Để góp phần đánh giá ảnh hưởng của bức xạ lên cơ quan trong cơ thể trong quá trình điều trị, tác giả xây dựng bài toán đánh giá phân bố suất liều từ nguồn đồng vị phóng xạ trong điều
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 AN TOÀN BỨC XẠ TRONG Y TẾ 2
1.1 Khái niệm về phóng xạ 2
1.1.1 Định nghĩa 2
1.1.2 Độ phóng xạ 2
1.1.3 Đơn vị 2
1.1.4 Nồng độ phóng xạ 2
1.2 Liều hấp thụ 3
1.2.1 Định nghĩa 3
1.2.2 Đơn vị 3
1.2.3 Tính chất 4
1.2.4 Suất liều hấp thụ 4
1.3 Liều chiếu 4
1.3.1 Định nghĩa 4
1.3.2 Đơn vị 4
1.3.3 Suất liều chiếu 5
1.3.4 Mối liên hệ giữa liều chiếu và liều hấp thụ trong không khí 6
1.4 Mối liên hệ giữa suất liều chiếu và cường độ bức xạ 6
1.5 Liều hiệu dụng 8
1.5.1 Trọng số phóng xạ 8
Trang 31.5.3 Liều tương đương 10
1.5.4 Liều hiệu dụng 11
1.5.5 Liều tương đương tích lũy của mô hoặc cơ quan 12
1.5.6 Liều hiệu dụng tích lũy 13
1.5.7 Liều tương đương tập thể 13
1.5.8 Liều hiệu dụng tập thể 13
1.5.9 Kerma 13
1.5.10 Các đại lượng liên quan khác dùng trong kiểm soát phóng xạ cá nhân và phóng xạ môi trường 14
1.6 Những yếu tố ảnh hưởng trong điều trị chiếu trong bằng nguồn hở 15
1.6.1 Xạ trị chiếu trong 15
1.6.2 Bản chất của tia phóng xạ 15
1.6.3 Năng lượng của bức xạ 15
1.6.4 Sự hấp thụ chuyển hóa và thải thuốc phóng xạ trong cơ thể 16
1.6.5 Đặc điểm của tế bào tổ chức của người bệnh 16
1.6.6 Các đồng vị phóng xạ nguồn hở dùng cho điều trị chiếu trong 17
1.7 Các phương thức điều trị chiếu trong bằng đồng vị phóng xạ nguồn hở 18
1.7.1 Điều trị chuyển hóa 18
1.7.2 Điều trị bệnh máu bằng đồng vị phóng xạ dựa trên cơ sở tính nhạy cảm phóng xạ của tế bào bệnh cao hơn tế bào lành 19
1.7.3 Điều trị bệnh dựa trên cơ sở ái tính của một số tế bào tổ chức bệnh với đồng vị phóng xạ cao hơn tế bào lành 19
1.7.4 Dựa trên đặc điểm tăng sinh mạch máu ở tổ chức ung thư 20
Trang 41.7.6 Điều trị bằng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ RIT (Radio Immuno Therapy) 20
1.7.7 Phương thức đặt nguồn cố định 21
1.8 Cách thức đưa liều vào bệnh nhân 21
1.8.1 Liệu pháp thông thường 21
1.8.2 Máy xạ trị áp sát suất liều cao 22
1.9 Liều tồn đọng 24
1.9.1 Liều tồn đọng 24
1.9.2 Liều tồn đọng trong cơ thể 24
1.9.3 Thông số trao đổi chất của một số đồng vị 29
1.10 Ưu nhược điểm của xạ trị trong 32
1.10.1 Ưu điểm 32
1.10.2 Nhược điểm 32
CHƯƠNG 2 CH Ư ƠNG TRÌNH MCNP5 36
2.1 Dữ liệu hạt nhân và phản ứng của MCNP 35
2.1.1 Các thư viện dữ liệu được sử dụng 35
2.1.2 Các bảng số liệu 35
2.2 Cấu trúc của MCNP 36
2.3 Thực thi MCNP5 37
2.3.1 Các bước thực hiện bài toán mô phỏng 37
2.3.2 Giao diện MCNP5 39
2.3.3 Các loại tally đánh giá 39
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ PHÂN BỐ SUẤT LIỀU TỪ NGUỒN XẠ TRỊ TRONG SỬ DỤNG CHƯƠNG TRÌNH MCNP5 41
Trang 53.1.1 Phantom 41
3.1.2 Nguồn sử dụng 42
3.1.3 Tính toán suất liều hấp thụ trong MCNP5 43
3.2 Kết quả và thảo luận 46
3.2.1 Mức liều giới hạn cho phép 46
3.2.2 Nguồn dạng hình cầu 46
3.2.3 Nguồn dạng hình trụ 48
PHỤ LỤC 55
Trang 6RBE Relative biological effectiveness
Trang 7Bảng 1.2 Mối liên hệ giữa liều chiếu và liều hấp thụ trong một số chất 6
Bảng 1.3 Trọng số phóng xạ của một vài loại bức xạ (ICRP-1990) 9
Bảng 1.4 Các trọng số mô đặc trưng cho các mô trong cơ thể WT 11
Bảng 1.5 Liều cực đại cho phép với một số cơ quan trong cơ thể 12
Bảng 1.6 Kí hiệu một số hằng số các cơ quan 25
Bảng 1.7 Hằng số một số cơ quan tiêu hoá 26
Bảng 1.8 Hệ số hấp thu của ruột non đối với một số đồng vị 27
Bảng 1.9 Thể tích (cm3) một số bộ phận trong cơ thể người theo tuổi 30
Bảng 1.10 Khối lượng một số cơ quan trong cơ thể người trưởng thành 32
Bảng 2.1 Các loại tally 41
Bảng 2.2 Các đại lượng tương ứng của tally 41
Bảng 3.1 Các mức năng lượng gamma của tecneti 99mTc 44
Bảng 3.2 Các mức năng lượng gamma của Xenon 133Xe 44
Bảng 3.3 Giá trị liều giới hạn của các cơ quan 47
Bảng 3.4 Giá trị liều tích lũy trong 4h từ nguồn hình cầu tại các cơ quan (Gy) 48
Bảng 3.5 Giá trị liều tích lũy của các cơ quan bị ảnh hưởng với nguồn xạ dạng cầu (Gy) 49
Bảng 3.6 Giá trị liều tích lũy trong 4h từ nguồn hình trụ tại các cơ quan (Gy) 50
Bảng 3.7 So sánh giá trị liều tích lũy tại các cơ quan bị ảnh hưởng với nguồn dạng trụ (Gy) 51
Trang 8Hình 1.1 Máy suất liều cao 23
Hình 2.1 Giao diện Visual Editor 40
Hình 3.1 Phantom người theo MIRD-5 được vẽ bằng MCNP5 42
Hình 3.2 Sơ đồ mức năng lượng phát beta của nguồn xạ trị 43
Hình 3.3 Mô hình các cell phổi và cơ quan xung quanh vẽ bằng MCNP5 46
Hình 3.4 Phân bố liều tích lũy trong cơ quan đối với nguồn xạ dạng hình cầu 49
Hình 3.5 Phân bố liều tích lũy trong cơ quan đối với nguồn xạ dạng hình trụ 51
Hình 3.6 Khoanh vùng liều ảnh hưởng lên mô và vùng lân cận 51
Hình 3.7 Phân bố liều 3D đối với nguồn hình trụ (a) và hình cầu (b) 52
Trang 9MỞ ĐẦU
Ngày nay, công nghệ hạt nhân có rất nhiều ứng dụng trong y học, công nghiệp và nhà máy điện hạt nhân Trong đó, ứng dụng hạt nhân vào y học đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Đối với y học, trước đây để chữa các căn bệnh ung thư là không đơn giản
Từ khi áp dụng công nghệ hạt nhân vào y học thì có thể chữa trị cho các bệnh nhân ung thư với tỷ lệ thành công tương đối Bên cạnh các thành tựu khoa học do áp dụng các đồng vị phóng xạ trong xạ trị, ảnh hưởng của bức xạ ion hoá lên các mô hay cơ quan lành là điều quan tâm Để góp phần đánh giá ảnh hưởng của bức xạ lên cơ quan trong cơ thể trong quá trình điều trị, tác giả xây dựng bài toán đánh giá phân bố suất liều từ nguồn đồng vị phóng
xạ trong điều trị xạ trị trong lên cơ quan xung quanh, đánh giá khả năng ảnh hưởng đến cơ quan lành, đến nhân viên điều trị, đến người nuôi bệnh,…
Thêm vào đó, chúng ta cần phải nghiên cứu thật kỹ ảnh hưởng của phương pháp điều trị xạ trị lên người bệnh trước khi áp dụng chính thức lên cơ thể con người Điều này nhằm để hạn chế tối đa các rủi ro trong quá trình điều trị Giải pháp cho những vấn đề nêu trên cũng chính là mục đích của khoá luận này
Trong khoá luận này tác giả tập trung nghiên cứu đánh giá phân bố suất liều từ nguồn đồng vị 99mTc và 133Xe sử dụng trong quá trình xạ trị lên các cơ quan lân cận trong cơ thể, đánh giá mức độ an toàn cho người bệnh cùng với nhân viên y tế chăm sóc và người nuôi bệnh
Nội dung khoá luận này gồm có ba chương:
- Chương 1: An toàn bức xạ trong y tế
- Chương 2: Chương trình mô phỏng MCNP5
- Chương 3: Đánh giá phân bố suất liều từ nguồn xạ trị trong bằng mô phỏng MCNP5
Trang 10CHƯƠNG 1 AN TOÀN BỨC XẠ TRONG Y TẾ
1.1 Khái niệm về phóng xạ
1.1.1 Định nghĩa
Phóng xạ là quá trình một hạt nhân nguyên tử thay đổi trạng thái hoặc thay đổi bậc
số nguyên tử hoặc số khối của hạt nhân Khi chỉ có sự thay đổi trạng thái xảy ra, hạt nhân sẽ phát tia gamma mà không biến thành hạt nhân khác, khi bậc số nguyên tử thay đổi sẽ biến hạt nhân này thành hạt nhân của nguyên tử khác; khi chỉ có số khối thay đổi, hạt nhân này sẽ biến thành đồng vị khác của nó
1.1.2 Độ phóng xạ
Độ phóng xạ của nguồn phóngxạ là số hạt nhân của nguồn bị phân rã trong một đơn
vị thời gian, hay nói cách khác, là tốc độ phân rã hạt nhân của nguồn
dN C(t)
Nồng độ phóng xạ là độ phóng xạ được tính trên đơn vị thể tích Đơn vị của nồng
độ phóng xạ trong chất khí và chất lỏng là Ci/l và emano với:
1 emano = 10-10 Ci/l= 220 pr/min.l
Trang 11Nồng độ của đồng vị phóng xạ trong chất lỏng hoặc chất khí thường được đặc trưng bởi nồng độ phóng xạ của nó (Ci/l) Trong vật rắn nồng độ của đồng vị phóng xạ thường được biểu diễn bởi độ phóng xạ trên đơn vị khối lượng (độ phóng xạ riêng) Độ phóng xạ riêng được xác định theo các đơn vị Ci/g, kCi/g, hoặc Bq/g và nó còn được gọi là hàm lượng của đồng vị phóng xạ trong vật rắn Bảng 1.1 cho mối liên hệ giữa các đơn vị của nồng độ phóng xạ
Bảng 1.1 Mối liên hệ giữa các đơn vị của nồng độ phóng xạ[2]
m
trong đó, E(J) là năng lượng của bức xạ mất đi do sự ion hóa trong đối tượng bị chiếu
xạ, m(kg) là khối lượng của đối tượng bị chiếu xạ
1.2.2 Đơn vị
Đơn vị của liều hấp thụ là J/kg hoặc erg/g
Đơn vị ngoại hệ là rad: 1rad =100 erg/g
Ngày nay người ta thường dùng đơn vị Gray (Gy): 1 Gy =100 rad
Trang 121.2.3 Tính chất
Giá trị liều hấp thụ bức xạ phụ thuộc vào tính chất của bức xạ và môi trường hấp thụ Sự hấp thụ năng lượng của môi trường đối với tia bức xạ là do tương tác của bức xạ với electron của nguyên tử vật chất Do đó năng lượng hấp thụ trong một đơn vị khối lượng phụ thuộc vào năng lượng liên kết của các electron với hạt nhân nguyên tử và vào số nguyên
tử có trong một đơn vị khối lượng của môi trường vật chất hấp thụ, nó không phụ thuộc vào trạng thái kết tụ của vật chất
1.2.4 Suất liều hấp thụ
Suất liều hấp thụ là liều hấp thụ tính trong một đơn vị thời gian
ht ht
D P
t
ht ht 0
1.3 Liều chiếu
1.3.1 Định nghĩa
Liều chiếu của tia X và tia gamma, ký hiệu là Dch là phần năng lượng của nó mất đi
để biến đổi thành động năng của hạt mang điện trong một đơn vị khối lượng của không khí, khí quyển ở điều kiện tiêu chuẩn
1.3.2 Đơn vị
Đơn vị của liều chiếu là Coulomb trên kilogam (C/kg)
Đơn vị ngoại hệ là Roentgen (R) với:
Trang 131 C/kg = 3876 R
C/kg là liều chiếu của tia X và gamma trong đó sự phát xạ hạt gắn liền với bức xạ này gây ra trong một kilogam không khí khô ở điều kiện tiêu chuẩn (0oC, 760 mmHg), các ion mang điện tích 1 Coulomb điện tích mỗi dấu
Roentgen là liều chiếu của tia X và gamma trong đó sự phát xạ hạt gắn liền với bức
xạ này gây ra trong 1 cm3 (0,001293 g) không khí khô ở điều kiện tiêu chuẩn, tạo ra các ion mang lượng điện 1 CGSE điện tích mỗi dấu Một điều cần chú ý khi gamma lọt vào trong
1 cm3 không khí khô, nó sẽ gây ra trong các electron thứ cấp, các electron này tạo ra các electron bên trong cũng như ở bên ngoài khối không khí này Do đó, khi định nghĩa liều chiếu theo Roentgen ta phải đảm bảo điều kiện cân bằng electron, nghĩa là tổng năng lượng của các electron mang ra khỏi thể tích nghiên cứu phải bằng với tổng năng lượng của các electron mang vào trong thể tích này Từ những điều trình bày trên ta có:
1.3.3 Suất liều chiếu
Suất liều chiếu là liều chiếu tính trong một đơn vị thời gian
Các hệ số chuyển đổi đơn vị:
1R= 7,06.1010 eV/cm3 = 5,57.1013eV/g =87,7 erg/g =0,114 erg/cm3
Trang 141.3.4 Mối liên hệ giữa liều chiếu và liều hấp thụ trong không khí
Chúng ta có liều hấp thụ Dht tính theo rad (1 rad=100 erg/g) và liều chiếu của bức
xạ tia X hoặc tia gamma Dch tính theo Roentgen (R) (1 R=87,7 erg/g) (không khí) =0,877 rad = 0,00877 Gy
Đối với không khí mối liên hệ giữa liều chiếu và liều hấp thụ như sau:
ht
ch
D 0,877
Ta thấy rằng đối với không khí, trong những điều kiện cân bằng electron, với liều chiếu 1 R sẽ tương ứng với liều hấp thụ bằng 0,877 rad Đối với các chất khác, tính toán tương tự ta có được kết quả trong bảng 1.2 sau:
Bảng 1.2 Mối liên hệ giữa liều chiếu và liều hấp thụ trong một số chất [2]
1.4 Mối liên hệ giữa suất liều chiếu và cường độ bức xạ
Thông thường để đo liều chiếu hoặc suất liều chiếu ta dùng liều kế Trong nhu cầu thực
tế chúng ta cần phải thiết lập mối liên hệ giữa liều chiếu và cường độ bức xạ Ta sử dụng công thức:
Trang 15γ
Trong đó I0 là cường độ bức xạ trước khi bị hấp thụ, γ là hệ số truyền năng lượng và μ là
hệ số suy giảm tuyến tính
Mối liên hệ giữa mật độ dòng và nguồn:
7
2
C.3,7.10
J = 4πR số gamma/(cm2.s) (1.9) Nếu lượng tử gamma có năng lượng E thì cường độ bức xạ là:
Nếu phổ có nhiều năng lượng với xác suất ni thì ta thay năng lượng E bằng:
i i i
E = n E
Khi đó thay I vào biểu thức (1.7) ta có được:
i i i 2
Trang 16Đương lượng gamma:
Vì ta có 1 mgRa trong điều kiện cân bằng có độ phóng xạ là 1 mCi nên ta có thể tính
độ phóng xạ của các đồng vị khác thông qua khối lượng Radi Giả sử suất liều chiếu gây ra bởi CRa(mCi) hoặc m (mgRa) ở khoảng cách R làPRa, nguồn phóng xạ X bất kì có độ phóng
xạ Cx tạo ra tại chính điểm một suất liều chiếu Pxsao choP = Px Ra
Khi đó:
γ x 2
K C
P = R
Khi đó độ phóng xạ Cx (mCi) sẽ tương ứng với một đương lượng gamma bằng mgđlRa Do
đó để xác định đương lượng gamma theo mgđlRa của một hạt nhân phóng xạ bất kì X có
độ phóng xạ Cx chúng ta phải nhân giá trị của độ phóng xạ này với tỉ số giữa hằng số gamma của hạt nhân phóng xạ X đã cho với hằng số gamma của Ra
Mối quan hệ giữa suất liều hấp thụ bất kì với suất liều hấp thụ trong không khí:
Sử dụng biểu thức (1.7) ta có thể xác định liều hấp thụ trong môi trường bất kì với bậc số nguyên tử Z nếu biết được liều hấp thụ trong không khí Thật vậy, đối với không khí
Khi hấp thụ bức xạ, mô sinh học bị tổn thương Mức độ tổn thương phụ thuộc vào
số cặp ion tạo ra trong một đơn vị chiều dài quãng đường của hạt hay phụ thuộc vào sự
Trang 17truyền năng lượng ion hóa tuyến tính trên một đơn vị quãng đường của hạt bức xạ Các loại bức xạ khác nhau gây ra những tác động sinh học khác nhau Để đánh giá mức độ nguy hiểm của các loại bức xạ khác nhau, các tiểu bang đã đưa ra trọng số RBE Năm 1990, IAEA đã sử dụng trọng số phóng xạ (Radiation Weighting Factor) Wr thay thế cho RBE,
đó chính là trọng số mà liều hấp thụ phải được nhân để tính đến sự tổn hại sinh học gây ra bởi những loại bức xạ ion hóa khác nhau
Bảng 1.3 Trọng số phóng xạ của một vài loại bức xạ (ICRP-1990) [9]
Photon có tất cả năng lượng
Electron và neutron có tất cả năng lượng
Neutron có năng lượng:
< 10 keV
10 keV tới 100 KeV
100 keV tới 2MeV
MeV tới 20 MeV
1.5.2 Liều hấp thụ trung bình trong cơ quan hoặc tổ chức
Liều hấp thụ trung bình DT trong mô hoặc cơ quan đặc biệt T của cơ thể con người được cho bởi:
Trang 18D liều hấp thụ trong khối lượng vi phân dm
T
ε là năng lượng toàn phần truyền cho khối lượng mT
1.5.3 Liều tương đương
Thực nghiệm cho thấy hiệu ứng sinh học gây bởi bức xạ không chỉ phụ thuộc vào liều hấp thụ mà còn phụ thuộc vào loại bức xạ Một đại lượng được dùng là liều tương đương: “tương đương” có nghĩa là giống nhau về tác dụng sinh học Để so sánh tác dụng sinh học của các loại bức xạ khác nhau, một bức xạ được chọn làm chuẩn là các tia X có năng lượng 200 keV Liều tương đương là liều hấp thụ trung bình trong mô hoặc trong cơ quan T do bức xạ r, nhân với hệ số trọng số phóng xạ tương ứng Wrcủa bức xạ Liều tương đương được tính bằng đơn vị là rem
Trang 191.5.4 Liều hiệu dụng
Trong một số trường hợp cần phải xác định liều đối với từng bộ phận hay cơ quan T của cơ thể thì ICRP đã đề nghị các hệ số trọng số mô Các mô khác nhau nhận cùng một liều tương đương như nhau thì tổn thương sinh học cũng khác nhau Nghĩa là cùng một liều tác dụng lên các mô khác nhau, thì gây ra các tổn thương khác nhau Để đặc trưng cho tính chất này của từng mô hoặc từng cơ quan, người ta đưa vào đại lượng đặc trưng gọi là trọng
số môWT Bảng (1.4) trình bày trọng số mô cho các cơ quan trong cơ thể
Bảng 1.4 Các trọng số mô đặctrưng cho các mô trong cơ thể WT [3]
Cơ quan sinh dục
Trang 20Liều hiệu dụng là tổng của những liều tương đương ở các mô hay cơ quan, mỗi một liều được nhân với hệ số trọng lượng của tổ chức tương ứng
Bảng 1.5 Liều cực đại cho phép với một số cơ quan trong cơ thể [3]
1.5.5 Liều tương đương tích lũy của mô hoặc cơ quan
Bức xạ ion hoá chiếu vào mô hoặc cơ quan bên trong cơ thể dẫn đến sự tích lũy năng lượng trong mô Sự tích lũy năng lượng phụ thuộc vào thời gian chiếu Nếu để ý đến sự phụ thuộc theo thời gian thì liều tương đương tích lũy được tính bằng cách tích phân theo thời gian của suất liều tương đương
Thời gian tích phân được tính 50 năm với người lớn và 70 năm đối với trẻ em:
Trang 21T T,r
1.5.6 Liều hiệu dụng tích lũy
Tương tự ta có liều tích lũy cho cơ thể lấy (lấy tổng các mô):
1.5.7 Liều tương đương tập thể
Dân chúng bị chiếu xạ có thể chia ra thành nhiều nhóm GọiNilà số người trong nhóm dân chúng thứ i HT,ilà liều tương đương trung bình của mô T mà nhóm dân chúng thứ i nhận Vậy liều tương đương tích lũy của mô T mà tất cả các nhóm dân chúng nhận được:
i i r
1.5.9 Kerma
Đối với các bức xạ không ion hóa trực tiếp như gamma người ta còn dùng một đại lượng có tên là Kerma Kerma là tổng tất cả các động năng ban đầu của các hạt tích điện được giải phóng bởi bức xạ trong một thể tích xác định của vật chất chia cho khối lượng vật chất chứa trong thể tích đó
Kerma và liều hấp thụ có thứ nguyên giống nhau (năng lượng chia cho khối lượng) Trong một môi trường kích thước đủ lớn thì kerma và liều hấp thụ có giá trị như nhau
Trang 221.5.10 Các đại lượng liên quan khác dùng trong kiểm soát phóng xạ cá nhân và phóng
xạ môi trường
Nhằm mục đích kiểm soát thường xuyên phóng xạ môi trường và cá nhân người ta xây dựng một hình nộm chuẩn (Phantom) Đó là khối cầu chuẩn của ICRU [4]: Một khối cầu đường kính 30 cm làm bằng vật liệu tương đương mô có khối lượng riêng ρ = g3
có thành phần về khối lượng là 76,2 % Oxy; 11,1 % Hydro và 2,6 % Nitơ
- Liều tương đương môi trường
Liều tương đương môi trường tại một điểm trong trường bức xạ là liều tương đương gây ra trong khối cầu chuẩn ở một độ sâu d tính từ bề mặt khối cầu Trường bức xạ được giả sử là trường đẳng hướng đồng nhất Đơn vị đo là Sievert (Sv) hoặc được tính bằng J/kg, d được tính bằng cm Đối với các bức xạ đâm xuyên mạnh thường xét tới đại lượng
d = 10 cm Đối với các bức xạ đâm xuyên yếu thì các độ sâu 0,07 mm đối với da 3 mm đối với thủy tinh thể của mắt được xem xét
- Liều tương đương định hướng
Đó là liều tương đương gây ra trong khối cầu chuẩn ở một độ sâu d theo hướng Hướng được xác định trong từng trường hợp cụ thể Cũng tương tự như đối với liều tương đương môi trường các đại lượng đâm xuyên mạnh d=10 cm, đâm xuyên yếu d= 0,07
mm và với da d= 3 mm được nghiên cứu sử dụng
- Liều tương đương cá nhân
Liều cá nhân tương đương là liều tương đương gây ra trong mô mềm ở độ sâu d và tại một điểm xác định trên cơ thể người Cũng giống như liều môi trường, người ta sử dụng các độ sâu 10 cm, 0,07 mm và 3 mm để đo liều tương đương cá nhân và môi trường Các đầu dò ghi bức xạ hạt nhân phải làm bằng các vật liệu tương đương mô Để áp dụng cho các loại bức xạ ion hóa khác, người ta dùng khái niệm tương đương vật lý của Roentgen, REP (Roentgen Equivalent Physical) Đó là liều lượng của bất cứ loại tia nào (photon hay
Trang 23hạt vi mô) làm cho 1g vật chất hấp thụ được một giá trị năng lượng như của chùm photon gây ra tức là 87,7 erg cho không khí ở điều kiện tiêu chuẩn hoặc 97,4 erg cho nước
1.6 Những yếu tố ảnh hưởng trong điều trị chiếu trong bằng nguồn hở
1.6.1 Xạ trị chiếu trong
Xạ trị chiếu trong là phương thức điều trị bằng cách đưa vào cơ thể một đồng vị phóng xạ nguồn hở dưới dạng thuốc (thuốc phóng xạ) qua đường uống, đường tiêm hoặc truyền qua động mạch – tĩnh mạch Khi vào cơ thể các hạt nhân phóng xạ sẽ phát huy các hiệu quả điều trị theo nhiều cách khác nhau
1.6.2 Bản chất của tia phóng xạ
Các bức xạ ion hoá dưới dạng sóng hoặc dạng hạt có khả năng ion hóa không giống nhau nên hiệu ứng sinh học do chúng gây ra cũng không giống nhau các hạt nhân khác nhau sẽ phát ra các tia phóng xạ khác nhau như tia, tia, tia
Bức xạ có tác dụng ion hóa và phá hủy mạnh song hầu như không dùng trong y học, ngoài ra các đồng vị phóng xạ nhân tạo sử dụng điều trị chiếu trong đều không phát tia
Bức xạbản chất là sóng điện từ giống như tia X, có khả năng đâm xuyên lớn, có quãng chạy dài trong tổ chức tế bào nên tác dụng chọn lọc kém, không phát huy tốt lợi ích trong điều trị chiếu trong mà thường làm nguồn cho chiếu xạ ngoài
Bức xạ mà bản chất là chùm electron có quãng chạy một vài milimet trong tổ chức
tế bào nên có tác dụng chọn lọc cao ít gây tác hại đến các tổ chức cơ quan lành lân cận tránh được tác dụng ngoài ý muốn do đó các đồng vị phóng xạ phát tia được sử dụng chính cho các biện pháp điều trị chiếu trong
1.6.3 Năng lượng của bức xạ
Trên cơ thể sinh vật, đối với mỗi mô cấu trúc, hiệu ứng sinh học của một loại tia phóng xạ nhất định gây nên trên tổ chức đó tỉ lệ với năng lượng của bức xạ hay nói cách
Trang 24khác tỉ lệ với năng lượng bức xạ được hấp thụ tại tổ chức đó chính là liều hấp thụ kí hiệu
là rad ngày nay người ta sử dụng đơn vị mới là Gy = 100 rad
1.6.4 Sự hấp thụ chuyển hóa và thải thuốc phóng xạ trong cơ thể
Ngoài những thuộc tính vật lý như năng lượng tia, thời gian bán rã, hiệu quả điều trị của một đồng vị phóng xạ còn tùy thuộc vào sự chuyển hóa của nó trong cơ thể Điều này được quy định bởi đường vào - sự hấp thụ - chuyển hóa và thải trừ đồng vị phóng xạ đó ra khỏi các cơ quan hoặc ra ngoài cơ thể
Sự đào thải đồng vị phóng xạ ra khỏi cơ quan hoặc cơ thể là khác nhau tùy theo dạng hợp chất hoặc đồng vị phóng xạ sử dụng Có những chất đào thải nhanh qua đường tiết niệu hoặc đường mật tiêu hóa như 131I ngược lại có những chất giữ lại lâu trong cơ thể như Stronti (89Sr) được giữ ở xương, 198Au được giữở hệ liên võng nội bộ Thời gian cần thiết
để cơ thể thải ra 50 % lượng của một chất khỏi cơ thể qua quá trình sinh học bình thường được gọi là thời gian bán thải sinh học (T)
Trong thực hành lâm sàng người ta cho bệnh nhân dùng một liều thăm dò chức năng rồi ghi, đo đồ thị thay đổi hoạt tính phóng xạ theo thời gian ở nhiều thời điểm của cơ quan cần theo dõi để xác định thời gian bán rã hiệu ứng của một đồng vị phóng xạ
1.6.5 Đặc điểm của tế bào tổ chức của người bệnh
Trước tiên đó là độ nhạy cảm phóng xạ của tế bào tổ chức bệnh lý Độ nhạy cảm phụ thuộc vào loại tế bào, giai đoạn sinh trưởng, mức độ biệt hóa và hoàn chỉnh cấu trúc của nó Trên thực tế thấy rằng mức độ đáp ứng điều trị của mỗi cá thể khác nhau dù dùng một liều điều trị như nhau và rất khó để xác định mức độ nhạy cảm phóng xạ của tế bào tổ chức
Cơ thể người là một khối thống nhất cho nên tình trạng sức khỏe chung của toàn thân, của tuần hoàn, dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị
Ngoài ra còn có các yếu tố khác như oxy, hàm lượng nước trong mô tổ chức ảnh hưởng đến hiệu ứng sinh học của bức xạ cho nên cũngảnh hưởng đến hiệu quả điều trị Bởi
Trang 25vậy để tăng hiệu quả điều trị người ta tìm biện pháp tăng nhiệt độ, nồng độ oxy, hàm lượng nước tại vị trí cần chiếu xạ
Đối với điều trị chiếu trong, điều quan trọng là phải tính toán liều lượng thích hợp
và tìm cách để cho đồng vị tập trung cao ở các tế bào, tổ chức bệnh lý, đồng thời hạn chế liều chiếu ở mức chấp nhận được trên toàn cơ thể tránh các các dụng ngoài ý muốn
Liều điều trị thay đổi tùy theo hiệu quả điều trị cần có và phụ thuộc vào loại tế bào
tổ chức bệnh Ví dụ nếu điều trị bệnh bướu tuyến giáp độc lan tỏa thì chỉ cần 5 đến 10 mCi nguồn 131I là đủ làm cho bướu tuyến giáp nhỏ lại, đưa hoạt động chức năng trở về bình thường, song để điều trị ung thư tuyến giáp cần liều cao hơn nhiều vào khoảng 50-250 mCi nguồn 131I để hủy hoàn toàn tổ chức tuyến giáp còn lại sau mổ và tiêu diệt các tế bào ung thư tại chỗ hoặc di căn
1.6.6 Các đồng vị phóng xạ nguồn hở dùng cho điều trị chiếu trong
Ngay sau khi ông bà Piere và Maria Curie phát hiện ra 226Ra ở đầu thế kỉ XX chất đồng vị phóng xạ thiên nhiên này đã được sớm đem áp dụng điều trị bệnh ung thư nhưng chỉ ở dạng nguồn chiếu ngoài hoặc áp sát Đến khoảng từ năm 1940 khi con người sản xuất được chất đồng vị phóng xạ thì việc ứng dụng các đồng vị nhân tạo trong y học mới thực sự nở rộ Theo thời gian công nghệ hạt nhân ngày càng phát triển tạo ra nhiều loại hạt nhân phóng xạ mới, cùng với sự phát triển của công nghệ sinh học, hóa dược phóng xạ nhiều dược chất phóng xạ mới ra đời với phạm vi ứng dụng và hiệu quả của nó ngày càng được phát huy Cho đến nay hầu như tất cả các đồng vị phóng xạ nguồn hở trong y học hạt nhân nói chung và cho điều trị chiếu xạ trong nói riêng là các đồng vị phóng xạ nhân tạo Các đồng vị phóng xạ dùng cho điều trị chiếu trong có thể phát tia β đơn thuần như 32P hoặc là phát cả tia β và gamma như 131I Ở đây β là chủ yếu chính tạo nên hiệu quả điều trị [10]
Các đồng vị phóng xạ dùng cho điều trị thường là dạng hợp chất Đó có thể là hợp chất vô cơ như Natri Iodua NaI cũng có thể là dạng hợp chất hữu cơ như 131I gắn Acide béo trong thành phần của Lipocide Đây là các thuốc phóng xạ (dược chất phóng xạ) được điều
Trang 26chế để sử dụng theo đường uống hoặc tiêm vào khối u, vào các khoang tự nhiên trong cơ thể hoặc để truyền vào mạch máu Các thuốc phóng xạ có thể là dạng dung dịch (Liquid), dạng keo (colloid), dạng viên nang (Capsule) hoặc gắn vào các tấm áp khung giá đỡ tùy theo mục đích của thủ thuật điều trị Dù ở dạng thức nào thì các chế phẩm phóng xạ dùng cho điều trị cũng phải đảm bảo các tiêu chuẩn của một thuốc phóng xạ như quy định
1.7 Các phương thức điều trị chiếu trong bằng đồng vị phóng xạ nguồn hở
Để đạt được hiệu quả cao trong điều trị với liều phóng xạ vừa đủ nhằm tránh các tác dụng phụ không cần thiết cho cơ thể, người ta đã nghiên cứu lựa chọn các loại dược chất phóng xạ thích hợp ở dạng sử dụng hợp lý và đưa vào cơ thể bệnh nhân bằng con đường đơn giản, an toàn với mục đích đạt được tập trung thuốc phóng xạ cao nhất ở tổ chức bệnh
lý Ta có thể phân loại điều trị chiếu trong bằng đồng vị phóng xạ nguồn hở theo các loại phương thức điều trị sau đây:
1.7.1 Điều trị chuyển hóa
Nguyên lý của phương pháp là dựa trên cơ sở của định đề Hevesy: cơ thể sinh vật không phân biệt được đồng vị của cùng một nguyên tố Hay nói cách khác các đồng vị của cùng một nguyên tố có cùng một số phận chuyển hóa trong cơ thể sinh vật
Thuốc phóng xạ sau khi được đưa vào cơ thể bằng con đường uống hoặc tiêm sẽ tập trung vào tế bào tổ chức bệnh lý theo cơ chế hầu như sinh lý trên cơ sở hoạt động chức năng của tế bào, cơ quan Hoạt độ phóng xạ tại cơ quan, tế bào đích cao hơn rất nhiều lần
so với tổ chức xung quanh Tia bức xạ sẽ phát huy tác dụng tại chỗ tiêu diệt tế bào tổ chức bệnh lý bằng các cơ chế tác dụng trực tiếp tức thì hoặc là gián tiếp kéo dài về sau để đảm bảo đạt được hiệu quả điều trị như mong muốn
Trang 271.7.2 Điều trị bệnh máu bằng đồng vị phóng xạ dựa trên cơ sở tính nhạy cảm phóng
xạ của tế bào bệnh cao hơn tế bào lành
Ta biết rằng khi đưa một đồng vị phóng xạ với mục đích điều trị vào máu bệnh nhân thì các tế bào bệnh lý sẽ bị tổn hại nhiều hơn và bị tiêu diệt trước khi tế bào lành bị tổn thương ít hoặc không tổn thương Qua nghiên cứu thấy rằng tính nhạy cảm phóng xạ của tế bào máu xếp theo thứ tự giảm dần như sau: lympho bào trong bạch cầu > bạch cầu hạt trong bệnh bạch cầu > hồng cầu trong bệnh Vaquez > lympho bào thường > hồng cầu bình thường
> bạch cầu hạt bình thường > monocyte bình thường > plasmocyte bình thường Tiểu cầu
có độ nhạy cảm phóng xạ tương đương bạch cầu hạt bình thường
1.7.3 Điều trị bệnh dựa trên cơ sở ái tính của một số tế bào tổ chức bệnh với đồng vị phóng xạ cao hơn tế bào lành
Điển hình của kỹ thuật điều trị dựa trên nguyên lý này là sử dụng các đồng vị phóng
xạ hướng xương như 32P, 89Sr, 153Sm, 186Re để điều trị ung thư di căn xương
32P là chất được ưu tiên sử dụng có hiệu quả kinh tế và có hiệu quả tương đối tốt Sau khi cho bệnh nhân dùng 1 mCi/1kg cân nặng, bằng đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch vào máu, do có tính hướng xương 32P tập trung chủ yếu vào xương đặc biệt nơi xảy ra di căn, nơi mà đang có quá trình hủy cốt và tạo cốt diễn ra mạnh mẽ Nồng độ 32P tại ổ tổn thương cao gấp hàng ngàn lần tổ chức cơ quan xung quanh Tia bêta của 32P phát ra sẽ phát huy tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư làm cho tổn thương nhỏ lại hoặc mất, giảm phù nề, giảm chèn ép và hiệu quả chung là tác dụng giảm đau rõ rệt, cải thiện chất lượng sống của bệnh nhân
Với liều điều trị trung bình 5-10mCi, 32P tác dụng giảm đau có thể duy trì trong khoảng thời gian trung bình 3 tháng Có thể cho liều tiếp theo nếu cần Liệu pháp hầu như không có biến chứng sớm nặng nề Tác dụng phụ gây suy tủy thiếu máu cần cân nhắc nếu điều trị nhiều đợt, thời gian sống của bệnh nhân còn dài
Trang 281.7.4 Dựa trên đặc điểm tăng sinh mạch máu ở tổ chức ung thư
Tại khối u các tế bào phát triển mạnh, nhu cầu oxy, dinh dưỡng rất cao nên các tổ chức mạch máutân tạo phát triển phong phú người ta tiến hành kỹ thuật bơm các đồng vị phóng xạ gắn các hợp chất thích hợp vào nhánh động mạch nuôi khối u đưa thuốc phân bố đều khắp để tiêu diệt tế bào ung thư
Đó là kỹ thuật điều trị ung thư gan nguyên phát bằng cách tiêm dược chất phóng xạ qua ống thông vào động mạch nuôi khối u gan Các dược chất phóng xạ thường dùng là Lipiodol gắn 131I, 166Ho Chitosal, 188Re microsphere hoặc Lipiodol (dạng keo hoặc dạng dung dịch lỏng) gắn 188Re… Đây là một trong những phương pháp điều trị mới, cho kết quả khả quan.Tuy nhiên để tiến hành được cần có sự phối hợp giữa các thầy thuốc y học hạt nhân và các chuyên gia của ngành điện quang
1.7.5 Đưa các đồng vị phóng xạ dạng keo, hạt vào các khoang cơ thể
Đưa các đồng vị phóng xạ dạng keo, hạt vào các khoang cơ thể như ổ bụng, ổ màng phổi, màng tim, ổ khớp để điều trị bệnh là một trong những phương thức điều trị sớm được thực hiện và cho hiệu quả cao Các hạt keo phóng xạ có kích thước lớn tồn tại trong các khoang tự nhiên cơ thể sẽ tác dụng trực tiếp lên các mao mạch, tế bào thanh mạc, tổ chức viêm, xơ, tế bào ung thư di căn phát huy tác dụng điều trị
Các kỹ thuật điều trị dựa trên nguyên lý này gồm: Tiêm keo vàng 198Au, 90Y microsphere vào ổ khớp điều trị viêm khớp gối, tiêm keo vàng phóng xạ vào khoan màng bụng, màng phổi, màng tim trong điều trị chứng tràn dịch do ung thư di căn
1.7.6 Điều trị bằng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ RIT (Radio Immuno Therapy)
Với các kỹ thuật y sinh hiện đại ta có thể gắn các đồng vị phóng xạ vào các chất gắn đặt hiệu gọi là Receptor (chất tiếp nhận) của các tế bào ung thư Khi các yếu tố miễn dịch này được đưa vào cơ thể nó sẽ đến gắn đặt hiệu với tế bào ung thư mà ta cần tiêu diệt để
Trang 29phát huy hiệu quả điều trị Đây là phương pháp điều trị lý tưởng song thực tế chưa áp dụng được nhiều
Một số kỹ thuật được áp dụng hiện nay như: Điều trị các u thần kinh, ung thư tuyến giáp thể tủy bằng MIBG gắn 131I, điều trị ung thư vú bằng thuốc có gắn phóng xạ trên các receptor của Progesterol và Oestrogen, điều trị ung thư xương bằng BDP gắn 131I
1.7.7 Phương thức đặt nguồn cố định
Các đồng vị phóng xạ nguồn hở 32P, 166Ho, 90Y cũng được gắn trên các tấm áp để điều trị bệnh bằng cách dán áp vào nơi có tổn thương: u máu dưới da, ung thư da hoặc được gắn trên các giá đỡ, bóng để điều trị bệnh mạch vành, chít hẹp thực quản …
Như vậy với các đồng vị phóng xạ nguồn hở tác dụng điều trị cũngcó thể là triệt căn (trong một số bệnh như Basedow, nhân độc tuyến giáp) hoặc điều trị các chứng bệnh (giảm đau, chống chèn ép …)
Sử dụng phóng xạ nguồn hở để điều trị là một trong những ứng dụng đem lại nhiều lợi ích to lớn.Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện phải tính toán cân nhắc để “đảm bảo an toàn cho người bệnh, cho nhân viên y tế cũng như an toàn cho môi trường và xã hội” Với những hiểu biết và phương tiện hiện nay chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát để sử dụng các đồng vị phóng xạ nguồn hở điều trị bệnh một cách an toàn hiệu quả
1.8 Cách thức đưa liều vào bệnh nhân
1.8.1 Liệu pháp thông thường
Các đơn vị điều trị ung bướu sử dụng các thiết bị xạ trị nguồn kín nghĩa là dùng năng lượng của các tia bức xạ chiếu từ bên ngoài vào cơ thể người bệnh (vào các khối u) Đây là phương pháp xạ trị có từ lâu, tuy nhiên nếu các tổn thương ung thư nhiều ổ, nhiều nơi, đặc biệt các vị trí di căn rải rác nhiều nơi, li ti thì phương pháp xạ trị ngoài này sẽ ít hoặc không có hiệu quả Để điều trị những bệnh nhân ung thư có nhiều ổ di căn nhỏ, nằm rải rác khắp cơ thể, người ta phải sử dụng các phương pháp điều trị toàn thân để diệt tế bào ung thư như điều trị bằng hoá chất, sử dụng các đồng vị phóng xạ để đưa vào cơ thể theo
Trang 30đường uống, đường tiêm Đây được gọi là phương pháp xạ trị chiếu trong Hiện nay ở Việt Nam, Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai) là một mô hình lồng ghép đầu tiên về hai chuyên ngành này
1.8.2 Máy xạ trị áp sát suất liều cao
Hình 1.1 trình bày ví dụ về máy xạ trị áp sát suất liều cao Loại máy này dùng để điều trị các khối u và khu vực ung thư nằm sâu trong cơ thể.Loại máy này có nhiều mô thức điều trị linh động: Xạ trị tiền phẫu thuật sau đó đặt ống nguồn và xạ trị ngay sau khi mổ lấy bướu, xạ trị bảo tồn (không phải cắt bỏ) điều trị sẹo lồi, điều trị ung thư tiền liệt tuyến
Loại máy này được sử dụng rộng rãi và đánh giá cao tại nhiều bệnh viện và trung tâm ung thư trên thế giới do hiệu quả điều trị và tính hiệu quả cao
Hệ thống xạ trị áp sát là một trong những loại máy xạ trị tốt nhất hiện nay Máy điều trị theo phương pháp Brachytherapy phục vụ cho việc điều trị các khối u và khu vực ung thư nằm sâu trong cơ thể mà máy Gia tốc và máy Gamma Knife không điều trị được Đây
là loại máy được sử dụng rộng rãi tại nhiều bệnh viện và trung tâm ung thư trên thế giới do hiệu quả điều trị và tính năng ưu việt của nó Xạ trị áp sát là sử dụng nguồn phóng xạ đặt trong khối u để phát xạ Như vậy khối u sẽ nhận liều tia xạ cao nhất và liều sẽ giảm nhanh
ra tổ chức lành chung quanh
Trang 31Hình 1.1 Máy suất liều cao
Nguồn phóng xạ sử dụng là các nguồn mềm có thể uốn nắn được như 192Ir hoặc 137Cs
và kỹ thuật nạp nguồn sau được đã phát triển một cách nhanh chóng trong xạ trị áp sát Trước hết các catheter (đường dẫn thuốc vào cơ quan) rỗng được đặt vào bên trong khối u với gây tê tại chỗ hoặc gây mê toàn thân Vị trí chính xác của catheter và sự phân bố về liều lượng được kiểm tra chặt chẽ, sau đó tiến hành đặt nguồn phóng xạ vào trong catheter
Ưu điểm chính của xạ trị áp sát là khả năng đưa liều phóng xạ lên cao trong một thể tích rất nhỏ và liều giảm nhanh ra ngoại vi không ảnh hưởng đến tổ chức lành chung quanh Điều này đòi hỏi các bác sĩ xạ trị có kinh nghiệm để đặt một cách chính xác catheter (ống dẫn) vào khối u và tính toán chính xác sự phân bố về liều lượng Có hai loại xạ trị áp sát:
Xạ trị áp sát suất liều thấp: đây là phương pháp điều trị xạ trị áp sát chuẩn với thời
gian xạ trị từ 1 đến 5 ngày với suất liều thấp (30-100 cGy/h) Liều ở điểm tiếp xúc của
Trang 32nguồn là cao nhất nhưng giảm đi một cách nhanh chóng (trong khoảng vài mm), như vậy cho phép bảo vệ các tổ chức lành chung quanh Bệnh nhân được giữ lại nằm vài ngày trong phòng tường có chắn chì, có hệ thống che chắn để bảo vệ nhân viên y tế trong quá trình chăm sóc
Xạ trị áp sát suất liều cao: kỹ thuật này sử dụng nguồn gia tăng hoạt độ phóng xạ,
như vậy sẽ giảm thời gian tia xạ và giảm thời gian bất động bệnh nhân
Máy sử dụng trong các trường hợp điều trị: ung thư vùng đầu – cổ, ung thư vòm hầu, ung thư lưỡi, ung thư sàng miệng, ung thư niêm mạch máu, ung thư môi, ung thư thực quản, ung thư khí quản, ung thư vú phụ khoa, ung thư tiền liệt tuyến, ung thư trực tràng, ung thư ngoài da
1.9 Liều tồn đọng
1.9.1 Liều tồn đọng
Liều tồn đọng là liều mà sau quá trình chính của xạ trị liều được hấp thụ qua đường tiêu hoá Hệ tiêu hoá của cơ thể gồm chủ yếu vào 4 bộ phận chính trong cơ thể là dạ dày (ST) ruột non (SI) và ruột già (LI) Chất phóng xạ trong hệ tiêu hoá của cơ thể di chuyển từ trên xuống dưới bị hấp thụ vào các mô cơ khác nhau của hệ nên chịu sự hấp thụ và đào thải liều khác nhau trong cơ quan đó Do đó thời gian bán hủy hiệu dụng hay hằng số phân rã hiệu dụng khác nhau
1.9.2 Liều tồn đọng trong cơ thể
Bảng 1.6 Kí hiệu một số hằng số các cơ quan [2]
Trang 33Ruột non eSI SI R B
là hằng số phân rã phóng xạ của đồng vị
Bảng 1.7 Hằng số một số cơ quan tiêu hoá [2]
Nếu tốc độ đưa vào vùng ST không đổi là I thì trong trường hợp nuốt liên tục thức
ăn có phóng xạ thì phương trình cân bằng đối với dạ dày là:
Trang 34ST 0ST R 0ST ST
Với f1 là hệ số hấp thu của ruột non đối với nguyên tố
Giá trị f1 được cho trong bảng thông số tiêu hoá của một số loại hợp chất của mỗi nguyên
tố Đối với nhân con phóng xạ, giá trị f1 tương đương với f1 của nguyên tố bền của đồng vị
đó được nuốt vào Mô hình giả sử rằng đồng vị sẽ được chuyển hoàn toàn, trực tiếp từ dạ dày vào dịch lỏng cơ thể mà không qua bất cứ phần nào khác trong hệ tiêu hoá khi
f1 = 1 ( B )
Bảng 1.8 Hệ số hấp thu của ruột non đối với một số đồng vị [2]
Trang 35Đối với ruột già thì mô hình này giả thuyết rằng chỉ có nước được hấp thụ vào máu
từ ruột già, như vậy tốc độ biến thiên hoạt độ phóng xạ trong phần trên của ruột già tuân theo phương trình:
Tốc độ biến thiên trong phần dưới của ruột già:
Trang 37Tổng hoạt độ có trong phần trên của ruột già và phần dưới của ruột già trong thời giant
:
SI ST 0ST ST
eST eSI eULI
SI ST 0ST ULI LLI
eST eSI eULI LLI
cơ thể và phân rã sinh học với chu kỳ 6 ngày và 1500 ngày Uranium được giả sử là phân
bố đều trong các mô của cơ thể
Phần còn lại của Uranium trong máu được giả sử là bị bài tiết trực tiếp Hàm lưu giữ của Uranium (cho 1 Bq) trong xương và các cơ quan khác:
Bảng 1.9 Thể tích (cm3) một số bộ phận trong cơ thể người theo tuổi [5]