chủ, phú nông, xóa bóc lột, vận động điều chỉnh ruộng đất tiến tới xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Mặt khác chúng ta cũng nắm và coi trọng những yêu cầu của cải tạo là sản xuất phải không ngừng phát triển, năng suất lao động ngày càng tăng, sản phẩm ngày càng nhiều, đời sống nông dân không ngừng được ổn định và cải thiện Do đó, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp An Giang phát triển khá nhanh, nhưng từ năm 1977 – 1979 tốc độ chậm lại một phần do ảnh hưởng của chiến tranh biên giới Tây Nam Nhưng vấn đề chính vẫn là do Đảng bộ, chính quyền và nhân dân An Giang cố tìm ra những hình thức, bước đi, quy mô, biện pháp, nhất là cơ chế quản lý thích hợp để vừa đẩy mạnh hợp tác hóa nông nghiệp, vừa đảm bảo tốt mục đích yêu cầu chính của cải tạo là phát triển sản xuất Từ khi có chỉ thị 100 của Ban bí thư thì phong trào cải tạo nông nghiệp ở An Giang tiến lên mạnh mẽ và tương đối vững chắc Thời gian này, toàn tỉnh có hơn 2.000 tập đoàn sản xuất, 150 liên tập đoàn sản xuất và 7 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tập thể hóa 62% nhân khẩu và 63% lao động nông nghiệp Số còn lại tổ chức hầu hết vào các tổ đoàn kết sản xuất Riêng vùng lúa chuyển vụ, tăng vụ đông xuân, hè thu đã tập thể hóa 100% diện tích canh tác Có 3 huyện, thị và hơn 40 xã, phường đã hoàn thành cơ bản hợp tác hóa nông nghiệp
Diện tích gieo trồng từ 200 ha/1975 lên 319.000 ha/1984, tăng 42% trong đó diện tích lúa tăng 24%, riêng lúa tăng vụ tăng 6,5 lần với 100.000 ha đông xuân và 75.000 ha hè thu, hệ số sử dụng ruộng đất từ 1,1 vòng năn 1975 lên 1,9 vòng năm 1984; năng suất lúa bình quân toàn Tỉnh từ
2 tấn năm 1975 lên 3,1 tấn năm 1984 Bình quân lương thực đầu người 290kg/1975 với 1,32 triệu dân, lên 500kg/1984 với 1,7 triệu dân, đưa tổng sản lượng lương thực từ 385.000 tấn/1975 lên 842.000 tấn/1984 Riêng về cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày: bắp từ 3.000 tấn/năm lên 13.000 tấn/năm, tăng hơn 4 lần; đậu xanh từ 500 tấn / năm lên 5.000 tấn/năm tăng 10 lần; đậu nành từ 200 tấn/năm lên 3.000 tấn /năm tăng 15 lần, riêng năm 1983 đỉnh cao của sự phát triển là 6.300 tấn/năm [210, tr.8]
Đi đôi với phát triển trồng trọt, tỉnh cũng chú trọng phát triển chăn nuôi, nuôi trồng khai thác thủy sản, và trồng rừng Tuy thiên tai, địch họa ảnh hưởng nhiều đến tốc độ phát triển Đàn
Trang 23heo từ 56,700 con /năm/1975 lên 317.000 con năm 1984; đàn bò tăng 1,3 lần; đàn trâu tăng 1,9 lần; cá nuôi từ 12 triệu con năm 1975 lên 19 triệu con năm 1984 [210,tr.9]
1.2.1.2 Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Trên cơ sở phát triển nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng đã khôi phục
và phát triển khá tốt cùng với tập trung sức phát triển nông nghiệp, Lãnh đạo tỉnh đã quan tâm đẩy mạnh phát triển sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Ngay từ đầu, Tỉnh đã chủ trương khôi phục và phát triển hệ thống công nghiệp cơ khí từ sửa chữa đến chế tạo, công nghiệp điện đến công nghiệp xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng và giao thông vận tải để phục vụ sản xuất nông nghiệp Riêng giao thông vận tải có phát triển mạnh nhưng đáp ứng chưa kịp yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao lưu hàng hóa phát triển Công nghiệp xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng không chỉ phục vụ tốt cho việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật nền kinh tế quốc dân mà còn phục vụ việc phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế Đồng thời khôi phục phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phục vụ đời sống nhân dân với những ngành nghề truyền thống như dệt lụa Tân Châu, mộc Chợ Mới Trên cơ sở đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp mà khôi phục, xây dựng mới cơ sở chế biến từ những nguyên liệu do nông nghiệp cung cấp và sản xuất hàng tiêu dùng như xay xát, đường kết tinh, bột
mì, thức ăn cho chăn nuôi, nhựa, thuộc da đó là những bước đi đúng đắn, gắn nông nghiệp với công nghiệp ngay từ đầu, thúc đẩy phát triển cả nền kinh tế, từng bước hình thành cơ cấu công - nông nghiệp Tỉnh và nông - công nghiệp huyện
Thời gian này, đã xây dựng được 78 cơ sở sản xuất quốc doanh với hơn 1.200 lao động, củng cố và phát triển được 8.637 xí nghiệp công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tư doanh với hơn 3.000 lao động Nổi bật nhất là vật tư nguyên liệu chủ yếu do Trung ương cấp ngày càng giảm, địa phương phải tự lực xoay sở bằng cách liên kết với thành phố Hồ Chí Minh và các Tỉnh bạn để phục hồi dần và phát triển sản xuất để vừa trang bị cho mình, vừa phục vụ sản xuất nông nghiệp, phục vụ đời sống nhân dân, chế biến nông sản để nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp Kết quả, giá trị tổng sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp từ 30 triệu đồng năm 1976 lên 100 triệu đồng năm 1984, tăng gấp 3 lần, trong đó quốc doanh từ 5,3 triệu đồng lên 24 triệu đồng, chiếm tỉ trọng từ 17,3% lên 24,7% Tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân tăng từ 11,5% năm 1976 lên 21,3% năm 1984 [210, tr.12]
Trang 24Quá trình phát triển sản xuất, cũng là quá trình gắn với cải tạo quan hệ sản xuất, tổ chức lại sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Do vậy, toàn Tỉnh có 13 hợp tác xã cơ khí hóa chất, dệt gồm 1.287 lao động, 85 tổ hợp sản xuất với 2.051 lao động; 15% lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vào làm ăn tập thể, nhà nước quản lý từ 30 – 40% sản phẩm [210, tr.13]
1.2.1.3 Thương mại – dịch vụ, tài chính - tín dụng
Đi đôi với chỉ đạo phát triển sản xuất, Tỉnh coi trọng và đi vào chỉ đạo lĩnh vực phân phối lưu thông, xây dựng lực lượng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa với gần 750 cán bộ công nhân viên đứng chân ở 54 điểm sung yếu ở thị xã, thị trấn Nhưng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ chủ yếu là làm nhiệm phục vụ cán bộ, công nhân viên chức và lực lượng vũ trang, doanh số bán lẻ chiếm tỷ trọng còn thấp so với tổng mức bán lẻ, hàng hóa xã hội Mặt khác do áp dụng chính sách giá cả chưa phù hợp với đặc điểm tình hình tồn tại nhiều thành phần kinh tế, không kiên quyết tổ chức lại và đấu tranh với thị trường tự do với những hình thức thích hợp, lực lượng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa phát triển chậm, thị trường tự do phát triển lấn áp thị trường có tổ chức
Trước tình hình đó, Tỉnh vừa củng cố và tăng cường lực lượng đã có, vừa từng bước xây dựng thêm lực lượng mới, vừa tổ chức nắm lại thị trường, tổ chức lại các chợ sắp xếp các ngành hàng để quản lý bằng niêm yết giá, bắt đầu thu thuế công thương nghiệp Từ đó mà nắm các mặt hàng chủ yếu như lương thực, đậu, mè, đường, heo cộng với lực lượng hàng hóa của Trung ương về, tạo được dần lực lượng hàng hóa cho thị trường có tổ chức, kết hợp với biện pháp chính quyền, tạo ra thế và lực mới cho ngành thương nghiêp xã hội chủ nghĩa trong những năm 1975 đến năm 1980
Từ thực tiễn yêu cầu phát triển sản xuất, cải thiện đời sống của nhân dân lao động, đầu năm
1980 tỉnh vận dụng trương chủ thực hiện chính sách 2 giá: mua đúng, bán đúng trong thu mua lương thực và nông sản, đối lưu theo hợp đồng hai chiều với người sản xuất, từ đó nhà nước huy động lương thực hàng hóa nông sản và hàng công nghiệp chủ yếu ngày càng nhiều, thương nghiệp
xã hội chủ nghĩa dần dần phát triển hơn, nhờ vậy mà thúc đẩy sản xuất phát triển, từng bước ổn định đời sống nhân dân, trong điều kiện khách quan trong những năm này có rất nhiều khó khăn như chiến tranh biên giới, lũ lụt
Cũng từ năm 1980 trở đi, được các nghị quyết Trung ương soi sáng, nền kinh tế có chuyển biến mới, sản xuất bung ra, hoạt động thương nghiệp mở rộng, khối lượng hàng hóa tiêu dùng sản
Trang 25xuất năm 1982 tăng gấp 2 lần năm 1976 Tuy nhiên sự chuyển biến này còn chậm Điều đáng chú
ý là hợp tác xã mua bán từ năm 1983 trở về trước chưa được coi trọng đúng mức, chế độ tiền cổ phần và các khoản về mức lời trong điều lệ hợp tác xã mua bán còn nhiều bất hợp lý (như nộp kinh phí ngành 20% lãi ròng ), vốn cổ phần thì nhỏ mà tỉ lệ lời quá thấp cộng với vốn vay ngân hàng hạn chế đã làm cho hoạt động hợp tác xã mua bán không mở rộng được [210, tr.15]
Nghị quyết 6 của Trung ương (khóa V) được tỉnh vận dụng cụ thể hóa trong kế hoạch sản xuất, quy định các chính sách cụ thể về giá, lương, lợi nhuận, tiền thưởng, xác định giá thành sản phẩm hợp lý hơn, nhằm kích thích tăng năng suất lao động chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, giảm bớt hao hụt, lãng phí trong sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn và thực hành chế độ tiết kiệm Nên trong 2 năm 1984 – 1985 và nhất là từ quý IV năm 1984, lực lượng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa đã phát triển mạnh cả về tổ chức và doanh số hoạt động Trong cải tạo, hình thức phổ biến và chuyển một số cơ sở tư nhân được cải tạo thành hình thức quốc doanh, tổ hợp tác ngành hàng, đại lý cung tiêu Chọn lọc một số người tốt đưa vào thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán, huy động được cơ sở vật chất, vốn và tay nghề của họ Công tác quản lý thị trường, sắp xếp trật tự các chợ, cải tiến đăng ký kinh doanh, niêm yết giá và bán đúng giá niêm yết
đi đôi với tăng cường quản lý vùng biên giới, chống bọn đầu cơ buôn lậu, chống hoạt động do thám, gián điệp trong chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch tiến hành có kết quả
Bên cạnh hoạt động nội thương, tỉnh cũng chú ý đến hoạt động xuất nhập khẩu Từ năm
1976 kim ngạch xuất khẩu không tới 1 triệu đồng Việt Nam với các mặt hàng gồm bột khoai mì,
cá khô Từ năm 1980 trở đi, khối lượng vật tư nhà nước cung ứng ngày càng giảm Để đảm bảo sản xuất, Tỉnh bắt đầu hướng dẫn sản xuất các mặt hàng có giá trị xuất khẩu như đậu, mè, tôm Năm 1984 xuất khẩu xuất khẩu đạt 8 triệu đôla Như vậy, trên thực tế nguồn nông sản chủ lực của tỉnh là lúa gạo nhưng chưa được xuất khẩu trực tiếp, do tình hình khó khăn chung về lương thực của cả nước
Về tiền tệ, từ khi có nghị quyết 6 của Trung ương (khóa V) tỉnh An Giang nhanh chóng cụ thể hóa thực hiện, nên tài chính và ngân hàng có phục vụ cho kế hoạch sản xuất và kinh doanh, nhưng chỉ là bước đầu Từ chỗ thiếu hụt Trung ương phải chi viện đã vươn lên cân đối được ngân sách cho tỉnh, còn làm tròn nghĩa vụ với Trung ương và có kết dư Cụ thể ngay trong chiến tranh biên giới tỉnh đã quan tâm chỉ đạo, tiến hành phân cấp quản lý về ngân sách, thương nghiệp, xuất khẩu, tổ chức cán bộ cho huyện, tiến hành xong quy hoạch tổng thể và quy hoạch ở các huyện
Trang 26trọng điểm Cơ quan tài chính huyện vươn lên khá, tự đảm bảo được nhu cầu chi Đối với ngân sách xã hội tỉnh hướng dẫn khai thác các nguồn thu có khả năng còn để rơi rớt, để tiến lên đảm bảo chi cho đời sống cán bộ, chi xây dựng bản, xây dựng phúc lợi công cộng Tuy nhiên, thời gian này
hệ thống tài chính xã hội chủ nghĩa là chưa đầu tư tập trung đúng mức vào khâu sản xuất nhất là sản xuất công nghiệp Công tác kế hoạch trong những năm qua đã là một công cụ chủ yếu để quản
lý, cân đối các mặt, phục vụ tốt cho sản xuất nông công nghiệp, phân phối lưu thông, các mặt đời sống xã hội, đã góp phần vào thành quả chung của tỉnh, nhưng thiếu sót là chưa làm tốt kế hoạch
từ cơ sở nên chưa khai thác hết tiềm năng lao động đất đai, tiền vốn, khoa học kỹ thuật của các ngành, các cấp và của cơ sở, chưa động viên được sức mạnh tổng hợp
Bước sang thực hiện kế hoạch 5 năm 1981 – 1985, thực hiện mạnh mẽ phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, dựa vào nguồn vốn và sức mạnh tập thể để xây dựng cơ bản Ngoài phần ưu tiên cho thủy lợi, có chú ý đầu tư cho xây dựng trường học, Bệnh viện Phú Tân, phòng cho thuốc, trạm xá, nhà bảo sanh cho vùng sâu, vùng dân tộc, biên giới Đầu tư cho khu vực không sản xuất vật chất như xây dựng nhà làm việc, hội trường, bộ mặt thị xã, thị trấn chiếm tỷ lệ cao Trong đó, ngành phục vụ sinh hoạt và công cộng chiếm 2,8% (riêng công trình nhà ở các bộ, công nhân viên chiếm 1,3%) Ngành giáo dục, văn hóa, y tế xã hội chiếm 4,3% (riêng giáo dục phổ thông 0,9% và y tế xã hội là 2%) Thời gian này tỉnh đã có 52 nhà trẻ, giữ được 1.300 cháu, được
369 lớp mẫu giáo dạy được hơn 11.000 cháu được 5.546 lớp học, dạy được 261.000 học sinh[31, tr.5]
Công tác xây dựng công trình giao thông tiếp tục được chú ý Tỉnh đã tập trung vật tư, lao động để xây dựng một số cầu, cống, nâng cấp tu bổ và làm mới hơn 120 cây cầu các loại, rãi nhựa
Trang 27trên 15.000 m2 đất đường, đảm bảo thông suốt trên các trục chính như liên tỉnh lộ 9, tỉnh lộ 53,54, hương lộ 1,4 và các khu vực thuộc hai thị xã Long Xuyên, Châu Đốc và huyện thị
Cơ sở vật chất của nhân dân được cải tạo sử dụng: đã phục hồi và xây dựng mới các công trình như: cụm điện Phú Tân, 13 cơ sở cơ khí tỉnh về huyện, xí nghiệp đá Núi Sập, Núi Sam, Núi Trà Sư, xí nghiệp gạch, nhà máy xi măng, xí nghiệp dược, nhà máy xay lúa, nhà máy thức ăn gia súc, nhà máy nghiền vỏ sò, xí nghiệp nước mắm, xí nghiệp rượu, nhà máy bột khoai mì và một số cơ sở công nghiệp khác phục vụ nông nghiệp
Mạng lưới bưu điện được xây dựng và mở rộng, nâng cao chất lượng hoạt động Đến cuối năm 1985, có 100% số xã, 65% hợp tác xã nông nghiệp, 80% số hợp tác xã sản xuất tiểu thủ công nghiệp có điện thoại liên lạc thông suốt, phục vụ tốt yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và chính quyền, sự liên lạc giữa các đơn vị kinh tế
Nhờ đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, nhất là trên lĩnh vực sản xuất lương thực - thực phẩm nên đời sống nông dân trong tỉnh được cải thiện đáng kể Đến năm 1985, sản lượng lương thực tăng từ 648 ngàn tấn năm 1980 lên 860 ngàn tấn năm 1985 (tăng 30%), nên lương thực bình quân đầu người từ 426kg (1980) lên 488kg (1985), nhà ngói tăng gần 30% Đây là một thành tựu khá lớn trong giai đoạn đất nước nói chung và tỉnh An Giang nói riêng còn gặp nhiều khó khăn
Đồng thời, phối hợp với các ngành chức năng, các địa phương huy động lao động công ích
để xây dựng các cơ sở phúc lợi như: làm đường giao thông, kênh mương, trường học, trạm xá, chợ nông thôn Công tác di dân phát triển vùng kinh tế mới giai đoạn này chủ yếu là di dân nội tỉnh vào 18 xã kinh tế mới ở các huyện Thoại Sơn, Châu Thành, Châu Phú, Phú Tân khai hoang, phục
Trang 28hóa phát triển sản xuất nông nghiệp Đặc biệt năm 1977 – 1978 chiến tranh biên giới Tây Nam, Đảng bộ và nhân dân tỉnh vừa tập trung sức người, sức của chi viện cho tiền tuyến; vừa tập trung sản xuất kinh doanh xây dựng hậu phương Thời gian này Ngành đã phối hợp cùng các ngành, Bộ chỉ huy quân sự, các đoàn thể và chính quyền địa phương huy động hàng trăm lượt lao động để xây dựng tuyến phòng thủ dọc biên giới dài gần 100 km; huy động hàng chục ngàn lượt người tiếp lương, cán thương, tải đạn phục vụ cho mặt trận Cũng trong thời gian này Ủy ban nhân dân giao nhiệm vụ cho Ngành phối hợp với các ngành, các địa phương như huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Đốc, Phú Châu (nay là Tân Châu và An Phú) Di dời toàn bộ người, nhà ở và tài sản của nhân dân dọc tuyến biên giới về tuyến sau định cư tại huyện Thoại Sơn, Châu Phú, Châu Thành Ngành đã
di chuyển cho trên 30.000 hộ, với trên 150.000 người, cùng nhà ở, tài sản về tuyến sau định cư an toàn, song song với công tác định cư, Ngành còn tập trung hỗ trợ nhân dân về nhà ở, 6 tháng gạo
ăn, tham gia cấp đất sản xuất và hỗ trợ mua dụng cụ sản xuất, đồ dùng cho sinh hoạt gia đình bằng kinh phí của trung ương và địa phương Nhờ vậy, nhân dân nhanh chóng ổn định cuộc sống ở nơi định cư mới, công tác di dân đã được Trung ương và Ủy ban nhân dân tỉnh khen ngợi
1.2.2.2 Văn hóa - xã hội
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác văn hóa – thông tin, thể dục thể thao, đền ơn đáp nghĩa trong sự phát triển toàn diện của tỉnh, ngay sau giải phóng, tỉnh đã tập trung chỉ đạo các ban ngành tổ chức thực hiện
Sau 10 năm thực hiện (1975 – 1985), ngành văn hóa thông tin An Giang đã thực sự trưởng thành, với một tổ chức bộ máy văn hóa thông tin được thiết lập từ tỉnh đến huyện - xã – phường đều khắp trên địa bàn tỉnh, góp phần đắc lực xây dựng nền tảng văn hóa xã hội chủ nghĩa, vững vàng trên một vùng quê rộng lớn vừa giải phóng, có nhiều hoạt động phong phú, đa dạng, có hiệu quả
Những năm đầu giải phóng, đã có phong trào khá mạnh của quần chúng truy quét những tàn
dư văn hóa đồ trụy, phản động của địch, nhiều tranh ảnh, sách báo, phim nhạc cũ được thu gom, trên 250.000 loại sách phản động bị thiêu hủy Song song, tỉnh đã xây dựng 5 đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp, 150 đội văn nghệ nghiệp dư, 23 đơn vị chiếu bóng, 145 phòng đọc sách đến xã, phường và có nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật, nhiều bản nhạc, vở tuồng ra đời từ trong phong trào văn nghệ quần chúng tự biên tự diễn và hội diễn nghệ thuật phản ánh kết quả từ các phong trào lao động sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu cải tạo và xây dựng xã hội mới[210, tr.20]
Trang 29Hệ thống các binh chủng thông tin, đại chúng như báo An Giang, đài phát thanh, truyền thanh, văn hóa thông tin trong tỉnh đã góp phần tích cực và có tác dụng lớn trên mặt trận cải tạo
và xây dựng văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa Tỉnh cũng đã khôi phục, bảo vệ và xây dựng những khu di tích lịch sử và văn hóa Núi Sam, khu di tích căm thù ở Ba Chúc, Nhà lưu niệm Bác Tôn, di tích cách mạng đồi Tức Dụp, khai quật khu di tích Óc Eo với tầm cở hợp tác quốc tế
Đến năm 1985, các hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật, thông tin, báo đài đạt được thành tích đáng kể, vừa bám sát, phục vụ đắc lực nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ, đồng thời vừa xây dựng phát triển thêm cơ sở vật chất, giữ vững và phát triển phong trào, hoàn thành được nhiều mặt mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ ba đề ra Đã góp phần giáo dục đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nêu gương người tốt, việc tốt, đấu tranh phê phán những mặt tiêu cực, giải đáp thắc mắc, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa và động viên mọi người tham gia lao động sản xuất, tổ chức đời sống
Công tác thể dục thể thao cũng được quan tâm phát triển, nhất là trong các nhà trường, cơ quan, xí nghiệp Nhiều hoạt động văn hóa – thể dục thể thao được tổ chức Tuy chất lượng và quy
mô chưa toàn diện, song đã thu hút đông đảo mọi người tham gia, hưởng ứng tốt phong trào toàn dân rèn luyện thân thể
Phong trào đền ơn đáp nghĩa được triển khai, bước đầu thu kết quả tốt Từ năm 1975 –
1985, tỉnh đã lập hồ sơ, đề nghị Trung ương xét duyệt được gần 12.000 đối tượng hưởng chính sách ưu đãi; cất và sửa chữa 11.500 căn nhà tình nghĩa, chủ yếu bằng tre; động viên đưa 32 thương binh nặng nuôi dưỡng tập trung về sinh sống với gia đình Phong trào hội bảo trợ và cơ sở sản xuất của thương binh được hình thành từ trong khó khăn, mất mát của trận lũ lụt năm 1978 tại xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới, chỉ sau một thời gian ngắn đã được nhân rộng ra toàn tỉnh, góp phần giải quyết khó khăn về nhà ở, đời sống cho gia đình chính sách trong thời kỳ bao cấp
Từ năm 1981 1985, công tác an ninh, trật tự an toàn xã hội cơ bản được giữ vững Tổ chức tốt sự phối hợp giữa lực lượng vũ trang, công an nhân dân và phong trào quần chúng nên đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lí những vấn đề nảy sinh Các tệ nạn xã hội trên địa bàn tỉnh giảm đáng kể Công tác tuyển quân được chỉ đạo chặt chẽ và đi vào nề nếp
Mặc dù vậy, công tác văn hóa - xã hội ở An Giang vẫn còn nhiều tồn tại: Các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng chưa được phối hợp đồng bộ; một số tệ nạn xã hội có lúc trỗi dậy;
Trang 30cuộc vận động xây dựng nếp sống mới và con người mới chưa thực sự sâu rộng trong nhân dân; một số hoạt động văn hóa, nghệ thuật có biểu hiện chạy theo khuynh hướng thương mại; đời sống của các gia đình chính sách còn nhiều khó khăn
1.2.2.3 Giáo dục – đào tạo
Hòa bình lập lại, cùng với việc chú trọng khôi phục và phát triển kinh tế, vấn đề giáo dục được quan tâm Thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng là “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”, bằng nhiều nổ lực khác nhau, giáo dục trên địa bàn tỉnh An Giang từng bước có sự chuyển biến rõ rệt
Để khắc phục nạn mù chữ, phong trào bình dân học vụ, bổ túc văn hóa được phát động rộng rãi Sau nhiều năm tiến hành, đến tháng 3/1978, An Giang được Bộ Giáo dục công nhận hoàn thành xóa mù chữ trên phạm vi cả tỉnh Tuy nhiên, do tác động của chiến tranh biên giới và lũ lụt, phong trào xóa mù chữ lắng xuống và tình trạng tái mù chữ xuất hiện
Hệ thống giáo dục phổ thông các cấp không ngừng phát triển Niên khóa 1979 – 1980, học sinh cấp I, cấp II, cấp III tổng số có 226.801 em, tăng 10.629 em so với niên khóa 1978 - 1979 Chất lượng giáo dục cũng có chuyển biến tích cực Kết quả thi tốt nghiệp năm học 1978 – 1979 đạt tỉ lệ đỗ cao: Cấp I đạt 90,2%; cấp II đạt 73,2%; cấp III đạt 95,3% Mạng lưới trường mẫu giáo không ngừng được mở rộng ở hầu khắp các xã, thị trấn Tính đến năm học 1979 – 1980, có 13.068 [5, tr.72] cháu độ tuổi mẫu giáo đến trường
Giai đoạn thực hiện kế hoạch 1981 - 1985, hệ thống giáo dục trên toàn tỉnh được nâng lên rõ nét cả về số lượng và chất lượng Chất lượng giáo dục, nhất là ở bậc phổ thông được nâng lên rõ rệt, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy - học được mở rộng và nâng cấp Tính đến cuối năm 1985, cơ bản đã xóa dạy ba ca trong ngày; hệ thống trường mẫu giáo, nhà trẻ phát triển rộng rãi, vận động hơn 95% số cháu trong độ tuổi mẫu giáo đến lớp Phong trào bổ túc văn hóa cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên tiếp tục được duy trì Đến cuối năm 1985, bình quân có 3 người dân có 1 người được đi học Số lượng giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp tăng lên hàng năm Việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên và học sinh được tăng cường Công tác hướng nghiệp, dạy nghề, thực hành được đẩy mạnh Chương trình cải cách giáo dục theo định hướng mới của Bộ Giáo dục được triển khai rộng khắp và bước đầu đạt kết quả tốt
Như vậy, cho đến trước đổi mới, ngành giáo dục tỉnh An Giang đã có những chuyển biến đáng kể so với trước giải phóng Tuy vậy, giáo dục vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại như: một số giáo
Trang 31viên còn khó khăn trong đời sống nên chưa đầu tư nhiều cho chuyên môn, một số chưa ổn định về mặt tư tưởng; chất lượng giáo dục đạo đức học sinh chưa đạt kết quả như mong muốn; tình trạng học sinh bỏ học còn nhiều; cơ sở vật chất phục vụ giáo dục vẫn còn thiếu thốn xuống cấp
1.2.2.4 Y tế
Trong những năm 1975 – 1976 công tác chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa dịch bệnh ở An Giang còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân Trải qua nhiều năm chiến tranh, cơ sở vật chất và mạng lưới y tế đã bị tàn phá nghiêm trọng, nguồn thuốc tân dược, đội ngũ cán bộ y tế rất thiếu thốn
Với sự chỉ đạo kịp thời của Đảng bộ và chính quyền tỉnh, công tác y tế sau giải phóng được chú ý đầu tư Sau 4 năm, công tác khôi phục và phát triển mạng lưới y tế đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Mạng lưới y tế từ tỉnh đến huyện, xã được đầu tư củng cố và nâng cấp, từ công tác khám chữa bệnh, chăm lo sức khỏe cho cán bộ và nhân dân đến vấn đề vệ sinh phòng dịch được cải thiện đáng kể Năm 1979, kết quả đợt kiểm tra chéo cuối năm do tỉnh tổ chức đã xếp ngành y
tế vào loại khá tốt Tính đến năm 1980 toàn tỉnh đã thực hiện tốt phong trào “3 công trình vệ sinh
cơ bản”, hạn chế được dịch bệnh phát sinh, nhất là dịch hạch, dịch tả Bình quân trong năm 1980, mỗi người dân được khám chữa bệnh 3,2 lần, tăng 1,5 lần so với 1976 Công tác bảo vệ sức khỏe
bà mẹ trẻ em và sinh đẻ có kế hoạch đạt kết quả cao Đến năm 1980, đã có nhiều xã dứt điểmcông tác vận động sinh đẻ có kế hoạch Việc trồng và sử dụng thuốc năm được chú ý, hầu hết các
xã đều có vườn thuốc nam, đảm bảo yêu cầu chữa bệnh ngày càng cao
Sang giai đoạn 1981 – 1985, mạng lưới y tế từ tỉnh đến huyện, xã được mở rộng Các Bệnh viện trong tỉnh được tăng cường thêm lực lượng y, bác sĩ, trang bị thêm cơ sở vật chất, trang thiết
bị để phục vụ cho cán bộ và nhân dân Đến cuối năm 1985, bình quân 1 vạn dân có 17,08 giường bệnh và 5,7 y, bác sĩ khám chữa bệnh Với việc đầu tư nâng cấp và trang bị thêm phương tiện, bệnh viện Đa khoa An Giang đã đủ sức đảm nhận điều trị thêm một số bệnh mà trước đây phải chuyển lên tuyến trên Ở các huyện, xã điều có Trung tâm, trạm y tế được xây dựng kiên cố, có đội ngũ cán bộ y tế cấp huyện, cấp xã kịp thời khám và điều trị tại địa phương Công tác kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh, đóng vai trò quan trọng trong việc hạ tỉ lệ sinh từ 3,7% trước giải phóng xuống còn 1,7% (1985) [210, tr.22]
Bên cạnh kết quả đạt được, ngành y tế tỉnh An Giang vẫn còn gặp nhiều khó khăn: cơ sở vật chất trang thiết bị, thuốc chữa bệnh còn thiếu thốn; công tác vệ sinh, phòng ngừa dịch bệnh chưa
Trang 32thật sự đảm bảo; chất lượng khám và điều trị chưa cao; đội ngũ cán bộ y tế địa phương đa số còn yếu về trình độ nghiệp vụ
Song song với các công tác trên, thì vấn đề tăng cường an ninh nhân dân và quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc phía tây nam Tổ quốc, Tỉnh đã đạt những thành tựu đáng kể
Đã khám phá 100 vụ án phản động lớn nhỏ, trong đó có 20 vụ án của bọn phản động lợi dụng trong tôn giáo Hòa Hảo, diệt bắt sống, đầu hàng trên 1 vạn tên, thu hơn 1.000 súng các loại
và nhiều tài liệu phản động Đặc biệt là bắt được nhiều tên đầu sỏ như: Nguyễn Châu Á, tình báo CIA tổ chức “Đảng Lạc quốc Long Quân phục quốc”; Phan Hồng Dân tư lệnh Mặt trận Miền Tây; tên Tích “Sư trưởng sư đoàn 5 Thành Long”; tên Châu Kum, Chau Ool cầm đầu “Đảng khăn trắng”, và Mặt trận Khơ-mer hạ; bắt nhiều tên gián điệp, tình báo Mĩ và nước ngoài truy quét hơn
20 cụm vũ trang địch ngoài địa hình Đáng chú ý là diệt cụm vũ trang của tên Cò-Đê (Hòa Hảo) năm 1977 ở Ô Long Vĩ (Châu Phú), bẻ gãy âm mưu phá hoại bạo loạn nhiều nơi trong tỉnh, nhất là
ở Châu Thành và thị xã Long Xuyên vào tết năm 1975-1976, làm cho nhân dân vô cùng phấn khởi, yên tâm vui tết và lao động sản xuất Đồng thời, làm thất bại hoàn toàn kế hoạch hậu chiến của Mỹ trên địa bàn An Giang [210, tr.27]
Đặc biệt những ngày đầu sau giải phóng, ta đánh trúng bọn cầm đầu Trung ương đạo Hòa Hảo, bắt hầu hết ba phái Huỳnh Văn Nhiệm, Lương Trọng Tường, Lê Quang Liêm và tổ chức vũ trang Hai Ngoán, tổng đoàn bảo an Hai Tập và tên Dần Vận dụng khéo léo chính sách của Đảng, đấu tranh buộc chúng giải tán Ban trị sự các cấp, xóa bỏ cơ sở hành chính của đạo, giải tán tổ chức chính trị “Đảng dân xã” đưa Hòa Hảo tu tại gia Đây là một thắng lợi lớn của ta, đánh chúng bọn cầm đầu, phân hóa được ban trị sự, lôi kéo tín đồ Hòa Hảo về phía cách mạng, trong lúc chúng còn lực lượng, còn vũ trang trong tay Đó là sự lãnh đạo của Đảng bộ vận dụng phương châm đánh địch đúng đường lối, chính sách của Đảng, đúng đối tượng và mục tiêu, nên được quần chúng ủng
hộ, nhiều tên đầu sỏ ác ôn ra hàng, nộp vũ khí cho ta
Với ý thức cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu quân và dân ta đã đánh thắng bọn Pôn-Pốt xâm lược biên giới, góp phần giải phóng hoàn toàn đất nước Campuchia
Qua cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới, đã xuất hiện những xã anh hùng: Nhơn Hưng, Thới Sơn (Tịnh Biên), Vĩnh Hội Đông (Phú Châu), tiểu đoàn I của tỉnh Và xuất hiện những chiến sĩ anh hùng như Huỳnh Vũ Hùng, Lâm Thanh Hồng, Hoàng Kim Long và còn nhiều địa phương,
Trang 33nhiều cán bộ chiến sĩ, quần chúng nhân dân khác đã nêu cao truyền thống đấu tranh kiên cường và chiến đấu anh dũng của quân đội và nhân dân ta.
Tiểu kết chương 1
An Giang là mảnh đất có bề dày lịch sử - văn hóa, có vị trí chiến lược quan trọng, có tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội Trải qua quá trình xây dựng và bảo vệ quê hương đã hình thành ở người dân nơi đây truyền thống đoàn kết, yêu nước, hiếu học, lao động cần cù, sáng tạo, chịu thương chịu khó và tinh thần gìn giữ biên giới cao độ cho Tổ quốc nói chung và quê hương An Giang nói riêng
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, nhân dân An Giang đã nhanh chóng bắt tay vào công cuộc khôi phục, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Qua 10 năm xây dựng và phát triển (1975 -1985), nền kinh tế của tỉnh có những chuyển biến rõ nét Trong đó, nông nghiệp với vị trí là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh đạt nhiều thành tựu to lớn Các nghề thủ công cũng được khôi phục và phát huy thế mạnh, đóng góp đáng kể vào nền kinh tế Cơ sở hạ tầng trên địa bàn tỉnh được tu bổ, xây dựng, ngày càng có nhiều công trình phục vụ dân sinh và sản xuất
Nhờ kinh tế được khôi phục và phát triển mà công tác giải quyết việc làm, phát triển văn hóa – xã hội, giáo dục – đào tạo, y tế, giải quyết chế độ chính sách được tiến hành có kết quả khá cao Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, nhiều công trình phúc lợi công cộng như trường học, nhà trẻ, bệnh xá, nhà văn hóa, đường giao thông, trung tâm sinh hoạt thể dục thể thao được phát triển rộng khắp Các gia đình liệt sĩ, thương bệnh binh, gia đình có công với cách mạng, những người tàn tật, neo đơn được quan tâm giúp đỡ ổn định cuộc sống Công tác an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Phong trào toàn dân xây dựng lối sống mới xã hội chủ nghĩa đã được triển khai rộng khắp, thu hút đông đảo nhân dân tham gia
Tuy nhiên qua thực tiễn 10 năm xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội (1975 - 1985), tỉnh
An Giang cũng còn những tồn tại khắc phục Đó là:
Nền kinh tế phát triển chưa toàn diện, chưa xứng với tiềm năng của tỉnh; công tác quản lý kinh tế còn gò bó, cứng nhắc, đã gây nên những tiêu cực và thiệt hại không nhỏ cho sản xuất kinh doanh
Các lĩnh vực hoạt động văn hóa – tư tưởng chưa được phối hợp đồng bộ; cuộc vận động xây dựng nếp sống mới chưa đạt kết quả cao; công tác y tế vẫn còn những tiêu cực trong phân phối và
Trang 34khám chữa bệnh; chất lượng giáo dục còn thấp; đời sống của các gia đình chính sách còn gặp nhiều khó khăn
Việc chỉ đạo kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng còn thiếu chặt chẽ và cụ thể, nhất là trong xây dựng cơ bản Công tác quản lý và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh tế - xã hội chưa đạt kết quả cao
Với những thành tựu và hạn chế nêu trên, đòi hỏi Đảng bộ và chính quyền tỉnh An Giang phải nghiêm túc nhìn nhận để phát huy tốt những thành tựu và lợi thế đã có, tìm giải pháp khắc phục những tồn tại, vận dụng tốt hơn quan điểm, chủ trương, chính sách, kế hoạch của Đảng và Nhà nước để có được phương hướng, biện pháp để phát triển kinh tế - xã hội phù hợp hơn với tình hình của đất nước và thực tế tại địa phương trong thời kỳ đổi mới
Trang 35Chương 2
KINH TẾ TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2005
2.1 Tỉnh An Giang trong thời kỳ đất nước đổi mới
2.1.1 Bối cảnh lịch sử mới
Năm 1973, cuộc khủng hoảng dầu mỏ nghiêm trọng chưa từng có bùng nổ đã làm cho cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, tài chính, tiền tệ, năng lượng, tiếp diễn mạnh mẽ, mở đầu cho cuộc đại khủng hoảng chung trên toàn thế giới Nhân loại đứng trước những vấn đề cấp thiết cần phải giải quyết: Sự bùng nổ dân số, hiểm họa vơi cạn tài nguyên thiên nhiên cung cấp cho sự sống con người, yêu cầu đổi mới để thích ứng với sự phát triển vượt bậc của cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ và sự giao lưu, hợp tác quốc tế ngày càng mạnh mẽ Ở các nước tư bản chủ nghĩa, chính phủ tư sản đã sớm nhận thức được yêu cầu và tiến hành đổi mới, đồng thời duy trì âm mưu chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước
Sau thời gian dài xây dựng, mô hình chủ nghĩa xã hội trên thế giới nói chung đã bộc lộ nhiều khuyết điểm, sai lầm Từ cuối thập kỷ 70 – đầu thập kỷ 80, tư tưởng đổi mới đã bắt đầu xuất hiện và ngày càng phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa Hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa đều nhận thức được: chỉ có đổi mới toàn diện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thì mới phát triển được, đem lại những thành tựu to lớn và thể hiện được tính ưu việt thuộc về bản chất của chế độ Nước xã hội chủ nghĩa láng giềng ta là Trung Quốc đã sớm nhận thức và tiến hành công cuộc đổi mới từ năm 1978, bước đầu đạt được những thành tựu quan trọng
Ở nước ta, đổi mới là bước phát triển tất yếu trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bởi vì:
Về lý luận, đổi mới là đúng với quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về sự phát triển, tức
là xem xét các sự vật – hiện tượng trong sự vận động và phát triển của chúng, phù hợp với những
điều kiện khách quan và chủ quan cụ thể, như Mác từng nói: “chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là sự vận động hiện thực”
Thực tiễn qua 10 năm khôi phục đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, với hai kế hoạch 5 năm (1976 – 1980, 1981 – 1985) theo tinh thần của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV và V, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực kinh tế - xã hội và đấu tranh bảo vệ tổ quốc Tuy nhiên cho đến giữa năm 1986, chúng ta gặp không ít những
Trang 36khó khăn và yếu kém do những sai lầm và khuyết điểm gây ra, dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội Thực tiễn đặt ra yêu cầu phải nhanh chóng nhận thức và tiến hành đổi mới đất nước
Đổi mới là đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, nhằm sửa chữa những quan niệm sai lầm về chủ nghĩa xã hội, khắc phục những khuyết điểm, sai lầm trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội trở thành một chế độ xã hội có khả năng phục vụ tốt nhất lợi ích chính đáng và hạnh phúc cho người lao động, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng, đẩy mạnh sự nghiệp các mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đồng thời cũng phù hợp với xu thế phát triển của thời đại
2.1.2 Đường lối đổi mới của Đảng
Đường lối đổi mới đất nước đã chính thức được đề ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), sau đó được điều chỉnh, bổ sung tại Đại hội VII (6/1991), Đại hội VIII (6/1996) và Đại
hội IX (3/2000) Đảng ta đã khẳng định: “Đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng,
là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với đất nước ta Đổi mới đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội không phải là đổi mới mục tiêu chủ nghĩa xã hội, mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp” [93, tr.64] Theo quan điểm của Đảng, “công cuộc đổi mới phải được tiến hành toàn diện, đồng bộ về tư duy, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đường lối đối nội, đối ngoại, trong đó đổi mới kinh tế làm trọng tâm” [93, tr.65]
Đường lối đổi mới do Đảng vạch ra đã mau chóng đi vào cuộc sống, phù hợp với ý nguyện của nhân dân, thực tiễn của đất nước và xu thế phát triển chung của thế giới Đường lối đổi mới của Đảng đã được cụ thể hóa trong nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ IV (1986) Trên cơ sở đó, thảo luận và đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế phù hợp với
thực tế của tỉnh thời kì đổi mới là: “lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng, đặc biệt là chế biến nông sản, thực phẩm hàng xuất khẩu, khai thác vật liệu xây dựng, tạo thêm việc làm và sử dụng cho hết lực lượng lao động, ổn định và tăng dần mức sống cho nhân dân, tăng tích lũy để tái sản xuất mở rộng Vận dụng nhuần nhuyễn hơn nữa cơ chế quản lý ứng dụng kịp thời có hiệu quả những tiến bộ khoa học
kỹ thuật, phát huy tinh thần cách mạng tiến công, khai thác mọi khả năng, tiềm năng sẵn có Nhằm đưa sự nghiệp cách mạng của tỉnh nhà tiến lên một bước mới toàn diện, vững chắc hơn, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [9, tr.13]
Trang 37Đường lối đổi mới của Đảng và các Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh tiếp tục được
cụ thể, bổ sung trong các Nghị quyết V, VI, VII, VIII của Đảng bộ tỉnh trong các nhiệm kỳ
Như vậy, dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX và các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV, V, VI, VII, VIII thông qua các lần Đại hội đại biểu đã cụ thể hóa thành phương hướng, nhiệm vụ giải pháp đổi mới phù hợp thực tiễn Tỉnh nhà Vận dụng sáng tạo và cụ thể hóa đường lối đổi mới phù hợp với tình hình địa phương là cơ sở nền tảng đầu tiên mang lại những thành tựu to lớn trong thời kỳ đổi mới của Đảng bộ và nhân dân tỉnh
An Giang
2.2 Chuyển biến về kinh tế tỉnh An Giang từ năm 1986 đến năm 2005
2.2.1 Trong nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản
2.2.1.1 Nông nghiệp
An Giang là tỉnh nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long, phần lớn đất đai thuộc loại màu
mỡ, có 68% diện tích thuộc vùng tứ giác Long xuyên Dân cư phân bố tự nhiên không hợp lý, tập trung ở các huyện cù lao như Chợ Mới, Phú Tân, Tân Châu và thưa thớt ở Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên Do vậy tập quán xâm canh và quảng canh ảnh hưởng sâu sắc đến phương thức canh tác của nông dân
Đến năm 1987, Đảng bộ An Giang tập trung đổi mới tư duy về các vấn đề kinh tế - xã hội nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng Từ sau khi thực hiện chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa V và quán triệt các văn kiện của Đại hội VI của Đảng; An Giang xây dựng Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ IV (tháng 10/1986), Đại hội đánh dấu bước mở đầu cho
sự nghiệp đổi mới Quán triệt quan điểm “lấy dân làm gốc”, “dân giàu nước mạnh”, và chuyển nền kinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; nông nghiệp được xác định là nền tảng và là mặt trận hàng đầu, nông dân là chủ thể của quá trình đổi mới và nông thôn là địa bàn chiến lược Tư tưởng này được gọi là:
“Tư tưởng tam nông”, hay chính “sách tam nông” của An Giang
Tổng diện tích gieo trồng từ 306.463 ha/1987 tăng lên 508.196 ha/2000, tăng 65,82%, bình quân tăng 5,06%/năm Năng suất lúa bình quân từ 3,36 tấn/ha/1987 lên 5,58 tấn/ha/2000 tăng 1,66 lần Một trong những nguyên nhân đạt được là do đẩy mạnh phát triển hệ thống thủy lợi, đặc biệt
là vùng tứ giác Long xuyên với cá công trình kênh T4, T5, T6 và các đập Tha La, Trà Sư, ngoài nhiệm vụ thoát lũ, ngăn lũ đầu mùa nhằm bảo vệ an toàn lúa Hè Thu các kênh T4, T5, T6 còn đưa
Trang 38nước phù sa rửa phèn vùng giáp ranh tỉnh Kiên Giang, góp phần làm gia tăng diện tích, năng suất
và sản lượng lúa Đây là thời kỳ công tác thủy lợi được đẩy mạnh, tổng khối lượng đào đắp là 141.925.939m3, bình quân hàng năm đào đắp 10,13 triệu m3, gấp 1,75 lần so với giai đoạn trước
là 5,76 triệu m3/năm; tương dương 15.663,4 km chiều dài với tổng kinh phí đầu tư là 684,99 tỷ đồng
Nếu như năm 1976 sản lượng lúa toàn tỉnh chỉ có 508.400 tấn thì đến năm 1986 tổng sản lượng lương thực là 902.635 tấn Năm 1988 An Giang lần đầu tiên đạt 1 triệu tấn và đấn năm 2000 tăng lên 2.379.907 tấn Bình quân lương thực đầu người năm 1976 có hơn 340kg tăng lên 1.145kg/năm Hệ số sử dụng ruộng đất từ 1,06 lần/1976 tăng lên 2,02 lần/2000, trong đó diện tích sản xuất 3 vụ tăng lên đáng kể, từ trên 300 ha/1981 lên 21.000 ha/2000 Diện tích các loại hoa màu, cây công nghiệp giữ ổn định ở mức 45.000 ha Tuy nhiên, từ năm 1992 đến nay đã có chuyển biến về cơ cấu Diện tích bắp lai tăng từ 1.600 ha/1992 lên 3.158 ha/2000; rau dưa các loại có khuynh hướng phát triển
Giai đoạn 1996 – 2000, có sự chuyển biến rõ nét về chuyển dịch cơ cấu cây trồng: tỷ lệ giá trị cây lúa giảm dần, từ hơn 74% năm 1996, xuống còn 68% năm 2000; cây màu đã tăng tỷ lệ giá trị trong cơ cấu ngành từ 15,85% năm 1996 lên đến 18,21% năm 2000 [2, tr.31]
Chăn nuôi có phát triển nhưng chậm, do chưa ổn định giá thức ăn và giá thịt trên thịt trường, sản lượng thịt xuất chuồng hàng năm trên dưới 20.000 tấn Riêng đàn bò phát triển đều hàng năm Nhìn chung giai đoạn 1996 – 2000 tổng đàn trâu, bò ổn định ở mức 40.000 con [2, tr.31]
Xuất khẩu nông sản và nhập khẩu phục vụ sản xuất ngày càng tăng Xuất khẩu từ 30 triệu USD/1987 lên 60 triệu USD/ 1989 và 111 triệu USD/1992 Đặc biệt, từ năm 1992 tỉnh đã xuất khẩu đạt từ 250 – 460 ngàn tấn gạo/năm Riêng 4 năm 1991 – 1994, kim ngạch xuất khẩu đạt trên
330 triệu USD, tăng gấp nhiều lần so thời kỳ 1981 – 1986, trong đó xuất khẩu gạo vẫn là chủ yếu, các mặt hàng nông sản xuất khẩu khác cũng ngày càng tăng về số lượng và chất lượng
Giai đoạn này tốc độ tăng trưởng bình quân ngành nông nghiệp đạt 1,96%, chiếm 42,79% trong tổng cơ cấu GDP toàn tỉnh Tổng giá trị GDP ngành nông nghiệp (theo giá hiện hành) năm
1996 là 3.062 tỷ đồng, tăng lên 5.431 tỷ đồng vào năm 2000 (tăng 1,77 lần)
Thời kỳ 2001 – 2005, trồng trọt vẫn là cây lúa, cơ cấu giá trị sản xuất chiếm trên 51%; nguyên nhân chính là trong những năm gần đây (2002 – 2004) giá lúa luôn ổn định và ở mức cao; đặc biệt năm 2004 giá vẫn còn có lợi nhiều cho nông dân, nên diện tích, năng suất năm 2004 tăng
Trang 39mạnh; sản lượng lúa lần đầu tiên vượt qua ngưỡng 3 triệu tấn/năm, tiếp tục dẫn đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (vượt 600.000 tấn – 700.000 tấn so với Nghị quyết tỉnh Đảng bộ lần thứ VII
đề ra) Cây màu (bắp, đậu, nành, mè) tốc độ có tăng nhưng chưa nhiều
Chăn nuôi: đàn heo và đàn bò trong ba năm gần đây liên tục tăng, đàn bò đang có nhiều hướng phát triển rất mạnh, tổng đàn trâu, bò đến cuối năm 2004 là 66.703 con, chương trình sinh hóa đàn bò tính đến cuối năm 2005 ước đạt 12.500 con/52.832 con các loại, đạt tỷ lệ 23,65% [2, tr.32]; riêng gia cầm trong năm 2004 giảm rất nhanh do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm
Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2005 ước đạt 8.983 tỷ đồng, tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2001 – 2005 là 8,24% so giai đoạn 1996 – 2000 chỉ tăng 3,05% Trong đó: nông nghiệp về cơ cấu nội ngành thì chưa có sự chuyển dịch lớn, cơ cấu giá trị sản xuất vẫn còn cao, chiếm trên 81% giá trị sản xuất nông – lâm - thủy sản Thu nhập bình quân đầu người trong lĩnh vực nông – lâm - thủy sản ước đạt 2,6 triệu đồng/2005 Sản lượng hàng hóa các mặt hàng xuất khẩu đều tăng qua các năm; riêng mặt hàng gạo năm 2001 tuy có giảm nhưng không nhiều Giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu có khuynh hướng tăng nhanh, năm 2004 kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản ước đạt 223,465 triệu USD, đứng thứ năm /13 tỉnh, thành khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, tăng gấp 2 lần giá trị xuất khẩu năm 2001 (107,556 triệu USD)[2, tr.33]
Về công tác khuyến nông, hoạt động khuyến nông ở An Giang ra đời từ năm 1988 với tên
gọi là chương trình khuyến nông, đến tháng 04/1995, Trung tâm khuyến nông An Giang chính thức được thành lập Các hoạt động khuyến nông trong thời gian qua chủ yếu chú trọng đến việc chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật đến với nông dân thông qua các chương trình trọng tâm theo chủ trương, chính sách của tỉnh
Bên cạnh đó nền nông nghiệp thường xuyên phối hợp với các cơ quan nghiên cứu, viện, trường, doanh nghiệp, ban ngành đoàn thể, báo đài để tổ chức triển khai thực hiện các chương trình khuyến nông đến tận nông dân Bộ máy hoạt động khuyến nông hiện nay được hình thành từ cấp tỉnh đến tận cơ sở Nhằm mục đích tăng cường sức mạnh phối hợp trong công tác hoạt động khuyến nông, ban điều hành chương trình khuyến nông tỉnh An Giang được thành lập theo kế Quyết định số 158/QĐ.CTUB tỉnh An Giang ngày 21/01/2002 Ban có nhiệm vụ xây dựng chương trình hoạt động theo năm, từng mùa vụ sản xuất và chỉ đạo thực hiện chương trình theo kế hoạch của địa phương
Trang 40Các chương trình hoạt động chính trong những năm qua là: chương trình “3 giảm, 3 tăng” được triển khai từ năm 2002, tính đến vụ Đông xuân 2004 – 2005 đã có 61.015 nông dân tham gia ứng dụng trên diện tích 107.359 ha, đạt 48% diện tích gieo trồng
Kết quả mô hình đã tiết kiệm được 80 – 100 kg giống/ha, sử dụng phân bón cân đối, giảm được số lần phun thuốc bảo vệ thực vật, hạ giá thành sản xuất bình quân xuống còn 720 – 800 đ/kg lúa (so với ruộng không áp dụng là 760 - 900 đ/kg), đồng thời tăng năng suất lúa Nhằm thực hiện
xã hội hóa công tác giống, bắt đầu từ vụ hè thu năm 2000 đến nay đã tổ chức các lớp huấn luyện
“kỹ năng chon – tạo giống lúa” cho nông dân và chương trình này được nhân rộng trong toàn tỉnh, ngoài kinh phí của nhà nước còn có sự đóng góp của các doanh nghiệp theo phương thức: 1 ngân sách tỉnh, 1 ngân sách huyện, 1 kinh phí của doanh nghiệp, đây là một nét mới đột phá trong hoạt động khuyến nông của An Giang Đến năm 2005, An Giang đã triển khai được 140 lớp chọn tạo giống với 3.691 nông dân tham gia, đã có 16 hợp tác xã, 28 tổ liên kết sản xuất, 19 cá nhân và 1 câu lạc bộ nhân giống, với diện tích 2.184 ha, cung cấp được khoảng 9.828 tấn giống xác nhận phục vụ được khoảng 81.900 ha sản xuất lúa hàng hóa trong năm [2, tr.36]
Ngoài ra, đã triển khai chương trình ứng dụng công cụ gieo hàng nhằm thực hiện chương trình “3 giảm, 3 tăng”; đến nay đã có 10.000 công cụ gieo hàng được đầu tư ứng dụng trên 35.000
ha, chiếm 16% so với tổng diện tích canh tác Đối với chương trình công nghệ sau thu hoạch, nhờ thực hiện chủ trương cho vay với lãi suất 0%, trả dần trong 3 năm, đến đầu năm 2005 đã có 154 máy được đầu tư kết hợp với số máy nhân dân tự đầu tư, nâng tổng số máy hiện có lên 1.464 máy
có khả năng sấy 30% sản lượng lúa Hè Thu
Bước đầu hình thành kiên kết với các doanh nghiệp thực hiện dự án phát triển hệ thống giống lúa nguyên chủng và giống xác nhận chất lượng cao” phục vụ sản xuất và tiêu thụ theo nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường
Bên cạnh đó, hoạt động xúc tiến thương mại được phát triển từ 04/2003 nhằm mục đích đưa bản tin giá cả thị trường của các huyện lên mạng Lotus notes và trang web An Giang Thường xuyên phát hành “thông tin giá cả thị trường và sản xuất nông nghiệp” định kỳ vào ngày 1 – 10- 20 hàng tháng, tính đến nay đã phát hành được 45 số với hơn 400 bản Song song đó trang web Nông nghiệp An Giang cũng chính thức ra mắt vào ngày 24/09/2004 nhằm cung cấp nhiều thông tin bổ ích và kịp thời đến nông dân