Đầu tư có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia (tầm vĩ mô), với doanh nghiệp (tầm vi mô). Gắn liền với hoạt động đầu tư là các dự án đầu tư. Một dự án đầu tư mới có tính khả thi hay không cần phải được xem xét và đánh giá một cách chính xác và đầy đủ về dự án đó. Để từ đó doanh nghiệp mới có thể quyết định có nên đầu tư hay không. Tuy nhiên, các dự án đầu tư thường đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn mà không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng tài chính để thực hiện dự án đầu tư mà họ đưa ra. Điều đó bắt buộc Doanh nghiệp phải tính đến phương án nguồn vốn khác. Hệ thống ngân hàng thương mại là một trong những kênh dẫn vốn quan trọng đối với các chủ đầu tư cho nên nhu cầu thẩm định các dự án đầu tư ngày càng gia tăng tại ngân hàng, trong đó có Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Tuy nhiên đến nay công tác thẩm định dự án đầu tư vẫn còn một số những tồn tại nhất định, trong đó có những tồn tại về khâu thẩm định tài chính dự án, do vậy đã phần nào làm giảm hiệu lực của công tác thẩm định. Chính vì những lý do trên mà em chọn đề tài bài viết của mình với nội dung: Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Thăng Long.
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại 2
1.1.1 Các quan niệm về NHTM 2
1.1.2 Các chức năng của NHTM 2
1.1.3.Vai trò của tín dụng và cho vay theo dự án của ngân hàng thương mại 3
1.2 Thẩm định tài chính dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại 7
1.2.1.Dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư 7
1.2.1.1.Những vấn đề cơ bản về dự án đầu tư 7
1.2.1.2.Thẩm định dự án đầu tư 10
1.3 Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư của ngân hàng thương mại 20
1.3.1 Khái niệm chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư 20
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư 21
1.3.2.1 Về phía Ngân hàng 21
1.3.2.2 Về phía khách hàng 22
1.3.2.3 Về phía cơ quan chức năng 22
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ&PHÁT TRIỂN THĂNG LONG 23
2.1 Giới thiệu về chi nhánh Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Thăng Long 23
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 23
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 24
2.1.3 Kết quả hoạt động của Ngân hàng đầu tư&phát triển Thăng Long 25
2.1.3.1 Các hoạt động chủ yếu của Chi nhánh: 25
2.1.3.2.Kết quả hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Thăng Long 26
Trang 22.2.1.Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư 34
2.2.1.1 Quy trình thẩm định dự án đầu tư 34
2.2.1.2 Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư 35
2.2.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án 36
2.2.2.1 Thu thập và xử lý thông tin về khách hàng và dự án 36
2.2.2.2 Thẩm định vốn đầu tư 36
2.2.2.3 Thẩm định doanh thu – Chi phí của dự án 39
2.2.2.4 Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án 39
2.2.2.5 Thẩm định tính an toàn tài chính của dự án: 40
2.2.3 Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư 41
2.2.3.1 Phương pháp so sánh đối chiếu 41
2.2.3.2 Phương pháp phân tích theo độ nhạy 42
2.2.3.3 Phương pháp thẩm định theo trình tự 42
2.2.3.4 Phương pháp triệt tiêu rủi ro: 43
2.2.3.5 Phương pháp dự báo: 43
2.2.4 Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư taij chi nhánh 44
2.2.5 VD minh họa: Thẩm định tài chính dự án “Nhà máy thép tấm mạ sơn màu A công suất 90 000 tấn /năm” – CÔNG TY lắp máy và xây dựng Hà Nội 48
2.2.5.1 Giới thiệu và đáng giá về doanh nghiệp 48
2.2.5.2.Giới thiệu dự án 50
2.2.5.3 Thẩm định tài chính dự án 51
2.2.5.4 Một số nhận xét về công tác thẩm định tài chính dự án ““Nhà máy thép tấm mạ sơn màu LILAMA công suất 90 000 tấn /năm” – CÔNG TY lắp máy và xây dựng Hà Nội 59
2.3 Đánh giá chất lượng thẩm định tài chính dự án tại Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Thăng Long 62
2.3.1Những thành tựu đạt được: 62
2.3.1.1 Về quy trình thẩm định tài chính dự án: 63
2.3.1.2 Về nội dung thẩm định: 63
2.3.1.3 Về phương pháp thẩm định: 63
2.3.1.4 Chất lượng các báo cáo thẩm định: 63
2.3.2 Những hạn chế trong công tác Thẩm định tài chính dự án đầu tư tại BIDV Thăng Long: 65
Trang 32.3.2.1 Những hạn chế 65
2.3.2.2.Nguyên nhân chính gây ra sự hạn chế 66
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ&PHÁT TRIỂN THĂNG LONG 69
3.1 Phương hướng công tác thẩm định tài chính tại Ngân hàng BIDV Thăng Long thời gian tới 69
3.1.1 Định hướng hoạt động kinh doanh của Chi nhánh đến năm 2015: 69
3.1.1.1 Định hướng hoạt động kinh doanh của Chi nhánh đến năm 2015: 69
3.1.1.2 Phương hướng hoạt động kinh doanh của Chi nhánh năm 2013 .73
3.1.2 Định hướng công tác thẩm định tài chính dự án của Chi nhánh trong thời gian tới 74
3.2 Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng Đầu tư &Phát triển Thăng Long 76
3.2.1 Hoàn thiện quy trình thẩm định 76
3.2.2 Hoàn thiện nội dung thẩm định 76
3.2.3 Hoàn thiện phương pháp thẩm định 81
3.2.4 Nâng cao trình độ và phẩm chất cán bộ thẩm định về thẩm định tài chính dự án 82
3.2.5 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, tổ chức điều hành 83
3.2.6 Tăng cường đầu tư trang thiết bị cần thiết, ứng dụng công nghệ thông tin, các phần mềm ứng dụng hiệu quả 83
3.2.7 Tăng cường công tác thu thập và xử lý thông tin thị trường 83
3.3 Một số đề xuất kiến nghị 84
3.3.1 Chính phủ, các bộ ngành 84
3.3.2 Ngân hàng Nhà nước 84
3.3.3 Ngân hàng đầu tư&phát triển Việt Nam 85
3.3.4 Khách hàng- Chủ đầu tư: 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Đầu tư có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia (tầm vĩ mô),với doanh nghiệp (tầm vi mô) Gắn liền với hoạt động đầu tư là các dự án đầu tư.Một dự án đầu tư mới có tính khả thi hay không cần phải được xem xét và đánhgiá một cách chính xác và đầy đủ về dự án đó Để từ đó doanh nghiệp mới có thểquyết định có nên đầu tư hay không Tuy nhiên, các dự án đầu tư thường đòi hỏiphải có một lượng vốn lớn mà không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năngtài chính để thực hiện dự án đầu tư mà họ đưa ra Điều đó bắt buộc Doanhnghiệp phải tính đến phương án nguồn vốn khác
Hệ thống ngân hàng thương mại là một trong những kênh dẫn vốn quantrọng đối với các chủ đầu tư cho nên nhu cầu thẩm định các dự án đầu tư ngàycàng gia tăng tại ngân hàng, trong đó có Ngân hàng Đầu tư và Phát triển ViệtNam (BIDV) Tuy nhiên đến nay công tác thẩm định dự án đầu tư vẫn còn một
số những tồn tại nhất định, trong đó có những tồn tại về khâu thẩm định tài chính
dự án, do vậy đã phần nào làm giảm hiệu lực của công tác thẩm định Chính vìnhững lý do trên mà em chọn đề tài bài viết của mình với nội dung: " Nâng caochất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam - Chi nhánh Thăng Long"
Do thời gian hạn chế, kinh nghiệm còn ít và cũng như công tác ngân hàngđòi hỏi tính bí mật cao nên những vấn đề nêu ra trong bài viết không thể tránhkhỏi những thiếu sót, em mong nhận được sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo đểcho bài viết này của em được hoàn thiện hơn
Em xin trân trọng cám ơn Giảng viên hướng dẫn trực tiếp :TS Bùi Văn Vần,giảng viên trường Học viện Tài Chính và các cán bộ Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển Việt Nam- Chi nhánh Thăng Long đã giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tận tìnhtrong thời gian em viết bài viết này
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Các quan niệm về NHTM
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại :NHTM là một loại hìnhdoanh nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng Theo quan điểm của các nhà kinh tế học Hoa Kì : NHTM là một công tycung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tàichính
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học Việt Nam : NHTM là một tổ chức
mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi ,trên nguyên tắc hoàn trả,tiến hành cho vay ,chiết khấu và làm các phương tiện thanh toán
Mặc dù có nhiều quan điểm nhưng có thể tổng quát : NHTM là một tổ chứckinh tế có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với cáchoạt động chính là huy động tiền gửi dưới các hình thức khác nhau ,trên cơ sởnguồn vốn huy động này và vốn chủ sở hữu để thực hiện các hoạt động chovay ,đầu tư,chiết khấu ,thực hiện các nghiệp vụ thanh toán , môi giới , tư vấn vàmột số dịch vụ khác cho các chủ thể trong nền kinh tế
1.1.2 Các chức năng của NHTM
*Huy động và sử dụng vốn
Trong hoạt động Ngân hàng, vốn tự có thường chiếm một tỉ lệ nhỏ trongtổng nguồn vốn Vốn tự có của Ngân hàng được hình thành từ vốn ngân sách nhànước cấp, vốn cổ phần, liên doanh liên kết, tự tích luỹ … tuỳ thuộc từng loạihình Ngân hàng Để thực hiện mở rộng hoạt động kinh doanh của mình, cácNgân hàng phải huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế như nhận tiền gửi củacác doanh nghiệp, tiền gửi tiết kiệm của dân cư Đồng thời trong những trườnghợp cần thiết, để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, đầu tư hay cho vay Ngân hàngtrung ương, các Ngân hàng tổ chức tín dụng khác
Khi sử dụng vốn huy động, vốn vay, Ngân hàng phải bỏ ra những chi phínhất định Những chi phí này sẽ được bù đắp đồng thời Ngân hàng thu lợi nhuậnthong qua hoạt động sử dụng vốn thể hiện tập trung ở các hình thức:
Trang 7*Hoạt động ngân quỹ:là việc Ngân hàng nắm giữ tiền mặt tại két, các
khoản tiền thanh toán Ngân hàng trung ương, và NHTM khác, tiền đang trongquá trình thu Với hoạt động này, một mặt theo quy định về dự trữ bắt buộc củaNgân hàng trung ương, một mặt ý thức của chính bản thân Ngân hàng bảo đảmkhả năng thanh toán, tránh rủi ro mất khả năng thanh toán mà có thể dẫn đến sựsụp đổ của Ngân hàng Hoạt động này thường không sinh lời
*Hoạt động tín dụng: có thể nói là hoạt động quan trọng nhất mang lại
nguồn thu nhập chủ yếu và quyết định về sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng
*Hoạt động đầu tư: Ngân hàng kiếm lời từ khoản chênh lệch giũa giá mua
và giá bán các chứng khoán trên thị trường tài chính Đồng thời, Ngân hàng nắmgiữ các trái phiếu chính phủ, cổ phiếu công ty hoặc tham gia góp vốn liên doanhvới các doanh nghiệp để hưởng lãi suất hoặc chia lợi nhuận
*Hoạt động trung gian thanh toán: Trên cơ sở các mối quan hệ thiết lập
với các khách hàng, các Ngân hàng trong cũng như ngoài nước, NHTM thựchiện thanh toán qua: hệ thống thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng, phát hànhcác loại séc,
thẻ ngân hàng, thực hiện trích tài khoản, chuyển khoản thanh toán trực tiếpcho cá nhân, qua đó Ngân hàng thu phí, tỉ trọng hoạt động này ngày càng tăng
*Cung cấp các dịch vụ khác: Một trong những hoạt động không kém
phần quan trọng hỗ trợ cho nghiệp vụ chính của mình như: tư vấn đầu tư bảolãnh (dự thầu, thanh toán, phát hành chứng khoán …) đại lí, giữ két, …để có thểtận dụng được lợi thế về uy tín và các mối quan hệ rộng khắp trong lòng thịtrường
1.1.3.Vai trò của tín dụng và cho vay theo dự án của ngân hàng thương mại
Khái niệm về vốn cần phải được hiểu không chỉ là vốn tiền tệ mà còn biểu
Trang 8đầu tư vào tài sản cố định là rất lớn và là nhân tố vô cùng quan trọng cho sự pháttriển kinh tế Việt Nam Trong những năm qua, công nghiệp hoá hiện đại đấtnước nhằm xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghiã xã hội được đặt lênnhiệm vụ hàng đầu,và vốn là điều kiện không thể thiếu được để tiến hành côngnghiệp hoá hiện đaị hoá
Nguồn vốn đầu tư cho qúa trình công nghiệp hoá –hiện đaị hoá có thể huyđộng từ hai kênh chính: vốn trong nước và vốn nước ngoài
Với chính sách mở cửa và phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoáhiện đại hoá, không thể không nói tới vai trò của Ngân hàng, nhất là tín dụngNgân hàng Chúng ta có thể đầu tư bằng nhiều nguồn vốn: Vốn ngân sách nhànước, vốn đầu tư từ hệ thống tín dụng Ngân hàng, vốn liên doanh, liên kết từ các
tổ chức doanh nghiệp, cá nhân trong, ngoài nước và vốn đầu tư từ các tổ chứcquốc tế Tuy nhiên nguồn vốn từ hệ thống tín dụng Ngân hàng đối với cácdoanh nghiệp đã trở nên phổ biến hơn và ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong kếtcấu tài sản nợ của các doanh nghiệp
Trong những năm qua, ngành Ngân hàng đã cố gắng đáp ứng một khốilượng vốn lớn cho nền kinh tế Khối lượng tín dụng tăng nhanh hàng năm phùhợp với mức tăng trưởng kinh tế theo sự chỉ đạo của Chính phủ Các hình thứctín dụng Ngân hàng ngày càng phong phú và đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu củakhách hàng
Tín dụng đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tăng nhanh, phùhợp với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và bảo đảm sự bìnhđẳng về môi trường và điều kiện hoạt động giữa các thành phần kinh tế Tíndụng Ngân hàng đã tập trung có chọn lọc các dự án lớn, vào các doanh nghiệplàm ăn có hiệu quả, có điều kiện tiếp cận thị trường, giúp các doanh nghiệp đổimới máy móc thiết bị hiện đại, sản xuất ra nhiều loại hàng hoá đáp ứng nhu cầucho xã hội
Trong một nền kinh tế nhu cầu tín dụng chung dài hạn thường xuyên phátsinh do các doanh nghiệp luôn tìm cách phát trển mở rộng sản xuất, đổi mớicông nghệ đổi mới các phương tiện vận chuyển, kỹ thuật tin học…Nên có thểnói rằng tín dụng trung, dài hạn là người trợ thủ đắc lực của các doanh nghiệptrong việc thoả mãn các cơ hội kinh doanh Khi có cơ hội kinh doanh các doanhnghiệp sẽ tận dụng triệt để số vốn này còn nếu không thì có thể hoàn trả lại sốvốn này cho Ngân hàng Đó là ưu thế của vốn trung và dài hạn, nó linh hoạt hơn
Trang 9các hình thức huy động khác Hơn nữa, việc vay vốn này sẽ tránh được các chiphí như phát hành, lệ phí bảo hiểm, đăng ký chứng khoán…
Những lợi ích mà tín dụng trung và dài hạn của các NHTM đem lại
*Đối với các doanh nghiệp
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển đượcthì không còn cách nào khác là phải thắng lợi trong cạnh tranh.Muốn vậy mộtchiến lược kinh doanh hoàn hảo, bao gồm các kế hoặchxây dựng nhà xưởng,mua sắm các thiết bị máy móc đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sảnphẩm, tăng năng lực sản xuất, tăng lợi nhuận Muốn vậy phải có đủ vốn Nếu chỉtrông chờ vào nguồn vốn tự tích luỹ thì phải mất một thời gian doanh nghiệp mớiđổi mới được tài sản cố định và sẽ lại tụt xa so với các doanh nghiệp trường vốn
đã trang bị hiện đại và sản phẩm họ tung ra thị trường cũng trở nên lạc hậu Vìthế lối thoát cho các doanh nghiẹp là huy động vốn bằng cách phát hành cổphiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán hoặc vay vốn Ngân hàng Pháthành cổ phiếu trái phiếu trên thị trường chứng khoán là một biện phát hỗ trợ vốntích cực cho các doanh nghiệp nhưng hình thức này chỉ phát huy hiệu quả ởnhững nước có thị trường vốn và thị trường chứng khoán phát triển Thậm chí ởnhững nước này, trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp vẫn có xu hướng vay
từ Ngân hàng, sở dĩ như vậy là vì lí do:
Với các khoản vay từ Ngân hàng,doanh nghiệp có thể giảm bớt các chi phí
mà lẽ ra họ phải trả khi tổ chức phát hành chứng khoán, chi phí làm thủ tục gọivốn, chi phí đăng kí bảo hiểm
Kì hạn của các khoản vay từ ngân hàng dễ điều chỉnh hơn so với việc pháthành cổ phiếu, trái phiếu Do vậy khi thu nhập của donah nghiệp có biến động,hoặc một số sự kiện diễn biến không như dự kiến ban đầu, doanh nghiệp có thểthương lượng lại với Ngân hàng để thay đổi cách thức trả nợ (trả lãi, trả gốc) saocho thuận lợi cho doanh nghiệp Doanh nghiệp cũng được hưởng một khoảngthời gian ân hạn, trong thời gian này doanh nghiệp chưa phải trả nợ gốc ngay
mà chỉ phải trả lãi Những thuận lợi này không có ở trái phiếu, cổ phiếu
Khi vay vốn ở Ngân hàng doanh nghiệp vẫn có thể thu lợi tức mà khôngmất sự kiểm soát đối với hãng đó hoặc phải đối phó với trái phiếu và cổ phiếu
ưu đãi khi vốn không còn cần nữa
Mặc dù, có nhiều thuận lợi như vậy nhưng lãi suất tín dụng của Ngân hàng
là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp.Do vậy lãi suất tín dụng trung –dài hạn
Trang 10của Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp triệt để khai thác cóhiệu quả đồng vốn, kinh doanh có lãi và thắng trong canh tranh
Thêm vào đó, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì những vốn vay từNgân hàng không những là quan trọng mà còn gần như là duy nhất để tài trợ chonhu cầu đầu tư của doanh nghiệp Bởi vì thường những doanh nghiệp lớn, có uytín mới có thể huy động vốn trên thị trường chứng khoán bằng cách phát hànhtrái phiếu hay cổ phiếu Còn những doanh nghiệp vừa và nhỏ ít có khả năng gomvốn trên thị trường bằng cách bán các chứng khoán của mình Thay vào đó, họthường kiếm tìm sự tài trợ từ phía Ngân hàng Chính những nguyên nhân trênlàm cho các doanh nghiệp vẫn rất ưa thích hình thức vay vốn trung và dài hạn từNgân hàng bên cạnh các nguồn vốn khác
*Đối với Ngân hàng
Các khoản cho vay trung-dài hạn khi được thực hiện và giám sát đúng đắn
sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn nhiều so với việc dùng nguồn vốn này cho vay ngắnhạn hấp dẫn, tí Bên cạnh đó nó còn là vũ khí cạnh tranh rất lợi hại giữa cácNgân hàng với nhau Vì sản phẩm này giúp ngân hàng sẽ thu hút ngày càngnhiều khách hàng đến với Ngân hàng.Hơn nữa mở rộng tín dụng trung –dài hạn
để thúc đẩy mạnh cho vay ngắn hạn Bởi lẽ, các doanh nghiệp sau khi đượcNgân hàng cho vay vốn, trang bị máy móc thiết bị mới hay xây dựng mở rộng,năng lực sản suất sẽ tăng lên Khi đó, doanh nghiệp lại cần nhiều vốn lưu độnghơn để đáp ứng cho sản xuất Người đầu tiên mà các doanh nghiệp tìm đến chính
là các Ngân hàng đã đầu tư cho họ, hỗ trợ những điều kiện cần thiết cho sự pháttriển của họ Với những Ngân hàng này, doanh nghiệp dễ dàng tìm được sựthông cảm do đã hiểu nhau và các dịch vụ rẻ, tiện lợi hơn Về phía các Ngânhàng, họ cũng muốn tạo quan hệ với các doanh nghiệp quen biết để tiện theo dõitình hình tài chính và các khoản thu chi của doanh nghiệp
*Đối với nền kinh tế
Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng góp phần giải quyếtnạn thất nghiệp tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và
do vậy cũng giảm bớt tệ nạn xã hội
Phát triển cho vay trung và dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể gánh nặng chongân sách nhà nước, giảm bớt khoản bao cấp từngân sách cho đầu tư xây dựng
cơ bản, góp phần giảm bớt thâm hụt ngân sách
Hình thức tín dụng Ngân hàng rõ ràng là có hiệu quả hơn Bởi lẽ đồng vốnlúc này gắn liền với quyền lợi của Ngân hàng cũng như của doanh nghiệp Đối
Trang 11với Ngân hàng để bảo toàn vốn, họ phải theo dõi sát sao đồng vốn của mình vàtrong những trường hợp cần thiết phải tư vấn cho doanh nghiệp, đưa ra những lờikhuyên bổ ích cho doanh nghiệp để đảm bảo đồng vốn sinh lời Còn với doanhnghiệp lãi suất tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng là chi phí khá cao đốivới doanh nghiệp Đặc biệt nếu không sử dụng có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽphải chịu lãi suất phạt, tức là lãi suất nợ quá hạn Do vậy tín dụng Ngân hàng làđòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp khai thác triệt để hiệu quả của đồng vốn,đồng thời cũng nâng cao tinh thần trách nhiệm của doanh nghiệp, đảm bảo kinhdoanh có hiệu quả và chiến thắng trong cạnh tranh
Với tư cách là trung gian tài chính đi vay để cho vay Ngân hàng huy độngcác khoản tiền nhỏ nhằm rải rác trong các doanh nghiệp và trong dân cư, biếnthành nguồn vốn lớn để đầu tư cho các dự án có tính khả thi cao Do vậy, tíndụng Ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn của nềnkinh tế
Thông qua huy động và cho vay theo dự án có định hướng, tín dụng Ngânhàng là động lực mạnh mẽ đối với việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dâncũng như cơ cấu nền kinh tế trong từng ngành, từng vùng kinh tế theo hướngcông nghiệp hoá -hiện đại hoá
Hoạt động cho vay theo dự án của đầu tư thực chất là cho vay trung và dàihạn trước đây Thông thường có nhiều cách phân loại cho vay của Ngân hàng Theo vật bảo đảm: Có hoặc không vật bảo đảm
Theo thời gian: cho vay ngắn trung dài hạn
Theo lãi suất: lãi suất thả nổi, lãi suất cố định
Theo đối tượng khách hàng: khách hàng là doanh nghiệp, cá nhân, chínhphủ Chi tiết hơn có thể phân doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốcdoanh
1.2 Thẩm định tài chính dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại
1.2.1.Dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư
1.2.1.1.Những vấn đề cơ bản về dự án đầu tư
Khả năng phát triển của một quốc gia được hình thành bởi các nguồn lực vềvốn, công nghệ, lao động và tài nguyên thiên nhiên là hệ thống có mối quan hệphụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ được biểu hiện bởi phương trình:
D =f(C,T,L,R)
D: khả năng phát triển của một quốc gia
C:khả năng về vốn
Trang 12T: công nghệ
L:lao động
R: tài nguyên thiên nhiên
Rõ ràng để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh hay rộng là phát triểnkinh tế xã hội thì nhất thiết phải có hoạt động đầu tư
- Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại
để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quảnhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lựcđã bỏ ra để đạt các kết quả đó.Đối với các doanh nghiệp hiểu đơn giản đâù tư là việc bỏ vốn kinh doanh đểmong thu được lợi nhuận trong tương lai.Trên quan điểm xã hội thì đầu tư làhoạt động bỏ vốn phát triển từ đó thu được các hiệu qủa kinh tế xã hội vì mụctiêu phát triển quốc gia Vậy Dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động kinh tế đặcthù với các mục tiêu phương pháp và phương tiện cụ thể để đạt được trạng tháimong muốn
- Dự án đầu tư được xem xét ở nhiều góc độ:
+Về hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chitiết và có hệ thống các hoạt động về chi phí theo một kế hoạch để đạt đượcnhững kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.+Trên góc độ quản lí, dự án đầu tư là một công cụ quản lí việc sử dụng, vốn vật
tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế –xã hội trong một thời giandài
+Còn đứng trên phương diện kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thểhiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh,phát triểnkinh tế xã hội làm tiền đề cho quyết định đầu tư và tài trợ Dự án đầu tư là mộthoạt động riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.Như vậy dù đứng trên góc độ nào thì một dự án đầu tư cũng phải thể hiệnđược các nộidung chính sau:
*Mục tiêu của dự án: Thường ở hai cấp mục tiêu
Mục tiêu trực tiếp: Là mục tiêu cụ thể mà dự án phải đạt được trong khuânkhổ nhất định và khoảng thời gian nhất định
Mục tiêu phát triển: Là mục tiêu mà dự án góp phần thực hiện, mục tiêuphát triển được xác định trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước, của vùng Đạt được mục tiêu trực tiếp chính là tiền đề gópphần đạt được mục tiêu phát triển
Trang 13*Kết quả của dự án: Là những đầu ra cụ thể được tạo ra từ các hoạt động
của dự án Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp của dự
án
*Các hoạt động của dự án:Là những công việc do dự án tiến hành nhằm
chuyển hoá những nguồn lực thành các kết quả của dự án Mỗi hoạt động của dự
án đều mang lại kết quả tương ứng
Nguồn lực cho dự án: Đầu vào cần thiết để tiến hành dự án
Phân loại dự án đầu tư
Để tiện cho việc theo dõi, quản lí dự án, người ta tiến hành phân loại dự ánđầu tư Việc phân loại có thể dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau như:
Theo quy mô: dự án lớn, vừa, nhỏ
Theo phạm vi: trong nước quốc tế
Theo thời gian: ngắn, trung-dài hạn,
Theo nội dung có:
Dự án đầu tư mới: thường là những dự án rất lớn, liên quan tới nhữngkhoản đầu tư mới, nhằm tạo ra những sản phẩm mới, độc lập với quá trình sảnxuất cũ
Dự án đầu tư mở rộng: nhằm tăng năng lực sản xuất để hình thành nhàmáy, phân xưởng mới, dây chuyền sản xuất mới với mục đích cung cấp thêmnhững sản phẩm cùng loại cho thị trường
Dự án đầu tư nâng cấp (chiều sâu) liên quan đến việc thay đổi công nghệ,tạo ra một công nghệ mới cao hơn trong cùng một tổ chức cũ
Theo tính chất loại trừ:
-Các dự án độc lập (không có tính loại trừ) thì việc thực hiện dự án nàykhông liên quan đến việc chấp nhận hay bác bỏ dự án kia Các dự án được coi làphụ thuộc khi chấp nhận dự án này có nghĩa là bác bỏ dự án kia bởi những giớihạn về nguồn lực hoặc sự liên quan có tác động lẫn nhau về công nghệ, môitrường …
Nếu xét từ góc độ đầu tư để xem xét chu kì như là các giai đoạn đầu tưthì một dự án phải trải qua ba giai đoạn:
- Chuẩn bị đầu tư: Trong giai đoạn này người ta phải tiến hành các công
việc cụ thể như: nghiên cứu phát hiện các cơ hội đầu tư, nghiên cứu tiền khả thi
sơ bộ chọn dự án, nghiên cứu khả thi (lập dự án, luận chứng kinh tế kĩ thuật)đánh giá và quyết định (thẩm định dự án)
Trang 14- Thực hiện đầu tư: Gồm các công việc sau: Hoàn tất các thủ tục để triển
khai thực hiện đầu tư, thiết kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình, chạythử và nghiệm thu sử dụng
-Vận hành kết quả đầu tư: Sử dụng các mức công suất khác nhau qua các
năm cuối cùng thanh lí và đánh giá
1.2.1.2.Thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư là qúa trình phân tích, đánh giá toàn diện các khíacạnh của một dự án đầu tư để ra các quyết định đầu tư cho phép đầu tư hoặc tàitrợ
Sự cần thiết phải thẩm định dự án đầu tư
*Về phía nhà đầu tư
Thông thường, khi xảy ra quyết định đầu tư một dự án, chủ đầu tử phải cânnhắc giữa nhiều sự lựa chọn khác nhau, nghĩa là nhiều dự án khác nhau trongcùng một giai đoạn Mặt khác, tuy nắm vững những vấn đề, những chi tiết kỹthuật… của dự án nhưng đôi khi khả năng thu thập nắm bắt những thông tin mớicủa doanh nghiệp bị hạn chế, nhất là đối với xu thế kinh tế, chính trị, xã hội mới.Điều đó làm giảm tính chính xác trong phán đoán của họ.Công tác thẩm định dự
án đầu tư sẽ đi sâu vào làm rõ các vấn đề này, giúp doanh nghiệp lựa chọnphương án tốt nhất mang lại hiệu quả cao nhất hoặc đưa ra những ý kiến xácđáng gợi ý cho chủ đầu tư để dự án có tính khả thi cao hơn
*Về phía Ngân hàng
Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại,các khoản cho vay chiếm 59% tích sản của ngân hàng và 65 - 70% lợi tức ngânhàng sinh ra từ các hoạt động cho vay Thành công của một ngân hàng tuỳ thuộcchủ yếu vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công tín dụng, xuất phát
từ chính sách cho vay của ngân hàng Trong các hoạt động cho vay của ngânhàng thì cho vay theo dự án được ngân hàng đặc biệt quan tâm vì nó đòi hỏi vốnlớn, thời hạn kéo dài và rủi ro cao nhưng lợi nhuận cao Do đó để quyết định cóchấp nhận cho vay hay không, ngân hàng cần phải coi trọng phân tích tín dụngnói chung và thẩm định tài
chính dự án nói riêng Thông qua việc thẩm định này, ngân hàng có cáinhìn toàn diện về dự án đánh giá về nhu cầu tổng vốn đầu tư, cơ cấu nguôn vốn
và tình hình sử dụng nguồn vốn, hiệuquả tài chính mà dự án mang lại cũng nhưkhả năng trả nợ của dự án
Trang 15*Về phía xã hội và các cơ quan hữu quan
Chúng ta biết rằng vấn đề thiếu vốn đang rất phổ biến ở nước ta mà sốlượng các dự án đầu tư lại rất lớn thì quyết định vốn cho dự án nào là rất quantrọng và khó khăn muốn có quyết định này người ta phải tiến hành kiểm tra,thẩm định dự án, so sánh các dự án với nhau để lựa chọn được đầu tư là dự ánmang lại hiệu quả cao nhất cho xã hội Hiệu quả được nhắc đến ở đây không chỉđơn thuần là hiệu quả kinh tế mà nó bao hàm cả hiệu quả xã hội khác như giảiquyết công ăn việc làm, tăng ngân sách tiết kiệm ngoại tệ, tăng khả năng cạnhtranh quốc tế đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường
Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nướcđánh giá chính xác sự cần thiết và sự phù hợp của dự án trên tất cả các phươngdiện: mục tiêu, quy hoạch, quy mô và hiệu quả
Vai trò của công tác thẩm định dự án đầu tư trên cả tầm vĩ mô(xã hội) vàtầm vi mô (Ngân hàng, doanh nghiệp) Bởi lẽ nếu làm tốt công tác thẩm địnhkhông những đem lại hiệu quả cao cho hoạt động tín dụng, bảo đảm an toàn vốncho Ngân hàng mà khi nhìn vào đó, các Ngân hàng, tổ chức tài chính, các tổchức tín dụng nước ngoài sẽ an tâm hơn khi lựa chọn đầu tư vào Việt Nam thôngqua các Ngân hàng trong nước, đặc biệt là NHTM quốc doanh Chính các yếu tố
đó đòi hỏi Ngân hàng phải tiếp tục đổi mới và không ngừng nâng cao quy trìnhthẩm định dự án đầu tư
Qui trình thẩm định dự án đầu tư
Quá trình thẩm định dự án đầu tư bao giờ cũng phải được tiến hành theomột trình tự nhất định gồm 2 bước: thẩm định sơ bộ và thẩm định chính
- Tiếp theo cán bộ tín dụng sẽ tiến hành tiến hành tiếp xúc với chủ dự án vàcác đơn vị giúp việc của họ để tìm ra động lực thúc đẩy doanh nghiệp đề xuất dự
án
Trang 16- Cuối cùng, cán bộ sẽ xem xét hiện trường và hiện trạng của doanhnghiệp, từ đó đối chiếu và kiểm tra số liệu tình hình tài chính, tình hình sản suấtkinh doanh ghi trong hồ sơ dự án để có những điều chỉnh kịp thời (nếu cần).
Phân tích về uy tín của chủ đầu tư Các quan hệ của chủ đầu tư đã và đang
có với các doanh nghiệp khác, với các Ngân hàng khác và với Ngân hàng mình.Cần phải tiến hành một cách chính xác nếu đánh giá sai đối tượng kháchhàng thì sẽ làm giảm những khách hàng có mối quan hệ tốt với Ngân hàng hoặcNgân hàng sẽ không thu hồi được khoản nợ vay khi cho khách hàng làm ănkhông có hiệu quả vay
*PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP
-Đánh gía tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
Qua các số liệu thống kê, báo cáo quyết toán hàng năm của doanh nghiệp(ít nhất là 3 năm trở về đây) cán bộ tín dụng phải đưa ra nhận xét về các mặt sau:Quan hệ vay vốn và uy tín của doanh nghiệp trong những năm gầnđây.Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh có ổn định lâu dài được không?(Về lợi nhuận, doanh số bán, mức tăng lợi nhuận hành năm?)
Chiều hướng phát triển của doanh nghiệp như thế nào ? Vốn kinh doanh cóđảm bảo và tăng trưởng không? Tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp nhưthế nào? Khó khăn hiện nay doanh nghiệp?
Đặc biệt đối với sản phẩm doanh nghiệp lựa chọn đầu tư trong dự án cầnphải đánh giá kỹ qui mô sản xuất, chất lượng sản phẩm, khả năng tiêu thụ mức
độ cạnh tranh
-Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp:
Căn cứ vào các văn bản, số liệu về tình hình sản xuất và tài chính củadoanh nghiệp như quyết toán tài chính, định kỳ được duyệt, bảng tổng kết tàisản, báo cáo lỗ lãi, biên bản kiểm kê và trích nộp khấu hao, các số liệu về tìnhhình tài chính khác để xây dựng được khả năng của doanh nghiệp như:
Trang 17+Khả năng tự cân đối về tài chính của doanh nghiệp để đáp ứng các khoản
nợ phải thông qua các chỉ tiêu: hệ số tài trợ và năng lực đi vay
+Khả năng thanh toán của doanh nghiệp: Là lượng tiền có thể có để chi trảcác khoản nợ bao gồm: nợ vay Ngân hàng, nợ khách hàng, nợ cán bộ công nhânviên Trong một thời điểm nhất định Khả năng thanh toán liên quan tới tổng sốvốn có thể có bao gồm: Tiền mặt,vốn vay hoặc những tài sản có thể bán thu tiềnngay một cách dễ dàng để thanh toán các khoản nợ cấp bách
B THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
*THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH THỊ TRƯỜNG
Thị trường ở đây bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra chosản phẩm của dự án Với thị trường đầu vào, cần kiểm tra phân tích khả năngcung cấp nguyên vật liệu cho dự án (chính, phụ trong và ngoài nước Theo yêucầu của dự án, xác định các nhân tố ảnh hưởng (ví dụ tính thời vụ, điều kiện giaothông …), trên cơ sở đó chỉ ra được sự đảm bảo và phù hợp hay không của cácphương án, xử lý nhân tố đó Bên cạnh đó, thẩm định thị trường tiêu thụ sảnphẩm dịch vụ cần phân tích đánh giá quan hệ cung cầu về sản phẩm dịch vụ đầu
ra của dự án tại thời điểm hiện tại và tương lai, xác định thị trường chủ yếu củasản phẩm, so sánh giá thành sản phẩm, giá bán sản phẩm của dự án với giá cả thịtrường … Nhằm đánh giá khả năng tiêu thụ sản phẩm dự án cũng như các nhân
tố tác động, trên cơ sở quyết định quy mô đầu tư, lựa chọn thiết bị, công xuấtthích hợp Để có được những đánh giá toàn diện, chính xác về khía cạnh này cầnphải thu nhập đầy đủ thông tin, có sự kết hợp, tình hình thực tế với số liệu thống
kê cũng như các chính sách của nhà nước, ngành và địa phương về các vấn đềliên quan
* THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT
Phân tích quy mô dự án công nghệ, trang thiết bị nhằm thấy được sự phùhợp của dự án với sự tiêu thụ sản phẩm cũng như sử dụng trang thiết bị hợp lý.Đánh giá tính hữu hiệu của thiết kế dự án Để có thể có đầu ra như dự kiến,những yếu tố rủi ro, bất định trong thiết kế dự án và cách giải quyết hoạch quản
lý, kiểm tra tính hợp lý của nội dung, tiến độ các hạng mục trong xây dựng cơbản…
*THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH TỔ CHỨC, QUẢN LÝ:
công tác tổ chức, quản lý trong dự án đầu tư tác động đến tiến độ thực hiện
dự án và kiểm soát quy mô, phạm vi dự án… đòi hỏi phải kiểm tra, xem xét về
số lượng, chất lượng lao động xem có thể đáp ứng choviệc vận hành có hiệu quả
Trang 18không, đánh giá tính hợp lý của bộ máy quản lý hành chính, hệ thống phòng ban,phân xưởng
*THẨM ĐỊNH KINH TẾ –XÃ HỘI
Đây là một nội dung mà các cơ quan quản lý nhà nước rất quan tâm, xemxét lợi ích mà dự án mang lại cho nền kinh tế và tìm cách tối đa hoá lợi ích đó.Nguyên tắc thẩm định cũng giống như thẩm định tài chính, đó là so sánh giữa lợiích và chi phí của dự án Song điểm khác biệt ở đây là quan niệm về lợi ích vàchi phí trên góc độ xã hội: lợi ích và những đóng góp thực sự của dự án vào phúclợi chung của quốc gia, chi phí là những khoản tiêu hao nguồn lực thực sự củanền kinh tế Do đó khi lấy những chi tiêu từ thẩm định tài chính phải có nhữngđiều chỉnh nhất định về giá tính toán, về thuế… Bên cạnh đó phải đánh giá mộtcách đầy đủ, ngiêm túc tác động của môi trường
*THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH TÀI CHÍNH:
Thẩm định tài chính nhằm đánh giá khả năng sinh lời để nhằm đáp ứng cácnghĩa vụ tài chính của dự án, thông qua việc tổng hợp các biến số tài chính kĩthuật đã được tính toán trong phần thẩm định trước để đưa ra những số liệu đầuvào cho việc tính toán hiệu quả kinh tế xã hội
Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư
là tài sản cố định hữu hình hoặc tài sản cố định vô hình Cụ thể là: chi phí xâylắp, chi phí máy móc thiết bị công nghệ, hệ thống dây chuyền và các thiết bị bán
lẻ, chi phí dự phòng, chi phí khác
+Chi phí tài sản lưu động : Đây là vốn đầu tư nhằm hình thành các tài sảnlưu động cần thiết để thực hiện dự án Nhu cầu đầu tư vào tài sản lưu động phụthuộc vào đặc điểm của từng dự án Bao gồm tài sản lưu động trong sản xuất
Trang 19( Nguyên liệu, vật liệu, và sản phẩm dở dang) và tài sản trong quá trình lưuthông (Vốn băng tiền,vốn trong thanh toán, sản phẩm hàng hoá chờ tiêu thụ ).
Trên cơ sở vốn đầu tư đó Ngân hàng xem xét các nguồn tài trợ cho dự ánđầu tư.Một dự án đầu tư có hai nguồn cung cấp chính:
-Nguồn bên trong do chủ dự án cung cấp
-Nguồn bên ngoài:
Thứ hai: Kiểm tra xây dựng doanh thu và lợi nhuận của dự án.
Thẩm định tính chính xác, hợp lí, hợp lệ của bảng dự trù tài chính Cơ sở đểxem xét là dựa trên nội dung của luận chứng tài chính kinh tế kĩ thuật, dựa trêncác chỉ tiêu, định mức kinh tế kĩ thuật của ngành đó do nhà nước ban hành hoặccác cơ quan chứ năng công bố và dựa trên các kết quả thẩm định các mặt thịtrường, kĩ thuật tổ chức kinh tế kĩ thuật của ngành Ngân hàng để thẩm địnhchính xác, hợp lí của bảng bảng dự trù tài chính
+Xem xét tính toán các bảng tài chính
+Bảng dự trù chi phí sản xuất năm
+Bảng dự trù doanh thu lỗ lãi
+Bảng dự trù cân đối kế toán
+Bảng dự trù cân đối thu chi
Các bảng này là cơ sở cho NHTM thực hiện các phân tích tài chính và tínhtoán các luồng tiền nên được xem xét kĩ lưỡng, hợp lí, chính xác
Thứ ba: Đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư
Để đánh giá hiệu qủa tài chính dự án đầu tư về lí thuyết cũng như thực tế,người ta thườngphải sử dụng các phương pháp (hay các chỉ tiêu sau đây)
Giá trị hiện tại ròng (NPV:Net Present Value)
Giá trị hiện tại ròng của một dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trị hiệntại các nguồn thu nhập ròng trong tương lai với giá trị hiện tại của vốn đầu tư
Trang 20Công thức tính:
Bi: Luồng tiền dự kiến năm I
r : Tỷ lệ chiết khấu (thường được tính là chi phí sử dụng vốn bình quân của
dự án)
Ci: Chi phí đầu tư năm i
n : Số năm tính từ thời điểm đầu tư cho đến khi kết thúc dự án
+ Ý nghĩa của NPV chính là đo lường phần giá trị tăng thêm dự tính mà
dự án đem lại cho nhà đầu tư với mức độ rủi ro cụ thể của dự án… Việc xácminh chính xác tỷ lệ chiết khấu của mỗi dự án đầu tư là khó khăn người ta cóthể lấy bằng với lãi suất đầu vào, đầu ra thị trên trường… Nhưng thông thường
là chi phí bình quân của vốn Tuỳ từng trường hợp, người ta còn xem về biếnđộng lãi suất trên thị trường, và khả năng giới hạn về vốn của chủ đầu tư khithực hiện dự án…
+Ưu điểm: Phương này tính toán dựa trên cơ sở dòng tiền có chiết khấu(tức là hiện tại hoá dòng tiền) là hợp lý vì tiền có giá trị theo thời gian.Lựa chọn
dự án theo chỉ tiêu NPV là thích hợp vì nó cho phép chọn dự án nào có làm tối
đa hoá sự giàu có của chủ đầu tư.Phương pháp này ngầm giả định rằng tỷ lệ lãisuất mà tại các luồng có tiền có thể được tái đầu tư là chi phí sử dụng vốn, nó làgiả định thích hợp nhất
+Nhược điểm: Phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ chiết khấu r được lựa chọn Cụthể: r càng nhỏ NPV càng lớn và ngược lại Trong khi đó, việc xác định đúng r
là rất khó khăn.Chỉ phản ánh được quy mô sinh lời (số tương đối: hiệu quả củamột đồng vốn bỏ ra là bao nhiêu).Với các dự án có thời gian khác nhau, dùngNPV để lựa chọn dự án là không có ý nghĩa Muốn so sánh được, phải giả địnhrằng dự án có thời gian ngắn hơn sẽ được đầu tư bổ sung với số liệu lặp lại như
cũ để sao cho các dự án có thời gian bằng nhau Thời kỳ phân tích dự án là bội
số chung nhỏ nhất của các thời gian dự án Đây là việc tính toán phức tạp mấtthời gian
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR: Internal Rate of Return)
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ đo lường tỷ lệ hoàn vốn đầu tư của một dự án Vềmặt kỹ thuật tính toán, IRR của một dự án đầu tư là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó
Trang 21NPV=0 tức là thu nhập ròng hiện tại đúng bằng giá trị hiện tại của vốn đầutư.Công thức:
Ý nghĩa của chỉ tiêu IRR: IRR đối với dự án chính là tỉ lệ sinh lời càn thiếtcủa dự án IRR được coi bằng mức lãi suất tiền vay cao nhất mà nhà đầu tư cóthể chấp nhận mà không bị thua thiệt nếu toàn bộ số tiền đầu tư cho dự án đều làvốn vay (cả gốc và lãi cộng dồn) được trả bằng nguồn tiền thu được từ dự án mỗikhi chúng phát sinh
Ưu điểm: của phương pháp IRR chú trọng xem xét tính thời gian của tiền
Sự thừa nhận giá trị thời gian của tiền làm cho kĩ thuật xác định hiệu quả vốnđầu tư ưu điểm hơn các phương pháp khác Phản ánh hiệu quả sinh lời của mộtđồng vốn (tính tỉ lệ %) nên có thể sửdụng so sánh chi phí sử dụng vốn IRR chobiết mức lãi suất tiền vay tối đa mà dự án có thể chịu được Giải quyết được vấn
đề lựa chọn các dự án khác nhau
Nhược điểm: Không đề cập đến độ lớn, quy mô của dự án, sử dụng IRR
để lựa chọn dự án loại trừ có quy mô, thời gian khác nhau nhiều khi sai lầm Với
dự án có những khoản đầu tư thay thế lớn, dòng tiền đổi dấu liên tục dẫn tới hiệntượng IRR đa trị, và như vậy việc áp dụng IRR không còn chính xác Phươngpháp IRR ngầm định rằng thu nhập ròng của dự án được tái đầu tư tại tỉ lệ lãisuất IRR nghĩa là không giả định đúng tỉ lệ tái đầu tư
Thời gian hoàn vốn: (P.P:Payback Peried)
Thời gian hoàn vốn của một dự án là độ dài thời gian để thu hồi đủ vốn đầu
tư ban đầu Có hai cách tính chỉ tiêu này: thời gian hoàn vốn không chiết khấu(không tính đến giá trị thời gian của tiền) và thời gian hoàn vốn có chiết khấu(quy tất cả các khoản thu nhập chi phí hiện tại theo tỷ suất chiết khấu lựa chọn).Công thức tương tự nhau
Thời gian thu hồi vốn đầu tư = vốn đầu tư ban đầu
dòng tiền thuần hàng năm của đầu tư
Ưu điểm:của phương pháp này:
Đơn giản, dễ áp dụng và được sử dụng như một công cụ sàng lọc Nếu cómột dự án nào đó không đáp ứng được kỳ hoàn vốn trong thời gian đã định thìviệc tiếp tục nghiên cứu dự án là không cần thiết Vì luồng tiền mong đợi trongmột tương lai xa được xem như rủi ro hơn một luồng tiền trong một tương gần
Trang 22thời gian thu hồi vốn được sử dụng như một thước đo để đánh giá mức độ rủi rocủa dự án Việc thấy rõ được thời gian thu hồi vốn cho phép đề xuất những giảipháp để rút ngắn thời hạn đó
Hạn chế:Tuy nhiên phương pháp thời gian hoàn vốn có một số hạn chế mà
có thể dẫn tới những quyết định đó là: thời gian hoàn vốn không chiết khấukhông tính tới những sai biệt về thời điểm xuất hiện luồng tiền, tức làyếu tố giátrị thời gian của tiền tệ không được đề cập Phần thu nhập sau thời điểm hoànvốn bị bỏ qua hoàn toàn, như vậy không đánh giá được hiệu quả tài chính của cảđời dự án Yếu tố rủi ro đối với luồng tiền tương lai của dự án không được xemxét và đánh giá Xếp hạng các dự án không phù hợp với mục tiêu tối đa hoá lợinhuận của chủ sở hữu
Phương pháp chỉ số sinh lời PI
Phản ánh khả năng sinh lời của dự án trên mỗi đơn vị tiền tệ vốn đầu tư(quy về thời điểm hiện tại)
Độ nhạy của dự án:
Môi trường xung quanh thường xuyên tác động tới dự án đầu tư trên nhiềumặt cấp độ khác nhau Do vậy khi xem xét dự án ngoài cách xem xét dự án quacác chỉ tiêu ở trạng thaí tĩnh, cần phải đặt dự án đầu tư ở trạng thái động trong
xu thế biến động của các yếu tố bên ngoài
Để có một cách đánh giá khách quantoàn diện hơn về dự án, thông thường
để xem xét độ nhạy người ta thường tính toán thay đổi các chỉ tiêu NPV, IRR khi
có sự biến đổi của một số nhân tố:
Trang 23Trên thực tế khi tính độnhạy cảm của dự án, người ta cho các biến số thayđổi 1% so với phương án lựa chọn ban đầu và tính NPV và IRR thay bao nhiêu
Như vậy mỗi chỉ tiêu được sử dụng trong đánh giá hiệu quả tài chính dự ánđầu tư có những ưu nhược điểm nhất dịnh Tuy nhiên mức độ không như nhau.Mỗi chỉ tiêu thẩm định dư án sẽ được so sánh với các tiêu chuẩn chấp nhận dự
án nhất định (có thể do nội tại chỉ tiêu mang lại hoặc tiêu chuẩn qua so sánh chỉtiêu khác)
Kết quả thẩm định thông qua những chỉ tiêu sau khi so sánh với giá trị tiêuchuẩn sẽ nói lên ý nghĩa của từng mặt vấn đề Như vậy qua việc thẩm định bằngmột hệ nhiều chỉ tiêu, kết luận chung, cuối cùng về dự án đầu tư phải là kết luậnmang tính tổng hợp, khái quát, thậm chí phải nhờ vào sự cho điểm có phân biệttầm quan trọng khác nhau của chỉ tiêu đánh giá Mặt khác, kết luận chung đôikhi cũng cần tính linh hoạt ,tuỳ vào từng điều kiện cụ thể và sự ưu tiên khíacạnh nào đó của dự án Song mặt quan trọng nhất ở đây, là phải dự kiến và xácđịnh chính xác luồng tiền ra vào bởi các phương pháp trên đều dựa trên cơ sởcác dòng lợi ích, chi phí của dự án
Thuế thu nhập cũng ảnh hưởng đến các dự án không giống nhau nên số liệu
về các dòng tiền liên quan đến mỗi dự án đưa và để tính toán, đánh giá dự ánphải là số liệu sau thuế Không đưa chi phí trả lãi vay vào dòng tiền mặt của dự
án vì khi chiết khấu ta đã tính đến giá trị theo thời gian của tiền, nếu đưa vàonghĩa là đưa chi phí vay tiền mà không tính tới lợi ích vay vốn mang lại Bêncạnh đó cần chú ý rằng, thu nhập ròng hàng năm của dự án bao gồm lợi nhuậnsau thúe và khấu hao tài sản cố định vào năm cuối dự án có thêm vốn lưu độngròng thu hồi vàgiá trị thanh lí tài sản cố định Khi thẩm định Ngân hàng phảikiểm tra tính hợp lí của phương pháp khấu hao do chủ đầu tư đưa ra vì khấu hao
là một khoản thu trong nội bộ dự án để bù đắp những chi phí đã bỏ ra trước kia
Xử lí vấn đề lạm phát trong phân tích tài chính dự án: Lạm phát tác độngtới tình hình tài chính của dự án theo nhiều mối quan hệ và theo những hướng
Trang 24khác nhau Lạm phát là thay đổi các biến số tài chính trong bản báo cáo tài chính
và đó tác động đến tính toán các chỉ tiêu thẩm định
Thứ tư: Xác định bảng lịch trình thu gốc và lãi
Ngân hàng khi thẩm định sẽ xem xét tính hợp lý của kế hoạch trả nợ nàydựa trên cơ sở phân tích dòng tiền thu của dự án Nguồn thu của dự án phải đảmbảo phù hợp với kế hoạch trả nợ ngân hàng Tính toán các chỉ tiêu nhằm đưa ra
kỳ hạn cũng như việc thu hồi khoản nợ sao cho không lớn hơn thời hạn tồn tạicủa dự án Trên cơ sở đó hai bên thoả thuận nguồn trả nợ, hình thức trả nợ, lãisuất chovay, thời hạn vay, thời gian ân hạn, kỳ hạn nợ,
Thứ năm:Tổng hợp và đưa ra kết quả thẩm định, lập báo cấo thẩm định trình lãnh đạo
Tóm lại, một quy trình thẩm định dự án đầu tư hoàn chỉnh yêu cầu phảiđảm bảo tiến hành đầy đủ các bước thẩm định doanh nghiệp vay vốn Quá trìnhnày đòi hỏi sự cố gắngcủa cán bộ tín dụng kết hợp với các kiến thức và trình độhiểu biết, kinh nghiệm của bản thân Trên thực tế đây là sự kết hợp giữa khoahọc và nghệ thuật
1.3 Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư của ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư
Chất lượng của việc thẩm định dự án nói chung và thẩm định tài chính dự
án nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động cho vay của Ngân hàng, từ đóảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và sự an toàn của ngân hàng
Một dự án đạt hiệu quả về mặt tài chính khi dự án đó đã thẩm định phải cókhả năng trả nợ (cả gốc và lãi) theo dự kiến, thời gian thẩm định nhanh, có hiệuquả về mặt xã hội, rủi ro tín dụng thấp, không phát sinh các khoản nợ khó đòi,quá hạn, từ đó giúp ngân hàng có lợi nhuận Một dự án thẩm định tồi không cóhiệu quả về mặt tài chính không chỉ làm cho Ngân hàng không thu được vốn, suygiảm lợi nhuận mà còn có khả năng dẫn đến bờ vực phá sản Do đó nâng caochất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư là nhiệm vụ quan trọng của mỗingân hàng, nó đòi hỏi phải được làm thường xuyên có khoa học và nghiêm túc
Trang 251.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư
1.3.2.1 Về phía Ngân hàng
- Thông tin
Thông tin là cơ sở cho phân tích đánh giá của cán bộ thẩm định Muốn cókết quả thẩm định chính xác cao độ thì phải có được thông tin, số liệu đầy đủ,chính xác trên nhiều góc độ khác nhau Để có được nguồn thông tin cần thiết cho
dự án, ngân hàng có thể dựa vào các thông tin do chủ đầu tư cung cấp hoặc thuthập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau liên quan đến vấn đề cần thẩm định;đánh giá và tiến hành sắp xếp thông tin, sử dụng các phương pháp xử lý thôngtin một cách thích hợp theo nội dung của quy trình thẩm định
- Cán bộ thẩm định
Trong quá trình thẩm định dự án nói chung và thẩm định tài chính dự ánnói riêng cán bộ thẩm định luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng Họ chính lànhững người trực tiếp tiến hành hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư, vàthẩm định tài chính dự án đầu tư không phải là nghiệp vụ đơn giản, nó đòi hỏicán bộ thẩm định không những phải có kiến thức sâu về nghiệp vụ, phải am hiểucác lĩnh vực cho vay, đầu tư của ngân hàng mà còn phải có những hiểu biết vềcác vấn đề liên quan như: Thuế, môi trường, thị trường, khoa học công nghệ…Tính kỷ luật cao, phẩm chất đạo đức tốt của cán bộ thẩm định là điều kiện đểđảm bảo cho chất lượng thẩm định và ngược lại, người thẩm định không có kỷluật, đạo đức không tốt sẽ phá hỏng mọi việc, không đánh giá đúng được tínhkhả thi của dự án
Như vậy cán bộ thẩm định là một trong những nhân tố quyết định chấtlượng thẩm định tài chính dự án đầu tư Lấy thông tin gì? Ở đâu? Áp dụng chỉtiêu nào để đánh giá đều được tiến hành bởi cán bộ thẩm định Do vậy muốnnâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trước hết bản thân trình độkiến thức, năng lực đạo đức của cán bộ thẩm định phải cao
- Phương pháp thẩm định và các tiêu chuẩn đánh giá
Phương pháp thẩm định là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến chất lượngthẩm định tài chính dự án Với nguồn thông tin đã có được, vấn đề đặt ra vớingân hàng là làm thế nào? Lựa chọn phương pháp nào, chỉ tiêu nào để thẩm định
dự án có hiệu quả tốt nhất Mỗi dự án có một đặc trưng nhất định, do đó phươngpháp thẩm định cũng không giống nhau, chất lượng thẩm định dự án phụ thuộc
Trang 26vào phương pháp thẩm định, do đó sử dụng đồng bộ phương pháp phân tíchđánh giá làm cho hiệu quả thẩm định cao hơn.
1.3.2.2 Về phía khách hàng
Các dự án của khách hàng nếu các khoản chi phí, doanh thu được tínhtương đối chính xác, có căn cứ hợp lý thì khi thẩm định, cán bộ thẩm định sẽ bớtmột khoản thời gian và chi phí để kiểm tra lại tính chính xác của thông tin Do
đó thông tin mà khách hàng đưa ra rất quan trọng
1.3.2.3 Về phía cơ quan chức năng
Các văn bản quản lý hoặc các hoạt động của các cơ quan hữu quan tác độngtrực tiếp đến hoạt động của Ngân hàng Các văn bản này có thể kể tới các vănbản hướng dẫn tính khấu hao, tính tiền thuế đất đai của nhà nước, tính giá trị củatài sản, hay những hướng dẫn về thuế là những văn bản có ảnh hưởng trực tiếptới công tác thẩm định của ngân hàng
Trang 27CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ&PHÁT TRIỂN
Ngày 14/01/1990, chủ tịch Hội đồng bộ trưởng đã ra quyết định số 401/CTthành lập Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, thay thế cho ngân hàng đầu
tư và kiến thiết cũ Ngân hàng đã bắt đầu thực hiện chức năng kinh doanh vàngày càng khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế, là một trong 5 ngânhàng Quốc doanh có vai trò đi đầu trong lĩnh vực đầu tư và phát triển của nướcta
BIDV - Chi nhánh Thăng Long là một trong 117 Chi nhánh trực thuộc của
hệ thống BIDV Ngày 03/04/1974 theo Quyết định số 103/TC/QĐ/TCCB của BộTài chính về việc thành lập phòng chuyên quản trực thuộc Ngân hàng Kiến thiếttrung ương để cấp phát, kiểm tra và thanh toán vốn xây dựng cơ bản cho việcxây dựng cầu Thăng Long Phòng đặt trụ sở tại xã Đông Ngạc - Từ Liêm - HàNội và con dấu riêng lấy tên dấu là: “Ngân hàng Kiến thiết Trung ương – Phòngchuyên quản công trình cầu Thăng Long”
Ngày 17/07/1981, theo QĐ số 75/NH – QĐ của Tổng giám đốc Ngân hàngnhà nước Việt Nam về việc thành lập Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựngcông trình trọng điểm Cầu Thăng Long
Ngày 27/06/1988 theo QĐ số 52/NH – QĐ của Tổng Giám đốc NHNNViệt Nam về việc thành lập Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng CầuThăng Long Và sau 17 năm ra đời, Chi nhánh được đổi tên thành Chi nhánhNgân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Thăng Long, trực thuộc BIDV, theo
Trang 28QĐ số 38/NH – QĐ của Thống đốc NHNN ngày 02/04/1991 BIDV chuyển trụ
sở về đường Phạm Văn Đồng - Từ Liêm – Hà Nội Đến năm 1994, Thống đốcNHNN Việt Nam ra QĐ số 38NH/QĐ – NH ngày 10/11/1994 điều chỉnh chứcnăng và nhiệm vụ của BIDV - Chi nhánh Thăng Long và cho phép Chi nhánhhoạt động kinh doanh như một NHTM
Nằm trong hệ thống NHTM quốc doanh nhưng hệ thống BIDV nói chung
và BIDV - Chi nhánh Thăng Long nói riêng chuyển sang cơ chế kinh doanhmuộn hơn các NHTM quốc doanh khác, tuy nhiên Ngân hàng luôn hoàn thành
và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trong từng thời kỳ, thực hiện tốt chứcnăng hoạt động của mình, thực sự là một định chế tài chính quan trọng trongnền kinh tế, ngày càng khẳng định được vị thế trên thị trường tài chính
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức là một yêu cầu tất yếu của các ngân hànghiện đại Trước nguy cơ cạnh tranh cao của các ngân hàng nước ngoài, BIDVcũng như các ngân hàng khác phải chịu sức ép từ nhiều phía, đòi hỏi phải cảicách mạnh mẽ, toàn diện cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý tiếp cận thông lệ quốc
tế mới có thể chủ động tiếp cận nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, kinhnghiệm quản lý phục vụ hiệu quả cho chiến lược cạnh tranh và chiến lược pháttriển lâu dài của BIDV
-Cùng trong không khí đổi mới của cả hệ thống, BIDV - Chi nhánh ThăngLong đã tích cực hoàn thiện cơ cấu tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động củaChi nhánh
-Tổng số cán bộ BIDV TL tính đến 30/09/2012 là 150 người, trong đó:
Cơ cấu theo giới tính: 60 nam (40%), 90 nữ (70%)
Cơ cấu theo trình độ: Sau đại học 9 người, đại học 130 người, trình độ khác
11 người
Điều hành hoạt động của Chi nhánh BIDV Thăng Long là Giám đốc Chinhánh Giúp việc giám đốc là 2 Phó Giám đốc, hoạt động theo sự phân công, ủyquyền của Giám đốc Chi nhánh theo quy định
Các phòng ban Chi nhánh BIDV Thăng Long được tổ chức thành 3 khối:Khối trực tiếp kinh doanh, khối hỗ trợ kinh doanh bao gồm các phòng sau: Khối trực tiếp kinh doanh bao gồm các phòng sau:
- Phòng dịch vụ khách hang
- Phòng tín dụng 1, 2
- Phòng thanh toán quốc tế
Trang 29- Tổ kiểm soát nội bộ
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy BIDV Thăng Long
(phụ lục tr 92)
2.1.3 Kết quả hoạt động của Ngân hàng đầu tư&phát triển Thăng Long
2.1.3.1 Các hoạt động chủ yếu của Chi nhánh:
án đầu tư phát triển
- Bảo lãnh: Chi nhánh thực hiện bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảolãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh khác bằng
uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhnaj bảo lãnh
- Chiết khấu: Chi nhánh thực hiện việc chiết khấu thương phiếu và giấy tờ
có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu với cácthương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác
*.Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
Như các Ngân hàng thương mại khác, BIDV Thăng Long thực hiện thanhtoán giữa các doanh nghiệp bằng cách mở tài khoản cho khách hàng trong và
Trang 30ngoài nước, thực hiện thanh toán giữa các Ngân hàng với nhau bằng cách mở tàikhoản tiền gửi tại Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Hà Nội Hoạt động thanh toán
và ngân quỹ của Chi nhánh bao gồm:
- Cung cấp các phương tiện thanh toán
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng
- Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ
- Thực hiện dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN
- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép
- Thực hiện dịch vụ thu và phát triển tiền mặt cho khách hàng
- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liênngân hàng trong nước
2.1.3.2.Kết quả hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Thăng Long
Bảng 1: Chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh của chi nhánh (phụ lục tr 94)
Về Tổng tài sản
Năm 2011 được đánh giá là năm bản lề BIDV chyển sang mô hình cổ phầnhóa ,với rất nhiều khó khăn khách quan và chủ quan nhưng quy mô tổng tài sảncủa chi nhánh Thang Long đạt 3 438 605.54 tr đồng vào thời điểm 31/12/2011tăng 10.8% sơ với thời điểm 31/12/2010 Trong đó vốn chủ sở hữu tăng 0.7 %
Cơ cấu tài sản nợ có chuyển biến theo hướng tích cực Trong điều kiện toànngành đang dư thừa vốn, thiếu đầu ra, Chi nhánh đã mạnh dạn đẩy mạnh hoạtđộng tín dụng với mức tăng trưởng phù hợp 15.6% cùng với đó là việc đẩy mạnhcác gói dịch vụ phụ đi kèm với hoạt động tín dụng, góp phần làm tăng trưởng độtbiến chênh lệch thu chi, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanhcủa Chi nhánh
Năm 2012 trước những tác động bất lợi từ tình hình kinh tế thế giới và khuvực ,thị trường tài chính trong nước gặp không ít khó khăn ,thách thức như Lạmphát ,thị trường chúng khoán và thị trường bát động sản sụt giảm ,thị trường tiền
tệ căng thẳng,…Mặc dù chịu những biến động môi trường kinh doanh gây bấtlợi nhưng với nỗ lực vượt bậc của tập thể công nhân viên toàn hệ thống ,chinhánh BIDV Thăng Long đã đạt kết quả đáng ghi nhận trên tất cả các mặt hoạtđộng .Quy mô tổng tài sản đạt mức 4 107 420.03 tr đồng vào thời điểm31/12/2012,Tăng trưởng 19.45% so với thời điểm 31/12/2011.Đây là 1 nỗ lựcvượt bậc của chi nhánh vì trong năm 2012 là năm khó khăn chung cho toàn nềnkinh tế nói chung và ngành ngân nói riêng.Tổng tài sản cuối kỳ của chi nhánh
Trang 31đạt 4 107 420.025 tr đồng đúng 25 trên toàn hệ thống chi nhánh BIDV và giúpsức để ngân hang Đầu Tư và phát trien BIDV đứng thứ 4 trên hệ thống ngânhàng thương mại
0 1000000
Biểu đồ 1.:Tổng Tài sản qua các năm
Về huy động vốn tiền gửi khách hàng và các khoản phải trả khách hàng
Bảng 2.1 Diễn biến huy động vốn của chi nhánh Thăng Long
Thuyết minh theo loại hình tiền gửi (phụ lục tr 94)
Bảng 2.2:Diễn biến huy động vốn của chi nhánh Thăng Long
Thuyết minh theo đối tượng khách hàng, loại hình doanh nghiệp (phụ lục tr95)
Tổng vốn huy động vào thời điểm 31/12/2011 là 2 038 200.25 tr đồng,giảm 1.71 % so cùng thời điểm năm 2010 Là Chi nhánh hoạt động trên địa bànngoại thành có nhiều khó khăn, nguồn vốn huy động chủ yếu là của các tổ chứckinh tế nên nền vốn chưa thực sự ổn định, huy động vốn dân cư còn hạn chế dothu nhập của dân cư trên địa bàn thấp
+ Về cơ cấu nguồn vốn : Vào thời điểm 31/12/2011 TIỀN GỬI KHÔNG
KỲ HẠN chiếm 16.57% trong tổng TIỀN GỬI KHÁCH HÀNG VÀ CÁCKHOẢN PHẢI TRẢ KHÁCH HÀNG giảm 85 797.3 tr đồng tương đương với20.25% Trong khi đó TIỀN GỬI CÓ KỲ HẠN (chiếm 81.8% trong tổng tiềngửi và khoản phải trả khách hàng ) Tăng 39 112.11 tr đồng so với thời điểm31/12/2010 tương đương với 2.4%, Trong loại hình tiền gửi tiền gửi có kỳ hạnchủ yếu là tăng từ khoản tiền tiết kiệm có kỳ hạn ,từ đó tạo nên một dòng vốn ổnđịnh cho ngân hang sử dụng để tạo thêm thu nhập
Vào thời điểm 31/12/2011 cơ cấu nguồn vốn chuyển biến tích cực sang khuvực dân cư với mức tăng trưởng cao (28.33%), chiếm 53% tổng nguồn vốn huyđộng Huy động vốn TCKT trong năm Giảm 31.72%so với năm 2010, do trong
Trang 32năm Chi nhánh không phát triển được nhiều khách hàng mới Với tốc độ tăngtrưởng này đã rút ngắn được chênh lệch nguồn vốn giữa dân cư và Tổ chức làmcho nguồn vốn của chi nhánh mang tính ổn định cao, (TIỀN GỬI CỦATCKTchiếm 34,2% tổng nguồn vốn huy động Ngoài ra các khoản tiền gửi từdoanh nghiệpquốc doanh ,doanh nghiệp ngoài quốc doanh ,doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài và các loại hình doanh nghiệp khác đều giảm lần lượt là30.38%, 36.68%,4.41%
Từ đó nhìn chung tại thời điểm 31/12/2011 tiền huy động từ tiền gửi kháchhàng và các khoản phải trả khách hàng giảm 35 533.95 tr đồng so với cùng thờiđiểm năm 2010 tương đương với 1.71% Do đầu tháng 9/2011, thị trường chứngkhoán đã bắt đầu giao dịch sôi động trở lại, giá trị giao dịch của hai sàn có phiêntăng lên hơn 2.000 tỉ đồng Bên cạnh đó, kênh vàng cũng đang thu hút nhiềungười mua mỗi khi giá vàng giảm Vậy nên một phần tiền tiết kiệm do lãi suấtgiảm đi so với kỳ vọng đã bị rút ra khỏi ngân hàng để bỏ vào các kênh khác nhưvàng hay chứng khoán
* Vào thời điểm cuối năm 2012 Huy động vốn của chi nhánh ngân hàng bấtngờ tăng khá mạnh, trong khi tăng trưởng tín dụng tiếp tục ở mức thấp Công tácphát triển khách hàng mới trong năm chưa được triển khai mạnh mẽ do tình hìnhbiến động của nền kinh tế và thị trường, khách hàng TCKT thường gửi các kỳhạn ngắn để tận dụng tối đa lãi suất và thời gian nguồn vốn nhàn rỗi để gửi Ngânhàng nên nguồn vốn này không mang tính ổn định, mặt khác do áp lực cạnhtranh giữa các Ngân hàng, lãi suất huy động giữa các Ngân hàng không đồngnhất, nên việc phát triển khách hàng rất khó khăn Cụ thể vào thời điểm 31/12/
2012 tiền gửi không kỳ hạn (chiếm 17.45% tổng nguồn vôn huy động tù kháchhàng) tăng 33% so với 31/12/ 2011 tương đương với 112 156tr đồng ,còn tiềngửi có kỳ hạn (chiếm 81.6% tổng nguồn vôn huy động tù khách hàng) tăng26.29% so với năm 31/12/2011 tương đương với 438 433 tr đồng Điều nàymột phần do nền kinh tế gặp khó khăn , các kênh đầu tư như bất động sản ,sànchúng khoán đều đóng băng ,vàng và ngoại tệ diễn biến thất thường nên ngườidân gửi tiền vào ngân hàng nhằm kiếm lời và đảm bảo an toàn
Năm 2012 cơ cấu huy động vốn chuyển sang hướng tích cực ,tỷ trọng tiềngửi của nhóm khách hàng cá nhân vươn lên dẫn đầu thay thế vị trí trước đây củanhóm khách hang là các tổ chức kinh tế Hết ngày 31/12/2012 tỷ trọng tiền gửicủa nhóm cá nhân ,dân cư chiếm 57.67% tăng them 4.12% so với cùng thời điểm
Trang 33năm 2011 Trong khi đó tiền gửi của nhóm tổ chức kinh tế chỉ đạt 29.7 % trongtổng huy động vốn từ tiền gửi khách hang giảm 4.5% so với thời điểm 31/12/2011
+Cá nhân : với chiến lược chuyển sang ngân hang bán lẻ ,ổn định nềnkhách hang ,khối khách hang các nhân ,dân cư trở thành nhóm khách hàng tăngtrưởng tốt nhất trong các khôi khách hàng ,đạt mức 1488037.3 tr đồng tăngtrưởng 36.323%
+ Tổ chức kinh tế :trong điều kiện lãi suất hạ ,nền kinh tế gặp khó khăn ,cácdoanh nghiệp có xu hương tối ưu hóa nguồn vốn bằng cách gửi tiền vào ngânhàng với thời hạn ngắn nhằm kiếm lời mà vẫn đảm bảo có thể sử dụng vốn linhhoạt Theo đó tiền gửi khối Tổ chức kinh tế tăng 9.9% Vào thời điểm31/12/2012,đạt 766 616.68 tr đồng Tuy nhiên mặc dù tăng nhưng tiền huy độngđược từ khối tổ chức kinh tế giảm tỷ trọng so với cùng thời điểm 2011 (giảm4.5% trong tổng huy động vốn từ tiền gửi của khách hàng)
Về tín dụng
Bảng 3:Cơ cấu tín dụng (PHỤ LỤC 96)
- Về quy mô, tốc độ tăng trưởng tín dụng
Bảng 4: Tốc độ tăng dư nợ năm 2010- 2012
triệu đồng
31/12/2011 triệu đồng
31/12/2012 triệu đồng
964.14
3 438605.54 4 107 420.02
Tăng trưởng dư nợ
Biểu đồ 2: Tổng dư nợ tín dụng của Chi nhánh
Trang 34Kết thúc 31/12/ 2011 dư nợ tín dụng đạt 2 490 992.542tr đông tăng 336826.65 tr đồng tương đương với 15.6% Từ đó nâng tỷ trọng dư nợ tín dụng trên
tổng tài sản lên 67.6% (tăng 2.87% so với cùng thời điểm năm 2010) Việc tăngtrưởng tín dụng chi nhánh luôn đảm bảo tuân thủ tuyệt đối giới hạn tín dụng
được BIDV giao từng thời kỳ
Hoạt động tín dụng của chi nhanh trong năm 2012 được điều hành chủđộng linh hoạt kịp thời phù hợp với diễn biến thị trường và tình hình nguồn vốncủa toàn hệ thống Dư nợ tín dụng đén ngày 31/12/2012 đạt 2 861 249.636 trđồng tăng trưởng 14.86 % so với cùng thời điểm năm 2011 được kiểm soạt theo
đúng chỉ đạo kế hoạch tăng trưởng tín dụng của hội đồng quản trị BIDV và đảmbảo chỉ đạo của NHNN Tăng cường tín dụng được kiểm soát chặt chẽ gắn với
chất lượng tín dụng ,tập trung ưu tiên vốn cho sản xuất và xuất khẩu ,các công
trình trọng điểm quốc gia ,hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Dư nợ trung, dài hạn
Có thể thấy trong 3 giai đoạn từ 31/12/ 2010 đến 31/12/2012, mặc dù tổng dư nợtín dụng của chi nhánh tăng 42.285% nhưng lượng tăng chủ yếu tập trung vào dư
nợ ngắn hạn (tăng 478 507.632 tr đồng) Dư nợ trung dài hạn tăng ít hơn so với
dư nợ ngắn hạn , trong 3 giai đoạn từ 31/12/ 2010 đến 31/12/2012 dư nợ trung và
dài hạn tăng 229 034.1 tr đông tương đương với 22.4% Vậy nên trong thời kỳnày chủ yếu tăng trưởng dư nợ tín dụng của chi nhánh tập trung chủ yếu vào dư
nợ tín dụng ngắn hạn Tuy nhiên, về cơ bản thực trạng này là tuân thủ theo định
Trang 35hướng hoạt động tín dụng của BIDV giai đoạn 2010 - 2012 là giảm dần dư nợcho vay trung dài hạn, tăng tín dụng ngắn hạn, chuyển dịch cơ cấu khách hàngtheo hướng phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ngoàiquốc doanh đồng thời tập trung thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, giải phápthực thi chính sách tiền ệ của NHNN, giữ ổn định tiền tệ, ổn định các cơ cấu vĩmô.
Việc dư nợ tín dụng tập trung vào ngắn hạn trong thời kỳ này bên cạnh việctuân thủ theo định hướng phát triển của hệ thống, còn phản ánh thực trạng giaiđoạn sau suy thoái nền kinh tế Các dự án trung hạn do đòi hỏi vốn lớn, thời hạnthu hồi vốn lâu nên chưa được các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư mà chủ yếutập trung vào các phương án kinh doanh ngắn hạn, có mức vốn đầu tư vừa phải,chi phí vốn thấp, lợi nhuận đạt mức mong đợi và đặc biệt tốc độ luân chuyển vốnnhanh, đáp ứng được những thay đổi đột biến của nền kinh tế và nhờ đó, hạn chếđược các rủi ro trong kinh doanh
Tại thời điểm 31/12/2012 tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn giảm mạnh so vớithời điểm 31/12/2011 (chiếm 43.727% trong tổng dư nợ của chi nhánh ,giảm1.153% so với cùng thời gian năm 2011 và giảm 3.743 so với 31/12/2010).Dư
nợ trung và dài hạn được kiểm soát ở mức thấp hơn nhiều so với giới hạn đượcgiao năm 2012 (<45%) Đây là cơ cấu tín dụng trung và dài hạn thấp nhất từ năm
2006 đến nay Trong khi đó dư nợ tín dụng ngắn hạn có mức tăng trưởng tốttrong năm 2012 (Tăng trưởng 17.3% tính tới thời điểm 31/12/2012 bằng1610108.7 tr đồng Tăng trưởng 17.3% so với thời điểm 31/12/2011 ) và chiếm tỷtrọng lớn trong tổng dư nợ tín dụng của chi nhánh (Vào thời điểm 31/12/2012chiếm 56.27% trong tổng dư nợ tín dụng của chi nhánh và tăng 1.17% so vơicùng thời điểm năm 2011)
0 500000
Trang 36Về cơ cấu tín dụng theo loại hình khách hàng, số liệu trong bảng trên có thểthấy rõ sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu khách hàng theo hướng phát triển
mở rộng thị trường ngoài quốc doanh và tiêu dùng bán lẻ Tỷ trọng cho vay đốivới các doanh nghiệp sở hữu vốn nhà nước giảm dần qua các năm và năm 2012
là thấp nhất trong 3 năm kể từ giai đoạn 2010-2012 (Kết thúc Năm 2012 chỉ cònchiếm 27.29% trong tổng dư nợ tín dụng của chi nhánh ,giảm 3.737% so vớicùng thời gian 2011 và giảm 9.353% so với 31/12/2010) Trong khi đó, tỉ trọng
dư nợ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đang trên đà phát triển mạnh mẽ,tăng trưởng liên tục qua các kỳ đánh giá Đến ngày 31/12/2012 dư nợ tín dụngcho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đạt 1 679 137 tr đồng tăng 285751.9 tr đồng so với 31/12/2011 tương đương với mức tăng trưởng 20.5%,vàchiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng dư nợ tín dụng của chi nhánh (Vào thờiđiểm 31/12/2012 chiếm 58.69%,tăng 2.75% so với thời điểm 31/12/2011 và tăng7.06% so vơi thời điểm 31/12/ 2010) Dư nợ bán lẻ ngày một tăng và tỷ trọngcũng tăng dần qua các năm , Kết thúc ngày 31/12/ 2012 đạt mức 401 367.47Trđồng , Tăng trưởng 57% tương đương với 536 643.246Tr đồng so với cùng thờiđiểm năm 2011.Ghi nhận bược chuyển quan trọng trong chặng đường phát triểnhoạt động ngân hàng bán lẻ của BIDV
-Về chất lượng tín dụng
Bảng 6 Phân tích chất lượng nợ cho vay (phụ lục tr 97)
Mặc dù suy thoái kinh tế ảnh hưởng nhiều đến tình hình tài chính của kháchhàng cũng như hoạt động kinh doanh của ngân hàng ,song chất lượng tín dụngcủa BIDV đã được kiểm soát tốt Trong cả 3 năm 2010-2012 tỷ lệ nợ xấu đượckiểm soát ở mức thấp (<3%) Năm 2012 ,chi nhánh tiếp tục kiểm soát chất lượngtín dụng theo thông lệ quốc tế vơi các biện pháp giảm nợ xấu được tăng cườngmột cách hiệu quả Vì vậy tỷ lệ nợ xấu kết thúc ngày 31/12/2012 giảm xuốngcòn ở mức 2.6% ,giảm 0.36% so với đầu năm Đồng thời tỷ lệ nợ nhóm 2 giảmxuống 2.8 % so với cùng thời điểm năm 2011 chỉ còn ở mức 9.025% Trong khi
dư nợ tín dụng vào thời điểm 31/12/2012 đạt mức 2 861 249.64 tr đồng tăng14.86% so với cùng thời điểm năm 2011 Mặc dù năm 2012 là năm kinh tế gặprất nhiều khó khăn .Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không thuậnlợi ,làm ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của khách hàng ,cũng như chất lượng tín
Trang 37dụng của ngân hàng,song với việc triển khai đồng bộ các giải pháp quyết liệtnhằm kiểm soát rủi ro như thành lập tổ điều tra ,đẩy mạnh thu hồi nợ xấu linhhoạt hiệu quả … nên chất lượng tín dụng của chi nhanh trong năm qua đượckiểm soát tốt ,đảm bảo theo mục tiêu hội đồng quản trị Tại 31/12/2012 tỷ lệ nợxấu ở mức 2.6% thấp hơn mức thực hiện chung của toàn ngành là 3.39% , tỷ lệ
nợ nhóm 2 giảm xuống 2.8 % so với cùng thời điểm năm 2011 chỉ còn ở mức9.025% nằm trong mức kiểm soát kế hoạch đề ra (<13%)
2.1.3.2.4.Lãi thuần từ hoạt động kinh doanh
Bảng 8 :hoạt động kinh doanh của chi nhánh trong năm 2010-2012
(phụ lục tr 97)
0 50000
là khoản thu nhập không khỏ vững chắc cho chi nhánh
TỔNG THU NHẬP HOẠT ĐỘNG Năm 2011 gia tăng cơ cấu thu nhậpđược cải thiện ,đạt 130 631.17 tr đồng tăng 34.18% so vơi năm 2010 Trong đóThu nhập lãi thuần tăng 37.5% , Thu nhập từ hoạt động dịch vụ tăng 21.4% , Lãithuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối tăng nhẹ 8.9%
Sang năm 2012 nền kinh tế suy thoái nên TỔNG THU NHẬP HOẠTĐỘNG giảm 26.26% so với năm 2011 chỉ đạt 96 319.3 tr đồng (chỉ bằng 98%
so với năm 2010)
Trang 382.2.Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng Đầu tư
& Phát triển Thăng Long
2.2.1.Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư
2.2.1.1 Quy trình thẩm định dự án đầu tư
Quá trình thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng được thông qua các phòngTín dụng, phòng Thẩm định, Cán bộ tín dụng (CBTĐ), Cán bộ thẩm định(CBTĐ), phòng Nguồn vốn và một số phòng khác có liên quan Tuy nhiên quytrình này chỉ mang tính chất định hướng, tổng quát và cơ bản Trong quá trìnhthẩm định dự án, tuỳ theo quy mô, tính chất, đặc điểm của từng dự án đầu tư xinvay vốn, tuỳ từng khách hàng và điều kiện thực tế, CBTĐ sử dụng linh hoạt cácnội dung theo mức độ hợp lý để bảo đảm tính hiệu quả của công tác thẩm định.Tuỳ theo từng dự án cụ thể mà CBTĐ cũng có thể xem xét bỏ qua một số nộidung nếu không phù hợp
Quy trình thẩm định dự án đầu tư của BIDV Thăng Long như sau:
1 Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ dự án xin vay vốn: nếu hồ sơ vay vốn chưa có
đủ cơ sở để thẩm định thì chuyển lại để CBTĐ hướng dẫn khách hàng hoànchỉnh, bổ sung hồ sơ; nếu đã đủ cơ sở thẩm định thì ký giao nhận hồ sơ vào Sổtheo dõi và giao hồ sơ cho cán bộ trực tiếp thẩm định
2 Trên cơ sở đối chiếu các quy định, thông tin có liên quan và các nội dungyêu cầu (hoặc tham khảo) được quy định tại các hướng dẫn thuộc Quy trình này,CBTĐ tổ chức xem xét, thẩm định dự án đầu tư và khách hàng xin vay vốn Nếucần thiết, đề nghị CBTĐ hoặc khách hàng bổ sung hồ sơ hoặc giải trình rõ thêm
3 CBTĐ lập báo cáo thẩm định dự án trình Trưởng phòng thẩm định
4 Trưởng Phòng thẩm định kiểm tra, kiểm soát về nghiệp vụ, thông quahoặc yêu cầu CBTĐ chỉnh sửa, làm rõ các nội dung
5 CBTĐ hoàn chỉnh nội dung Báo cáo thẩm định trình Trưởng Phòng thẩmđịnh thông qua, lưu hồ sơ tài liệu cần thiết và gửi trả hồ sơ kèm Báo cáothẩmđịnh cho Trưởng Phòng tín dụng
Sơ đồ 14: Quy trình thẩm định dự án tại BIDV Thăng Long
(Phụ lục tr )
Trang 392.2.1.2 Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư
Khi tiến hành thẩm định tài chính dự án đầu tư, cán bộ thẩm định tiến hànhđánh giá từng nội dụng, theo các bước, trình tự như sau:
Sơ đồ 2: Quy trình thẩm định tài chính dự án tại BIDV Thăng Long
- Bước 1: Thu thập và xử lý thông tin về khách hàng và dự án
- Bước 2: Thẩm định vốn đầu tư
- Bước 3: Thẩm định doanh thu – Chi phí của dự án
- Bước 4: Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án
- Bước 5: Ra quyết định về tính khả thi hay không khả thi của dự án
Kết thúc quá trình thẩm định tài chính, cán bộ thẩm định đã có kết quả đánhgiá về tính khả thi về mặt tài chính dự án, đây là căn cứ quan trọng để quyết địnhtài trợ hay không cho dự án Cán bộ thẩm định phải dựa vào kết quả này, báo cáotrong báo cáo thẩm định dự án
PT dự báo về nhu cầu thị
trường SP đầu ra
PT đánh giá về nhu cầu SX
PT kế hoạch thu chi hàng năm
Trang 402.2.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án
2.2.2.1 Thu thập và xử lý thông tin về khách hàng và dự án.
Khi có một dự án khách hàng mang đến Ngân hàng để xin vay vốn, Chinhánh cần thẩm định lại tính chính xác của các nguồn thông tin do khách hàngcung cấp Để làm được điều này, CBTĐ Chi nhánh cần đến trực tiếp doanhnghiệp để có thể trực tiếp tìm hiểu được tình hình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp; tìm hiểu được về thực trạng nhà xưởng, máy móc thiết bị của doanhnghiệp; xác minh được địa điểm cơ sở nơi đầu tư dự án… Ngoài ra, CBTĐ cầnphải thu thập thêm từ các nguồn thông tin bổ sung, các tài liệu liên quan từ cácnguồn khác nhau để phục vụ cho quá trình thẩm định như: Đi thực tế để tìm hiểu
về giá cả, tình hình cung cầu của thị trường đối với sản phẩm dự kiến của dự án;tìm hiểu từ các nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào, các nhà tiêu thụ sản phẩmtương tự, tìm hiểu từ các phương tiện thông tin đại chúng, từ các cơ quan quản lýNhà nước… Trên cơ sở đó, CBTD xem xét dự án trên các phương diện về mụctiêu của dự án, về thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm dịch vụ đầu ra của
dự án; khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào, nhận xét cácphương diện kỹ thuật, phương diện tổ chức quản lý thực hiện dự án…
Trên thực tế, việc xác định chính xác các thông tin về dự án không phải dễ, córất nhiều yếu tố ảnh hưởng có thể làm méo mó thông tin, kể cả nguyên nhân kháchquan và chủ quan, yêu cầu cán bộ thẩm định cần xem xét kỹ lưỡng vì giai đoạn nàyrất quan trọng ảnh hưởng đến kết quả thẩm định tất cả các giai đoạn sau
2.2.2.2 Thẩm định vốn đầu tư.
Tổng mức đầu tư
Tổng mức đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư và xây dựng (kể cả vốn sản xuấtban đầu) và là giới hạn chi phí tối đa của dự án được xác định trong quyết định đầutư.Để tránh tình trạng khi dự án đi vào thực hiện vốn đầu tư tăng lên hoặc giảm điquá lớn so với dự kiến ban đầu dẫn đến không cân đối được nguồn vốn, Chi nhánhtiến hành thẩm định tổng vốn đầu tư, mà mục đích cuối cùng là xác định mực tài trợtối đa mà Ngân hàng nên tham gia vào dự án
Căn cứ vào hồ sơ dự án/ khoản vay để xác định chỉ tiêu này Tùy theo tiến
độ triển khai thực hiện mà hồ sơ gồm có:
- Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi
- Quyết định phê duyệt dự án
- Quyết định phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán
- Quyết định phê duyệt tổng mức đầu tư