[1] Nhờ những ứng dụng quan trọng đối với y học, hệ đo độ tập trung tuyến giáp được sử dụng rộng rãi ở nước ta.. Chương 2: Giới thiệu cấu tạo của một hệ đo độ tập trung, một số thiết b
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN KHOA VẬT LÝ – VẬT LÝ KỸ THUẬT
BỘ MÔN VẬT LÝ HẠT NHÂN
- -
Đề tài: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HỆ ĐO
ĐỘ TẬP TRUNG TUYẾN GIÁP TRONG Y HỌC HẠT NHÂN
GVHD: ThS NGUYỄN VĂN HÒA GVPB: ThS LƯU ĐẶNG HOÀNG OANH SVTH: HỒ HOÀNG THÂN
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 6/2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN KHOA VẬT LÝ – VẬT LÝ KỸ THUẬT
BỘ MÔN VẬT LÝ HẠT NHÂN
- -
TUYẾN GIÁP TRONG Y HỌC HẠT NHÂN
GVHD: ThS NGUYỄN VĂN HÒA GVPB: ThS LƯU ĐẶNG HOÀNG OANH SVTH: HỒ HOÀNG THÂN
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 6/2014
Trang 3Em xin cảm ơn Bệnh viện Chợ rẫy – khoa Y học hạt nhân đã tạo điều kiện cho
em được thực tập và hoàn thành đề tài
Đặc biệt em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến thầy ThS Nguyễn Văn Hòa – người
thầy với tấm lòng tận tụy, đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên, trực tiếp giúp đỡ em
trong suốt quá trình thực hiện đề tài Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ks
Nguyễn Hoàng Tùng – người trực tiếp hướng dẫn em làm thực nghiệm và là người
luôn đồng hành với em trong quá trình thực tập
Đồng thời, em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đến ThS Lưu Đặng Hoàng Oanh
đã dành thời gian đọc và góp ý cho đề tài
Con xin cảm ơn gia đình đã nuôi nấng, dạy dỗ và luôn động viên con trong suốt quá trình học tập
Cảm ơn các anh chị cán bộ trẻ, các bạn học đã động viên, chia sẻ kiến thức và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
TP Hồ Chí Minh, tháng 6/2014
Sinh viên thực hiện
Hồ Hoàng Thân
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC i
DANH SÁCH CÁC BẢNG iii
DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ iv
DANH SÁCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tuyến giáp 3
1.1.1 Tổng quan về tuyến giáp 3
1.1.2 Các phương pháp thăm dò hình thái và chức năng tuyến giáp 4
1.2 Hệ đo độ tập trung tuyến giáp 5
1.2.1 Khái niệm 5
1.2.2 Nguyên lý 5
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG ĐO ĐỘ TẬP TRUNG TUYẾN GIÁP 8
2.1 Cấu tạo chung 8
2.1.1 Hệ thống đầu dò 8
2.1.1.1 Detector nhấp nháy 11
2.1.1.2 Ống nhân quang điện 11
2.1.1.3 Ống chuẩn trực 13
2.1.2 Bộ phân tích chiều cao xung 18
2.2 Giới thiệu về hệ đo độ tập trung tuyến giáp ATOMLAB 19
2.2.1 Các loại hệ đo độ tập trung ATOMLAB 19
Trang 52.2.2 Giới thiệu chi tiết hệ đo ATOMLAB 960 22
2.3 Các thiết bị đi kèm với một hệ đo độ tập trung tuyến giáp 25
2.3.1 Chương trình DICOM 25
2.3.2 Ống đếm giếng 26
2.3.3 Phantom cổ 27
CHƯƠNG 3 QUY TRÌNH THỰC NGHIỆM ĐO ĐỘ TẬP TRUNG TUYẾN GIÁP TRONG Y HỌC HẠT NHÂN 29
3.1 Chỉ định 29
3.2 Thời gian kiểm tra 29
3.3 Chuẩn bị bệnh nhân 29
3.4 Thiết bị và cửa sổ năng lượng 29
3.5 Thuốc phóng xạ, liều 30
3.6 Tư thế bệnh nhân và trường nhìn 31
3.7 Thực hiện đo 31
3.8 Xử lý số liệu 35
3.9 Nguồn gốc gây sai số 37
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 6DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 So sánh một số thông số kỹ thuật của các máy ATOMLAB 20 Bảng 3.1 Kết quả độ tập trung tuyến giáp bệnh nhân ở bệnh viện Chợ Rẫy 35
Trang 7DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Tuyến giáp 3
Hình 1.2 Đường cong biểu diễn độ tập trung tuyến giáp 5
Hình 1.3 So sánh đường cong độ tập trung iốt phóng xạ giữa người bình thường và
người bệnh 7
Hình 2.1 Sơ đồ cấu tạo của hệ thống đếm các bức xạ trong cơ thể 8
Hình 2.2 Cấu tạo hệ thống đầu dò 9
Hình 2.3 Hệ thống một đầu dò 10
Hình 2.4 Ống nhân quang điện 11
Hình 2.5 Sơ đồ cấu tạo ống nhân quang điện 12
Hình 2.6 Mặt cắt ngang của ống chuẩn trực trường phẳng 14
Hình 2.7 Xây dựng đường cong đáp ứng ISO bằng thực nghiệm 16
Hình 2.8 Đường cong đáp ứng ISO của ống chuẩn trực trường phẳng 17
Hình 2.9 Bộ phân tích đa kênh 1024 kênh của máy ATOMLAB 950 tại bệnh viện 175 19
Hình 2.10 Các hệ đo độ tập trung tuyến giáp của hãng BIODEX 19
Hình 2.11 Hệ đo độ tập trung tuyến giáp ATOMLAB 960 22
Hình 2.12 Sử dụng hệ đo ATOMLAB 960 23
Hình 2.13 Giao diện của chương trình phần mềm DICOM 25
Hình 2.14 Ống đếm giếng và buồng chì 26
Hình 2.15 Phantom cổ BIODEX 27
Hình 2.16 Sơ đồ phantom cổ BIODEX 28
Hình 3.1 Hệ đo độ tập trung tuyến giáp tại bệnh viện Chợ Rẫy 30
Hình 3.2 Tư thế bệnh nhân 31
Hình 3.3 Cách bố trí đo liều chuẩn 32
Hình 3.4 Hòa tan thuốc phóng xạ cho bệnh nhân uống 33
Trang 8Hình 3.5 Đo tuyến giáp bệnh nhân 34 Hình 3.6 Đo phông bệnh nhân 35 Hình 3.7 Đường cong độ tập trung tuyến giáp bệnh nhân ở bệnh viện Chợ Rẫy 36
Trang 9
DANH SÁCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
ISO
Tiền tố, có nghĩa là đồng (bằng nhau) Ví dụ: isotope : đồng vị
Cpm Count per minute Số đếm trên phút
Cps Count per second Số đếm trên giây
PHA Pulse Height Analyzer Bộ phân tích chiều cao xung SCA Single-Channel Analyzer Bộ phân tích đơn kênh
MCA Multichannel Analyzer Bộ phân tích đa kênh
FWHM Full Width at Half Maximum Bề rộng một nửa
Trang 10MỞ ĐẦU
Ngày nay y học hạt nhân đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền y học khoa học kỹ thuật Nhờ sự tiến bộ của các ngành khoa học – kỹ thuật khác nhau, y học hạt nhân trên thế giới phát triển nhanh và có nhiều thành tựu trong nghiên cứu, ứng dụng, Y học hạt nhân sử dụng chất phóng xạ để chẩn đoán và điều trị bệnh Bởi vì thủ tục y học hạt nhân có thể xác định hoạt động phân tử trong cơ thể, nó cung cấp tiềm năng để xác định bệnh ở giai đoạn sớm nhất cũng như đáp ứng của bệnh nhân để ngay lập tức can thiệp điều trị [11]
Kỷ nguyên YHHN trong lâm sàng bắt đầu bằng đo độ tập trung iốt Năm 1940, Hamilton thông báo những số liệu đầu tiên đo đạc ở bên ngoài tuyến giáp qua đó đánh giá độ tập trung iốt ở tuyến giáp Thiết bị ghi đo là máy đếm Geiger Năm 1950 Werner
và cộng sự đánh giá chức năng tuyến giáp bằng độ tập trung iốt sau 24h uống iốt phóng
xạ Việc phát minh ra phương pháp đo độ tập trung cũng như chế tạo thành công hệ đo
độ tập trung tuyến giáp là một bước tiến vĩ đại của YHHN Nó góp phần quan trọng trong việc chẩn đoán nhanh và điều trị hiệu quả các bệnh về tuyến giáp, qua đó giúp điều trị thành công hàng trăm nghìn ca bệnh tuyến giáp trên thế giới hàng năm [1]
Nhờ những ứng dụng quan trọng đối với y học, hệ đo độ tập trung tuyến giáp được sử dụng rộng rãi ở nước ta Hầu hết các bệnh viện có khoa ung bướu đều có sử dụng hệ đo độ tập trung tuyến giáp Tuy có nhiều ứng dụng quan trọng như vậy, nhưng các tài liệu tham khảo và các nghiên cứu về máy còn rất ít Do đó tác giả thực hiện đề tài này nhằm giới thiệu và nghiên cứu về hệ đo, từ đó cung cấp các thông tin về máy cũng như quy trình vận hành và sử dụng máy
Trang 11Nội dung chính của đề tài gồm:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về tuyến giáp, các hóc-môn tuyến giáp, các phương pháp thăm dò hình thái, phương pháp đo độ tập trung tuyến giáp và nguyên lý, vai trò của hệ đo độ tập trung tuyến giáp
Chương 2: Giới thiệu cấu tạo của một hệ đo độ tập trung, một số thiết bị đi kèm
và giới thiệu hệ đo độ tập trung tuyến giáp được sử dụng phổ biến hiện nay
Chương 3: Quy trình đo độ tập trung trên bệnh nhân, thực nghiệm trên hệ đo tại bệnh viện Chợ Rẫy và kết quả thực nghiệm
Kết luận và kiến nghị
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tuyến giáp
1.1.1 Tổng quan về tuyến giáp
Tuyến giáp nằm ở giữa về phía trước và dưới cổ Tuyến giáp gồm 2 thuỳ nối với nhau bằng eo tuyến Thuỳ tuyến giáp có hình kim tự tháp 3 cạnh, đáy quay xuống dưới Khối lượng tuyến giáp khoảng chừng 20 - 30 gam Bình thường, tuyến giáp bị cơ ức đòn chũm che lấp, không sờ thấy
Hình 1.1 Tuyến giáp
Tuyến giáp tiết ra 2 loại hóc-môn:
+ Hóc-môn có chứa iốt bao gồm thyroxin (T4), triiodothyronin (T3)
+ Canxitonin do các tế bào C cận nang của tuyến giáp tiết ra
Các hóc-môn tuyến giáp có chứa iốt được tổng hợp từ nguồn iốt ngoại lai (thức ăn) và tái sử dụng iốt nội sinh Ngoài ra tuyến giáp còn tổng hợp thyroglobulin (TG) là một protein phức tạp Thyroglobulin được coi như là nơi dự trữ hóc-môn giáp của cơ
Trang 13thể, hoạt động của nó chịu sự điều khiển của hóc-môn kích thích tuyến giáp (TSH) của tuyến yên [13]
Quá trình sinh tổng hợp hóc – môn tuyến giáp (T3, T4) trải qua các bước:
Bắt giữ iốt tại tuyến giáp
Hữu cơ hoá iốt
Kết đôi các iodotyrozin hình thành các iodothyronin
Giải phóng T3, T4 được dự trữ ở trong phân tử TG nằm trong các nang tuyến
Khử iốt hoá các iodotyrozin và tái sử dụng iốttua
1.1.2 Các phương pháp thăm dò hình thái và đo độ tập trung tuyến giáp
Thăm dò hình thái
Siêu âm tuyến giáp
Xạ hình tuyến giáp: Dùng máy xạ hình quét hoặc camera chụp tia nhấp nháy Thường sử dụng các loại đồng vị phóng xạ: I131, I123, Tc99m
Đo độ tập trung iốt phóng xạ: Cho bệnh nhân uống 10 - 40 µCi I131 hoặc 500 µCi
I123 lúc đói Đo độ tập trung iốt phóng xạ tại tuyến giáp sẽ biết được tỉ lệ iốt uống vào được hấp thụ tại các thời điểm 2, 4, 6, 24 và 48 giờ sau uống, sẽ vẽ được đồ thị biểu diễn sự hấp thu Tùy thuộc vào độ hấp thu cao hay thấp mà có thể đánh giá được chức năng tuyến giáp cường hay suy Chỉ số bình thường sau 2 giờ uống thuốc phóng xạ là 15%, sau 6 giờ là 25%, và sau 24 giờ là 40%, sau đó đồ thị hầu như không đổi
Trang 14Hình 1.2 Đường cong biểu diễn độ tập trung tuyến giáp 1.2 Hệ đo độ tập trung tuyến giáp
1.2.1 Khái niệm
Hệ đo độ tập trung tuyến giáp là thiết bị theo dõi khả năng hấp thu, độ tập trung, đào thải, lưu giữ các hợp chất trong tuyến giáp, giúp chẩn đoán về tình trạng, chức năng của cơ quan
1.2.2 Nguyên lý
Phương pháp đo độ tập trung tuyến giáp đòi hỏi bệnh nhân phải uống dược chất phóng xạ Thường ở dạng viên nang hoặc ở dạng lỏng và số lượng tích lũy của tuyến giáp trong những khoảng thời gian khác nhau được đo bằng cách sử dụng ống đếm gamma nhấp nháy Tỉ lệ độ tập trung iốt phóng xạ ở tuyến giáp (RAIU) được tính từ số lượng tích lũy trên một đơn vị thời gian liên tục theo phương trình sau:
RAIU= Số đếm ở cổ (cpm) - số đếm ở đùi (cpm)
Số đếm liều chuẩn (cpm) - Số đếm phông PTN (cpm)Í100% (1.1)
Trang 15Trong đó:
Số đếm ở cổ (cpm): là số đếm tuyến giáp bệnh nhân
Số đếm ở đùi (cpm): là số đếm phông bệnh nhân
Số đếm liều chuẩn (cpm): là số đếm của thuốc phóng xạ sẽ đưa cho bệnh nhân
Để hiểu một cách đơn giản nguyên lý của xét nghiệm, người ta cho rằng lưu vực iốt vô cơ là ổn định và có khoảng 445 µg (75 µg hằng định cộng 370 µg nhập vào hàng ngày) Tuyến giáp sử dụng khoảng 85 µg hoặc 19% (85/445) của lưu vực iốt vô
cơ Để xác định tỉ lệ đó người ta dùng iốt phóng xạ: I123 hoặc I131 Iốt phóng xạ sẽ hòa trộn với lưu vực iốt vô cơ, như vậy hoạt độ phóng xạ của iốt phóng xạ sẽ thể hiện lưu vực iốt vô cơ toàn phần Đếm iốt phóng xạ ở tuyến giáp sẽ biết được tỉ lệ iốt hấp thu bởi tuyến giáp Vì tình trạng chức năng của tuyến giáp và lưu vực iốt của mỗi người khác nhau, nên độ tập trung cũng khác nhau
Để tiến hành xét nghiệm này, người ta phải xây dựng chỉ số độ tập trung iốt ở tuyến giáp người bình thường làm chuẩn so sánh độ tập trung iốt của người bệnh trong trường hợp bệnh lý Trên thế giới các giá trị bình thường được các tác giả đưa ra là: 10-20% (2 giờ) và 30-50% (24 giờ) Các giá trị này ở người Việt Nam bình thường được các tác giả đưa ra từ những năm 1970 – 1980 tại khu vực Hà Nội và một số tỉnh đồng bằng sông Hồng là 14,4% (2 giờ) và 32,5% (24 giờ) Chỉ số này được tất cả các khoa y học hạt nhân và các thầy thuốc Việt Nam sử dụng từ nhiều năm nay như là hằng số về
độ tập trung iốt ở tuyến giáp của người Việt Nam bình thường [1]
Trang 16Hình 1.3 So sánh đường cong độ tập trung iốt phóng xạ giữa
người bình thường và người bệnh
Trên hình vẽ là một mẫu đường cong độ tập trung tuyến giáp người ta xây dựng
để đánh giá, so sánh kết quả độ tập trung iốt của người bệnh và người bình thường sau một khoảng thời gian uống thuốc phóng xạ, từ đó chẩn đoán tình trạng của tuyến giáp bệnh nhân
Trang 17CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG ĐO ĐỘ TẬP TRUNG TUYẾN GIÁP
2.1 Cấu tạo chung
Hình 2.1 Sơ đồ cấu tạo của hệ thống đếm các bức xạ trong cơ thể
Cấu tạo chung của một hệ đo độ tập trung tuyến giáp gồm: một hệ thống đầu dò được nối với một bộ khuếch đại Tín hiệu ra từ bộ khuếch đại được đưa đến bộ phân tích chiều cao xung Sau đó sẽ được đưa tới các bộ đếm thời gian, bộ đo tốc độ tương
Trang 18Hình 2.2 Cấu tạo hệ thống đầu dò
Có hai loại hệ thống đầu dò:
Hệ thống một đầu dò: sử dụng một đầu dò duy nhất Nó được sử dụng trong đo
độ tập trung tuyến giáp hoặc phát hiện ung thư vú
Trang 19Hình 2.3 Hệ thống một đầu dò
Hệ thống nhiều đầu dò: sử dụng nhiều đầu dò cùng một lúc Thường được sử dụng trong trường hợp đo đồng thời nhiều cơ quan cùng một lúc Ví dụ như: thận, phổi, đo tuyến giáp… [15]
Trang 202.1.1.1 Detector nhấp nháy
Khi một bức xạ đập vào một tinh thể nhấp nháy, nó ion hóa và kích thích các phân tử chất nhấp nháy Sau một thời gian (10-9s – 10-6s), các phân tử nhấp nháy này chuyển về trạng thái cơ bản và giải phóng năng lượng bằng cách phát ra các nhấp nháy sáng
Đặc điểm của tinh thể nhấp nháy NaI(Tl): Tinh thể nhấp nháy NaI(Tl) thuộc loại chất nhấp nháy vô cơ Tinh thể NaI sạch là chất nhấp nháy ở nhiêt độ - 192 oC Để nó
là chất nhấp nháy ở nhiệt độ phòng thí nghiệm người ta thêm vào một lượng nhỏ Thallium (0,1 – 0,4%) Tinh thể NaI(Tl) được bọc kín tron một lớp vỏ nhôm Bên ngoài gắn với một ống chuẩn trực hình trụ Kích thước detector tùy thuộc vào nhà sản suất, nhưng nhìn chung chúng được thiết kế với kích thước phù hợp với tuyến giáp (thường là 2x2 inch hoặc 3x3 inch)
2.1.1.2 Ống nhân quang điện
Hình 2.4 Ống nhân quang điện
Trang 21Ống nhân quang điện là một thiết bị kết hợp với tinh thể NaI(Tl) Đây là những ống điện tử có thể tạo ra một xung dòng điện khi bị kích thích bởi các tín hiệu ánh sáng yếu Các nhấp nháy sáng đi qua cửa sổ trong suốt của ống nhân quang điện và đập vào
bề mặt của photocatốt Những photon ánh sáng với năng lượng h sẽ làm bức xạ các electron từ lớp màn nhạy quang của photocatốt Những photoelectron này sẽ được gia tốc và hội tụ bằng điện trường, sao cho chúng lại đập vào một điện cực đặc biệt (được gọi là đinốt) Đinốt được chế tạo bằng vật liệu có công thoát điện tử nhỏ và khi bị các electron bắn phá, sẽ bức xạ những electron thứ cấp, với số lượng lớn hơn số lượng electron ban đầu từ 1 đến 10 lần Những electron thứ cấp này lại được gia tốc và hội tụ lên đinốt tiếp theo và đinốt này lại đóng vai trò phát xạ electron thứ cấp và v.v… Số lượng đinốt có thể rất lớn (khoảng 10 đinốt) Cứ mỗi lần chuyển tiếp từ đinốt này sang đinốt tiếp theo, số lượng electron sẽ nhân lên nhiều lần, và thông thường số lượng electron được bức xạ ở đinốt cuối cùng sẽ lớn hơn số lượng electron ban đầu hàng vạn đến hàng triệu lần Như vậy, ống nhân quang điện đồng thời đóng vai trò biến tín hiệu quang học thành tín hiệu điện và khuếch đại chúng.[2]
Hình 2.5 Sơ đồ cấu tạo ống nhân quang điện
Trang 222.1.1.3 Ống chuẩn trực
Loại ống chuẩn trực đơn giản nhất được sử dụng trong YHHN được sử dụng trong đầu dò của hệ thống đo độ tập trung tuyến giáp chính là ống chuẩn trực trường phẳng Ống chuẩn trực này được thiết kế để giới hạn trường nhìn của đầu dò trong một khu vực hình tròn Bán kính của trường nhìn sẽ tăng khi tăng khoảng cách giữa detector và cổ bệnh nhân Ta có thể tính khoảng cách thích hợp cho bán kính mong muốn của trường nhìn theo công thức:
và tỉ lệ nghịch với L
Công thức trên có thể dùng để tính khoảng cách b cho đầu dò và trường nhìn mong muốn (ví dụ: kích thước của cơ quan được đo) Ống chuẩn trực trường phẳng thể hiện một hiệu suất đồng đều tại mỗi khoảng cách nhất định Các đường đứt nét trên hình vẽ 2.6 thể hiện đường cong đáp ứng ISO, sao cho mỗi nguồn điểm sẽ cho cùng một tốc độ đếm tại bất kì điểm nào trong bán kính R
(1.2)
Trang 23Hình 2.6 Mặt cắt ngang của ống chuẩn trực trường phẳng
Hình 2.6 cho thấy đường cong đáp ứng ISO tại bất kỳ khoảng cách b nhất định
từ các tinh thể, đáp ứng đối với một nguồn đồng nhất là bằng trên trường nhìn (R là bán kính đại diện của đường cong đáp ứng ISO)
Trang 24Ví dụ
Đầu dò tuyến giáp được sử dụng để đo phóng xạ ở lá lách Lá lách có chiều dài khoảng 11cm Chiều dài ống chuẩn trực của đầu dò tuyến giáp là 12 cm và bán kính tinh thể 2,5 cm Tính khoảng cách tối ưu cho đầu dò tính từ đầu dò đến bề mặt da?
Giải
Kích thước lá lách là 11 cm, suy ra đường kính của khu vực đáp ứng ISO mong muốn là 11cm, bán kính mong muốn là 5,5 cm Ta sẽ chọn bán kính trường nhìn phù hợp là R = 6 cm, chiều dài ống chuẩn trực của đầu dò L = 12 cm, bán kính tinh thể nhấp nháy là r = 2,5 cm Suy ra khoảng cách tối ưu cho đầu dò tính từ đầu dò đến bề mặt da là:
Vậy khoảng cách cho trường nhìn tốt nhất từ đầu dò đến cơ quan là 17,8 cm
Xây dựng đường cong đáp ứng ISO
Để thiết lập khoảng cách làm việc tốt nhất giữa nguồn và đầu dò, người ta xây dựng đường cong đáp ứng ISO Đường cong đáp ứng ISO đối với một ống chuẩn trực trường phẳng là những dòng mà nếu một nguồn điểm được đặt trên đó sẽ cho cùng một kết quả đếm
Trang 25Hình 2.7 Xây dựng đường cong đáp ứng ISO bằng thực nghiệm
Những đường cong được xác định bởi các vị trí của các máy dò ở những khoảng cách khác nhau từ một nguồn điểm I131, với năng lượng hiệu chuẩn thiết lập tại 364 keV Vì vậy, nguồn này được đặt trên một chiếc bàn được phủ một tờ giấy milimet, vào vị trí “0” trùng với trục trung tâm của một tia chuẩn trực Đối với mỗi khoảng cách, nguồn điểm được di chuyển từng đoạn từ 1cm, từ vị trí “0” đến 10cm ở bên phải
và bên trái so với trục của ống chuẩn trực Ứng với mỗi vị trí của nguồn, thực hiện đo trong 30 giây Lấy tỉ lệ đếm tương ứng với mức trung bình của ba phép đo Từ đó người ta xây dựng được đường cong đáp ứng ISO cho ống chuẩn trực trường phẳng đối với nguồn I131
Trang 26Đường cong đáp ứng ISO của ống chuẩn trực trường phẳng cho thấy khoảng cách tối ưu của thanh khoảng cách là 15 cm tính từ mép của ống chuẩn trực Ở khoảng cách này vùng đáp ứng của ống chuẩn trực trường phẳng rộng 4 inch, và khoảng cách giữa các dòng đáp ứng ISO là 2 inch Trong khu vực này có một sự biến đổi 5% trong
tỉ lệ đáp ứng ISO Khi đo độ tập trung nên đặt vị trí tuyến giáp vào khu vực này
Kích thước 4x2 inch là rất phù hợp, vì tuyến giáp lớn nhất cũng chưa đạt đến kích thước này Do đó, ống chuẩn trực trường phẳng thích hợp cho một đầu dò độ tập trung tuyến giáp [6]
Hình 2.8 Đường cong đáp ứng ISO của ống chuẩn trực trường phẳng