Năm 2000, Ủy ban chứng khoán Nhà nước đã đưa Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (nay là SGDCK TP.HCM) vào hoạt động, đánh dấu sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam. Năm 2005, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (nay là SGDCK HN) lần đầu tiên tổ chức bán đấu giá cổ phiếu của các công ty quốc doanh cho các nhà đầu tư. Tính đến hết tháng 062012, trên thị trường chứng khoán đã có 393 cổ phiếu niêm yết trên SGDCK HN; có 276 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết trên SGDCK TP.HCM. Như vậy tổng số cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết trên cả hai sàn chứng khoán là 669 doanh nghiệp. Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển không ngừng về quy mô của thị trường chứng khoán Việt Nam, là sự lớn mạnh của các tổ chức tài chính trung gian, đặc biệt là các công ty chứng khoán. Đến hết tháng 092012, số lượng công ty chứng khoán tại Việt Nam là 105 công ty, với rất nhiều loại hình dịch vụ được đưa ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của nhà đầu tư như : môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư, tư vấn tài chính doanh nghiệp, tự doanh, bảo lãnh phát hành chứng khoán…Số lượng các công ty chứng khoán lớn, các công ty phát triển mạnh các chi nhánh, phòng giao dịch, trong khi thị trường Việt Nam được đánh giá là còn khá nhỏ bé về qui mô cũng như giá trị giao dịch, do đó mức độ cạnh tranh giữa các công ty rất gay gắt.
Trang 1Em xin cam đoan bài luận văn : “Phát triển kinh doanh của công ty cổ
phần chứng khoán FPT trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán ” là
kết quả sau một thời gian tự nghiên cứu, phân tích, đánh giá của bản thân Các số liệuđều có nguồn trích dẫn cụ thể, dựa trên các tạp chí chuyên ngành, được cung cấp từ cácphòng ban của công ty cổ phần chứng khoán FPT
Hà Nội, ngày 20 tháng 01 năm 2013
Học viên thực hiện
Hà Bình Minh
Trang 2Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới PGS TS Phan Tố Uyên đã tận tìnhhướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu cho đến khi luận văn đượchoàn thành Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô giáo trong Hội đồngkhoa học Khoa Thương Mại và Kinh tế Quốc tế, các bạn đồng nghiệp làm việc tạicông ty cổ phần chứng khoán FPT đã hỗ trợ em trong suốt quá trình làm luận vănthạc sỹ này.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 20 tháng 01 năm 2013
Học viên thực hiện
Hà Bình Minh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TRONG BỐI CẢNH SUY GIẢM
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 5 1.1 Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới hoạt động của các công
ty chứng khoán Việt Nam 5 1.2 Tổng quan về phát triển kinh doanh của các công ty chứng khoán trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán 8
1.2.1.Đặc điểm kinh doanh của công ty chứng khoán trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán 81.2.2.Lý thuyết về phát triển kinh doanh các công ty chứng khoán trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán 101.2.3.Sự cần thiết khách quan phải phát triển kinh doanh của công ty chứng khoán trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán 12
1.3 Nội dung phát triển kinh doanh của các công ty chứng khoán trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán 17
1.3.1.Phát triển kinh doanh của công ty chứng khoán theo chiều rộng 171.3.2.Phát triển kinh doanh của công ty chứng khoán theo chiều sâu 22
1.4 Kinh nghiệm phát triển kinh doanh của các công ty chứng khoán trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán 25 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN FPT TRONG BỐI CẢNH SUY GIẢM THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN HIỆN NAY 29 2.1 Đặc điểm các ngồn lực để kinh doanh của công ty cổ phần chứng khoán FPT
29
2.1.1 Nguồn lực con người 292.1.2 Nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất kĩ thuật 322.1.3 Các nguồn lực khác 35
Trang 42.2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần chứng khoán FPT 36
2.2.2 Thực trạng phát triển kinh doanh tại công ty cổ phần chứng khoán FPT trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán 40
2.3 Đánh giá về phát triển kinh doanh của công ty cổ phần chứng khoán FPT trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán 53
2.3.1 Những kết quả đạt được 53
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 55
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN FPT ĐẾN NĂM 2020 59
3.1 Dự báo tác động của việc suy giảm thị trường chứng khoán đến hoạt động kinh doanh của các CTCK 59
3.2 Định hướng phát triển của công ty cổ phần chứng khoán FPT đến năm 2020 61 3.3 Một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh doanh của công ty cổ phần chứng khoán FPT đến năm 2020 63
3.2.1 Xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh các dịch vụ phù hợp 63
3.2.2 Chiến lược marketing cụ thể, hiệu quả 64
3.2.3 Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng 65
3.2.4 Chính sách tuyển dụng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 68
3.2.5 Hoàn thiện hệ thống các qui trình nghiệp vụ 69
3.2.6 Giải pháp về nhân sự 70
3.2.7 Giải pháp về sản phẩm, dịch vụ 72
3.3 Một số kiến nghị với Ủy ban chứng khoán nhà nước 74
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 5Viết tắt Nguyên văn
Trang 6Bảng 1.1: Những công ty chứng khoán lỗ lớn 9 tháng đầu năm 2012 15
Bảng 1.2: Công ty chứng khoán lỗ lũy kế hơn 50% vốn điều lệ 16
Bảng 1.3: Chỉ tiêu tài chính nhân sự tại một số CTCK lớn đến 30/06/2012 17
Bảng 2.1: Tình hình nhân sự tại FPTS từ năm 2007 đến năm 2011 31
Bảng 2.3: Tình hình phát triển sản phẩm dịch vụ cho khách hàng cá nhân tại
Bảng 2.4: Tình hình phát triển sản phẩm dịch vụ cho khách hàng tổ chức tại
FPTS từ năm 2007 đến năm 2012 41
Bảng 2.2: Các chỉ tiêu tài chính và nhân sự tại FPTS từ 2008 đến 2012 36
FPTS từ năm 2007 đến năm 2012 41
Bảng 2.5: Cơ cấu doanh thu của FPTS qua các năm từ 2008 đến 2012 42
Bảng 2.6: Số lượng tài khoản mở tại FPTS từ năm 2007 đến 2011 45
Bảng 2.7: Tình hình phát triển doanh thu môi giới qua các năm 49
Bảng 2.8: Top 10 thị phần sàn Hà Nội quí 3/2012 51
Bảng 2.9: Top 10 thị phần sàn Hồ Chí Minh quí 3/2012 51
BIỂU Biểu đồ 1.1 : Tiền và tương đương tiền tại một số CTCK đến 30/06/2012 18
Biểu đồ 1.2: So sánh doanh thu, doanh thu môi giới, doanh thu khác 20
tại một số CTCK đến 30/06/2012 20
Biểu đồ 1.3: Số lượng nhân sự tại các CTCK đến 30/06/2012 22
Biểu đồ 1.4: Tỷ suất lợi nhuận/nhân sự đến 30/06/2012 25
Biểu đồ 2.1: Số lượng ngân viên FPTS qua các năm 30
Biểu đồ 2.2: Số lượng nhân viên môi giới công ty qua các năm 30
Biểu đồ 2.3: Vốn điều lệ của FPTS từ năm 2007 đến năm 2012 33
Biểu đồ 2.4: Doanh thu thuần FPTS từ năm 2008 đến 2012 37
Biểu đồ 2.5: Tồng tài sản của FPTS từ năm 2008 đến năm 2012 38
Biểu đồ 2.6: Chi phí hoạt động của FPTS từ năm 2008 đến năm 2012 39
Biểu đồ 2.7: Lợi nhuận sau thuế của FPTS từ năm 2008 đến năm 2012 40
Biểu đồ 2.8: Số lượng tài khoản mở tại FPTS các năm 46
Biểu đồ 2.9: Lợi nhuận sau thuế các CTCK tính đến hết tháng 09/2012 52
SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1 : Tổ chức công ty theo vùng miền 45
HÌNH Hình 1.1: Đồ thị Vnindex từ ngày thành lập 14
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Năm 2000, Ủy ban chứng khoán Nhà nước đã đưa Trung tâm giao dịch chứngkhoán Thành phố Hồ Chí Minh (nay là SGDCK TP.HCM) vào hoạt động, đánh dấu
sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam Năm 2005, Trung tâm giao dịchchứng khoán Hà Nội (nay là SGDCK HN) lần đầu tiên tổ chức bán đấu giá cổ phiếucủa các công ty quốc doanh cho các nhà đầu tư Tính đến hết tháng 06/2012, trên thịtrường chứng khoán đã có 393 cổ phiếu niêm yết trên SGDCK HN; có 276 cổ phiếu,chứng chỉ quỹ niêm yết trên SGDCK TP.HCM Như vậy tổng số cổ phiếu, chứng chỉquỹ niêm yết trên cả hai sàn chứng khoán là 669 doanh nghiệp Trong thời gian qua,cùng với sự phát triển không ngừng về quy mô của thị trường chứng khoán ViệtNam, là sự lớn mạnh của các tổ chức tài chính trung gian, đặc biệt là các công tychứng khoán Đến hết tháng 09/2012, số lượng công ty chứng khoán tại Việt Nam là
105 công ty, với rất nhiều loại hình dịch vụ được đưa ra nhằm thỏa mãn nhu cầu củanhà đầu tư như : môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư, tư vấn tài chính doanh nghiệp,
tự doanh, bảo lãnh phát hành chứng khoán…Số lượng các công ty chứng khoán lớn,các công ty phát triển mạnh các chi nhánh, phòng giao dịch, trong khi thị trường ViệtNam được đánh giá là còn khá nhỏ bé về qui mô cũng như giá trị giao dịch, do đómức độ cạnh tranh giữa các công ty rất gay gắt
Từ cuối năm 2008, thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu suy giảm Chỉ
số VNIndex từ mức đỉnh là 1.170,67 điểm vào ngày 12/3/2007, giảm xuống mức thấpnhất là 245 điểm vào đầu năm 2009 Từ đó đến nay, chỉ số này có sự tăng nhẹ, vàdao động trong biên độ hẹp từ 400 đến 600 điểm với mức thanh khoản thấp, giá trịgiao dịch giảm mạnh Những tham vọng quá lớn cùng sự quản lý yếu đã khiếnnhiều công ty thua lỗ liên tục nhiều năm, rơi vào tình trạng mất khả năng thanhtoán, bị đình chỉ hoạt động giao dịch, hay bị kiểm soát đặc biệt Theo số liệu từ Ủyban Chứng khoán nhà nước thì trong Quý I/2012 đã có 54 công ty lỗ, tổng số công
ty có lỗ lũy kế tính đến hết Quý I/2012 là 66 công ty, trong đó có 12 công ty lỗ lũy
Trang 8kế trên vốn điều lệ hơn 50%, 27 công ty có vốn chủ sở hữu thâm hụt 50% so vớivốn pháp định, một loạt các công ty phải đóng cửa chi nhánh, phòng giao dịch, cắtgiảm nhân sự, giảm lương.
Trước biến động khó lường của thị trường, Công ty cổ phần chứng khoánFPT - một trong những công ty chứng khoán lớn trên thị trường, đã có những thayđổi về chiến lược kinh doanh định hướng kinh doanh tập trung xem Môi giới là hoạtđộng chủ đạo trong chiến lược phát triển của mình, tập trung nâng cấp hoàn thiện
hệ thống công nghệ thông tin và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tuy nhiên, sựbiến động lớn của thị trường chứng khoán, sự cạnh tranh gay gắt giữa các công tytrong việc dành thị phần, đòi hỏi mỗi công ty phải có được chiến lược kinh doanh
phù hợp Đó là lý do tôi chọn đề tài “Phát triển kinh doanh của công ty cổ phần
chứng khoán FPT trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán ” làm luận
văn thạc sỹ, nhằm giúp các nhà quản lý công ty có cái nhìn rõ hơn, cụ thể hơn v ềtình hình kinh doanh của mình trong bối cảnh hiện tại Từ đó có chính sách pháttriển thích hợp đem lại sự thỏa mãn tối đa cho các cổ đông, cũng là làm cho hoạtđộng của công ty ngày một hiệu quả và chuyện nghiệp hơn
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu
Những năm 2005-2007, khi thị trường chứng khoán bùng nổ, cùng với đó là
sự quan tâm của báo chí, các cơ quan ngôn luận về tình hình thị trường, thì cũngnhiều công trình nghiên cứu về chứng khoán và thị trường chứng khoán Nhiều đề tàinghiên cứu, tiểu luận về chứng khoán viết về công ty chứng khoán, nghiệp vụ củacông ty chứng khoán, phát triển kinh doanh, nâng cao chất lượng… Tuy nhiên từnhững năm 2008 trở đi, khi thị trường chứng khoán suy giảm, số lượng các nghiêncứu cũng như đề tài viết về chủ đề này cũng hạn chế và nội dung của các đề tài cũngvẫn chủ yếu xoay quanh các vấn đề như trên Các nghiên cứu về thị trường lúc suygiảm cũng như tác động của nó đến hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoángần như chưa có Một số các nghiên cứu của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trungương, Phòng quản lý thành viên của hai sở giao dịch, hay các bài báo, nghiên cứunhỏ… đều mang tính chất mô tả thực trạng, liệt kê các vấn đề hoặc các vấn đề vĩ mô
Trang 9tổng thể Ví dụ như Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương thường nghiên cứucác vấn đề tổng quan về thị trường chứng khoán như “Mở rộng hình thức cổ phầntrong nền kinh tế” (năm 2010); “Nâng cao hiệu quả và phát huy tác dụng của thịtrường chứng khoán” ( năm 2011) Các chuyên trang về tài chính như VNeconomy,Cafef, stockbiz, Gafin… thường có cái bài thống kê giao dịch, nhận định thị trườnghoặc các phân tích về các công ty niêm yết hàng ngày và hàng tuần
Về vấn đề phát triển kinh doanh của các công ty chứng khoán, tác giả có thamkhảo những nghiên cứu sau:
Luận văn thạc sỹ “ Phát triển dịch vụ chứng khoán của công ty chứng khoánNgân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” của Nguyễn Hồng Giang (2009), vớinhững nội dung nghiên cứu về thực trạng hoạt động kinh doanh của Công ty, nêunhững điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) và chỉ rõ những tồn tại
và nguyên nhân Hệ thống những giải pháp và kiến nghị để phát triển dịch vụ chứngkhoán tại công ty
Luận án cao học “ Phát triển hoạt động của công ty chứng khoán ở Việt Nam”của Trần Thùy Linh ( 2010), với nội dung nghiên cứu về thực trạng phát triển hoạtđộng của các công ty chứng khoán, phân tích các nguyên nhân làm hạn chế sự pháttriển của công ty chứng khoán thời gian qua đồng thời đề xuất các giải pháp pháttriển kinh doanh các công ty
Theo khảo sát của tác giả, các nghiên cứu về kinh doanh của công ty chứngkhoán có khá nhiều, tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu về kinh doanhcủa các công ty chứng khoán trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm các vấn đề sau:
Các vấn đề về hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán FPT
Đánh giá hiệu quả các hoạt động kinh doanh của công ty
Đóng góp một số ý kiến nhằm phát triển kinh doanh tại công ty cổ phầnchứng khoán FPT
Trang 104 Đối tượng nghiên cứu- phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Lý luận về phát triển kinh doanh của các công tychứng khoán và thực tiễn về phát triển kinh doanh của công ty cổ phần chứng khoánFPT trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán
Phạm vi nghiên cứu: Tình hình kinh doanh và phát triển kinh doanh tại công
ty cổ phần chứng khoán FPT từ năm 2007 đến năm 2012 và kiến nghị giải pháp đếnnăm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Phương pháp thống kê lập bảng,biểu, so sánh, phân tích, tổng hợp và suy luận đánh giá trên cơ sở các phân tích Các
dữ liệu được lấy từ nguồn thông tin của Ủy ban chứng khoán nhà nước, các Sở giaodịch chứng khoán, Trung tâm lưu kí chứng khoán, các báo cáo của công ty
6 Kết cấu của luận văn :
Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, nội dung nghiên cứu của luận văn đượcchia làm ba phần như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển kinh doanh của các công ty
chứng khoán trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh doanh của công ty cổ phần chứng
khoán FPT trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán hiện nay
Chương 3: Giải pháp phát triển kinh doanh của công ty cổ phần chứng khoán
FPT đến năm 2020
Trang 11CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TRONG BỐI CẢNH SUY GIẢM THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới hoạt động của
các công ty chứng khoán Việt Nam
Những khó khăn của nền kinh tế thế giới đang tiếp tục kéo dài từ các nămtrước sang năm 2012 Kinh tế toàn cầu chưa thoát khỏi đợt suy thoái kép, tăngtrưởng kinh tế đang diễn ra chậm hơn so với cuối năm 2011 Khủng hoảng nợ côngChâu Âu ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường Niềm tin về sự phục hồi của Mỹcũng đang yếu dần bởi những khó khăn của nền kinh tế và sản xuất trì trệ diễn ra ởhầu hết các nước trên thế giới Nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế, nhiều nước đãbơm tiền vào hệ thống ngân hàng hoặc nới lỏng chính sách tiền tệ
Tại Việt Nam, chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát, ổn địnhkinh tế vĩ mô trong năm 2011 đã khiến cho tăng trưởng kinh tế chậm lại trong năm
2012 Lạm phát, lãi suất cao, sản xuất suy giảm do tiêu thụ hàng hóa chậm, hàng tồnkho tăng gây sức ép cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.Chính Phủ đề ra mục tiêu trong nghị quyết 01/NQ-CP ngày 3/1/2012 và Nghị quyết13/NQ-CP ngày 10/5/2012 là : “Kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo
an sinh xã hội, từng bước thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế” Các biện pháp, chínhsách tài khóa, tiền tệ đã được áp dụng và đang đạt được những thành công nhấtđịnh: lạm phát được kiềm chế; kinh tế ổn định; dự trữ ngoại tệ tăng gấp đôi; thungân sách ổn định; giảm nhập siêu Tuy nhiên, sản xuất kinh doanh gặp rất nhiềukhó khăn; sức mua của thị trường giảm; nền kinh tế tuy có tăng trưởng nhưng tốc
độ tăng thấp hơn so với cùng kỳ năm 2011 Theo bộ Kế hoạch và Đầu tư, trên50.000 doanh nghiệp phá sản từ đầu năm 2011 đến cuối quý 1/2012 Thua lỗ lớn tạiVinalines, Vinashin, EVN, tổng công ty ximăng Việt Nam Vicem, tập đoàn Sông
Trang 12Đà, TKV… càng khiến cho nền kinh tế Việt Nam dễ lún sâu vào tình trạng đình đốnhơn bao giờ hết Tình trạng suy giảm kinh tế toàn cầu khiến cho dòng vốn đầu tưnước ngoài vào Việt Nam có dấu hiệu giảm sút Thu hút đầu tư nước ngoài từ đầunăm 2012 đến 20/4/2012 chỉ bằng 68,5% so với cùng kỳ năm trước, vốn thực hiệngiảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước Sự sụt giảm nhu cầu tại nhiều nước trên thếgiới và giá, đã khiến cho xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của Việt Nam bị giảmmạnh trong bốn tháng đầu năm 2012 so với cùng kỳ năm trước, như dầu thô giảm3,1%; cà phê giảm 7,9%; cao su giảm 8,3%; than đá giảm 12,2%; gạo giảm 27,8%
…
Cùng với sư suy thoái kinh tế cả trong và ngoài nước, từ cuối năm 2008, thịtrường chứng khoán Việt Nam đã suy giảm mạnh Chỉ số VN Index từ mức đỉnh là1.170,67 điểm vào ngày 12/3/2007, giảm xuống mức thấp nhất là 245 điểm vào đầunăm 2009 Sau đó thị trường có sự hồi phục lên mức trên 600 điểm vào đầu năm
2010 Từ đó đến nay, chỉ số này dao động trong biên độ từ 400 đến 600 điểm vớimức thanh khoản thấp và giá trị giao dịch giảm mạnh Theo tổng hợp của Công ty
cổ phần chứng khoán An Bình, tính đến hết 11/7/2012, toàn thị trường có 457 mã
cổ phiếu và chứng chỉ quỹ (57%) có giá dưới mệnh giá (10.000 đồng) Trong bốicảnh đó, nhiều công ty niêm yết đã bị thôn tính, gây thiệt hại cho các nhà đầu tư vàdoanh nghiệp, niềm tin của công chúng đầu tư bị suy giảm, các công ty chứngkhoán và quản lý quỹ bị thua lỗ nặng Hoạt động kinh doanh của các công ty chứngkhoán trong bối cảnh đó cũng rất khó khăn Việc suy giảm của thị trường đã cónhững tác động đến hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán cả về mặttích cực và mặt tiêu cực
Tác động tiêu cực
Thị trường chứng khoán suy giảm đồng nghĩa với việc giá trị giao dịch trên thịtrường giảm, doanh thu của các công ty chứng khoán từ đó cũng giảm theo, trong khichi phí hoạt động ngày càng tăng, đã làm nhiều công ty rơi vào tình trạng thua lỗ, tácđộng mạnh tới sự phát triển kinh doanh của các công ty chứng khoán, cụ thể:
Trang 13Thứ nhất, các công ty phải thu hẹp hoạt động kinh doanh bằng cách đóng cửacác chi nhánh, phòng giao dịch, cắt giảm nhân sự Trong 6 tháng đầu năm 2012,mạng lưới của các CTCK có xu hướng bị thu hẹp lại, đã có 10 chi nhánh, 7 phònggiao dịch đóng cửa, trong khi chỉ có 3 chi nhánh và 2 phòng giao dịch được mởmới, tổng số chi nhánh hiện tại là 135 và 73 phòng giao dịch Nhiều công ty đãkhông còn nguồn lực để duy trì hoạt động của công ty, buộc phải từ bỏ bớt cácnghiệp vụ kinh doanh, từ đó thay đổi hoàn toàn chiến lược kinh doanh dài hạn, thậmchí có những công ty buộc phải dừng hoạt động
Thứ hai, sự mất vốn kinh doanh khiến nhiều công ty chứng khoán có nguy
cơ bị thâu tóm bởi các doanh nghiệp, tổ chức khác có tiềm lực hơn Thị trườngchứng khoán suy giảm đã khiến giá cổ phiếu của các công ty chứng khoán trở nên
rẻ hơn nhiều so với trước đây, việc sở hữu một công ty chứng khoán nhỏ hoặc trungbình trở nên dễ dàng hơn rất nhiều Do vậy thời gian qua đã xuất hiện nhiều thương
vụ thâu tóm cổ phiếu của các công ty chứng khoán một cách âm thầm, đặc biệt từcác nhà đầu tư nước ngoài Nếu các công ty không chủ động phòng ngự, việc bị mất
tỷ lệ cổ phần chi phối sẽ khiến các lãnh đạo công ty mất khả năng kiểm soát, ảnhhưởng toàn bộ đến phát triển kinh doanh của công ty
Thứ ba, vấn đề về rủi ro và đạo đức nghề nghiệp Thị trường chứng khoánsuy giảm đã khiến áp lực kinh doanh với các lãnh đạo công ty chứng khoán tănglên Để đạt được các chỉ tiêu lợi nhuận, nhiều lãnh đạo các công ty đã chấp nhậnthực hiện các nghiệp vụ trái qui định như xây kho hàng bán khống, cho vay kí quỹvới tỷ lệ cao, cạnh tranh về hoa hồng môi giới để lôi kéo nhân viên… Điều này đãkhiến rủi ro trong hoạt động của các công ty chứng khoán là rất lớn Bên cạnh đó,những kẽ hở trong qui trình hoạt động, các qui định còn đơn giản của pháp luật,nhiều nhân sự công ty chứng khoán đã lợi dụng khách hàng, thực hiện mua bán trêntài khoản của khách, gây thiệt hại lớn cho nhiều khách hàng Các vấn đề này đã làmảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của các nhà đầu tư, uy tín công ty, tác độngtiêu cực tới việc phát triển kinh doanh của các công ty chứng khoán
Trang 14Tác động tích cực
Sự suy giảm của thị trường chứng khoán đã tác động lớn tới hoạt động củacác công ty chứng khoán tại Việt Nam Bên cạnh những mặt tiêu cực, sự suy giảmcủa thị trường đã tạo ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh, buộc các công tymuốn tồn tại phải tự cải tổ, thay đổi theo hướng phát triển lành mạnh, chuyênnghiệp hơn
Ngoài ra, sự suy giảm của thị trường chứng khoán là cơ hội cho những công
ty chứng khoán có nguồn vốn mới trong việc lựa chọn danh mục tự doanh các cổphiếu của công ty tốt với giá cả rẻ tương đối, cũng như xây dựng các chính sáchdịch vụ tài chính ít rủi ro hơn Đây cũng là cơ hội để các cơ quan quản lý nhà nước
có phương án tái cấu trúc lại thị trường chứng khoán và hoạt động của các công tychứng khoán, hướng thị trường chứng khoán phát triển minh bạch hơn, ổn định hơn
và thực sự là kênh huy động vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp và nền kinh tế
1.2 Tổng quan về phát triển kinh doanh của các công ty chứng khoán
trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán
1.2.1 Đặc điểm kinh doanh của công ty chứng khoán trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán
Trước những khó khăn chung của toàn thị trường, hoạt động của các công tychứng khoán đã có nhiều những thay đổi cả về cơ cấu hoạt động cũng như địnhhướng kinh doanh Theo quyết định số 27/2007/QĐ-BTC của Bộ tài chính về việcban hành Qui chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán, công ty chứngkhoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồmmột, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứngkhoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán
Về thực chất, hoạt động của công ty chứng khoán là hoạt động dịch vụ.Thông qua hoạt động mua bán trên thị trường chứng khoán, công ty chứng khoánvừa làm dịch vụ cho người bán ( tổ chức phát hành chứng khoán, cổ đông, tổ chức
Trang 15bảo lãnh phát hành), vừa làm dịch vụ cho người mua ( nhà đầu tư cá nhân, nhóm lợiích, tổ chức), đồng thời đáp ứng lợi ích của chính mình là có lợi nhuận
Trong điều kiện thị trường chứng khoán suy giảm, các cơ quan chủ quản cũng
ra những qui định chặt chẽ hơn trong hoạt động kinh doanh của các công ty chứngkhoán Đăc điểm kinh doanh của các công ty chứng khoán trong bối cảnh này là:
Thứ nhất, ngành nghề kinh doanh chứng khoán thuộc ngành nghề kinh doanh
có điều kiện Khi thị trường suy giảm, hoạt động kinh doanh của các công ty chứngkhoán phải tuân thủ các qui định chặt chẽ hơn về vốn Pháp định so với trước kia.Ngày 20/07/2012, Thủ tướng chính phủ đã kí nghị định số 58/2012/NĐ-CP về việcqui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luậtsửa đổi bổ sung một số điều của luật chứng khoán, trong đó qui định vốn pháp địnhmới trong hoạt động của các công ty chứng khoán Cụ thể: Vốn pháp định cho cácnghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán tại Việt Nam là : Môi giới chứngkhoán 25 tỷ đồng, Tự doanh chứng khoán 100 tỷ đồng, Bảo lãnh phát hành chứngkhoán 165 tỷ đồng, tư vấn đầu tư chứng khoán 10 tỷ đồng Việc thay đổi vốn phápđịnh cho các nghiệp vụ kinh doanh để đảm bảo hơn sự an toàn cho các khách hàngcủa công ty chứng khoán
Thứ hai, sự linh hoạt về phương thức kinh doanh và sản phẩm dịch vụ: Điềunày xuất phát từ đặc điểm cơ sở khách hàng, mối quan hệ cung cầu về dịch vụchứng khoán cũng như sự sơ khai của thị trường chứng khoán Việt Nam Kháchhàng của công ty chứng khoán gồm cả bên bán ( tổ chức niêm yết, cổ đông) và bênmua (nhà đầu tư cá nhân, tổ chức) Để có thể mở rộng mạng lưới khách hàng, đadạng hóa về doanh thu, rất nhiều công ty chứng khoán đã phát triển và hiện thựchóa nhiều loại hình sản phẩm kinh doanh dịch vụ chứng khoán, phục vụ tối đa vàthỏa mãn mọi nhu cầu của khách hàng trong hoạt động kinh doanh chứng khoánhằng ngày của mình
Thứ ba, sự linh hoạt trong phương thức xử lý rủi ro: Do tình hình thị trường
có nhiều biến động, trong đó có những rủi ro vĩ mô làm tác động rất lớn đến thị
Trang 16trường, nên các công ty chứng khoán cũng phải rất linh hoạt, chủ động trong việc
xử lý các rủi ro Ngoài ra, nhiều sản phẩm của các công ty chứng khoán chưa cókhuôn khổ pháp lý cụ thể hướng dẫn, các công ty tự xây dựng ra qui trình, do đó đãphát sinh nhiều rủi ro về hoạt động kinh doanh và pháp lý Để đảm bảo an toàn vốncho công ty, vai trò của bộ phận kiểm soát rủi ro trong giai đoạn này được đề cao vàcoi trọng hơn
Thứ tư, sự thay đổi các nghiệp vụ kinh doanh Các nghiệp vụ kinh doanh củacông ty chứng khoán là môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh pháthành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trườngchứng khoán suy giảm, nhiều công ty rơi vào tình trạng thua lỗ triền miên, phải thựchiện cắt giảm nhân sự cũng như bỏ bớt các nghiệp vụ kinh doanh Ngoài ra, nhiềucông ty cũng định hướng tập trung vốn sang các nghiệp vụ khác như hoạt độngngân hàng đầu tư, gửi tiết kiệm, đầu tư góp vốn liên doanh Đây cũng là xu hướngtất yếu trong quá trình tái cấu trúc lại thị trường chứng khoán, để những công ty cótiềm lực thực sự phát triển theo hướng chuyên nghiệp và khoa học hơn
1.2.2 Lý thuyết về phát triển kinh doanh các công ty chứng khoán trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán
Trong bối cảnh suy giảm của thị trường, mỗi công ty chứng khoán phải táicấu trúc lại toàn bộ, có những chiến lược kinh doanh phù hợp với điều kiện, nguồnlực của mình để có thể tồn tại qua giai đoạn khó khăn của thị trường Về cơ bản cáccông ty chứng khoán tăng cường năng lực quản trị và hoạt động dựa trên ba trụ cộtchính: mức độ đủ vốn; quản lý rủi ro cho các công ty chứng khoán; xếp hạng theothông lệ quốc tế từ đó được phân loại và giám sát bởi Ủy ban chứng khoán Nhànước
Đối với cơ quan chủ quản, việc tái cấu trúc các công ty chứng khoán đượcthực hiện với mục đích:
Trang 17- Nâng cao chất lượng hoạt động, năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp vàkhả năng kiểm soát rủi ro của các công ty chứng khoán Trên cơ sở đó, từng bướcthu hẹp số lượng các công ty chứng khoán
- Tăng cường khả năng, hiệu quả quản lý, giám sát đối với hoạt động công tychứng khoán
- Mở cửa thị trường dịch vụ tài chính theo lộ trình hội nhập đã cam kết
Các nguyên tắc, quan điểm cấu trúc lại các công ty chứng khoán:
- Việc tái cấu trúc các công ty chứng khoán được thực hiện theo lộ trình, cóbước đi thận trọng, chắc chắn, không làm xáo trộn hoạt động của thị trường chứngkhoán cũng như các hoạt động kinh tế xã hội của đất nước, đảm bảo lợi ích hợppháp khách hàng
- Công ty chứng khoán thực hiện tái cơ cấu trên cơ sở quy định của pháp luật,
lộ trình của Đề án tái cấu trúc và theo sự quản lý, giám sát của cơ quan quản lý NhàNước
- Xử lý tốt mối quan hệ giữa các công ty chứng khoán, ngân hàng và tổ chứcbảo hiểm đảm bảo quản trị rủi ro, đồng thời sử dụng các nghiệp vụ thị trường để tái
cơ cấu thông qua cơ chế góp vốn minh bạch
Trên cơ sở Thông tư 226/2010/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2010 của BộTài chính quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chứckinh doanh chứng khoán không đáp ứng các chỉ tiêu an toàn tài chính và các vănbản hướng dẫn về chứng khoán và thị trường chứng khoán cũng như kết quả kinhdoanh đã kiểm toán của các công ty chứng khoán, tiến hành rà soát phân nhóm cáccông ty chứng khoán theo mức độ rủi ro giảm dần dựa trên 02 chỉ tiêu sau: Vốn khảdụng/tổng rủi ro (bao gồm rủi ro thị trường, rủi ro thanh toán, và rủi ro hoạt động)
và tỷ lệ lỗ lũy kế/vốn điều lệ Cụ thể:
- Nhóm 1-nhóm bình thường: Nhóm này bao gồm các công ty chứngkhoán có tỷ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro trên 150% và có lãi hoặc lỗ lũy kế dưới30% vốn điều lệ
Trang 18- Nhóm 2-nhóm kiểm soát: Nhóm này bao gồm các công ty chứngkhoán có tỷ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro dưới 150% tới trên 120% và có lỗ lũy kế từ30% đến 50% vốn điều lệ.
- Nhóm 3-nhóm kiểm soát đặc biệt: Nhóm này bao gồm các công tychứng khoán có tỷ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro dưới 120% và có lỗ lũy kế từ trên50% vốn điều lệ
Trên cơ sở phân loại này, có định hướng phát triển cho các công tychứng khoán, cụ thể:
- Với các công ty chứng khoán thuộc nhóm 1: Ổn định hoạt động kinhdoanh và nhân sự, có chiến lược phát triển kinh doanh dựa trên những thế mạnh,khắc phục những tồn tại, có định hướng phát triển lâu dài
- Với các công ty chứng khoán thuộc nhóm 2, 3: Xem xét và đánh giálại hoạt động của công ty; nếu còn khả năng tồn tại thì điều chỉnh lại chiến lượckinh doanh sao cho phù hợp; với những công ty quá yếu kém, có thể tiến hành hợpnhất, sáp nhập với các công ty chứng khoán lớn hơn
1.2.3 Sự cần thiết khách quan phải phát triển kinh doanh của công ty chứng khoán trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán
Các nghiệp vụ kinh doanh của CTCK có ý nghĩa rất quan trọng trên thịtrường chứng khoán, góp phần giảm bớt những chi phí thông tin và giao dịch chomỗi cá nhân, tổ chức và toàn bộ nền kinh tế Các dịch vụ của CTCK giúp đáp ứngđầy đủ, kịp thời yêu cầu của người cần vốn và người có vốn; giúp tư vấn, tài trợ, vàphòng ngừa rủi ro cho hoạt động kinh doanh của người đầu tư trên TTCK
Ngoài ra, với những chủ thể khác nhau trên TTCK, các nghiệp vụ kinh doanhcủa CTCK cũng có những vai trò quan trọng:
Đối với tổ chức phát hành
Mục đích của các tổ chức phát hành khi tham gia TTCK là thông qua hoạtđộng phát hành để huy động vốn Để đáp ứng mục đích này, dịch vụ bảo lãnh pháthành của CTCK giúp các tổ chức huy động dễ dàng và với chi phí thấp nhất Một
Trang 19trong những nguyên tắc của TTCK và nguyên tắc trung gian, nghĩa là các nhà đầu
tư, nhà phát hành không được mua bán chứng khoán trực tiếp mà phải thông quatrung gian mua bán Các CTCK sẽ thực hiện vai trò trung gian mua bán cho cả nhàđầu tư và nhà phát hành, đồng thời cũng đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nềnkinh tế qua TTCK
Đối với TTCK
Đối với TTCK, các nghiệp vụ kinh doanh của CTCK có hai vai trò chính:Một là, góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường: giá cả chứng khoán là dothị trường quyết định Tuy nhiên, để đưa ra giá cuối cùng, người mua và người bánphải thông quan CTCK vì họ không được trực tiếp tham gia vào quá trình mua bán.Trên thị trường sơ cấp , các CTCK cung cấp dịch vụ tư vấn cổ phần hóa và dịch vụbảo lãnh phát hành chứng khoán cùng các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên.Trên thị trường thứ cấp, các CTCK cung cấp dịch vụ môi giới, tư vấn, giúp các nhàđầu tư giao dịch được chứng khoán ở mức giá hợp lý Do đó, có thể nói hoạt độngcủa CTCK đã góp phần tạo lập giá cả cho các chứng khoán
Hai là, góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính: Cácdịch vụ công ty chứng khoán cung cấp như môi giới, tư vấn, bảo lãnh phát hành giúp chứng khoán được giao dịch qua lại trên thị trường, giúp kết nối các nhu cầucủa bên bán và bên mua, từ đó tạo ra tính thanh khoản cho các tài sản tài chính
Đối với cơ quan quản lý thị trường
Một trong những qui định của TTCK là các thông tin cần phải được công khaihóa dưới sự giám sát của các cơ quan quản lý thị trường Việc cung cấp thông tin vừa
là qui định của pháp luật, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của CTCK vì CTCK phảiminh bạch, công khai trong mọi hoạt động Nhờ việc cung cấp các thông tin như giaodịch mua bán, thông tin về cổ phiếu, thông tin về tổ chức phát hành, thông tin về nhàđầu tư , các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượngthao túng, bóp méo thị trường, lũng đoạn, làm giá cổ phiếu; đồng thời có các biện pháp,chính sách thích hợp nhằm thúc đẩy, phát triển TTCK
Trang 20Tuy nhiên trong những năm gần đây, đặc biệt là từ năm 2007 đến nay tìnhhình kinh tế thế giới có nhiều biến động phần nào ảnh hưởng đến thị trường tàichính mà thị trường chứng khoán Việt Nam là nạn nhân Chỉ số VNIndex giảmmạnh, khối lượng và giá trị giao dịch cũng giảm, thị trường có những giai đoạn gầnnhư đóng băng
Hình 1.1: Đồ thị Vnindex từ ngày thành lập
Sự ra đời quá nhiều các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ (các địnhchế tài chính) trong lúc thị trường Việt Nam còn quá nhỏ bé, từ đó tạo ra nhiều khókhăn và cạnh tranh gay sắt Để dành giật thị phần, nhiều công ty đã lôi kéo cán bộ,khách hàng của nhau, vi phạm nguyên tắc nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp Ngàycàng có nhiều công ty chứng khoán rơi vào tình trạng “trắng tay” , nhiều sai phạmđến mức bị khởi tố hình sự Bản thân các công ty chứng khoán cũng thấy được mức
Trang 21độ cạnh tranh trong ngành cung cấp dịch vụ tài chính này là hết sức gay gắt, nhất là
từ 15/09/2012, nhà nước cho phép các nhà đầu tư nước ngoài phép được thành lậpcông ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Tổng thể về hoạt độngkinh doanh quý 3/2012 của các công ty chứng khoán vừa kết thúc, tiếp tục vớinhững khó khăn khi mà số doanh nghiệp có lợi nhuận rất ít, trong khi hơn 2/3 cònlại đang lỗ lũy kế, thậm chí lỗ vượt tầm kiểm soát của vốn đầu tư chủ sở hữu (vốnđiều lệ) Thị trường ghi nhận thêm 53 công ty chứng khoán lỗ quý 3/2012, với tổng
số tiền gần 370 tỷ đồng Trong đó, nổi bật với những công ty có tiếng như KLS 92.5 tỷ đồng), VIX (-78 tỷ đồng), SHS (-59 tỷ đồng), AVS (-20 tỷ đồng)
(-Bảng 1.1: Những công ty chứng khoán lỗ lớn 9 tháng đầu năm 2012
(Nguồn:Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh)
Tuy nhiên, thống kê đến hết tháng 9/2012, ngoài những công ty chứng khoángần như đã “biến mất” trên thị trường như Chứng khoán Đông Dương (DDS),
Trang 22Chứng khoán SME (SME), Chứng khoán Hà Nội (HSSC), Chứng khoán TrườngSơn (TSS), Chứng khoán Hamico (HamicoSC)… thì có đến 63 công ty đã có lỗ lũy
kế, với con số lên tới gần 6,000 tỷ đồng Trong số này, có khoảng 12 công ty lỗ hơn50% vốn điều lệ, 17 công ty lỗ từ 30% đến dưới 50% vốn điều lệ và khoảng 32công ty lỗ dưới 30%
Bảng 1.2: Công ty chứng khoán lỗ lũy kế hơn 50% vốn điều lệ
Đơn vị: Tỷ đồng
Mã chứng
khoán
Vốn chủ sở hữu Vốn điều lệ
LNST chưa phân phối
(Nguồn: Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh)
Như vậy, chiếu theo Quyết định số 62/QĐ-BTC ngày 10/1/2012 của Bộ Tàichính phê duyệt Đề án tái cấu trúc các công ty chứng khoán thì sẽ có thêm 12 công
ty chứng khoán thuộc diện kiểm soát đặc biệt (chưa bao gồm tỷ lệ vốn khả dụng),
17 công ty thuộc diện kiểm soát
Trong bối cảnh đó, các công ty chứng khoán phải có những chiến lược, bước
đi hết sức rõ ràng trong kinh doanh, cần phải rà soát, đánh giá lại toàn bộ các quytrình kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro, tăng cường công tác quản trị doanh nghiệp,tuân thủ quy định pháp luật trong toàn bộ hoạt động của mình, và vấn đề đặc biệt làphải có đội ngũ nhân sự tốt, có đạo đức nghề nghiệp cao thì mới có thể tồn tại và
Trang 23đưa công ty phát triển bền vững
1.3 Nội dung phát triển kinh doanh của các công ty chứng khoán trong
bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán
1.3.1 Phát triển kinh doanh của công ty chứng khoán theo chiều rộng
1.3.1.1 Tăng cường vốn để thực hiện được nhiều nghiệp vụ kinh doanh và đầu tư công nghệ, cơ sở hạ tầng
Hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán là hoạt động kinhdoanh có điều kiện Mỗi một nghiệp vụ kinh doanh đều có qui định cụ thể vềvốn, do đó, để thực hiện được đầy đủ các nghiệp vụ kinh doanh, các công tychứng khoán phải thực hiện nâng vốn theo qui định: Môi giới chứng khoán 25 tỷđồng; Tự doanh chứng khoán 100 tỷ đồng; Bảo lãnh phát hành chứng khoán 165
tỷ đồng; Tư vấn đầu tư chứng khoán 10 tỷ đồng Việc phát triển đầy đủ cácnghiệp vụ sẽ tạo điều kiện cho công ty chứng khoán đa dạng hóa doanh thu, từ
đó có những chiến lược phát triển kinh doanh phù hợp theo từng nghiệp vụ trongmỗi thời kì khác nhau cũng như trên cơ sở tiềm lực của doanh nghiệp Với cácnghiệp vụ kinh doanh theo qui định, các công ty chứng khoán thực hiện đượcnhiều sản phẩm dịch vụ để cung cấp cho khách hàng như : mở tài khoản giaodịch, lưu kí chứng khoán, tư vấn đầu tư, giao dịch mua bán, tư vấn cổ phần hóa,bảo lãnh phát hành Càng nhiều sản phẩm, dịch vụ, các CTCK càng có nhiều cơhội để mở rộng quan hệ và tiếp cận nhiều đối tượng khách hàng khách hàng khácnhau Sơ bộ các công ty chứng khoán lớn trên thị trường hiện nay có thể thấy,công ty nào hiện đang có vốn điều lệ và lượng tiền mặt lớn đều là những công tydẫn đầu về thị phần, doanh thu và tạo ra được nhiều lợi nhuận Thống kê số liệu
về một số công ty chứng khoán lớn hiện nay để phân tích các yếu tố tác động đếnviệc phát triển kinh doanh tại các công ty
Bảng 1.3: Chỉ tiêu tài chính nhân sự tại một số CTCK lớn đến 30/06/2012
Trang 24Tỷ suất lợi nhuận bình
quân đầu người
Biểu đồ 1.1 : Tiền và tương đương tiền tại một số CTCK đến 30/06/2012
Cũng như những doanh nghiệp thuộc ngành tài chính, cơ sở vật chất banđầu và hệ thống công nghệ thông tin với công ty chứng khoán rất được trú trọng.Bên cạnh đó, với tính chất đặc thù của ngành nghề, các điều kiện về cơ sở vậtchất và hệ thống đã được Ủy ban chứng khoán qui định cụ thể khi công ty đăng
Trang 25kí thành lập Cùng với sự phát triển của thị trường, việc kết nối hệ thống giữ các
Sở giao dịch và các công ty thành viên càng phải nâng cấp, phát triển để phù hợpvới tài chính quốc tế Do đó để tồn tại và phát triển, các công ty phải khôngngừng bổ sung vốn để nâng cấp hệ thống theo yêu cầu của các Sở, đồng thời tựphát triển hệ thống để tạo ra các dịch vụ tiện ích phục vụ nhu cầu ngày càng caocủa khách hàng Thực tế đã cho thấy, công ty nào tập trung nguồn lực vào việcphát triển các dịch vụ trực tuyến đều được các nhà đầu tư ưa thích và lựa chọn.1.3.1.2 Phát triển mạng lưới các chi nhánh, phòng giao dịch, đại lý mở tài khoản của các công ty chứng khoán
Để mở rộng thị phần và đa dạng hóa khách hàng, mở rộng mạng lưới giaodịch cũng là lựa chọn của nhiều công ty chứng khoán đặc biệt là trong giai đoạnthị trường chứng khoán sôi nổi Nhiều công ty chứng khoán đã mạnh dạn mởcác chi nhánh, phòng giao dịch tại nhiều khu vực trên toàn quốc và một số công
ty dựa trên khả năng của mình đã mở các phòng giao dịch ở nước ngoài Mỗi chinhánh, phòng giao dịch được thành lập đều phải tuân thủ các qui định về cơ sởvật chất, nhân sự của Ủy ban chứng khoán Việc mở rộng về qui mô đã khiến chiphí hoạt động của các công ty chứng khoán tăng mạnh Khi thị trường phát triển
ổn định, doanh thu đủ bù đắp chi phí, việc mở rộng này thường đem lại hiệu quảlớn cho các công ty Nhiều công ty đã vươn lên vị trí thị phần top 05 trong giaiđoạn này nhờ mạnh dạn mở rộng mạng lưới Thành công ở định hướng này gầnnhất phải kể đến HSC Với chiến lược mở rộng mạng lưới và tập trung nhiều vàolĩnh vực dịch vụ chứng khoán, HSC đã vượt qua SSI về thị phần môi giới cổphiếu trên sàn chứng khoán Nhìn ở con số 89 tỷ đồng doanh thu môi giới củaHSC trong 6 tháng đầu năm 2012 cho thấy khoảng cách khá xa so với nhiều công
ty khác
Đơn vị: Tỷ đồng
Trang 26Biểu đồ 1.2: So sánh doanh thu, doanh thu môi giới, doanh thu khác
tại một số CTCK đến 30/06/2012
Sự vươn lên của HSC trong thị phần môi giới có vẻ như chắc chắn hơn sựvươn lên của Công ty Chứng khoán Thăng Long một thời, mà nay đổi tên thànhCông ty Chứng khoán MB HSC mở rộng mạng lưới, tung ra nhiều gói sản phẩmđáp ứng thị trường tạo lợi thế trước mắt để công ty này tăng nguồn thu Nhưng
để có được điều đó, HSC cũng phải đầu tư mở rộng hệ thống phòng giao dịch,duy trì lượng nhân sự đông đảo ngay cả khi thị trường trong giai đoạn khó khăn.Không có được tiềm lực tài chính cũng như chiến lược tốt như HSC, khi thịtrường chứng khoán suy giảm, áp lực về chi phí với nhiều công ty chứng khoán
đã tăng lên Doanh thu từ các giao dịch của khách hàng cũng như hoạt động kinhdoanh của công ty không hiệu quả, đã khiến nhiều công ty rơi vào tình trạng lỗlớn, buộc phải đóng cửa các chi nhánh, phòng giao dịch, cắt giảm nhân sự Điềunày làm ảnh hưởng nhiều đến khách hàng cũng như uy tín của công ty Do đó,lựa chọn mở rộng hay thu hẹp mạng lưới giao dịch còn phụ thuộc và khả năng,chiến lược của từng công ty cũng như tình hình thị trường chứng khoán nói chung.1.3.1.3 Phát triển đội ngũ nhân viên môi giới, cộng tác viên mở tài khoản
Trang 27Nhân sự là phần quan trọng không thể thiếu khi nhắc đến hoạt động củadoanh nghiệp Với lĩnh vực chứng khoán, nhân sự còn đóng vai trò quyết định trong
kế hoạch kinh doanh và định hướng phát triển của công ty Nhân viên công tychứng khoán ở từng nghiệp vụ cũng phải tuân thủ các qui định về chứng chỉ hànhnghề của Ủy ban chứng khoán Hiện nay, HSC là công ty có lượng nhân viên đôngnhất trong hơn 100 công chứng khoán Với chiến lược mở rộng môi giới ngay cảkhi thị trường khó khăn, HSC đã thu hút được rất nhiều nhân viên môi giới, cộngtác viên từ các công ty chứng khoán khác Kết quả dẫn đầu thị phần môi giới ở cảhai sàn giao dịch trong 06 tháng đầu năm là tất yếu khi các công ty khác đều đangphải cắt giảm nhân sự và thu hẹp hoạt động
Nhân sự phát triển môi giới hiện tại có hai loại: nhân viên môi giới và cộngtác viên mở tài khoản Sự khác biệt giữa hai loại nhân sự này là:
- Nhân viên môi giới: là nhân sự chính thức của công ty, được tuyển dụngtheo qui trình tuyển dụng, có yêu cầu về chứng chỉ hành nghề, được hưởng lương
cơ bản và lương kinh doanh theo qui định của từng công ty, được chi trả bảo hiểm
và các chế độ đãi ngộ khác
- Cộng tác viên mở tài khoản: là các cá nhân, tổ chức có nhu cầu hợp tác trongviệc giới thiệu các khách hàng đến mở tài khoản tại CTCK, không yêu cầu có chứng chỉhành nghề, được hưởng hoa hồng theo giá trị giao dịch của khách hàng giới thiệu
Như vậy, việc phát triển loại nhân sự nào cùng với chính sách thích hợp chotừng nhân sự sẽ được các công ty tùy vào tình hình thực tế để đưa ra Thời gian qua,
do nhiều CTCK gặp khó khăn về tài chính đã sa thải nhiều nhân viên môi giới vàhợp tác với nhiều cộng tác viên để giảm các chi phí về lương, bảo hiểm Việc nàygiúp các công ty giảm bớt gánh nặng về chi phí, tuy nhiên lại khiến nhân sự khônggắn bó lâu dài và bản thân công ty cũng không chủ động được nhân sự khi thịtrường hồi phục
Đơn vị: người
Trang 28Biểu đồ 1.3: Số lượng nhân sự tại các CTCK đến 30/06/2012
Trên đây là số lượng nhân sự của một số công ty chứng khoán lớn tính đến30/06/2012 Các công ty có lợi nhuận tốt và thị phần hàng đầu đều là những công tyduy trì được số lượng nhân viên ổn định và có xu hướng tăng đều qua các năm Cụthể, HSC, với số lượng nhân viên đông nhất, tương ứng có doanh thu ( tính đến hếtquí 2/2012) đứng thứ 3 là 330 tỷ đồng, SSI với số lượng nhân viên là 359 người, cómức doanh thu đứng thứ 2 là 417 tỷ đồng, các công ty như AGR, KLS, VND, BVSđều có mức doanh thu trên 100 tỷ đồng
1.3.2 Phát triển kinh doanh của công ty chứng khoán theo chiều sâu
1.3.2.1 Nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, tạo ra nhiều dịch vụ tiện ích trực tuyến cho kinh doanh chứng khoán
Cạnh tranh về công nghệ đang là định hướng phát triển của nhiều công tychứng khoán hiện nay Sau 12 năm thành lập, thị trường chứng khoán Việt Nam đã
có những thay đổi lớn về cả giá trị giao dịch, sản phẩm dịch vụ cũng như nhữngphương thức giao dịch Vào những năm 2006-2007, khi thị trường chứng khoán ởthời kì hoàng kim, các nhà đầu tư thường thích giao dịch tại sàn Phương thức đặtlệnh chủ yếu là viết phiếu lệnh và thông qua môi giới Ngoài việc lên sàn để đặtlệnh, các nhà đầu tư cũng ưa thích việc trao đổi với nhau, lập ra các nhóm chơi,cũng như trao đổi thông tin tại sàn Tuy nhiên, những năm gần đây, khi thị trườngchứng khoán suy giảm, đã không còn nhiều các khách hàng chỉ tham gia đầu tư mà
Trang 29không thực hiện các hoạt động kinh doanh khác Do đó, để tiết kiệm thời gian, côngsức, các nhà đầu tư ưa thích hình thức giao dịch trực tuyến Họ đặc biệt thích cáccông ty có đầy đủ các tiện ích trực tuyến như đặt lệnh, ứng trước tiền bán, chuyểntiền, giao dịch kí quỹ, giao dịch cầm cố… Nhiều công ty chứng khoán đã thấy rõsức mạnh của công nghệ trong việc thu hút khách hàng nên đã đầu tư lớn vào mảng
hệ thống Với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, các công ty cũng cạnh tranhgay gắt trong việc đưa ra các sản phẩm tiện ích trực tuyến mới cho nhà đầu tư Giờđây nhà đầu tư gần như không cần lên sàn giao dịch vẫn có thể thực hiện tất cả cáccông việc liên quan đến giao dịch Việc phát triển mạnh các giao dịch trực tuyếncũng giúp các công ty chứng khoán giảm bớt chi phí giao dịch, bớt các rủi ro tácnghiệp do con người gây ra, từ đó nâng cao hiệu suất chăm sóc khách hàng
1.3.2.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán
Dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán của các công ty chứng khoán hiện naychưa đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư cũng như chưa được trú trọng thực sự.Hình thức chủ yếu được các công ty áp dụng hiện nay là bản tin hàng ngày, tuần,tháng, bản tin phân tích ngành, doanh nghiệp… Tuy nhiên, chất lượng của các bảntin này còn nhiều chênh lệch giữa các công ty chứng khoán khác nhau, và thườngmang tính tổng hợp tin tức Các khuyến nghị mua bán đưa ra đều được các công tymiễn trừ trách nhiệm, với ghi trú để nhà đầu tư tham khảo Thời gian qua thị trườngchứng khoán suy giảm, phát sinh nhiều vấn đề về gian lận trong các báo cáo tàichính, làm giá chứng khoán, bán khống… khiến nhiều nhà đầu tư ( cổ đông) trởthành người bị hại Với kĩ năng chuyên môn của mình, các công ty chứng khoán cóthể cung cấp cho nhà đầu tư sự đánh giá khách quan và chuyên sâu vè doanh nghiệpcũng như tình hình kinh tế vi mô, vĩ mô, từ đó giúp các khách hàng có những quyếtđịnh đầu tư đúng đắn hơn Với thị trường còn mới phát triển như Việt Nam, cũngnhư trình độ của các nhà đầu tư còn nhiều hạn chế, việc phát triển một đội ngũ tưvấn chuyên nghiệp, có chuyên môn, có đạo đức trở thành nhu cầu cần thiết của tất
cả các công ty chứng khoán, đồng thời cũng là công cụ cạnh tranh hiệu quả, côngbằng, lành mạnh
Trang 301.3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự, đề cao đạo đức nghề nghiệp và kĩ năng chuyên môn
Lĩnh vực chứng khoán thuộc ngành nghề đòi hỏi chất lượng nhân sự cao.Bên cạnh chuyên môn được qui định bằng các chứng chỉ hành nghề, đạo đức nghềnghiệp đang là vấn đề được đề cập nhiều nhất hiện nay Thời gian qua, cùng với sựphát triển của thị trường chứng khoán, nhiều vấn đề về đạo đức nghề nghiệp đã nảysinh Nhiều nhân viên các công ty chứng khoán lợi dụng sự thiếu hiểu biết, cả tincủa khách hàng để trục lợi cá nhân như tự ý mua bán trên tài khoản của khách hàng,giả mạo chữ kí, rút tiền của khách hàng… Những vụ tranh chấp giữa khách hàng vàcông ty chứng khoán đa phần bắt nguồn từ sự thiếu đạo đức nghề nghiệp của cácnhân viên hành nghề cũng như sự quản lý yếu kém của các công ty chứng khoán.Rủi ro với công ty trong trường hợp này là rất lớn, bao gồm cả thiệt hại vật chất, uytín, thương hiệu Do đó, phát triển được một đội ngủ nhân sự lành nghề, trung thực,
là yêu cần thiết yếu với tất cả các công ty chứng khoán Dưới đây là biểu đồ thểhiện tỷ suất lợi nhuận trên số lao động tại một số công ty chứng khoán lớn Có thểthấy dù không có số lượng nhân viên đông nhất, nhưng với đội ngũ chuyên nghiệp,SSI là công ty chứng khoán có tỷ suất cao nhất, gần như gấp đôi các công ty chứngkhoán khác Trong khi đó HSC, số lượng lao động lớn nhất, tạo ra doanh thu lớnnhất, nhưng tỷ suất lợi nhuận trên một lao động là 275 triệu đồng/lao động, kém xacon số 922 triệu đồng/lao động của SSI Với một đội ngũ nhân sự tốt, hiệu suất làmviệc cũng sẽ tăng lên, các chi phí quản lý rủi ro cũng giảm, từ đó tạo ra hiệu quả tốttrong công việc
Đơn vị: Triệu đồng/người
Trang 31Biểu đồ 1.4: Tỷ suất lợi nhuận/nhân sự đến 30/06/2012
Đầu tư vào nhân sự luôn là sự đầu tư hiệu quả và bền vững đối với mộtdoanh nghiệp Trong lĩnh vực chứng khoán, nhân sự lại càng có ý nghĩa quan trọng,
có tính chất quyết định tới uy tín, thương hiệu cũng như là linh hồn phát triển chomọi hoạt động của công ty
1.4 Kinh nghiệm phát triển kinh doanh của các công ty chứng khoán
trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán thế giới với quá trình phát triển hàng trăm năm, đãtrải qua nhiều những biến động cũng như những giai đoạn phát triển khác nhau củathị trường Do vậy, những công ty chứng khoán, cung ty dịch vụ tài chính lâu đờitrên thế giới đã có rất nhiều kinh nghiệm trong việc phát triển kinh doanh qua nhiềuthời kì khác nhau
Kinh nghiệm kinh doanh của JP Morgan
JPMorgan Chase là một trong những hãng dịch vụ tài chính lâu đời nhất trênthế giới Công ty này có trụ sở tại Thành phố New York, là đơn vị hàng đầu trongdịch vụ tài chính, lĩnh vực ngân hàng đầu tư và quản lý tài sản Tài sản của tập đoànnày hiện là 2.041 tỷ USD, là đơn vị kinh doanh ngân hàng lớn thứ 2 ở Hoa Kỳ, sau
Trang 32Bank of America Quỹ tự bảo hiểm rủi ro của JPMorgan Chase là quỹ lớn nhất Hoa
Kỳ với tài sản 34 tỷ USD năm 2007 Theo bản tổng kết các kế hoạch kinh doanhtổng thể của Porter, JP Morgan Chase & Co là một ví dụ điển hình về chiến lược sựkhác biệt Vì sự phức tạp trong việc phân biệt sản phẩm và dịch vụ giữa các công tytài chính, nên JP Morgan Chase tập trung vào việc phát triển bản sắc thương hiệucủa công ty Họ đã thành công trong việc tạo sự tin tưởng, lòng trung thành, sự kinhnghiệm Triết lý làm việc của công ty là” Tại JP Morgan Chase, chúng tôi muốn trởthành công ty dịch vụ tài chính tốt nhất trên thế giới Dựa vào kinh nghiệm và nềntảng xuất sắc, chúng tôi tin rằng mọi thứ đều nằm trong tầm tay” Kinh nghiệm làyếu tố cốt lõi trong chiến lược kinh doanh của JP Morgan Chase
JP Morgan Chase sử dụng mô hình năm lực lượng của Porter như là mộtchiến lược kinh doanh của họ Với số lượng đông đảo các đối thủ cạnh tranh, JPMorgan Chase sử dụng ưu đãi là công cụ cạnh tranh Công ty đã cung cấp nhiều ưuđãi cho khách hàng như kiểm tra phần mền miễn phí, hoa hồng giới thiệu là 25$,sản phẩm chuyển tiền “ Chase tiền gửi nhanh chóng” Ngoài ra việc kết nối các ứngdụng trên iphone cũng được công ty chào tới các khách hàng của mình
Trong suốt quá trình hoạt động, JP Morgan Chase luôn cung cấp các chươngtrình lợi ích để giữ vững ưu thế cạnh tranh, như các chương trình chăm sóc sức khỏeđặc biệt, kế hoạch hưu trí, hỗ trợ chăm sóc trẻ em Đây thực sự là những sáng tạotrong kinh doanh mà các công ty khác không thể có
JP Morgan Chase cũng luôn làm mới và thay đổi các sản phẩm của mình tớikhách hàng Ngoài ra JP Morgan Chase cũng rất trú trọng đến nhân sự Họ từngdành khoản 10 tỷ $ hỗ trợ cho vay các doanh nghiệp nhỏ nhưng thông qua các nhânviên của mình Với mức chiết khâu 0.5% cho đơn vay tiền được duyệt, đây là sựkhuyến khích cho các nhân viên của công ty Ngoài ra, JP Morgan Chase cũng sẵnsàng hộ trợ nhân viên ưu đãi các món vay mua xe, mua nhà Có thể thấy JP Morgan
Trang 33Chase cung cấp các sản phẩm đa dạng, cho mọi đối tượng từ khách hàng cá nhân,doanh nghiệp tới các nhân viên của mình.
Các sáng kiến kinh doanh của JP Morgan Chase chủ yếu với mục tiêu tăngdoanh thu, do đó buộc công ty phải chấp nhận những mức chi phí tương ứng Vớimục tiêu tạo ra nhiều khách hàng trung thành, JP Morgan Chase có nhiều chế độ ưuđãi, miễn phí cho khách hàng để gia tăng mối quan hệ
Kinh nghiệm kinh doanh của Goldman Sachs
The Goldman Sachs Group, là một ngân hàng đầu tư và hãng chứng khoántoàn cầu, tham gia vào các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, chứng khoán, quản lý đầu
tư, và các dịch vụ tài chính khác với khách hàng chủ yếu là thể chế Goldman Sachsđược thành lập năm 1869 và đặt trụ sở chính tại 200 West Street tại khu vực HạManhattan của Thành phố New York Công ty này có văn phòng tại các trung tâmtài chính quốc tế lớn và cung cấp sự dịch vụ hợp nhất và tư vấn mua bán, dịch vụbảo lãnh phát hành, quản lý tài sản và môi giới cho các khách hàng, trong đó baogồm các tập đoàn, các chính phủ và cá nhân Công ty cũng tham gia vào kinh doanhđộc quyền và các giao dịch vốn tư nhân và là một đơn vị buôn bán hàng đầu tạiUnited States Treasury security
Nhờ chiến lược tuyển dụng khôn khéo, Goldman Sachs luôn là nơi tập trungcủa những bộ não hàng đầu về kinh tế, tài chính Không chỉ tuyển dụng khéo,Goldman còn tỏ rất khôn khéo trong việc “cho nghỉ việc” những nhân sự xuất sắc ởtuổi “chắc chắn sẽ kiếm việc thứ 2” Bằng cách đó, Goldman dần dần có đội ngũ
“cựu binh” xâm nhập vào hệ thống đầu não của tất cả các công ty toàn cầu, ngânhàng đối thủ và chính phủ các nước, đặc biệt tại Hoa Kỳ - nơi được xem là hệ quichiếu của cả thế giới Chiến lược kinh doanh của Goldman Sachs chủ yếu là tậndụng lợi thế vững mạnh về tài chính và thông tin Bằng cách này, công ty thường sửdụng chiến lược độc quyền khi tham gia vào các thị trường chứng khoán thế giới
Trang 34Kinh nghiệm kinh doanh của Merrill Lynch
Merrill Lynch là bộ phận quản lý tài sản của Bank of America Với hơn15.000 cố vấn tài chính và $ 2,2 nghìn tỷ USD trong tài sản của khách hàng, đây làmôi giới lớn nhất thế giới Trước đây được biết đến như Merrill Lynch & Co, Inc.,Trước năm 2009, công ty đã được công khai sở hữu và giao dịch trên New YorkStock Exchange với mã ký hiệu MER Merrill đã đồng ý mua hàng của Bank ofAmerica vào ngày 14 Tháng 9 năm 2008, vào lúc cao điểm của cuộc khủng hoảngtài chính năm 2008 Công ty không còn tồn tại như một thực thể riêng biệt trongtháng 01 năm 2009 Merrill Lynch có trụ sở tại thành phố New York tại tòa nhàWorld Four Trung tâm tài chính ở Manhattan
Có thể nói Merrill Lynch là công ty môi giới dịch vụ truyền thống thànhcông với hai dịch vụ chính là Merrill Lynch Mạng và Merrill Lynch Trực tiếp Công
ty trú trọng các sản phẩm trực tuyến, tạo cho khách hàng sự thuận lợi và giảm chiphí trong quá trình giao dịch Phí giao dịch tại Merrill Lynch cũng thấp, tạo ưu thếcạnh tranh của công ty Trong giai đoạn suy thoái, công ty cũng gặp nhiều khókhăn Tuy nhiên bằng sự đổi mới chiến lược kinh doanh, duy trì cam kết chiến lược
đa kênh, nhưng vẫn ưu tiên các sản phẩm trực tuyến, công ty đã lấy lại vị thế củamình trên thị trường tài chính quốc tế
Trang 35CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN FPT TRONG BỐI CẢNH SUY GIẢM THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN HIỆN NAY
2.1 Đặc điểm các ngồn lực để kinh doanh của công ty cổ phần chứng khoán FPT
2.1.1 Nguồn lực con người
Xác định con người là sức mạnh cốt lõi, FPTS luôn chú trọng xây dựng mộtmôi trường làm việc chuyên nghiệp, năng động, mang đậm văn hóa FPT Nhờnhững nỗ lực trong việc xây dựng đội ngũ nhân sự, trọng dụng nhân tài, quan tâmđào tạo cán bộ, đề cao đạo đức nghề nhiệp, hiện tại FPTS đã có gần 200 cán bộ,chuyên gia có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm làm việc ở cả môi trườngtrong nước và quốc tế
Với định hướng Môi giới là hoạt động kinh doanh chính, những năm quaFPTS đã không ngừng phát triển đội ngũ cộng tác viên mở tài khoản FPTS là công
ty chứng khoán đầu tiên thành lập Phòng phát triển kinh doanh, mới mục tiêu có bộphận chuyên nghiệp thực hiện nhiệm vụ mở rộng mạng lưới cộng tác viên mở tàikhoản cả tổ chức và cá nhân
Ngoài ra, với lợi thế là công ty thuộc tập đoàn FPT, FPTS đã có được độingũ cộng tác viên mở tài khoản rất lớn là nhân viên các công ty con của tập đoàn.Với gần 100 công ty con, công ty thành viên của FPT đều thực hiên lưu kí vàchuyển nhượng tại FPTS, đây là nguồn khách hàng và cộng tác viên mở tài khoảnlớn nhất của FPTS Với loại thế công nghệ, khách hàng của FPTS có thể giao dịch ởmọi nơi, đây là yếu tố giúp FPTS có thể phát triển được mạng lưới cộng tác viên ởkhắp các vùng miền trên toàn quốc
Trang 36Biểu đồ 2.1: Số lượng ngân viên FPTS qua các năm
Đến cuối năm 2011, số lượng nhân viên tại FPTS là 184 nhân sự, trong đó,nhân viên môi giới chỉ có 12 người (khoảng 14%) Có thể thấy định hướng củaFPTS là tập trung công nghệ, cạnh tranh dựa trên những lợi thế nổi trội về sản phẩmtrực tuyến cũng đội ngũ tư vấn, nên việc phát triển thị phần dựa vào đội ngũ nhânviên môi giới là rất hạn chế
Biểu đồ 2.2: Số lượng nhân viên môi giới công ty qua các năm
Nếu so sánh với các công ty cùng ngành, FPTS là công ty có số lượng nhânviên môi giới tương đối ít Đầu năm 2012, công ty đã tuyển dụng thêm 08 nhân viên
Trang 37môi giới với mục tiêu phát triển khách hàng, tuy nhiên một phần do thị trường chưakhởi sắc, một phần do nhân sự tuyển dụng chủ yếu là sinh viên mới ra trường, ítkhách hàng, ít kinh nghiệm nên hiệu quả phát triển khách hàng chưa cao.
Về kỹ năng công việc: Về kĩ năng chuyên môn, nhân sự FPTS được đánh giácao so với các công ty chứng khoán khác Các cuộc thi của Sở giao dịch hay Ủy banchứng khoán về nghiệp vụ như Nhập lệnh, kiến thức chuyên ngành nhân sự FPTSđều dành thứ hạng cao Việc chuyên môn hóa công việc, cũng như có sự áp dụngcông nghệ vào quản lý đã giúp sai sót tác nghiệp của nhân viên gần như không có
Trình độ văn hóa: Phần lớn nhân sự FPTS đều có bằng Đại học hoặc trên đạihọc cả trong nước và quốc tế ( trừ những bộ phận hỗ trợ như tạp vụ, bảo vệ) Công
ty cũng có chương trình đào tạo kĩ năng chuyên môn cho nhân viên mới khá bài bản
Do đó chất lượng nhân sự được đánh giá đồng đều và ổn định
Bảng 2.1: Tình hình nhân sự tại FPTS từ năm 2007 đến năm 2011
Đơn vị: người
Trình độ đại học và trên đại học 195 132 134 175 180
(Nguồn: Báo cáo quản trị FPTS các năm)
Chứng chỉ chuyên môn: FPTS luôn trú trọng tuân thủ các qui định của phápluật về việc người hành nghề tại các vị trí chuyên môn phải đảm bảo có đủ chứngchỉ hành nghề theo đúng qui định Phần lớn nhân sự tại FPTS đều có đầy đủ chứngchỉ hành nghề Với những nhân sự chưa có, hàng năm FPTS đều tổ chức các lớphọc và thi chứng chỉ để đáp ứng đúng theo yêu cầu
Các kiến thức liên quan đến công việc: Ngành nghề kinh doanh chứngkhoán thuộc ngành mang lại nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro chính sách Do TTCKViệt Nam vẫn ở giai đoạn ban đầu nên việc thay đổi các qui định, chính sáchthường xuyên diễn ra Do vậy các nhân sự CTCK buộc phải luôn cập nhật các
Trang 38thông tin mới nhất để chấn chỉnh hoạt động kinh doanh của công ty mình Vềmảng này, FPTS đã có bộ phận pháp chế chuyên cập nhật các văn bản mới nhất đểgửi tới từng nhân sự công ty nên các kiến thức liên quan đến công việc luôn được
bổ sung đầy đủ, kịp thời Ngoài ra công ty cũng luôn trú trọng đào tạo cho nhân sựkhi có nghiệp vụ mới
Sáng kiến trong công việc : Với việc hàng tháng trao giải “Nhân viên xuấtsắc” cho những nhân sự có sự cố gắng và sáng tạo trong công việc, FPTS đã khaithác được nhiều những ý tưởng để phát triển công việc chuyên môn và tạo điều kiệncho nhân viên có môi trường để tự nâng cao nghiệp vụ của mình, cũng như đónggóp cho công ty phương pháp làm việc hiệu quả nhất Ngoài ra, với trọng tâm pháttriển các sản phẩm công nghệ, lãnh đạo FPTS yêu cầu bộ phận công nghệ thông tinphải ra được sản phẩm mới hàng tháng Do đó, các ý tưởng về sản phẩm mới đượccông ty tận dụng triệt để Kết quả là FPTS là công ty có nhiều sản phẩm mới, lầnđầu trên thị trường như: ứng trước cổ tức online, thay đổi thông tin cá nhân online
Các kỹ năng khác: Việc quá chuyên môn hóa trong phân công công việccũng như sử dụng công nghệ hỗ trợ phần lớn công việc đã làm cho một số kĩ năngmềm của nhân sự FPTS chưa thực sự tốt Việc giao tiếp khách hàng, xử lý tìnhhuống phát sinh cũng như nghệ thuật chăm sóc khách hàng tại FPTS chưa được cáclãnh đạo ưu tiên, đã khiến công ty mất lượng lớn khách hàng sang các công ty cóchế độ chăm sóc đặc biệt hơn
2.1.2 Nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất kĩ thuật
Vốn điều lệ của công ty từ ngày thành lập (13/07/2007) tới nay đã tăng hơn
03 lần, từ mức là 200 tỷ năm 2007 lên tới 733 tỷ năm 2012 Với số vốn này, công ty
có thể thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ kinh doanh: Môi giới, tư vấn, bảo lãnh pháthành, tự doanh
Đơn vị: VNĐ
Trang 39Biểu đồ 2.3: Vốn điều lệ của FPTS từ năm 2007 đến năm 2012
Về cơ sở hạ tầng, trụ sở chính và các chi nhánh, phòng giao dịch của FPTSđều ở các vị trí trung tâm, dễ tìm kiếm Văn phòng được đầu tư khang trang, tiếtkiệm, hệ thống máy móc làm việc và phục vụ khách hàng đầy đủ, hiện đại Khu vựcsàn giao dịch rộng rãi, đầy đủ máy chiếu, bảng giá, ghế ngồi theo đúng các quiđịnh về cơ sở vật chất của Ủy ban chứng khoán
Công nghệ thông tin được xác định là một trong hai giá trị cốt lõi tạo nên sự khác biệt của FPTS, đồng thời đóng vai trò to lớn trong quá trình phát triển của
FPTS Với định hướng trên, Trung tâm công nghệ (FIT ) đã được thành lập nhằm
xây dựng, quản lý và vận hành mọi hệ thống công nghệ từ hạ tầng bảo mật đến hệ thống ứng dụng của toàn FPTS, bao gồm: Đảm bảo an toàn và thông suốt về đường truyền, mạng Lan, Wan, hệ thống hạ tầng phục vụ khách hàng kết nối và thực hiện giao dịch, hệ thống dữ liệu kinh doanh; bảo mật mọi thông tin kinh doanh của đơn
vị và khách hàng FIT còn có nhiệm vụ đáp ứng về mặt kỹ thuật các yêu cầu kinh doanh của FPTS hiện tại và tương lai cũng như hỗ trợ các phòng ban tại FPTS các vấn đề liên quan đến công nghệ và chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động công nghệ theo yêu cầu của UBCKNN, HOSE và HASTC FIT chia thành hai mảng hoạt
Trang 40động chính là: Quản lý hạ tầng - bảo mật và Quản lý- phát triển ứng dụng.
Hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, được nâng cấp liên tục để đáp ứngcác yêu cầu của Ủy ban chứng khoán Hiện tại công ty duy trì 02 sever và 1 sever
dự phòng giúp vận hành an toàn và ổn định toàn hệ thống Các ứng dụng trực tuyếnđều do nhân sự công ty thực hiện nghiên cứu và phát triển, bao gồm: EzTrade (giaodịch trực tuyến), EzSearch (tìm kiếm thông tin trực tuyến), EzOpen (mở tài khoảntrực tuyến), EzLink (kết nối trực tuyến), EzTransfer (chuyển tiền trực tuyến) ,EzStoploss (đặt lệnh chốt lời/cắt lỗ), EzGSM (đại hội cổ đông trực tuyến),EzRightsExercise (thực hiện quyền trực tuyến), EzCustody (lưu kí trực tuyến)…Đồng thời công ty cũng trú trọng tự động hóa các qui trình nội bộ liên quan đến hệthống giao dịch nhằm tăng tốc độ xử lý hỗ trợ các nhà đầu tư tăng khả năng giaodịch thành công
Công nghệ cũng được công ty xác định là giá trị cốt lõi trong hoạt động củamình Đầu tư tập trung, khai thác tối đa các ưu thế về công nghệ, FPTS đã xây dựngthành công hệ thống công nghệ thông tin đạt tiêu chuẩn quốc tế
Với các thiết bị hiện đại, kỹ thuật tiên tiến, hệ thống giao dịch của FPTS cóthể phục vụ được số lượng rất lớn khách hàng với tốc độ cao, mọi lúc, mọi nơi tạisàn giao dịch cũng như qua điện thoại hay internet
Các phần mềm phục vụ giao dịch chứng khoán được lựa chọn để đáp ứngyêu cầu hiện tại và tương lai theo tiêu chuẩn quốc tế, đang được sử dụng rộng rãi tạicác quốc gia có thị trường chứng khoán rất phát triển như Úc, Anh, Hồng Kông, Ấn
độ, Malaysia, Singapore,
Trung tâm dữ liệu (data center) và trung tâm phòng chống thảm họa được trang
bị để đảm đảm an toàn dữ liệu ngay cả khi có các sự cố như cháy, nổ, động đất,
Các trang WEB của FPTS được chứng thực bởi tổ chức có uy tín trên thế giớivới giao thức SSL, đảm bảo an toàn về dữ liệu truy cập và dữ liệu trên đường truyền
Các giao dịch từ xa qua Internet, qua điện thoại được bảo mật bằng Thiết bị