Các hệ đo sử dụng hệ phổ kế đa kênh đo gamma có thể kiểm tra thành phần thùng rác thải gồm có những chất phóng xạ nào dựa vào các đỉnh năng lượng đặc trưng gamma trên phổ của chúng và ki
Trang 1MỞ ĐẦU
Kể từ khi kỷ nguyên hạt nhân bắt đầu, việc quản lý cũng như xử lý chất thải phóng xạ từ nhà máy điện hạt nhân là vấn đề cấp bách được các nước trên thế giới quan tâm đặc biệt
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay là tìm cách cất giữ và xử lý chất thải trong các thùng kín lớn được tạo ra chủ yếu từ nhà máy điện hạt nhân sao cho thích hợp với từng quốc gia, bởi chất thải hạt nhân chứa những đồng vị phóng xạ có hoạt
độ khác nhau và chu kì bán rã có thể lên đến hàng triệu năm Do đó nhằm đảm bảo các quy định về an toàn phóng xạ, chất thải phóng xạ không thể thải trực tiếp ra môi trường mà cần phải xác định các đồng vị phóng xạ có trong chất thải và phân loại chúng theo hoạt độ để có cách xử lý một cách phù hợp
Ngày nay trong nước cũng như trên thế giới có nhiều công trình khoa học đề cập đến vấn đề khảo sát hoạt độ phóng xạ trong thùng rác thải Mục đích của việc khảo sát là nhận biết được các gamma đặc trưng của các đồng vị phóng xạ, xác định hoạt độ phóng xạ và thêm vào đó là thực hiện đo đạc càng nhanh càng tốt
Các hệ đo sử dụng hệ phổ kế đa kênh đo gamma có thể kiểm tra thành phần thùng rác thải gồm có những chất phóng xạ nào dựa vào các đỉnh năng lượng đặc trưng gamma trên phổ của chúng và kiểm tra hoạt độ của thùng dựa vào số đếm đầu
dò ghi nhận được ứng với từng đỉnh
Sai số của phép đo không chỉ phụ thuộc vào nguồn và chất độn trong thùng mà còn phụ thuộc vào kỹ thuật nào được sử dụng Cho đến nay, có rất nhiều kỹ thuật phân tích và nổi bật trong số đó là ba kỹ thuật với độ tin cậy cao:
- Kỹ thuật chụp cắt lớp gamma (Tomographic Gamma Scanning Technique – TGS);
- Kỹ thuật dùng hai đầu dò đồng nhất (Two Identical Detectors Technique);
- Kỹ thuật quét gamma phân đoạn (Segmented Gamma Scanning Technique – SGS)
Trang 2Dự kiến đến năm 2020, tổ máy đầu tiên của Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận sẽ được vận hành thương mại Quá trình hoạt động của các lò phản ứng hạt nhân này sinh ra một lượng rác thải phóng xạ đáng kể, được chứa trong các thùng kín lớn, và chúng ta sẽ phải đối mặt với vấn đề xử lí và quản lí chất thải hạt nhân ở quy mô lớn Trước nhu cầu cần thiết trên, tôi chọn đề tài: “Tính toán phân bố của đồng vị phóng xạ trong thùng thải bằng phương pháp quét gamma phân đoạn” Mục tiêu của luận văn là: xác định tên và vị trí các đồng vị phóng xạ, sau đó tiến hành xây dựng đường chuẩn hiệu suất để tính toán hoạt độ của chúng tại một số
vị trí trong thùng thải, từ đó có thể phát triển hệ đo thùng thải phóng xạ
Đối tượng nghiên cứu là thùng thải thể tích 200 lít, bên trong có đặt hai tấm mút xốp để cố định các ống nhựa, nguồn phóng xạ là 60Co và 137Cs, dùng đầu dò NaI(Tl) 7,62cm × 7,62cm đặt trong ống chuẩn trực chì
Phương pháp nghiên cứu bao gồm đo đạc thực nghiệm bằng phương pháp quét gamma phân đoạn để xác định phân bố của các nguồn chuẩn và tính toán hoạt độ của nguồn từ đường chuẩn hiệu suất được xây dựng bằng chương trình PENELOPE
Nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới về một số kỹ thuật kiểm tra chất thải phóng xạ bằng một số phương pháp gamma không phá huỷ mẫu và giới thiệu về sự truyền bức xạ gamma qua vật chất
Chương 2: Trình bày chi tiết cấu tạo và công dụng của các bộ phận trong hệ
đo thùng thải phóng xạ và giới thiệu sơ lược về cơ sở dữ liệu và các tập tin dữ liệu cho quá trình mô phỏng của chương trình PENELOPE
Chương 3: Xác định vị trí, nhận diện và xác định hoạt độ của đồng vị phóng
xạ được thả ngẫu nhiên vào thùng thải
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Ngoài nước
1.1.1
Năm 1993, Cesana cùng cộng sự [8] đã xác định hoạt độ của nguồn có kích thước trong thùng chứa các chất thải phóng xạ khô, hữu cơ Trong kỹ thuật này, các tác giả đã sử dụng hai đầu dò bán dẫn Ge đặt đồng trục và đối xứng qua thùng thải Kết quả đạt được là đã xác định được hoạt độ của các nguồn, nhưng chỉ giới hạn trong một số nguồn có dãy năng lượng phù hợp như 137Cs, 134Cs, 54Mn, 60Co, và còn phụ thuộc vào mật độ vật liệu trong thùng Vật liệu trong nghiên cứu này có mật độ thấp và hệ số suy giảm tuyến tính trong khoảng từ 0,01 0,03 cm 1 Phương pháp này chính xác hơn so với phương pháp chỉ sử dụng một đầu dò đặt đồng trục với thùng thải Tuy nhiên sự phân bố hoạt độ trong thùng chưa xác định được và độ chính xác còn phụ thuộc vào vị trí của nguồn trong thùng
Năm 1995, Filb [12] đã xây dựng các công thức để tính hoạt độ trong các thùng thải mật độ cao từ tốc độ phát tia gamma, khoảng cách từ đầu dò đến bề mặt thùng, mật độ của chất độn, loại chất độn và năng lượng tia gamma phát ra Số đếm được ghi nhận bởi đầu dò bán dẫn siêu tinh khiết HPGe không che chắn; hiệu suất
hệ đo được chuẩn theo khoảng cách giữa đầu dò và bề mặt thùng; tính đồng nhất của thùng là điều kiện tiên quyết Kết quả thu được có thể chấp nhận
Năm 2009, Bai cùng các cộng sự [17] đưa ra phương pháp tính hoạt độ của thùng thải chứa các đồng vị phân bố không đồng nhất bằng phương pháp quét gamma phân đoạn Phương pháp này sử dụng biểu thức giải tích số xây dựng theo hình học của hệ đo và phương pháp chi bình phương χ2 để xử lý số liệu thực nghiệm thu được bằng phương pháp quét gamma phân đoạn, hai nguồn 60
Co và 137Cs được xem như phân bố không đồng nhất trong thùng Kết quả thu được có cải thiện khá tốt độ sai biệt Tuy nhiên cần nghiên cứu thêm hiệu ứng đa nguồn khi tiến hành đo bằng phương pháp quét gamma phân đoạn
Trang 4Năm 2011, Krings và Mauerhofer [13] tiếp tục giảm sai số xuống bằng cách thay đổi hàm đáp ứng của ống chuẩn trực trong biểu thức toán học của Bai Đồng thời tác giả sử dụng chương trình MCNP5 để mô phỏng mô hình hình học của ông Bai và của tác giả Nếu phương pháp thông thường cho sai số 10 - 40% thì sai số của phương pháp mới này giảm đáng kể chỉ còn 1 - 3%
Trong nước
1.1.2
Dự kiến đến năm 2020, tổ máy đầu tiên của Nhà máy điện hạt nhân Ninh
Thuận sẽ được vận hành Quá trình hoạt động của các lò phản ứng hạt nhân này
sinh ra một lượng rác thải phóng xạ đáng kể, và chúng ta sẽ phải đối mặt với vấn đề
xử lý và quản lý chất thải hạt nhân ở quy mô lớn Trước yêu cầu thực tiễn như trên,
các đề tài và luận văn nghiên cứu về thùng thải phóng xạ được quan tâm ngày càng nhiều
Năm 2012, Trần Quốc Dũng và Trương Trường Sơn [15] đã nghiên cứu và chỉ ra những hạn chế của kỹ thuật quét gamma phân đoạn, đồng thời đề nghị một phương pháp bổ sung để kiểm tra các thùng thải phóng xạ Giả thuyết của kỹ thuật mới là hoạt độ của chất thải tập trung như một nguồn điểm trong chất độn đồng nhất đối với một phân đoạn đo của thùng Các kết quả tính toán cho thấy độ chính xác của kỹ thuật này tốt hơn so với kỹ thuật quét gamma phân đoạn truyền thống trong hầu hết các trường hợp khi hỗn hợp chất phóng xạ và chất độn là không đồng nhất
Năm 2012, Trần Quốc Dũng tiếp tục cùng cộng sự [16] đã đánh giá việc kết hợp các kỹ thuật khác nhau để xác định hoạt độ các thùng thải phóng xạ, đó là đưa
ra phương pháp kết hợp hai kỹ thuật quét gamma phân đoạn SGS dùng một đầu dò
và dùng hai đầu dò đồng nhất Với phương pháp này, hai đầu dò 1 và 2 được đặt cố định và đồng trục với thùng thải ở một khoảng cách nhất định, đầu dò thứ 3 sẽ quét các phân đoạn của thùng khi thùng quay Kết quả thu được là sai số của phương pháp kết hợp là nhỏ hơn kỹ thuật sử dụng một đầu dò và thấp hơn sai số lớn nhất của kỹ thuật sử dụng hai đầu dò Ngoài ra phương pháp kết hợp còn đáp ứng tốt việc xác định hoạt độ của chất thải phóng xạ trong thùng chứa các chất độn có mật
độ thấp
Trang 5Năm 2012, luận văn thạc sĩ của Lê Anh Đức [1] đã tìm hiểu khả năng sử dụng phương pháp ngẫu nhiên bằng tính toán mô phỏng và thực nghiệm khi cho nguồn phóng xạ vào thùng để đánh giá sai số của kỹ thuật quét gamma phân đoạn Trong công trình này, tác giả đã tiến hành xây dựng được hệ đo SGS để đo đạc và tính toán thực nghiệm bằng phương pháp thả các nguồn phóng xạ ngẫu nhiên vào thùng, khảo sát định lượng sai số của kỹ thuật SGS do sự phân bố của nguồn theo khoảng cách với chất độn là cát đồng nhất Kết quả thực nghiệm thu được khá phù hợp với kết quả tính toán lý thuyết Ngoài ra tác giả còn tiến hành khảo sát định tính khả năng quét của hệ đo bằng phương pháp SGS đối với chất độn không đồng nhất
Năm 2013, Huỳnh Thị Yến Hồng cùng các cộng sự [2] đã áp dụng kỹ thuật quét gamma phân đoạn để xác định vị trí một nguồn bất kỳ trong thùng thải phóng
xạ Cơ sở của việc xác định vị trí tương đối của nguồn là tiến hành xây dựng đường chuẩn hiệu suất theo năng lượng ứng với các khoảng cách từ nguồn tới đầu dò là 10 cm; 10,9 cm; 20,9cm; 30,9 cm; 40,9 cm Từ đó, xây dựng đường chuẩn hiệu suất theo khoảng cách ứng với từng đỉnh năng lượng Các kết quả thực nghiệm và tính toán dựa vào cơ sở trên cho thấy kỹ thuật quét gamma phân đoạn có thể áp dụng xác định vị trí nguồn bất kỳ đặt ngẫu nhiên trong thùng với độ sai biệt dưới 4%
Năm 2013, luận văn thạc sĩ của Trương Nhật Huy [3] với đề tài “Nghiên cứu
và xây dựng hệ đo thùng thải chất phóng xạ” từ các thiết bị đơn giản đã khảo sát sự thay đổi số đếm của nguồn theo các khoảng cách từ nguồn đến đầu dò khác nhau, xác định vị trí của một nguồn bất kỳ có trong thùng theo chiều cao và chiều ngang với các chất độn khác nhau
Năm 2014, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Thủy [7] với đề tài “Phát triển hệ kiểm tra chất thải phóng xạ” đã tập trung phát triển hệ đo, tiến hành xác định tên, vị trí các đồng vị phóng xạ trên hệ đo mới này bằng phương pháp quét gamma phân đoạn Ngoài ra tác giả còn dùng chương trình MCNP5 để xây dựng đường chuẩn hiệu suất theo năng lượng khi chất độn trong thùng thải khác nhau, so sánh sự hấp thụ của phổ 137Cs và 60Co trong hai trường hợp là không có chất độn và chất độn là bê tông
Trang 6Hiện đã có đề tài thiết kế, nghiên cứu để phát triển một hệ đo có thể áp dụng cho nhiều loại chất thải phóng xạ với chi phí hợp lý cùng với độ tin cậy cao Tuy nhiên, hệ đo này cũng chỉ phù hợp các thùng thải nhẹ do chất thải hoặc chất độn trong thùng có mật độ thấp, với mật độ lớn thì khối lượng của thùng khá lớn, không thuận tiện nâng hay quay thùng để quét theo các phân đoạn Nhằm khắc phục các hạn chế trên, thay vì nâng thùng thải để quét các phân đoạn dọc theo chiều cao thùng thì luận văn này cải tiến hệ đo bằng cách cho đầu dò di chuyển dọc theo các phân đoạn, đồng thời luận văn tiến hành xác định tên và vị trí các đồng vị phóng xạ được thả ngẫu nhiên vào thùng, xây dựng đường chuẩn hiệu suất để tính toán hoạt
độ của chúng tại một số vị trí trong thùng thải trong hai trường hợp là không có chất độn và chất độn là cát
1.2 Tổng quan về các kỹ thuật đo hoạt độ thùng thải
Kỹ thuật quét gamma phân đoạn
1.2.1
Kỹ thuật quét gamma phân đoạn (SGS) là một kỹ thuật quan trọng để đo đạc
và phân tích hoạt độ của rác thải phóng xạ, được phát triển bởi phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos – Mỹ vào đầu những năm 1970 Đây là kỹ thuật phổ biến nhất trong số các kỹ thuật phân tích không huỷ mẫu chất thải hạt nhân vì độ tiện lợi mà
nó mang lại Hệ thống SGS có một lợi thế là sử dụng các dụng cụ đo và lắp ráp không quá phức tạp với độ tin cậy cao, giá thành sản xuất phù hợp Hình 1.1 là một
hệ SGS chuẩn của hãng Canberra
Trang 7Nguyên tắc hoạt động cơ bản của kỹ thuật quét SGS là phân chia thùng rác thải phóng xạ thành các phân đoạn nằm ngang nhỏ hơn rất nhiều so với chiều cao của thùng, giả thiết rằng các nguồn phóng xạ và chất độn trong thùng thải là phân
bố đồng nhất; sử dụng đầu dò gắn ống chuẩn trực để ghi số đếm; và phân tích thành phần dựa vào phổ năng lượng thu được trên từng phân đoạn Tuy nhiên, trên thực tế nguồn và chất độn phân bố không đồng nhất nên kỹ thuật này gây ra sai số lớn
Sau đây sẽ trình bày và phân tích rõ ràng hơn về nguyên tắc hoạt động của kỹ thuật này
Hình 1.2 Bố trí hình học của kỹ thuật quét gamma phân đoạn
Thùng được chia thành nhiều phân đoạn, i = 1, 2, 3…n là số thứ tự đánh dấu của từng phân đoạn, mỗi phân đoạn lần lượt được đo bởi đầu dò Số đếm thô CRitrên mỗi phân đoạn được xác định bởi đầu dò Số đếm hiệu chỉnh Ci được tính bằng công thức:
i
1 eCF
Trang 8sử dụng một nguồn ngoài để tính hệ số suy giảm tuyến tính Cách giải quyết này được sử dụng rộng rãi để xác định CFi trong phương pháp SGS vì hệ số hấp thụ tuyến tính có thể thay đổi từ phân đoạn này sang phân đoạn khác do chất độn phân
t 0,693 T T
C eI
Th: chu kì bán rã của các đồng vị phóng xạ (ngày);
Y: xác suất tia gamma;
ε: hiệu suất ghi của đầu dò
Các phương trình trên đều dựa trên hai giả thuyết là khoảng cách từ mẫu trong phân đoạn đến đầu dò là vô hạn và mẫu là đồng nhất
Hệ số hình học
Vì các nguồn phóng xạ trong thùng trải rộng và phân bố không đều nên số đếm Ci phụ thuộc vào vị trí của các mẫu trong thùng Điều này có thể dẫn đến các sai số tiềm tàng, việc gia tăng khoảng cách từ đầu dò đến thùng có thể giảm thiểu sai số này nhưng phải đo trong thời gian lâu do sự suy giảm số đếm Do vậy thùng được quay để giảm thiểu sai số gây ra bởi sự phân bố không đồng đều trong thùng
Sự lựa chọn khoảng cách từ thùng đến đầu dò sao cho có sự cân bằng giữa tối thiểu hóa sai số và có được số đếm chính xác tối đa Độ biến thiên số đếm tối đa theo vị trí là nhỏ hơn 10% nếu khoảng cách từ tâm thùng đến đầu dò là bằng hoặc lớn hơn
ba lần độ lớn của bán kính thùng [4]
Trang 9Đánh giá sai số của phương pháp
Dựa trên mô phỏng toán học của hệ thống SGS, những thông số ảnh hưởng đến sai số sẽ được nghiên cứu:
Chất độn biểu thị sự hấp thụ gamma và sự phân bố theo không gian của
hệ số hấp thụ
Sự phân bố của nguồn phóng xạ trong một phân đoạn
Khoảng cách từ đầu dò đến tâm thùng liên quan đến việc điều chỉnh sai
số của phép đo với sự suy giảm số đếm mà đầu dò ghi nhận
Mô hình thùng thải phóng xạ thường được sử dụng trong thực tế và mô phỏng có thể tích 220 lít, đường kính 60 cm và chiều cao 88 cm Phép đo gamma được thực hiện ở năng lượng của các đồng vị sản phẩm phân hạch, từ 140 keV đến
1400 keV Với khoảng năng lượng gamma đã cho, các hệ số hấp thụ tuyến tính trung bình của chất độn sẽ trong khoảng 0,01 cm-1 - 0,14 cm-1 Trong luận văn này,
hệ số hấp thụ tuyến tính trung bình là từ 0,03 - 0,12 cm-1 và 0,0498 cm-1 ứng với chất độn là cát Ta xét trường hợp các nguồn điểm trong chất độn là đồng nhất [16]
Giả thiết có một nguồn điểm hoạt độ thực là Id trong một phân đoạn Thì số đếm thực của nguồn đó sẽ được tính như sau [14]:
j
.L n d
2
j 1 j
I eC
Lj: độ dài quãng đường tia gamma trong thùng (cm)
Hj: khoảng cách từ nguồn đến đầu dò (cm)
Lj, Hj phụ thuộc vào góc θj, khoảng cách từ nguồn đến tâm thùng r (cm), khoảng cách từ đầu dò đến tâm thùng K (cm), và bán kính thùng R (cm)
n: số góc θj khác nhau cho mỗi số đếm
µ: hệ số hấp thụ tuyến tính
α: hệ số phụ thuộc vào năng lượng của tia gamma và hiệu suất của đầu dò
Trang 10Hình 1.3 Mặt cắt ngang của một phân đoạn
So sánh kết quả của Id và Is được tính toán từ các công thức (1.5) và (1.10) ta
có thể rút ra được sai số tương đối của phép đo SGS
Hiện nay, phương pháp này được ứng dụng phổ biến nhất để xác định các đồng vị phóng xạ và hoạt độ của chúng trong thùng thải
Trang 11Kỹ thuật dùng hai đầu dò đồng nhất
1.2.2
Kỹ thuật quét gamma phân đoạn (SGS) là một kỹ thuật truyền thống để xác định được đồng vị cũng như hoạt độ của đồng vị đó trong thùng thải Tuy nhiên sai
số hệ thống của kỹ thuật này còn rất lớn vì nhiều yếu tố:
- Sự phân bố của nguồn phóng xạ trong thùng không đồng nhất
- Các thành phần có trong thùng cũng như chất độn phân bố không đồng nhất
- Khoảng cách từ thùng đến đầu dò…
Từ đó một kỹ thuật khác đã được đề ra và nghiên cứu cho việc khảo sát thùng thải có mật độ chất thải thấp, chủ yếu bao gồm các vật liệu hữu cơ (vải vụn, giấy…), đó là kỹ thuật dùng hai đầu dò đồng nhất [14]
Hình 1.4: Bố trí hình học của kỹ thuật dùng hai đầu dò đồng nhất [14]
trong đó: D: khoảng cách từ đầu dò đến thùng;
D1: khoảng cách từ đầu dò đến thành thùng;
L: chiều dài thùng;
x: khoảng cách từ thành thùng đến hình chiếu vuông góc của vị trí nguồn xuống phương của D;
x1: khoảng cách từ thành thùng đến nguồn theo phương của D1
Lý do để phát triển kỹ thuật này là:
- Việc đo lường này được giới hạn bởi năng lượng của các tia gamma cứng phát ra từ nguồn phát như 137Cs, 134Cs, 60Co… hệ số hấp thụ khối gần như không phụ thuộc vào số hiệu nguyên tử của vật liệu chất độn, hệ số hấp
Trang 12thụ tuyến tính rất nhỏ (vào khoảng 0,01 - 0,03 cm-1) bởi vì mật độ chất thải trong thùng thấp (0,2 - 0,4 g/cm3);
- Việc khảo sát một thùng thải cần tốn rất nhiều thời gian mà trên thực tế số lượng thùng cần được khảo sát rất lớn nên quét chi tiết bằng kỹ thuật SGS dùng một đầu dò để quét tất cả các phân đoạn và các góc quay khác nhau của thùng thải thì không thể áp dụng trên thực tế;
- Việc đo đạc bằng kỹ thuật hai đầu dò này đơn giản và có thể sử dụng trong bất kỳ tình huống nào
Tuy nhiên sai số hệ thống của kỹ thuật này vẫn còn rất lớn nếu như hoạt độ phóng xạ phân bố trong một khu vực của thùng rác thải
Nguyên lý của kỹ thuật hai đầu dò đồng nhất là hai đầu dò đặt đối diện, thùng thải đặt chính giữa hai đầu dò
Kỹ thuật chụp cắt lớp gamma
1.2.3
Kỹ thuật chụp cắt lớp gamma (TGS) được phát triển bởi phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos vào đầu những năm 1990 cho Bộ Năng lượng Mỹ TGS sử dụng nguồn truyền dẫn đơn năng để hiệu chỉnh, chụp cắt lớp vi tính để xác định sự phân bố và phân tích thành phần nguồn phóng xạ trong thùng thải bằng cách sử dụng đầu dò cùng hệ phổ kế gamma có độ phân giải cao Kỹ thuật này là một bước tiến đáng kể trong công nghệ phân tích không huỷ mẫu, nó hướng tới một kết quả chính xác vì có thể thấy được hình ảnh về sự phân bố của chất độn và nguồn phóng
xạ Tuy nhiên, kỹ thuật này đòi hỏi nhiều kinh phí để đầu tư và công nghệ rất cao
Quá trình hoạt động của TGS gồm hai bước với khả năng quét và phân tích cho độ chính xác cao Bước đầu tiên là chụp cắt lớp vi tính, giống như kỹ thuật chụp ảnh X-quang y tế, để đo sự suy giảm của cường độ bức xạ đi từ một nguồn bên ngoài thông qua chất độn đến đầu dò, từ đó xác định hệ số hấp thụ tuyến tính trên từng phân lớp và trung bình Các nguồn phát ra tia gamma ở mức năng lượng rời rạc, khi các tia đi qua thùng với chất độn không đồng nhất ở bên trong, chúng sẽ
bị suy giảm ở nhiều mức độ khác nhau Ở phía bên kia của thùng, hệ phổ kế gamma
sẽ đo được bức xạ gamma suy yếu Bằng cách ghi nhận và đo tia gamma cường độ
Trang 13suy yếu ở mức năng lượng cụ thể của nguồn truyền qua, người ta có thể xác định phân bố của hệ số suy giảm tuyến tính của thùng rác thải Các phân bố này có thể được xây dựng lại để mô tả sự suy giảm do chất độn của thùng [10]
Bước thứ hai là đo gamma thụ động, đầu dò ghi nhận gamma và cho ta phổ tia gamma phát ra từ bên trong thùng Sự suy giảm gamma gây ra bởi vật liệu trong các phép đo đồng vị phóng xạ được hiệu chỉnh bằng cách sử dụng bản đồ hệ số suy giảm tuyến tính, sự điều chỉnh này cho một kết quả chính xác hơn về các đồng vị phóng xạ bên trong thùng Phổ thu được được sử dụng để tự động xác định các đồng vị trong thùng, bởi vì các đồng vị phóng xạ khác nhau sẽ phát ra một năng lượng đặc trưng duy nhất của riêng chúng trong phổ năng lượng [19]
Hệ chụp cắt lớp TGS là một hệ thống mở rộng hơn của hệ máy SGS, mở rộng phạm vi các ứng dụng cho phép đo lường đối với các nguồn và chất thải không đồng nhất với kết quả chính xác cao hơn, độ chính xác của phép đo TGS trong khoảng từ 10 - 50% cho dù chất độn không đồng nhất [11] Sự chuyển động tương đối của thùng chất thải và đầu dò cũng khác nhau Thay vì chỉ là xoay và nâng thùng thì có thể đồng thời xoay và dịch theo chiều ngang Đối với một một thùng thải có hoạt độ và chất độn không đồng nhất, kết quả đo lường TGS cho một sai số thấp hơn nhiều so với các kỹ thuật khác
Hình 1.5 Hệ TGS chuẩn của Canberra
[18]
Hình 1.6 Hình cắt lớp về phân bố đồng
vị phóng xạ và chất độn trong thùng [19]
Trang 141.3 Tương tác của gamma với vật chất
Quá trình làm chậm của lượng tử gamma trong môi trường không được thực
hiện liên tục như những hạt tích điện Bởi vì khi tương tác với electron và nguyên tử
của môi trường, lượng tử gamma hoặc mất tất cả (hấp thụ) hoặc phần lớn năng
lượng do quá trình tán xạ Chùm gamma song song khi truyền qua vật chất có bề
dày d giảm theo quy luật hàm mũ:
o
Ở đây I0 là số lượng tử gamma đến tấm có bề dày d (cm); I là số lượng tử
gamma có cùng năng lượng sau lớp vật chất; là hệ số suy giảm tuyến tính và có
thứ nguyên cm-1 Ý nghĩa vật lý của hệ số tỉ lệ như sau: Chùm lượng tử gamma
giảm đi e lần sau khi đi được quãng đường 1/ Đại lượng 1/ là quãng đường tự do
trung bình của lượng tử gamma trong vật chất Điều này nhận được dễ dàng nếu chú
ý rằng e d là xác suất lượng tử gamma đi đoạn đường d không va chạm, lúc đó
đoạn đường trung bình sẽ bằng tỉ số:
nguyên tử và hạt nhân của môi trường vật chất
Để ghi nhận lượng tử gamma và đặc biệt đối với sự suy giảm của nó trong môi
trường, ba quá trình sau đây có ý nghĩa thực sự: Hấp thụ quang điện (photoeffect),
sự tạo cặp trong trường hạt nhân sinh ra electron – positron, và sự tán xạ của lượng
tử gamma lên electron tự do (tán xạ Compton) Tiết diện tương tác toàn phần của
lượng tử gamma với nguyên tử là tổng của tiết diện hấp thụ quang điện phot , tiết
diện tán xạ comptonCom , và tiết diện tạo cặp pair
Trang 15Hiệu ứng quang điện
1.3.1
Hiệu ứng quang điện là quá trình tương tác của lượng tử gamma với electron liên kết trong nguyên tử Tất cả năng lượng của lượng tử gamma mất đi để bứt electron từ nguyên tử
Hình 1.7 Hiệu ứng quang điện
Năng lượng của electron có thể xác định từ hệ thức Te h Ii Ở đây Ii là thế ion hóa của electron tầng i của nguyên tử Từ hệ thức này ta thấy hiệu ứng quang điện chỉ có thể xảy ra khi h > Ii Vì vậy tiết diện của hiệu ứng quang điện sẽ
có những giá trị tăng vọt khi năng lượng của lượng tử gamma bằng với năng lượng ion hóa của những lớp K – L – M Các tính toán tiết diện của hiệu ứng quang điện chỉ ra rằng, hiệu ứng quang điện xảy ra chủ yếu ở lớp K (khoảng 80%) Đối với năng lượng phôton h mc2, xác suất của hiệu ứng quang điện phụ thuộc rất mạnh vào điện tích của môi trường phot Z5 Điều này là do sự khác biệt về năng lượng liên kết của các electron, trong những hạt nhân nhẹ (Z nhỏ), electron được liên kết bởi lực Coulomb yếu hơn những hạt nhân nặng Ta có tiết diện hiệu ứng quang điện phụ thuộc vào năng lượng của bức xạ gamma và điện tích hạt nhân của môi trường
5 phot
5 7/2 phot
có năng lượng cao Trong vật liệu nhẹ hiệu ứng này chỉ có ý nghĩa với những lượng
tử gamma có năng lượng tương đối thấp
Trang 16Những biểu thức tính toán tiết diện quang điện có dạng sau:
7 2
16 5 photo K
33 5 photo K
1,09.10 Z 13,61/ h1,34.10 Z / h
Ở đây phot tính theo cm2 trong khi h trong công thức (1.15a) tính bằng eV, còn trong công thức (1.15b) tính bằng MeV, Z là điện tích của hạt nhân nguyên tử Chúng ta có từ lý thuyết tỉ số tiết diện hiệu ứng quang điện ở các tầng khác nhau trong nguyên tử được cho bởi (phot)L/(phot)K 1 5/ và (phot)M/(phot)K 1/ 20
Do đó tiết diện toàn phần của hiệu ứng quang điện phot 5 / 4(phot)K
h mc tiết diện của hiệu ứng quang điện tỉ lệ nghịch với năng lượng của lượng tử gamma Từ công thức (1.15), ta thấy tiết diện của hiệu ứng quang điện giảm rất nhanh theo sự gia tăng năng lượng của lượng tử gamma và theo
sự giảm của điện tích hạt nhân Công thức trên không miêu tả đúng tiết diện trong miền gần với giới hạn hấp thụ của lớp vỏ nguyên tử Tuy nhiên nó chỉ ra sự phụ thuộc của tiết diện hiệu ứng quang điện vào năng lượng và điện tích của hạt nhân
Hiệu ứng quang điện kèm theo bức xạ đặc trưng do kết quả sự chuyển electron vào chỗ trống trong lớp vỏ nguyên tử Bức xạ đặc trưng không phải luôn luôn phát ra Năng lượng có thể được truyền cho electron bên ngoài của nguyên tử Trong trường hợp này, ngoài quang electron có năng lượng Ee còn có những electron có năng lượng gần với năng lượng ion hóa I (những electron này được gọi
là electron Auger) Những electron Auger có xác suất lớn được quan sát ở hiệu ứng quang điện trên những nguyên tử có giá trị Z nhỏ và trung bình
Tán xạ Compton
1.3.2
Nếu năng lượng của lượng tử gamma lớn đáng kể hơn năng lượng liên kết của electron, thì có thể xem electron là tự do trong quá trình xét sự va chạm đàn hồi của lượng tử gamma với nó
Trang 17Khi đó từ định luật bảo toàn năng lượng và động lượng có thể nhận được mối liên quan giữa năng lượng h’ của lượng tử tán xạ với năng lượng h của lượng tử tới và góc tán xạ , cũng như mối liên quan giữa năng lượng của electron Compton
Ee với góc bay ra của nó hệ thức này sẽ là:
với góc cho trước, đại lượng độc lập với
Hình 1.8 Hiệu ứng Compton
Trang 18Ở đây hiệu ứng Compton là không có ý nghĩa đối với bức xạ có bước sóng dài, trái lại hiệu ứng này giữ vai trò quan trọng đối với bức xạ có bước sóng ngắn, khi Giải phương trình cho '
'
2 e
hh
2 e
Trang 19Tiết diện vi phân của tán xạ Compton được tính với sự kiểm chứng của thực nghiệm:
2 2
2 2
Có hai trường hợp đặc biệt sau đây:
1 Trường hợp 1, công thức (1.26) biến đổi thành
2 Com Th
2 Trường hợp 1, công thức (1.26) trở thành
2 Com e
Com Z / E (1.29) Hiệu ứng Compton không chỉ được quan sát cho electron đứng yên mà còn cho chuyển động Những công thức khi gamma tới có năng lượng tán xạ trên electron chuyển động, có thể nhận được bởi sự biến đổi công thức (1.21) từ hệ tọa
độ gắn với electron sang hệ qui chiếu phòng thí nghiệm:
E
Trang 202 max 2
hh
h m c 2 m c 2 TA (1.32) Với m c 2, m c 2 năng lượng toàn phần của e+ và e- Năng lượng giật lùi của hạt nhân, khi hai hạt sinh ra bay theo hướng vuông góc với gamma tới và tạo với nhau một góc 1800, lúc đó:
ppA 0 => h
Mvc
=> p2 p2A 2MTA => 2
hT2Mc
Trang 21Tiết diện tạo cặp trên electron và hạt nhân nguyên tử tỉ lệ với Z và phụ thuộc phức tạp vào năng lượng Lúc đầu tiết diện tạo cặp gia tăng rất nhanh, sau đó khi h 137m c Ze 2 1 3 tiết diện đạt đến giá trị không đổi Tiết diện tạo cặp khác nhau đối với những chất có Z khác nhau
2 2
1.3.4.1 Hệ số suy giảm tuyến tính Hệ số hấp thụ tuyến tính
Tiết diện tương tác toàn phần là tổng tiết diện của các quá trình Gọi là tiết diện toàn phần vi mô (tính trên một nguyên tử vật chất), ta có:
phot Com pair
Ở đây phot là tiết diện của hiệu ứng quang điện; Com là tiết diện tán xạ Compton; pair là tiết diện tạo cặp Nhân tiết diện vi mô với số nguyên tử N có trong 1cm3, ta có được tiết diện vĩ mô hay hệ số suy giảm tuyến tính
phot aCom sCom pair
1
cmphot aCom sCom pair
Trang 22Hệ số a này khác với hệ số mà vẫn thường được gọi là hệ số suy giảm làm yếu thông lượng chùm tia gamma khi tương tác với vật chất
Khi môi trường che chắn có bề dày tương đối lớn, ta phải tính đến hiệu ứng tích lũy do các tia tán xạ đóng góp
1.3.4.2 Hệ số suy giảm khối
Khi chia hệ số suy giảm tuyến tính khối lượng riêng của môi trường vật chất
Trang 23Chương 2 THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Giới thiệu chung
Hệ đo được thiết lập dựa trên kỹ thuật quét gamma phân đoạn SGS như trong hình 2.1
Đầu dò có gắn ống chuẩn trực được đặt trên hệ cơ để dịch chuyển dọc theo các phân đoạn của thùng thải
Thùng thải được đặt trên mâm quay, cho đầu dò di chuyển dọc theo từng phân đoạn của thùng để ghi nhận số đếm của từng phân đoạn Tại các phân đoạn có số đếm cao, cho thùng quay để đầu dò ghi nhận số đếm theo từng góc quay
Hình 2.1 Bố trí hệ đo thực nghiệm trong luận văn
Chi tiết bố trí hệ đo thực nghiệm sẽ được trình bày trong các mục tiếp theo
Trang 24Hình 2.2 Các nguồn chuẩn sử dụng trong quá trình đo Bảng 2.1 Thông tin các nguồn chuẩn được sử dụng
Nguồn Hoạt độ ban
đầu
Chu kì bán
rã
Ngày sản xuất
Năng lƣợng (keV) [18]
Trang 25b Thùng thải
Thùng thải trong luận văn có chiều cao 85cm, đường kính 58cm, chu vi 180cm, thể tích là khoảng 220 lít và được đặt trên mâm quay để có thể quay thùng Thùng được chia thành 11 phân đoạn, trong đó phân đoạn 1 cao 5cm, các phân đoạn còn lại cao 8cm Đánh dấu một điểm trên thùng để chia thành 12 góc quay, mỗi góc ứng với một cung có độ dài là 15 cm
Bên trong thùng có đặt 12 ống nhựa được đánh số từ 1 đến 12 ở các vị trí ngẫu nhiên để thả nguồn Các ống này được giữ cố định bằng 2 tấm múp xốp, 1 tấm được đặt sát đáy thùng, tấm còn lại đặt cách nắp thùng 3cm
Hình 2.3 Vị trí các ống bên trong thùng thải
Trang 26b Khối Osprey
Osprey là một thiết bị hiệu suất cao được thiết kế cho cả phòng thí nghiệm và thực tế, một thiết bị nhỏ gọn có chứa một điện cao áp cung cấp (HVPS), tiền khuếch đại và đầy đủ tính năng kỹ thuật số MCA
Osprey đã thay thế được các thiết bị riêng biệt như trước và được kiểm soát một cách dễ dàng thông quá cổng USB và phần mềm Genie 2000 Nguồn nuôi được dùng trực tiếp từ nguồn điện của máy tính
Hình 2.4 Đầu dò NaI (Tl) loại 802 –
7,62cm x 7,62cm
Hình 2.5 Khối Osprey
c Ống chuẩn trực chì
Ống chuẩn trực được đúc bằng chì tương ứng với kích cỡ của đầu dò, dùng
để chuẩn trực chùm tia phóng xạ từ nguồn vào đầu dò Ống có đường kính trong là 9,5 cm, đường kính ngoài 10,5 cm, chiều dài bao bọc xung quanh đầu dò NaI(Tl)
15 cm, nắp đậy vừa khít có đường kính 9,5 cm, một khe chuẩn trực trên nắp ngang dài 3cm, rộng 0,5cm
Hình 2.6 Ống chuẩn trực chì bao quanh đầu dò NaI(Tl)
Trang 27Ống chuẩn trực bao lấy đầu dò và cùng đặt cố định trên đế sắt cao 5cm Đầu
dò được nối với máy tính bằng cáp để hiện thị phổ gamma tương ứng của các đồng
vị phóng xạ và số đếm
d Chương trình hiển thị và phân tích phổ
Sử dụng chương trình Genie 2000 cung cấp một môi trường làm việc tốt cho MCA như kiểm soát, thu thập dữ liệu, hiển thị và phân tích Ghi nhận và phân tích
số liệu thực nghiệm được ghi nhận từ đầu dò
Để xác định các đỉnh năng lượng chương trình cung cấp một công cụ giúp xác định các hệ số của đường chuẩn năng lượng bằng cách nhập số kênh tương ứng với các đỉnh năng lượng đã biết Ngoài ra chương trình còn giúp xác định được số đếm của các đỉnh năng lượng
Hình 2.7 Giao diện chương trình Genie 2000
2.2.3 Thiết bị dịch chuyển thùng
a Mâm quay thùng thải
Mâm quay thùng thải bao gồm một đĩa tròn có đường kính 62cm, trên đĩa có các chốt để cố định thùng thải, một động cơ quay nối với đĩa tròn
Động cơ quay có công suất lớn đã gắn hệ giảm tốc, quay với tốc độc chậm để đầu dò có thể quét được toàn bộ thùng rác thải phóng xạ một cách chi tiết nhất, động cơ được gắn hệ truyền động gồm các bánh răng gắn liền với trục quay của giá
đỡ thùng rác thải phóng xạ
Trang 28Hình 2.8 Mâm quay thùng thải có gắn động
b Hệ dịch chuyển đầu dò
Hệ được sử dụng là khung sắt trên đó có gắn
Bàn đặt để đặt đầu dò lên đó, có thể trượt trên hai thanh răng nằm dọc thân khung;
Máy mô-tơ điều khiển đầu dò di chuyển lên xuống dọc theo thân thùng thải bằng một nút gạt;
Công tắc đóng ngắt mô-tơ;
Thước đo để định khoảng dịch chuyển đầu dò theo mong muốn
Trang 292.3 Giới thiệu sơ lược về chương trình PENELOPE
2.3.1 Giới thiệu
PENELOPE (PENetration and Energy LOss of Positrons and Electrons – Sự xuyên sâu và mất mát năng lượng của positron và electron) được phát triển bởi các trường Đại học Tây Ban Nha và Argentina, vận hành trên giao diện Dos, sử dụng ngôn ngữ lập trình Fortran 77 nên có thể chạy trên bất kỳ nền tảng nào có ngôn ngữ Fortran 77 hay Fortran 90 [9]
Lần đầu tiên được phát hành năm 1996, PENELOPE thực hiện mô phỏng Monte Carlo về sự xuyên sâu và mất mát năng lượng của positron và electron trong vật liệu, mô phỏng cho photon được phát triển sau Mô phỏng sự lan truyền electron
ở vùng năng lượng thấp trong vật liệu cũng được tính toán chính xác nhất trong giới hạn của chương trình Các phiên bản hiện tại với những cải tiến là kết quả của sự phát triển liên tục từ phiên bản này
Chương trình PENELOPE mô phỏng sự vận chuyển của ba loại hạt: photon, electron và positron trong hệ thống vật liệu tùy ý do người sử dụng chương trình lựa chọn sao cho phù hợp với thực tế Hệ thống vật liệu này được giới hạn bởi những bề mặt nhất định Sự vận chuyển các loại hạt được mô phỏng trong mức năng lượng từ 1keV đến 1GeV Tuy nhiên, sự mô phỏng các hạt ở mức năng lượng cao vẫn chính xác hơn mức năng lượng thấp Đối với những phép mô phỏng năng lượng dưới 1keV thì kết quả mô phỏng chỉ mang tính định tính, không mang tính định lượng 2.3.2 Hệ thống code PENELOPE 2008
PENELOPE 2008 là kết quả của sự phát triển liên tục từ phiên bản đầu tiên được phát hành năm 1996, kết hợp những thay đổi đáng kể và bổ sung các phiên bản trước (1996, 2000, 2001, 2003, 2005, 2006) nhằm mục đích nâng cao độ tin cậy
và tính tổng quát của hệ thống mã Luận văn này sử dụng phiên bản 2008 có cấu trúc như sau:
FSOURCE gồm 6 tập tin:
material.f: dữ liệu vật liệu;
penelope.f: dữ liệu mô phỏng;