Chính vì thế hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị vẫn nhanh chóng bị quá tải và xuống cấp nghiêm trọng.Chất lượng đường thấp, mặt đường hẹp, tại các nút giao thông trong giờ cao điểm mật độ xe
Trang 1NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 2
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN ĐỌC DUYỆT
Trang 3
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, tại Hà Nội, giao thông vận tải đô thị (GTVTĐT) đang phát triển
nhanh Chủng loại phương tiện cũng ngày càng đa dạng và phong phú hơn Hệ thống
cơ sở vật chất hạ tầng cho giao thông cũng có nhiều thay đổi Toàn bộ hệ thống đường
xá, cầu, cống đã liên tục được nâng cấp, tại các ngã ba, ngã tư, các nút giao thông đã
được trang bị hệ thống đèn hiệu dải phân luồng Nhiều tuyến đường lớn nhỏ tiếp tục
được qui hoạch, mở rộng hợp lý, đạt yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng, đảm bảo phục
vụ tốt cho các hoạt động lưu thông Bộ mặt giao thông đô thị ở Hà Nội đã và đang thay
đổi từng ngày
Tuy nhiên, quá trình phát triển của GTVTĐT ở Hà Nội thể hiện nhiều bất
cập Xu thế phát triển hiện nay của toàn bộ hệ thống GTVTĐT ở Hà Nội chưa cân đối
và hợp lý Điều này có thể thấy rõ ở sự phát triển thiếu hài hoà giữa số lượng và chủng
loại của các phương tiện giao thông với hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị Hệ thống cơ sở
hạ tầng tuy phát triển nhanh và dần dần được hiện đại hoá nhưng không theo kịp với
tốc độ phát triển nhanh đến mức không thể kiểm soát nổi của các phương tiện giao
thông Với chính sách mở cửa trong nền kinh tế thị trường sôi động, trong những năm
gần đây, số lượng xe cộ, thành phần, chủng loại tăng rất nhanh và rất đa dạng Phương
tiện giao thông cơ giới tư nhân tăng nhanh dẫn đến tình trạng quá tải của các đường
phố Hà Nội đến mức báo động gây trở ngại cho quá trình hiện đại hoá đô thị Theo số
liệu của Phòng Cảnh sát giao thông (Công an TP Hà Nội), riêng trong năm 2006, thành
phố có thêm 580 nghìn xe máy đăng ký mới, nâng tổng số phương tiện trên địa bàn lên
tới 1,7 triệu xe máy, 175 nghìn ô-tô Đó là chưa kể số phương tiện của khoảng 200
nghìn người từ các địa phương khác hiện đang sinh sống, học tập trên địa bàn thủ đô
Trong khi đó, trung bình mỗi năm thành phố chỉ xây dựng được thêm 30-40 km
đường Chính vì thế hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị vẫn nhanh chóng bị quá tải và xuống
cấp nghiêm trọng.Chất lượng đường thấp, mặt đường hẹp, tại các nút giao thông trong
giờ cao điểm mật độ xe tăng vọt gây ách tắc giao thông Số vụ tai nạn giao thông gia
tăng, nồng độ bụi, khí thải, tiếng ồn đã đến mức báo động gây ô nhiễm môi trường
trầm trọng
Trang 4Nút giao thông Kim Liên là một trong những nút giao thông quan trọng của
thành phố Lưu lượng các phương tiện giao thông rất lớn, tình trạng ùn tắc giao thông
thường xuyên xảy ra Viêc bức thiết đặt ra là phải cải tạo lại nút giao thông này phù
hợp với quy hoạch, giải quyết cơ bản tình trạng ùn tắc giao thông cục bộ tại nút, đáp
ứng nhu cầu phát triển giao thông của thành phố trong tương lai
Trước thực trạng giao thông như vậy thì giải pháp khắc phục mang lại hiệu quả
về nhiều mặt là xây dựng hệ thống giao thông ngầm.Việc xây dựng hệ thống giao
thông ngầm có ý nghĩa rất lớn trong giải quyết vấn đề giao thông đô thị, cho phép sử
dụng đất đô thị hợp lý, dành quỹ đất để xây dựng nhà ở, công viên, bồn hoa, khu vực
cây xanh v.v…Tăng cường vệ sinh môi trường đô thị, giảm ách tắc & tai nạn giao
thông, nâng cao khả năng lưu hành của các phương tiện giao thông
Với mục đích như vậy nhiệm vụ đề tài tốt nghiệp của em được giao là ”Thiết
kế kỹ thuật và tổ chức thi công hầm vượt đường bộ" với số liệu của nút giao thông
Kim Liên
Trang 5
PHẦN I:GIỚI THIỆU CHUNG CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC TUYẾN GIAO CẮT
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC GIAO CẮT
CHƯƠNG III: NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN ĐỊA CHẤT KHU VỰC GIAO CẮT
Trang 6CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC TUYẾN GIAO CẮT
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DỰ ÁN
Nút giao thông Kim Liên nằm trong phạm vi hai quận Đống Đa và Hai Bà Trưng,
là giao cắt giữa đường trục Lê Duẩn - Giải Phóng và đường vành đai 1 đoạn Kim Liên
- Đại Cồ Việt Nút giao thông Kim Liên được coi là một trong những cửa ngõ chính
vào Thành phố
Nút Kim Liên thuộc phạm vi của các phường Bách Khoa, Lê Đại Hành thuộc quận
Hai Bà Trưng và phường Kim Liên thuộc quận Đống Đa Xung quanh nút có một số
cơ quan, trường học lớn của Thành phố : ĐH Bách Khoa, Khách sạn Kim Liên, Công
viên Lênin, nhà máy ôtô 3-2
Nút giao thông Kim Liên là một trong mười dự án thành phần của dự án phát triển
cơ sở hạ tầng đô thị thành phố Hà Nội giai đoạn 1
Các dự án phát triển phát cơ sở hạ tầng được lựa chọn thực hiện trong giai đoạn 1 từ
danh sách các dự án phát triển khu vực là :
1 Dự án cải tạo nút giao thông Kim Liên
2 Dự án cải tạo nút giao thông Ngã Tư Vọng
3 Dự án cải tạo nút giao thông Ngã Tư Sở
4 Dự án cải tạo nút giao thông Nam Cầu Thăng Long
5 Dự án cải tạo đoạn đường đê từ cầu Thăng Long đến đường vành đai 2 (Đê
Hữu Hồng)
6 Dự án cải tạo đường vành đai 1, đoạn Kim Liên - Ô Chợ Dừa
7 Dự án cải tạo đường vành đai 1, đoạn Trần Khát Trân
8 Dự án cải tạo đường Láng Trung và đường Liễu Dai
9 Dự án cải tạo đường Hoàng Quốc Việt
Trang 710 Phát triển khu tái định cư phục vụ giai đoạn 1 và khu mở rộng thêm 10 ha
(để kinh doanh đất lấy tiền đối ứng cho dự án vay)
1.2 TUYẾN HIÊN HỮU
9 Nút giao thông Kim Liên hiện tại là nút giao thông cùng mức, được tổ chức
giao thông cưỡng bức bằng đảo tròn Hiện trạng các đường dẫn vào nút như
sau:
Phía Nam: Đường Giải Phóng, rộng 42m Gồm 4 làn xe cơ giới và hai
làn xe thô sơ, ở giữa có dải phân cách trung tâm rộng 3m
Phía Bắc: Đường Lê Duẩn, rộng 21m Lòng đường rộng 15m được chia
làm hai chiều Không có sự phân biệt rõ ràng giữa làn xe thô sơ và làn xe
cơ giới
Phía Đông: Đường Đại Cồ Việt, rộng 50m, 4 làn xe cơ giới và hai làn xe
thô sơ, ở giữa có dải phân cách trung tâm rộng 3m
Phía Tây: Đường Kim Liên - Trung Tự (mới), rộng 50m, gồm 4 làn xe
cơ giới, 2 làn xe thô sơ, dải phân cách trung tâm rộng 3m
9 Kết quả phân tích năng lực thông hành Z cho thấy hầu hết các hướng vào nút,
hệ số Z đều >1 ( vượt quá trị số cho phép là 0,85 ), vì vậy ùn tắc giao thông rất
dễ xảy ra
9 Dòng xe chạy thẳng lớn, dòng xe rẽ trái lớn, số lượng các điểm xung đột nhiều
9 Dòng xe rẽ trái từ Kim Liên - Trung Tự ra đường Lê Duẩn và từ đường Đại Cồ
Việt ra đường Giải Phóng thường không chạy vòng qua đảo giao thông theo qui
định mà rẽ trái ngay trước khi vào nút gây ra tình trạng giao thông lộn xộn cản
trở lưu thông của các dòng xe khác, tăng số lượng các điểm xung đột
9 Tuyến đường sắt chạy song song với đường Lê Duẩn - Giải Phóng gây ảnh
hưởng lớn đến lưu thông qua nút, đặc biệt là khi có tầu chạy qua Đây là một
trong những nguyên nhân chính gây ùn tắc
Trang 8mặt cắt ngang đường Đại Cồ Việt
mặt cắt ngang đường Giải Phóng
Nhà máy ô tô 3-2 Trường đại học Bách Khoa
Đường Đào Duy A Phường Kim Liên
mặt cắt ngang đường Kim Liên-Trung Tự
4m 7,5m 1m
7,5m 3m
7,5m 1m
7,5m
65m
10m 42m
51,3m
21m
mặt cắt ngang đường lê duẩn
Hỡnh : Mặt cắt ngang hiện trạng cỏc đường nối vào nỳt Kim Liờn
1.3 LƯU LƯỢNG VÀ DỰ BÁO GIAO THễNG QUA NÚT
Trong dự ỏn quy hoạch tổng thể giao thụng TP Hà Nội, tổ chức JICA - Nhật Bản
cú đưa ra kết quả điều tra lưu lượng xe năm 1999 và dự bỏo đến năm 2015 tại nỳt Kim
Liờn như sau:
Trang 9Bảng: Kết quả điều tra lưu lượng xe năm 1999 và dự báo năm 2015 tại nút KL
Xe máy
Xe đạp
Xe qui đổi
Ô tô các loại
Xe máy
Xe đạp
Xe qui đổi
Theo các số liệu đặc trưng nhất về lưu lượng hiện tại theo số liệu khảo sát của công
ty Tư vấn Đầu Tư Xây Dựng GTCC Hà Nội tháng 3-1999
- Tổng số xe con qui đổi là 10998xe/1giờ cao điểm
- Hướng chạy nhiều nhất là hướng chạy thẳng từ đường Lê Duẩn ra đường Giải
Phóng là 2363 xe, chiếm 22% tổng lượng xe qua nút
- Hướng xe chạy thẳng từ Đại Cồ Việt đi Kim Liên - Trung Tự là 2114xe,
chiếm 19%, hướng ngược lại từ Kim Liên - Trung Tự đi Đại Cồ Việt là 16%
- Hướng rẽ trái lớn nhất là hướng rẽ từ Đại Cồ Việt đi Giải Phóng, 912xe,
chiếm 8%
- Nếu phân tích cho từng loại xe thì 2 hướng chạy thẳng trên trục đường Giải
Phóng - Lê Duẩn và Kim Liên - Trung Tự đều chiếm tỷ lệ cao
Từ những phân tích trên ta thấy cần phải xây dựng nút giao thông khác mức Đây
là căn cứ để đưa ra phương án chọn
Cải tạo nút giao thông Kim Liên để trở thành một mắt xích quan trọng điều tiết
lưu lượng giao thông vành đai 1 theo trục Đông – Tây và điều tiết lưu lượng giao
thông trục đường Lê Duẩn – Gải Phóng ra vào thành phố
Nằm trong hệ thống đường nội thành Hà Nội, đường vành đai 1 có chiều dài
khoảng 9Km, với vị trí vai trò là đường vành đai của thành phố, đường vành đai 1
Trang 10được UBND TP Hà Nội qui hoạch và có kế hoạch xây dựng từ năm 1960, nhưng cho
đến nay chưa hoàn thành do việc di dân giải phóng mặt bằng chưa được giải quyết
Trong khi đó, với tình hình đi lại ngày càng tăng, nhất là trên hướng Đông-Tây
Việc thiếu một vành đai nối các trục hướng tâm của thành phố với khu vực Tây Nam
đã tạo nên một áp lực giao thông nặng nề lên các trục hướng tâm Hầu hết các trục
hướng tâm ở phía Nam và Tây Nam như quốc lộ 1A-Giải Phóng, quốc lộ 6-Tây
Sơn-Tôn Đức Thắng…Sau khi xây dựng đường vành đai 1 (Kim Liên-Ô Chợ Dừa) sẽ góp
phần giải toả áp lực hướng tâm lên các trục hướng tâm, góp phần thông thoáng khu
vực Nam và Tây Nam Hà Nội Đồng thời tăng mạnh áp lực giao thông cho nút giao
thông Kim Liên
Việc cải tạo nút giao thông Kim Liên này cùng với việc thông suốt đường vành đai
1 sẽ góp phần giải quyết các khó khăn trên Việc áp dụng xây dựng theo qui mô, qui
hoạch và các tiêu chuẩn Quốc tế sẽ góp phần tạo nên bộ mặt hiện đại của Thủ Đô
trong tương lai
Đường vành đai 1 với qui mô mặt cắt rộng 37m với đầy đủ các thành phần của mặt
cắt ngang được lập trên cơ sở nhu cầu giao thông dự báo trong tương lai
Như vậy khi đường Kim Liên-Trung Tự-Ô Chợ Dừa xây dựng xong thì nút Kim
Liên lại là một mắt xích quan trọng điều tiết lưu lượng giao thông cho tuyến này
Trang 11CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC GIAO CẮT
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI
2.1.1 Dân số và việc làm ở thành phố Hà Nội
Dân số năm 1999 là 2.672.125 người , trong đó
- Nam chiếm 49,5% , Nữ chiếm 50,5%
- Dân số thành thị chiếm 57%
- Nông thôn chiếm 43%
Đến năm 2000 , DS đô thị thủ đô HN và các đô thi xung quanh trong phạm vi
nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch chung Khoảng 4 - 4.5 triệu người , trong đó quy mô
DS nội thành của thành phố HN là 2,5 triệu người và quy mô dân số các đô thị xung
quanh khoảng 1,5 – 2 triệu người
Dự báo về dân số và việc làm:
Tỷ lệ tăng trung bình DS hàng năm là : 2,48% (từ 1998 đến 2005)
2,11% (từ 2005 đến 2020)
Các dự báo DS cho năm kiểm soát trung gian 2010 , 2020 được nội suy từ các năm
khác , các ước tính đó được điều chỉnh trong bảng II.1
Bảng II.1 : Điều chỉnh về dân số và việc làm trong tương lai (ĐV.nghìn)
Trang 12Bảng II.2: Dự báo dân số việc làm của quận (Đ.v : Nghìn)
Dân
số
Việc làm
Dân
số
Việc làm
Dân
số
Việc làm
Dân
số
Việc làm
Dân
số
Việc làm
số thuộc phạm vi trên 500.000 dân , theo 20 TCN - 104 - 83 thì đó là một Đô thị đặc
biệt (xếp Loại I)
Trang 132.1.2 Tăng trưởng GDP
Trong những năm gần đây gia tăng GĐP đầu người ở Hà Nội tăng hơn 9% mỗi
năm Tỷ lệ gia tăng này được coi là không thể giữ được trong tương lai xa và hiện tại
sẽ đưa tốc độ gia tăng thấp hơn nhiều
Các ước tính sự gia tăng GĐP đầu người ở HN là 7% tới năm 2002 , 8,8% từ năm
Sản lượng công nghiệp dự báo sẽ tăng 8,1% mỗi năm trong giai đoạn 1998 – 2005
và phục hồi lại mức giai đoạn 2005 – 2010 , ước tính khoảng 14,3% mỗi năm và sau
đó là một con số vừa phải 11,5%
Trang 142.1.3.4 Xuất nhập khẩu
Bảng II 5: Thống kê hoạt động xuất nhập khẩu của một số năm :
Giátrị kim ngạch xuất khẩu (103USD) 755000 1037518 1200000
Giá trị kim ngạch xuất khẩu (103USD) 198797 395504 350000
Bảng II.6 : Dự báo kinh tế cho Hà Nội
1998 2005 2010 2020 Tổng sản phẩm nội địa với mức giá so sánh
Trang 15Tất cả các
ngành
Tỷ đồng
Trang 16Khu vực nút xung quanh nút giao là địa hình đồng bằng, cạnh nút giao là hồ Bảy
Mẫu Đại bộ phận diện tích Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng
với độ cao trung bình từ 5m đến 20m so với mực nước biển Địa hình của Hà Nội thấp
dần từ bắc xuống nam và từ tây sang đông Điều này được phản ánh rõ nét qua hướng
dòng chảy tự nhiên của các dòng sông chính chảy qua Hà Nội Dạng địa hình chủ yếu
của Hà Nội là dạng địa hình đồng bằng được bồi đắp bởi các dòng sông với các bãi bồi
Trang 17hiện đại, bãi bồi cao và các bậc thềm Xen giữa các bãi bồi hiện đại và các bãi bồi cao
còn có các vùng trũng với các hồ đầm ( dấu vết của các lòng sông cổ)
2.3 TÌNH TRẠNG GIAO THÔNG
2.3.1 Những đặc điểm của giao thông đô thị Hà Nội
2.3.1.1 Biến động giao thông vào các giờ trong ngày
Giao thông thành phố Hà Nội gồm 2 giai đoạn cao điểm nổi vào buổi sáng và buổi
chiều :
- Sáng : giữa 7h và 9h theo chiều đi vào thành phố Lưu lượng giao thông tối
đa vào giờ này tương tương 13,4% lưu lượng giao thông hàng ngày theo chiều
đi vào thành phố
- Chiều : từ 4h đến 7h theo chiều đi ra thành phố Lưu lượng giao thông tối đa
vào giờ này tương tương 11,8% lưu lượng giao thông hàng ngày theo chiều ra
vào thành phố
+ 10h tối đến 6h sáng , lưu lượng chiếm 5% lượng giao thông hàng ngày
2.3.1.2 Tốc độ đi lại
Tốc độ xe máy gần như bằng tốc độ xe hơi
Tốc độ chạy của xe máy không lớn hơn 40 km/h
Tốc độ của xe đạp không lớn hơn 13 km/h
Xe buýt , nói chung mỗi km vào giờ cao điểm bị chậm hơn 30 giây đến 40 giây so
với xe con
2.3.2 Hiện trạng giao thông khu vực
2.3.2.1 Vị trí nút giao
Nút giao thông Kim Liên nằm trong phạm vi của hai Quận Đống Đa và Quận Hai
Bà Trưng là giao cắt giữa đường trục xuyên tâm Lê Duẩn – Giải Phóng và đường vành
đai 1 Kim Liên - Đại Cổ Việt Nút giao thông Kim Liên được coi là một trong những
cửa ngõ chính đi vào trung tâm thành phố
Trang 18Nút Kim Liên thuộc phạm vi của các phường Bách Khoa , Lê Đại Thành thuộc
quận Hai Bà Trưng và phường Kim Liên thuộc quần Đống Đa , Hà Nội Xung quanh
nút có một số cơ quan , trường học của thành phố, như trường ĐHBK.HN, trường
ĐHXD.H, khách sạn Kim Liên , công viên Lê Nin , nhà máy Ôtô 3 – 2
2.3.2.2 Hiện trạng
Nút giao thông Kim Liên hiện nay là nút giao thông cùng mức , được tổ chức giao
thông cưỡng bức bằng đảo và đèn điều khiển Hiện trạng các đường dẫn vào nút như
sau :
- Phía Nam : Đường Giải Phóng , rộng 42m Gồm 4 làn xe cơ giới và 2 làn xe
thô sơ , ở giữa có giải phân cách rộng 3m
- Phía Bắc : Đường Lê Duẩn , rộng 21m Lòng đường rộng 15m được chia làm
hai chiều Không có sự phân biệt rõ rệt giữa hai làn xethô sơ và cơ giới
- Phía Đông : Đường Đại Cổ Việt , rộng 50m với 4 làn xe cơ giới và 2 làn xe
thô sơ ỏ giữa có giải phân cách trung tâm rộng 3m
- Phía Tây : Đường Kim Liên – Trung Tự (mới) , rộng 50m với 4 làn xe cơ
giới và 2 làn xe thô sơ ở giữa có giải phân cách trung tâm rộng 3m
Tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy song song với trục đường Lê Duẩn – Giải Phóng
gây ảnh hưởng lớn đến việc lưu thông của nút , đặc biệt là khi có xe lửa chạy qua.Đây
là một nguyên nhân chính gây nên ùn tắc giao thông mặc dù hiện nay đường sắt chỉ có
tuyến tàu chạy không vào giờ cao điểm
2.3.3 Định hướng phát triển hệ thống giao thông thành phố Hà Nội đến năm 2020
Phát triển hệ thống giao thông phải đảm bảo các nguyên tắc chung như sau :
- Cơ sở hạ tầng giao thông phải được ưu tiên phát riển đồng bộ với các công
trình kỹ thuật hạ tầng khác để hình thành cơ cấu quy hoạch thành phố hoàn
chỉnh nhằm phục vụ một cách có hiệu quả các hoạt động kinh tế , xã hội có
hiệu quả của thủ đô
- Đất xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông bao gồm cả hệ thống giao thông công
Trang 19- Việc phát triển giao thông vận tải của thủ đô phải lấy phát triển vận tải hành
khách công cộng làm khâu trung tâm , đảm bảo tỷ lệ vận tải hành khách công
cộng đến năm 2010 là 30% và đến năm 2020 là 50% số lượng hành khách
Đường bộ
- Cải tạo và mở rộng các tuyến quốc lộ vào thành phố : Quốc lộ 1, Quốc lộ 2,
Quốc lộ 3, Quốc lộ 5, Quốc lộ 6, Quốc lộ 18, và Quốc lộ 32 Xây dựng hoàn
chỉnh đường cao tốc Láng Hoà Lạc
- Hoàn thành xây dựng các tuyến đường vành đai số 1 , số 2 và số 3 đồng thới
cần nghiên cứu để mở rộng vành đai 4
- Cải tạo, nâng cấp các tuyến đường hiện có trong thành phố, đặc biệt là cải tạo,
mở rộng các hành lang giao thông và các nút như: đường Tây Sơn với nút
Ngã Tư Sở ; Đường Lê Dủn với nút Ngã Tư Vọng; đường La Thành với nút
Kim Liên, nút Ô Chợ Dừa, nút Cầu Giấy; đường Trần Quang Khải với nút
đầu cầu Chương Dương; đương Đại La, Bạch Mai với nút Ngã Tư Vọng ;
đường Hoàng Hoa Thám, Thụy Khuê với nút ngã tư Bưởi; đường Quang
Trung - đương Nguyễn Chí Thanh - Liễu Dai - Hoàng Hoa Thám; đồng thời
cải tạo, chỉnh trang mạng lưới đường tại các khu phố cổ và các khu phố cũ
- Bổ xung thêm các tuyến đường tại các khu phố có mật độ đường thấp
- Xây dựng hoàn chỉnh và hiện đậi mạng lưới đường kết hợp đồng bộ với các
công trình hạ tầng kỹ thuật khác tại các khu phát triển mới
- Bố trí đồng đều hệ thống bãi đố xe , các điểm đầu , điểm cuối và điểm dừng
của mạng lưới xe buýt , đảm bảo cự ly trung bình từ các khu chức nằng tới
các điểm đỗ và đầu trên tuyến vận tải công cộng khoảng từ 500m đến 600m
Xây dựng các bến xe liên tỉnh như : Gia Lâm , Giáp Bát , Mai Dịch , Đông
Anh
- Ngoài các cầu Thăng Long và cầu Chương Dương , xây dựng lại cầu Long
Biên xây dựng mới cầu Thanh Trì và các cầu khác qua sông Hồng , đảm bảo
đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của Thủ đô ở cả phía Nam và phía Bắc
Trang 20Đường sắt
- Đối với hệ thống đường sắt quốc gia , giữ nguyên hệ thống đầu mối phía Tây
thành phố ; xây dựng mới đoạn Văn Điển - Cổ Bi ( đi qua cầu Thanh Trì ) sau
đó vượt sông Đuống ở trạm bơm Bối Vàng và đi lên ga Bắc Hồng , tránh khu
di tích Cổ Loa
- Hoàn trỉnh hệ thống ga đường sắt , trong đó có ga Phú Diễn , Hà Đông , Việt
Hưng, Giáp Bát, Gia Lâm, Yên Viên, Bắc Hồng, Vân Trì; trong đó, các ga Cổ
Bi, Yên Viên, Việt Hưng, Bắc Hồng là những ga lập tàu hàng và các ga Giáp
Bát, Gia Lâm, Phú Diễn là ga lập tàu khách
- Ưu tiên xây dựng hệ thống đường sắt đô thị , tuyến xe buýt nội đô để tạo nên
những trục chính của mạng lưới vận tải hành khách công cộng của Thủ đô ,
bao gồm cả đi trên cao và đi trên mặt đất
- Cần chú trọng tổ chức và xây dựng các trung chuyển hành khách có lưu lượng
lớn và hiện đại như ga Hàng Cỏ và ga Nội Bài
Hàng không
- Mở rộng và hoàn chỉnh sân bay Nội Bài Xây dựng các xân bay Gia Lâm,
Bạch Mai, Hoà Lạc là các xân bay nội địa Trong tương lai xây dựng thêm
xân bay quốc tế Miếu Môn
Đường sộng
- Tiến hành nạo viét , tiến tới kênh hoá Sông Hồng ; nâng cấp các cảng Hà Nội,
Khuyến Lương, đồng thời mở thêm các cảng Vạn Kiếp , Thượng Cát
2.3.4 Các qui hoạch và chiến lược phát trển tổng thể liên quan đến dự án
2.3.4.1 quy hoạch các khu đô thị, khu công nghiệp tập trung
Khu vực nội thành :
- Khu vực này được giới hạn bởi vành đai 2 và đê Sông Hồng Khu vực nay có
diện tích là 3.4557 ha và dân số hiện tại là 0,9 triệu người với mật độ dân số là
253 người/ha Khu vực này có trức năng là trung tâm kính tế và chính trị của
Trang 21cả nước nhưng nó lại bị ảnh hưởng trực tiếp của việc đô thị hoá một cách
nhanh chóng sau khi có chính sách đổi mới
- Quy hoạch tổng thể năm 2020 có dự kiến phân bố lại các chức năng đô thị
trung tâm từ khu vực này sang các khu vực khác trong khu vực phía Nam và
phía bắc Hà Nội cúng như các đô thị xung quanh mặc dù chúng sẽ tiếp tục
đóng vai trò là trung tâm thương mại (CBD) Bằng các biện pháp làm giảm
dân số trong khu vực nội thành , khu vực nội thành có thể mang nhiều đặc
trưng hơn của một khu CBD và dân số vào thời gian ban ngày có thể cao hơn
Các đô thị mới nằm giữa Vành đai 2 và Vành đai 3 : các khu đô thị mới này
được quy hoạch thành các khu vực nhằm đáp ứng sự gia tăng dân số tự nhiên và xã hội
ở Hà Nội cũng như là để phục vụ việc thực hiện di dân từ nội thành ra Một số khu
vực phát triển nằm trong quy hoạch của các vùng Nam Thăng Long , Mỹ Đình và Mễ
Trì , Yên Hoà và Trung Hoà , Linh Đàm Ngiã Đô là một trong những khu trung tâm
phát triển được xác định rõ trong Quy hoạch tổng thể năm 2020 , đóng vai trò là trung
tâm thương mại phụ có chức năng như trung tâm thương mại chính và thương mại nhỏ
và sẽ là trung tâm hành chính của Nam Thăng Long
Khu đô thị mới ngoài Vành đai 3 : Theo quy hoạch tổng thể của năm 2020 thì
khu này là khu dân cư hỗn hợp và các khu không gian cây xanh mở rất rộng lớn nhưg
việc xây dựng khu đô thị này sẽ được tiến hành ở giai đoạn sau khi mà khu vực ở trên
đã được đô thị hóa , mặc dù khu vực nằm dọc từ Quốc lộ 6 đến Hà Đông đã và đang
được xây dựng
2.3.4.2 Các chiến lược phát trển tổng thể liên quan đến dự án
2.3.4.2.1 Hệ thống giao thông đường bộ
Các đường vành đai : Quy hoạch tổng thể đến năm 2020 dự định sẽ xây dựng và
phát triển các đường vành đai có chức năng phân bố giao thông vào nội thành từ các
đường trục chính hướng tâm
9 Đường vành đai 1 :
- Chức năng : Đường này đã là giới hạn của thành phố cũ hiện nay với
Trang 22trực tiếp từ đê sông Hồng tới sông Tô Lịch Đường vành đai 1 đượnâng cấp xẽ có chức năng là đường khu vực cấp II và phục vụ như
là đường đô thị trên đường ngoại vi của khu vực trung tâm
- Quy mô : Thành phố Hà Nội đã và đang tiến hành nâng cấp đường
vành đai 1 với thời gian và quy mô từng đoạn như sau :
STT Đoạn Thời gian Chiều rộng (m)
3 Kim Liên - Trần Khát Chân 1999 50.0
9 Đường vành đai 2:
Trong QHTT năm 2020 thì đường vành đai này chạy xuyên từ khu vực phía Nam
Hà Nội đến khu vực phía Bắc Hà Nội với 2 cầu bắc qua sông Hồng , trong khi đó
đường vành đai 2 hiện tại nằm trong khu vực phía Nam Hà Nội và đường đê với chức
năng như vành đai bên trong Đường vành đai này nối với tất cả các đường trục chính
hướng tâm của khu vực phía Tây và khu vực phía Nam của thành phố Hà Nội nên vai
trò chủ yếu của nó là kiểm soát lượng giao thông vào/ra khu vực nội thành Đoạn phía
tây của đường vành đai 2 có vị trí quan trọng trong việc phát triển khu đô thị mới
(CBD) ở phía tây Hà Nội , nhằm mục đích khống chế mật độ dân cư ở khu vực nội
thành và bảo tồn không gian khu nội thành hiẹen tại Các đoạn chia phía Nam hiện có
lưu lượng giao thông quá cảnh lớn và sẽ còn tăng lên QL5 được cải tạo sẽ nối liền Hà
Nội với các tỉnh phía Bắc với Cảng Hải Phòng Đường vành đai này cũng được quy
hoạch mở rộng thành 5 đoan , với các phân đoạn như sau :
Trang 23STT Đoạn Chiều rộng (m)
1 Mai Động - Ngã Tư Vọng 35.0
2 Ngã Tư Vọng - Ngã Tư Sở 50.0
Sau khi hoàn thành, đường vành đai này sẽ điều phối lưu lượng giao thông từ các
đường trục chính hướng tâm ở mức độ thứ hai trong khi đường vành đai 3 sẽ có chức
năng là đường phân bổ chính các lưu lượng giao thông từ các đường trục chính hướng
tâm
9 Đường vành đai 3:
Tuyến đường này có một vai trò quan trọng trong viếc hình thành cấu trúc đô thị
trong tương lai ở Hà Nội Đường này có thể đườc chia thành 4 đoạn như sau :
1 Đoạn Cầu Đuống (QL1 - QL5) sẽ được xây dựng với sự trợ giúp của OECF và
ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) , hiện nay đang trong giai đoạn thi công
2 Đoạn Thanh Trì (QL5 - QL1) đã hoàn thành vào tháng 10/1998 do JICA thực
hiện
3 Đoạn Tây Nam (QL1 - QL32) đang được quy hoạch xây dựng và đang tiến
hành lập dự án khả thi và được xây dựng trước Seagame 2003
4 Đoạn phiá Bắc (là đoạn còn lại từ QL32 - QL1 ) cũng có kế hoạch xây dựng
nhưng có thể nói rằng đoạn này có mức độ ưu tiên xây dựng thấp hơn , vì đoạn từ
QL32 đén sân bay Quốc tế Nội Bài vẫn có đủ khả năng lưu thông
Trang 242.3.4.2.2 Phát triển giao thông đường sắt và xe buýt nội đô
Đường sắt quốc gia :
Các tiểu dự án nâng cấp và xây dựng mới hệ thống đường sắt quốc gia đang được
thực hiện với muức độ khẩn cấp thấp , trong đó có mộy số tiểu dự án có liên quan đến
dự án như sau :
1 Xây dựng đường sắt giữ trung tâm Hà Nội với sân bay Nội Bài
2 Nâng cấp hệ thống đường sắt Bắc Nam
3 Nâng cấp hệ thống đường sắt Đông - Tây
4 Nâng cấp hệ thống đường sắt : Tuyến Văn Điển - Cổ Bi qua cầu Thanh Trì
đến sông Đuống - Yên Viên và phía Bắc của Sông Hồng
Đường sắt nội đô :
Theo dự án nghiên cứu khả thi đường sắt đô thị Hà Nội Hành lang được chọn làm
hệ thống đường sắt đô thị được đề xuất trong nghiên cứu này , ở phía Bắc bắt đầu từ
Yên Viên và tới Văn Điển ở phía Nam Tổng chiều dài đoạn này là 19.5 km trong đó :
Từ Văn Điển đến Giáp Bát đường sắt đô thị đi trên mặt đất
Từ Giáp Bát đến Nam cầu Long Biên và từ Gia Lâm đến Yên Viên đường sắt đô
thị đi trên cao
Tuyến xe buýt nội đô :
Trong nghiên cứu Dự án khả thi đường sắt đô thị Hà Nội có đề xuất phương án
xây dựng tuyến đường sắt nội đô với chiều dài khoảng 11 km hướng tuyến như sau :
Hành lang của đường xe buýt bắt đầu từ ga Hà Nội , với bến xe buýt trung chuyển và
một bến cuối tuyến phía trước của ga đường sắt hiện nay sau đó đi trên phố Lê Duẩn ;
hành lang này tiếp tục đi trên tuyến Đông - Tây Khâm Thiên - Ngã tư Ô Chợ Dừa rồi
ngoặt sang phía Nam Hành lang xe buýt sau đó đi theo hướng Nguyễn Lương Bằng
tới ngã tư Chùa Bộc - Thái Hà , từ đó tiếp tục đi dọc theo phố Tây Sơn hướng tây Nam
tới Ngã Tư Sở giao với vành đai 2 là Đường Láng - Trường Chinh Tiếp tục về phía
Nam đường xe buýt đề xuất sẽ sử dụng giải phân cách hiện nay của đường Nguyễn
Trang 25Trãi và đường Trần Phú tới Thị xã Hà Đông Ở phía nam của thị xã và các khu vực
phát triển với mầt độ cao của Hà Đông , đường xe buýt xẽ kết thúc tại ngã tư có tín
hiệu điều khiển bằng đường vào bến xe buýt cuối tuyến phía Nam dự kiến
2.3.5 Dự báo giao thông trong tương lai
Dự báo này dựa trên các cơ sở :
- Sở hữu phương tiện giao thông ở Hà Nội
- Sự gia tăng dân số và thu nhập trong tương lai
- Tốc độ tăng trưởng GDP
- Dựa trên sự so sánh với các thành phố ở Châu Á
Tốc độ tăng trưởng xe được dự báo như sau :
Loại phương Tiện
Mức tăng trưởng hàng năm q (%)
Trang 26CHƯƠNG III: NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN ĐỊA CHẤT KHU VỰC
GIAO CẮT
3.1 MÔ TẢ ĐỊA CHẤT KHU VỰC HẦM
3.1.1 Địa chất khu vực
Địa chất quanh nút tương đối tốt và ổn định Địa chất được xác định thông qua kết
quả khoan khảo sát của hai hố khoan và tham khảo bản đồ địa chất Hà Nội:
- Hố khoan tại nút Kim Liên có: Lớp đất đổ nền, lớp sét dẻo, lớp sét pha cát, cát
xám hạt trung, cát hạt thô, sỏi cuội lẫn cát thô
- Hố khoan phía trường ĐH Bách Khoa có các lớp: Đất đổ nền lẫn gạch đá vụn,
cát pha sét, đất sét dẻo, cát hạt trung, bùn, đất pha cát, cát hạt to, cát lẫn sạn,
cuội sỏi lẫn các ổ cát
Trang 275 0
Cuội sỏi lẫn các ụ cát
Đất đổ nền
Hỡnh 1: Mặt cắt địa chất tại khu vực Bỏch Khoa
Trang 286 1,8
10
30 20
50 40
ChiÒu s©u
Kim Liªn
Trang 29Từ bản đồ chia khu địa chất công trình lãnh thổ Hà Nội theo mức độ thuận tiện cho
xây dựng công trình ngầm, thì khu vực nút giao thông Kim Liên nằm trong khu vực A
– rất thuận tiện cho việc xây dựng các công trình ngầm
Khu này bao gồm các diện tích phân bố dạng nền đồng nhất Khi khảo sát xây
dựng, công tác thu thập các tài liệu địa chất công trình đã có là rất quan trọng Các
khảo sát phụ thêm chỉ nhằm kiểm tra các số liệu hiện có và bổ xung thêm các đặc tính
địa chất công trình liên quan đến thiết kế Công trình có thể đặt tại bất cứ độ sâu nào
trong khoảng 20-30m tuỳ thuộc vào khả năng của các biện pháp thi công và đặc điểm
công trình Khu này đặc biệt thuận tiện cho việc áp dụng phương pháp đào hở, thành
hố đào ổn định ở độ sâu đào lớn Không có mặt nước ngầm, vấn đề chỉ là thoát nước
mặt trong điều kiện thời tiết bất lợi Khu này cũng thuận tiện cho cả phương pháp đào
ngầm
Trang 30Bảng 1: Các chỉ tiêu cơ lí của đất khu vực xây dựng hầm
Trang 313.1.2 Khí hậu:
Khu vực Kim Liên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với hai mùa khí hậu rõ
rệt Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, mùa mưa (mùa nóng) bao gồm những tháng còn
lại trong năm Nhiệt độ trung bình hàng năm bằng 230 - 23,50 Độ ẩm trung bình bằng
80% - 88% Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 (chiếm 80% tổng lượng
mưa) với lượng mưa trung bình hàng năm bằng 1500 - 2000 mm Lượng mưa cực đại
tập trung vào hai tháng 7, 8 với cường độ có khi vượt quá 150 mm/ngày Có khi mưa
liên tục trong nhiều ngày, gây úng lụt nặng, mực nước ngầm dâng cao do ở gần hồ Bảy
Mẫu, vị trí này cũng tương đối thấp của khu vực Hà Nội
Theo kết quả nghiên cứu lập bản đồ ĐCCT - ĐCTV thành phố Hà Nội tỷ lệ
1:50000 của Đoàn 64, Liên đoàn II địa chất thủy văn, thì yếu tố quan trọng nhất gây ra
những ảnh hưởng trực tiếp đến xây dựng các công trình ngầm là chiều sâu mực nước
dưới đất Tính thấm, độ giàu nước của khối đất đá, cũng như sự biến đổi động thái của
nước dưới đất (kể cả các tầng chứa nước ngầm sâu hơn) làm cho hoạt động của nền đất
trở nên rất phức tạp
Trong điều kiện động thái tự nhiên chưa bị phá huỷ, chiều sâu mực nước dưới đất
nhỏ hơn 2m ở các giải ven sông ngòi, nhỏ hơn 2 - 5 m trên đồng bằng và 5 - 10m trên
các sườn đồi núi thấp
Hiện nay, Hà Nội đang khai thác khoảng 445000m3 nước ngầm mỗi ngày từ tầng
chứa nước cát cuội, sỏi dưới sâu và đã hình thành phễu hạ thấp mực nước ngầm với
đường kính bằng 15 - 20km, sâu 23m Điều này đã gây nên hậu quả tháo khô các tầng
chứa nước phía trên do hiện tượng thấm xuyên Mực nước ngầm bị tụt xuống sâu 5-
7m ở khu vực ngoại vi cho đến 14m tại khu vực lấy nước tập trung Khu vực nút giao
thông Kim Liên nằm gần hai nhà máy nước lớn là: nhà máy nước Bạch Mai và nhà
máy nước Ngầm ở Pháp Vân Do vậy mà mực nước ngầm của khu vực này bị hạ thấp
Vào mùa khô khí hậu tương đối tốt có nhiều thuận lợi cho việc xây dựng các công
trình hạ tầng cơ sở Nên ta chọn thời điểm thi công vào mùa này
Trang 32thanh trì
đông anh
c
ít thuận tiện Khu C Tương đối thuận tiện
Rất thuận tiện Khu A
a c
sơ đồ chia khu địa chất công trình
hà nội theo mức độ thuận tiện cho xây dựng công trình ngầm
Trang 333.1.3 Thuỷ văn
Thủ đô Hà Nội nằm trong lưu vực hạ lưu sông Hồng do vậy mực nước ngầm khu
vực này có liên quan mật thiết với mực nước sông Hồng Mực nước cao nhất vào mùa
mưa
Hà Nội có hai hệ thống sông : hệ thống sông Hồng và sông Cầu Sông Hồng chảy
qua Hà Nội theo hướng Đông Nam trên một đoạn dài 20 km Lưu lượng tối thiểu của
sông Hồng bằng 350 m3/s, tối đa bằng 22000m3/s Mực nước của sông Hồng cao nhất
là +14,13m, thấp nhất là 1,73m Mực nước trung bình dao động từ +2,18m (trong mùa
khô) đến +10,18m (trong mùa mưa)
Ngoài ra sông Đuống dẫn nước từ sông Hồng sang sông Cầu và là phân nhánh chủ
yếu của sông Hồng (22,5%)
Hà Nội có nhiều hồ tự nhiên ( Hồ Tây, Quảng Bá, Hoàn Kiếm, Bảy Mẫu, Kim
Liên, Giảng Võ, Thuyền Quang, Trúc Bạch, Pháp Vân, Đầm Vân Trì, Kim Nỗ )
Ngoài ra, trong địa phận thành phố còn có nhiều ao, kênh, sông nhỏ chứa và thoát
nước thải Do có nhiều sông suối, cho nên chế độ sông nước của khu vực Hà Nội rất
phức tạp
Khu vực thành phố Hà Nội có điều kiện ĐCTV khá phức tạp Trong trầm tích đô
thị thành phố Hà Nội có hai tầng chứa nước chính - Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm
tích Holocen và tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen Đặc điểm chung
của các tầng chứa nước là nước dưới đất tồn tại trong các lỗ hổng Nằm giữa hai tầng
chứa nước này là tầng cách nước Pleistocen trên
3.1.3.1 Các tầng chứa nước lỗ hổng
3.1.3.1.1 Tầng chứa nước lỗ hổng Holocen
Tầng này bao gồm thành tạo địa chất aQIV3tb, phân bố khá rộng Trong phần phía
nam sông Hồng chúng tồn tại hầu như khắp vùng trừ khoảnh Cổ Nhuế - Xuân Đỉnh
Tầng này nằm trong phần phía Bắc sông Hồng tại các huyện Gia Lâm, ven sông Hồng
và một số chỏm nhỏ tại Đông Anh Tầng có chiều dầy thay đổi lớn trên bình đồ Chiều
dầy trung bình bằng 10 - 15 m (Đông Anh: 9,17 m; Gia Lâm: 10,1 m; Từ Liêm: 11,28
Trang 34đến 20,87 l/s.m (M3) Đất đá chứa nước, thấm nước tốt, độ dẫn nước từ 20 m2/ngày
(T46-Giáp Bát) đến 1788 m2/ngày (GL5B-Bồ Đề)
Chiều sâu thế nằm mực nước thông thường bằng 2 - 4m, có nơi nông hơn, sát mặt
đất Riêng dải ngoài đê thông thường nằm sâu hơn (5 - 10 m)
Tầng chứa nước Holocen tương đối giàu nước Lưu lượng lỗ khoan từ 2 - 3 l/s Hệ
số thấm k=0,5 - 2,0m/ngày Thành phần hoá học của nước chủ yếu là bicacbonat
canxi; bicacbonat natri, nước nhạt, độ khoáng hoá trung bình bằng 0,24 - 0,5 g/l, độ
cứng toàn phần bằng 6,5 mgđ/l, CO2 tự do bằng 0,16 g/l; CO2 ăn mòn bằng 0,013 g/l
Nguồn cung cấp chủ yếu là nước mưa, nước mặt Nguồn thoát chủ yếu là ra sông,
bay hơi, nước dân dùng và thấm xuống tầng bên dưới qua các cửa sổ ĐCTV Nguồn
gốc nước tàng trữ và vận chuyển trong tầng là nước sông, hồ và nước thuộc miền cung
cấp
3.1.3.1.2 Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen
Tầng áp yếu Pleistocen trên: Tầng này bao gồm thành tạo địa chất aQIII3 vp Tầng
có diện phân bố từ rìa thung lũng và phủ khắp đồng bằng Chiều dầy tầng khá bình ổn
từ 9,97 đến 13,8 m Đất cấu thành tầng chủ yếu là cát thô có lẫn sạn sỏi thuộc tướng
lòng sông.Tầng thuộc loại giàu nước trung bình đến giàu Tỷ lưu lượng lỗ khoan nhỏ
nhất bằng 0,32 l/s.m (N17-Đông Anh) lớn nhất bằng 4,94 l/s.m (T40-Gia Lâm) Đất đá
chứa nước có tính thấm nước trung bình Độ dẫn nước thay đổi từ 56 m2/ngày (Sóc
Sơn) đến 288m2/ngày (T45 Thanh Trì) Chiều sâu thế nằm mực nước thông thường
bằng 2 - 4 m Nguồn cung cấp nước chủ yếu là nước mặt, nước mưa, nước từ tầng
Holocen thấm xuống Nguồn gốc của nước là nước sông thuộc miền cung cấp
Tầng chứa nước lỗ hổng áp lực Pleistocen dưới - trên: Đây là tầng chứa nước sản
phẩm có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với thủ đô Hà Nội Tầng chứa nước thuộc
thành tạo địa chất aQII-III1 hn, aQI lc, phân bố hầu hết khắp đồng bằng (trừ vùng đồi
núi Sóc Sơn) Tại Sóc Sơn chiều dầy trung bình bằng 6,35 - 15,32m Tại Đông Anh
chiều dầy trung bình bằng 3,5 - 7m; vùng giữa huyện bằng 10m; vùng ven sông Hồng
trên 20m Tại Gia Lâm chiều dầy trung bình ổn định hơn và bằng 35,5m Tại Từ Liêm
Trang 35chiều dầy trung bình bằng 3,2 - 3,85m; tại Cổ Nhuế bằng 5,5m Tại Thanh Trì chiều
dầy trung bình bằng 25 - 30m; ven sông Hồng có nơi trên 50m
Đất chứa nước có tính thấm cao và tương đối đồng nhất nhưng do chiều dầy thay
đổi nên độ dẫn nước cũng thay đổi trong phạm vi rất rộng: ven thung lũng bằng
100-600m2/ngày; khu vực trung tâm 700-1000m2/ngày; ven sông bằng 1500-2000m2/ngày
Tầng thuộc loại giàu nước và rất giàu nước có tỷ lưu lượng lỗ khoan thí nghiệm chứa
nước ≥1l/s.m (1-10l/s.m) chiếm 89%-100% Chiều sâu của thế nằm mực nước thông
thường bằng 2 - 4m về mùa khô và bằng 0 - 1m về mùa mưa
Theo kết quả nghiên cứu của đoàn 64, giữa nước dưới đất và nước sông Hồng có
quan hệ mật thiết với nhau Đó là quan hệ hai chiều - mùa khô nước thoát ra sông, mùa
mưa nước sông ngấm vào Tuy nhiên, do ảnh hưởng của công tác khai thác cho nên
trong cả hai mùa tầng đều được nước sông cung cấp
3.1.3.2 Các thành tạo địa chất rất nghèo nước
Lãnh thổ Hà Nội có nhiều thành tạo địa chất nghèo nước hoặc thực tế không chứa
nước từ trên mặt đất gồm các tầng:
9 Tầng cách nước Holocen gồm các thành tạo địa chất hệ tầng Hải Hưng (mQIV
1-2 hh1-2; lb QIV1-2 hh1) lộ ngay ra trên mặt và phân bố rộng rãi ở phần nam sông
Hồng Phía bắc chỉ ở dải ven sông Chiều dầy tầng thay đổi rất lớn từ 0,8 - 6,3m
(Đông Anh), 2-2,8m (Từ Liêm), 2,8 - 11,5m (Thanh Trì), 0,4 - 21,5m (nội
thành), 0,8 - 22,8m (Gia Lâm) Đất cấu thành gồm sét, sét pha, bùn sét có hệ số
thấm trung bình bằng 0,049 m/ngày
9 Tầng cách nước Pleistocen trên bao gồm thành tạo địa chất (aQIV vp) phân bố
hầu khắp Hà Nội(trừ giải cửa sổ ven sông) Chiều dầy trung bình thay đổi từ
5,88 (Sóc Sơn) đến 11,99 (nội thành) Đất cấu thành gồm sét, sét pha, có hệ số
thấm trung bình bằng 0,023 m/ngày
9 Tầng cách nước Pleistocen giữa - trên bao gồm thành tạo địa chất (aQII-III) phân
bố khá rộng rãi nhiều nơi Tuy nhiên, tại các khu vực ven sông tầng bị vát mỏng
Trang 36đột ngột Chiều dầy trung bình của tầng thay đổi trong khoảng 0,4 - 23,7m Tỷ
lưu lượng lỗ khoan hút nước thay đổi từ 0,0002l/s.m đến 0,08l/s.m
3.1.3.3 Đặc điểm chiều sâu mực nước dưới đất
Theo kết quả nghiên cứu lập bản đồ ĐCCT - ĐCTV thành phố Hà Nội tỷ lệ
1:50000 của Đoàn 64, Liên đoàn II địa chất thủy văn, thì yếu tố quan trọng nhất gây ra
những ảnh hưởng trực tiếp đến xây dựng các công trình ngầm là chiều sâu mực nước
dưới đất Tính thấm, độ giàu nước của khối đất đá, cũng như sự biến đổi động thái của
nước dưới đất (kể cả các tầng chứa nước ngầm sâu hơn) làm cho hoạt động của nền đất
trở nên rất phức tạp
Trong điều kiện động thái tự nhiên chưa bị phá huỷ, chiều sâu mực nước dưới đất
nhỏ hơn 2m ở các giải ven sông ngòi, nhỏ hơn 2 - 5 m trên đồng bằng và 5 - 10m trên
các sườn đồi núi thấp
Hiện nay, Hà Nội đang khai thác khoảng 445000m3 nước ngầm mỗi ngày từ tầng
chứa nước cát cuội, sỏi dưới sâu và đã hình thành phễu hạ thấp mực nước ngầm với
đường kính bằng 15 - 20km, sâu 23m Điều này đã gây nên hậu quả tháo khô các tầng
chứa nước phía trên do hiện tượng thấm xuyên Mực nước ngầm bị tụt xuống sâu 5-
7m ở khu vực ngoại vi cho đến 14m tại khu vực lấy nước tập trung
3.2 DỰ KIẾN CẤU TẠO KẾT CẤU VÀ BIỆN PHÁP CÔNG NGHỆ THI CÔNG
CÔNG TRÌNH VƯỢT ĐƯỜNG
Với phân tích địa chất như trên em chọn phương pháp thi công đào hở , kết cấu vỏ hầm đổ
toàn khối tại chỗ
Trang 37PHẦN II: THIẾT KẾ CƠ SỞ
Trang 38PHƯƠNG ÁN I: THẾT KẾ HẦM VƯỢT
I: THIẾT KẾ NÚT GIAO CẮT
II: KẾT CẤU HẦM VƯỢT
III: KẾT CẤU ĐƯỜNG DẪN HAI PHÍA HẦM VƯỢT
IV: KẾT CẤU MẶT ĐƯỜNG XE CHẠY TRONG HẦM
V: HỆ THỐNG PHÒNG NƯỚC VÀ THOÁT NƯỚC TRONG HẦM
VI: THÔNG GIÓ VÀ CHIẾU SÁNG TRONG HẦM
VII: HỆ THỐNG BIỆN BÁO TÍN HIỆU TRONG HẦM
VIII: CÁC HỆ THỐNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT KHÁC CẮT QUA NÚT
GIAO
IX: BIỆN PHÁP THI CÔNG CHỈ ĐẠO
X: NHỮNG KHỐI LƯỢNG THI CÔNG CHÍNH
Trang 39Xây dựng đường hầm chạy dọc theo trục đường Đại Cồ Việt - Kim Liên - Trung
Tự
Tổng chiều dài hầm: 545m bao gồm:
9 Chiều dài hầm chính 140m; tổng chiều dài hầm dẫn 405m (hướng Kim Liên dài
195m, hướng Đại Cồ Việt dài 210m)
9 Bề rộng hầm 20.9 m bao gồm: 4 làn xe cơ giới 2x7.5= 15m; hai làn người đi bộ
(đường công vụ) 2x1,25 = 2,5m; vách ngăn giữa + đá vỉa = 1,8m; hai tường bên
dày 0.8x2 = 1.6m
9 Độ dốc dọc phần hầm dẫn là 4,0%
9 Tĩnh không trong hầm là 4,75m
Phương án này ưu tiên cho dòng xe cơ giới chạy thẳng dọc theo trục Đại Cồ Việt
Kim Liên - Trung Tự (hiện tại chiếm 35% tổng lượng xe qua nút )
Còn các dòng xe cơ giới rẽ phải, rẽ trái, dòng xe thô sơ, cũng như toàn bộ xe chạy
trên trục đường Giải Phóng - Lê Duẩn được tổ chức chạy trên mặt đất
Trang 40I THIẾT KẾ NÚT GIAO CẮT
I.1.KHÁI QUÁT LÝ THUYẾT VỀ TỔ CHỨC NÚT GIAO THÔNG
I.1.1 Phân tích tình hình giao thông ở các nút giao thông
9 Trong đô thị, đường giao nhau nhiều, hình thành các nút giao thông Hiệu quả
mạng lưới đường phụ thuộc vào chất lượng các nút giao thông bởi vì số các
điểm xung đột và tiềm năng gây tai nạn giao thông tại đó rất lớn Nút giao
thông là yết hầu, là nơi tập trung các loại xe cộ đi lại và tại đây xe cộ chuyển
hướng khác nhau
9 Tại các nút giao thông, xe cộ nhiều, thành phần xe phức tạp, khách qua đường
đông Trong các dòng xe, có xe chạy thẳng, rẽ phải, rẽ trái Do tính chất giao
thông tại nút phức tạp có hiện tượng cản trở lẫn nhau giữa các loại xe, giữa xe
thô sơ và xe cơ giới, giữa xe và người qua đường, nên thường xảy ra ách tắc
giao thông và tai nạn giao thông, nhất là vào giờ cao điểm
9 Trong quá trình xe chạy trên đường, do xe chạy theo các hướng khác nhau, tại
các nút giao thông thường xuyên xảy ra các điểm xung đột Hướng xe chạy
khác nhau, tính chất xung đột khác nhau Tính xung đột thể hiện ở các điểm
xung đột sau: điểm tách, điểm nhập, điểm cắt Các điểm xung đột này chính là
nguyên nhân là giảm tốc độ xe, gây tổn thất nhiều thời gian, gây ồn, ô nhiễm,
tổn hại về kinh tế, gây tai nạn giao thông
9 Điểm xung đột càng nhiều thì tình trạng giao thông càng nghiêm trọng Trong
các điểm xung đột, điểm cắt, nhất là điểm cắt do rẽ trái có ảnh hưởng lớn nhất,
rồi đến các điểm nhập rồi cuối cùng là các điểm tách Cho nên, khi thiết kế và
tổ chức giao thông tại nút, nhiệm vụ là phải giảm hoặc làm mất các điểm cắt
9 Để cải thiện tình hình giao thông qua nút nhằm tăng lưu lượng giao thông, tăng
khả năng thông hành của xe qua nút, giảm thiểu tối đa tổn thất thời gian và tai
nạn giao thông qua nút người ta đề ra nhiều biện pháp tổ chức phân luồng các
dòng giao thông như: