1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng phát triển nghành hóa chất và khả năng nâng cao năng lực cạnh trạnh thông qua tăng cường khai thác các yếu tố liên quan tới thương mại

109 626 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

loại hình kinh tế cho thấy mức độ đầu tư FDI cũng như các doanh nghiệp ngoài nhà nước đối với ngành hóa chất đã có bước tăng nhanh với tốc độ bình quân từ 21,2 – 23.4%/năm, trong khi mức

Trang 1

bộ công thương

báo cáo ĐáNH GIá

THựC TRạNG PHáT TRIểN NGàNH HóA CHấT

và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua tăng cường khai thác các yếu tố liên quan tới

thương mại

hà nội, tháng 6 năm 2013

Trang 2

Môc lôc

Ph ần thứ nhất ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHUNG CỦA NGÀNH

2 Về số lượng, cơ cấu và năng lực các doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh

III V ề nguồn nhân lực, công tác đào tạo và nghiên cứu phát triển khoa

3 Về công tác nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ phục vụ sản xuất 62

Trang 3

2 Đối với nhóm sản phẩm hóa chất bảo vệ thực vật 67

Ph ần thứ hai ĐÁNH GIÁ VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ

IV Nh ận định về những vấn đề quan trọng và hướng xử lý nhằm

nâng cao kh ả năng cạnh tranh của ngành hóa chất của Việt

Nam thông qua tăng cường khai thác các yếu tố liên quan tới

101

Trang 4

thương mại thời gian tới

Trang 5

Ph ần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHUNG CỦA NGÀNH HÓA CHẤT

I V ề cấu trúc, qui mô và năng lực sản xuất

Hóa chất là một trong những ngành sản xuất công nghiệp cơ bản và quan

trọng của Việt Nam với lịch sử phát triển từ sớm với cơ cấu các lĩnh vực trong ngành cũng hết sức đa dạng, trong đó bao gồm các lĩnh vực chủ yếu là: sản xuất phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, hóa dầu, hóa chất cơ bản, nguồn điện hóa học, khí công nghiệp, cao su, chất tẩy rửa, sơn và mực in, hóa dược

Trong thời gian qua, ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam đã có những bước chuyển biến khá tích cực và mạnh mẽ cả về qui mô, cấu trúc và năng lực

sản xuất, thể hiện trên các mặt cơ bản cụ thể như sau:

1 V ề qui mô và tốc tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành

Theo số liệu tổng hợp được từ tình hình phát triển sản xuất của toàn ngành trong giai đoạn 10 năm 2000 - 2010, hóa chất là ngành có mức gia tăng qui mô

và tốc độ tăng trưởng khá cao, trong đó có nhiều nhóm sản phẩm có mức tăng trưởng rất cao như phân bón, thuốc trừ sâu Tình hình cụ thể như sau:

B ảng 1 Sản lượng các sản phẩm hóa chất chủ yếu

(Pin tiêu chuẩn) Triệu viên 128,6 395,7 342,8 330,4 393,2 448,2

Trang 6

TT Nhóm sản phẩm Đơn vị 2000 2005 2007 2008 2009 2010

(Sơn hóa học) 1.000 Tấn 54,39 206,18 204,37 200,50 254,36 301,7

Ngu ồn: Niên giám thống kê 2010 và tính toán của nhóm nghiên cứu

Số liệu trên đây cho thấy từ năm 2004-2005 nhiều nhóm sản phẩm có sự tăng trưởng vượt bậc Sản lượng phân bón tăng 81% so với năm 2000 do nhà máy đạm Phú Mỹ có công suất 760.000 tấn/năm đã đi vào hoạt động, sản xuất thuốc trừ sâu tăng 162% do sản xuất nông nghiệp phát triển, xuất khẩu gạo của

cả nước đạt 5.255.000 tấn, số lượng cao nhất trong nhiều năm qua Nhiều nhóm sản phẩm khác cũng có tỷ lệ tăng cao như sản phẩm hóa chất cơ bản, sản xuất sản phẩm cao su, chất tẩy rửa, sơn hóa học …và vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng đến năm 2010 Giá trị sản xuất công nghiệp của các nhóm sản phẩm này được

2.4 Chỉ số phát triển,

% 114,9 125,3 115,3 116,9 114,2 115,4

Ngu ồn: Niên giám thống kê 2010

Từ bảng trên cho thấy giá trị sản xuất công nghiệp của toàn ngành tăng trưởng trung bình 16,7%/năm phù hợp với mục tiêu đặt ra của Quy hoạch trước (16-17%) Giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm 16,77%, công nghiệp ngoài nhà nước chiếm 33,69% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 49,54% Xét về tốc độ tăng trưởng bình quân theo

Trang 7

loại hình kinh tế cho thấy mức độ đầu tư FDI cũng như các doanh nghiệp ngoài nhà nước đối với ngành hóa chất đã có bước tăng nhanh với tốc độ bình quân từ 21,2 – 23.4%/năm, trong khi mức độ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước chỉ tăng nhẹ ở mức 5,6% điều này hoàn toàn phù hợp với chính sách và giải pháp đầu tư của Quy hoạch trước, tạo ra môi trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tư,

tập trung vào lĩnh vực xuất khẩu và công nghệ cao Tạo ra nhiều cơ hội, có những ưu đãi ổn định để thu hút vốn vào các nhóm ngành CNHC Việt Nam

Xét về cơ cấu sản phẩm, cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của toàn ngành công nghiệp hóa chất được thể hiện trong bảng sau:

B ảng 3 Cơ cấu giá trị SXCN của CNHC trong ngành công nghiệp

Ngu ồn: Niên giám thống kê 2010

*Ghi chú: bao g ồm cả các sản phẩm từ cao su và nhựa plastic

Cơ cấu giá trị SXCN của các nhóm sản phẩm trong ngành CNHC được thể

hiện trong bảng dưới đây

B ảng 4 Cơ cấu giá trị SXCN của các nhóm sản phẩm

Ngu ồn: Niên giám thống kê 2010 và tính toán của nhóm nghiên cứu

Qua bảng trên cho ta thấy tỷ trọng của sản phẩm phân bón và hóa chất cơ

bản bị giảm một cách tương đối, do các Công ty có vốn đầu tư nước ngoài đã đầu tư mạnh vào các sản phẩm cao su, chất tẩy rửa, sơn hóa học và đã chiếm thị

phần lớn ở trong nước cũng như xuất khẩu Ngoài ra còn có nhóm sản phẩm hóa dược với số lượng còn nhỏ và nhóm sản phẩm hóa dầu mới hình thành, sản lượng năm 2010 mới đạt 49 nghìn tấn Propylen

Trang 8

Cơ cấu giữa các nhóm sản phẩm ngày càng được hoàn thiện và ổn định, nhóm sản phẩm hóa chất cơ bản và phân bón sau một thời gian được tập trung phát triển hiện đang có xu hướng giảm dần tỷ trọng trong cơ cấu giá trị SXCN toàn ngành Trong giai đoạn từ 2005-2010 các nhóm sản phẩm như: hóa chất BVTV, khí công nghiệp và nguồn điện hóa học cũng đã được đầu tư đáng kể, tỷ

trọng tăng dần Trong khi tỷ trọng giá trị SXCN của các nhóm sản phẩm như Cao su, Sơn và mực in, chất tẩy rửa đang đi vào ổn định Bên cạnh đó nhóm sản xuất hóa dầu, hóa dược còn chiếm tỷ trọng nhỏ, tuy nhiên trong giai đoạn tới sẽ được tập trung đầu tư, đặc biệt là nhóm sản phẩm hóa dầu nhằm cung ứng nguyên liệu và tạo tiền đề cho các ngành công nghiệp khác phát triển

2 V ề số lượng và cơ cấu và năng lực các doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh

2.1 Về số lượng các doanh nghiệp

Số lượng, quy mô các đơn vị sản xuất các sản phẩm hóa chất theo các thành phần kinh tế được trình bày trong Bảng 1.1

B ảng 5 Số lượng và quy mô các đơn vị theo các thành phần kinh tế

Tổng

số doanh

ng hiệp

Doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghi ệp ngoài nhà nước

Doanh nghiệp

Nguồn: Tổng cục Thống kê 2010 và tính toán của nhóm nghiên cứu

Hết năm 2000, tổng số doanh nghiệp của Ngành đạt 1.947, trong đó có 88 doanh nghiệp nhà nước (4,42%), 1.773 doanh nghiệp ngoài nhà nước (91,06%)

và 86 xí nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) (4,42%) Đến hết năm 2010 tổng số

Trang 9

doanh nghiệp toàn Ngành chỉ còn 671 doanh nghiệp, xu thế các doanh nghiệp nhỏ lẻ bị thu hẹp dần (59%), các doanh nghiệp nhà nước có xu hướng cổ phần hóa (13%) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên đáng kể (28%)

Dịch chuyển cơ cấu doanh nghiệp theo thành phần kinh tế

Trong 10 năm qua, chỉ tính riêng số doanh nghiệp lớn đã có công suất lớn gấp nhiều lần so với năm 2000 Năng lực sản xuất hóa chất cơ bản tăng 2,64 lần, phân bón tăng 5,23 lần, chất tẩy rửa tăng 2,06 lần Số lượng các đơn vị sản xuất hóa chất theo vùng kinh tế được thể hiện trong bảng 1.2

B ảng 6 Số lượng các đơn vị sản xuất theo vùng kinh tế

Trang 10

Cộng 42 177 48 12 286 106

Ngu ồn: Tổng cục thống kê 2010

Bảng trên cho thấy các đơn vị sản xuất hóa chất tập trung chủ yếu tại vùng đồng bằng sông Hồng (vùng 2), Đông Nam bộ (vùng 5) và đồng bằng sông Cửu Long (vùng 6) Riêng sản xuất hóa chất cơ bản được tập trung ở vùng 2, chiếm

tới 48% số doanh nghiệp

Ngoài 671 doanh nghiệp lớn, có thương hiệu còn khoảng 500 doanh nghiệp quy mô nhỏ, sản xuất thủ công với sản lượng không đáng kể, trong số đó có khoảng 230 doanh nghiệp sản xuất phân bón hữu cơ, hữu cơ vi sinh và 77 cơ sở sản xuất kinh doanh thuốc BVTV, chủ yếu là đóng chai những hàng nhập khẩu rời phân phối qua các đại lý bán thuốc BVTV

2.2 V ề cơ cấu và năng lực sản xuất

Trong những năm qua, nhờ hoạt động đầu tư phát triển, năng lực sản xuất

của toàn Ngành đã được tăng lên nhiều lần Do vậy, Ngành đã có khả năng sản

xuất được một khối lượng sản phẩm hóa chất đáng kể phục vụ nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp

2.2.1 Đối với nhóm sản phẩm phân bón

Hiện nay ở nước ta có khoảng 300 doanh nghiệp sản xuất phân bón, tuy nhiên các doanh nghiệp có năng lực sản xuất thực sự lớn chỉ có 69 doanh nghiệp Các doanh nghiệp trong ngành sản xuất phân bón với nhiều thành phần kinh tế tham gia sản xuất phân bón bao gồm phân đạm, phân lân, DAP, phân NPK, phân hữu cơ, phân bón lá Về năng lực sản xuất như sau:

a Đánh giá theo chủng loại sản phẩm

- S ản xuất phân Urê: Hiện có 2 cơ sở sản xuất phân urê với công suất

khoảng 980.000 tấn/năm (Đạm Hà Bắc và Phú Mỹ) Trong đó, Nhà máy Đạm Phú Mỹ hàng năm sản xuất khoảng 800.000 tấn/năm, Công ty Phân đạm và Hoá

chất Hà Bắc đang tiến hành cải tạo và mở rộng công suất từ 180.000 tấn/năm lên 500.000 tấn/năm Nhà máy sản xuất phân urê Cà Mau công suất 800.000 tấn/năm đang xây dựng, dự kiến hoàn thành vào năm 2012 Nhà máy phân urê Ninh Bình công suất 560.000 tấn/năm sản xuất từ nguyên liệu than cám cũng đang được xây dựng, dự kiến hoàn thành vào năm 2011 Ngoài ra, nhà máy sản

xuất phân đạm từ than cám công suất 560.000 tấn/năm do Công ty Cổ phần Xi măng Công Thanh (Thanh Hoá) cũng đã được phê duyệt dự án đầu tư Như vậy đến năm 2015, tổng công suất phân đạm trong nước sẽ sản xuất được khoảng 3.220.000 tấn/năm

- Sản xuất Supe Phốtphat: Hiện có 3 cơ sở sản xuất Supe Phốtphat đơn 16,5

% P2O5 hữu hiệu là Công ty Supe Phốtphat và Hoá chất Lâm Thao 800.000 tấn/năm, Nhà máy Supe Phốtphat Long Thành thuộc Công ty Phân bón Miền Nam công suất 200.000 tấn/năm và Nhà máy Supe Phốtphat Lào Cai 100.000

tấn/năm (giai đoạn 2 sẽ mở rộng công suất lên 200.000 tấn/năm) Vậy tổng công

Trang 11

suất phân Supe Phốtphat đơn hiện nay khoảng 1.100.000 tấn/năm và dự kiến đến năm 2015 sẽ đạt 1.200.000 tấn/năm

- S ản xuất phân lân nung chảy: Hiện có 2 cơ sở sản xuất với công suất

600.000 tấn/năm và một cơ sở đang ở trong giai đoạn vận hành thử có công suất 300.000 tấn/năm Ngoài ra, nhà máy sản xuất phân lân nung chảy công suất 200.000 tấn/năm do Công ty Cổ phần Phân lân nung chảy Lào Cai làm chủ đầu

tư cũng bắt đầu xây dựng Tổng công suất của nhà máy sản xuất phân lân nung chảy sẽ đạt 1.100.000 tấn/năm

- S ản xuất phân DAP: Nhà máy DAP ở Đình Vũ Hải Phòng công suất

330.000 tấn/năm đã đi vào hoạt động năm 2009 Hiện nhà máy DAP số 2 công

suất 330.000 tấn/năm tại Lào Cai đang xây dựng và dự kiến sẽ hoàn thành trong giai đoạn 2011-2015 Như vậy đến năm 2015 tổng công suất các nhà máy phân DAP sẽ đạt 660.000 tấn/năm

- Sản xuất phân bón NPK: Hiện cả nước hàng trăm cơ sở sản xuất phân bón

hỗn hợp NPK với quy mô từ vài nghìn tấn/năm đến 600.000 tấn/năm với tổng công suất khoảng 3.420.000 tấn/năm, chưa kể nhà máy phân hỗn hợp NPK của

Tổng Công ty phân bón và hóa chất dầu khí đang triển khai xây dựng với công

suất 400.000 tấn/năm

- S ản xuất nhóm phân hữu cơ, vi sinh, phân bón lá: Sản lượng nhóm phân

hữu cơ, vi sinh, bón lá khoảng 300.000 - 400.000 tấn/năm

b Đánh giá theo thành phần kinh tế

Sản xuất phân bón ở nước ta đã có nhiều thành phần kinh tế tham gia, tuy nhiên với những loại hình công nghệ cao đòi hỏi vốn đầu tư lớn như sản xuất phân urê đều do thành phần kinh tế nhà nước đầu tư, ví dụ: Tập đoàn Hóa chất

Việt Nam (VINACHEM) và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) Mới đây Công ty Cổ phần Xi măng Công Thanh (Thanh Hoá) đã xin đầu tư nhà máy phân urê công suất 560.000 tấn/năm Nếu xét về tỷ lệ công suất sản xuất thì thành phần kinh tế nhà nước chiếm 88,8%; thành phần kinh tế tư nhân chỉ chiếm 11,2%

Về phân lân cũng vậy, các Nhà máy sản xuất Supe phốtphat, phân lân nung

chảy công suất lớn và DAP đều do các Tập đoàn kinh tế Quốc gia đầu tư Riêng Công ty Cổ phần DAP số 2 có sự tham gia của Tập đoàn Nam Việt (An Giang);

gần đây nhà máy Supe Phốtphat ở Tằng Loỏng Lào Cai công suất 200.000 tấn/năm do Công ty Cổ phần Vật tư Nông sản đầu tư và nhà máy phân lân nung chảy Lào Cai cũng do Công ty Cổ phần Phân lân nung chảy Lào Cai đầu tư Sản xuất phân NPK đã có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Tuy nhiên thành phần kinh tế nhà nước (Công ty TNHH một thành viên) hoặc mới chuyển đổi thành Công ty cổ phần do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn chiếm tới 70,7% sản lượng; thành phần kinh tế tư nhân chỉ chiếm 8,4%, doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài chiếm 20,9%; trong đó Công ty Phân bón Baconco có

Trang 12

100% vốn nước ngoài, ở Công ty Phân bón Việt Nhật vốn nước ngoài chiếm 81,1%

c Đánh giá theo cơ cấu sản phẩm

Cơ cấu sản phẩm phân bón sản xuất ở trong nước năm 2010 cho thấy phân đạm chiếm 17,8%, phân lân – 27,0%, phân NPK – 48,3%, còn phân hữu cơ, vi sinh và phân bón lá chỉ chiếm 6,4%

Cơ cấu sản phẩm phân bón trong nước 2010

Ngu ồn: Quy hoạch phát triển hệ thống sản xuất và hệ thống phân phối

m ặt hàng phân bón giai đoạn 2011-2020

d Đánh giá theo vùng kinh tế

Sản lượng phân bón theo các vùng kinh tế được thể hiện trong bảng sau:

B ảng 7 Sản lượng phân bón phân theo vùng kinh tế

Đơn vị: Nghìn tấn

photphat

Trang 13

Ngu ồn: Quy hoạch phát triển hệ thống sản xuất và hệ thống phân phối

m ặt hàng phân bón giai đoạn 2011-2020

Từ số liệu ở bảng trên cho thấy rằng phân đạm và phân lân chỉ được sản xuất

ở vùng 1 và vùng 2 là nơi gần nguồn nguyên liệu như than antraxít, khí thiên nhiên và quặng apatit; còn phân hỗn hợp NPK và phân hữu cơ được sản xuất ở

hầu khắp các địa phương trong cả nước, tuy nhiên tập trung chủ yếu ở các vùng

1, 5 và 6

2.2.2 Đối với nhóm sản phẩm hóa chất BVTV

Các sản phẩm hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) thuộc nhóm các sản phẩm hóa chất phục vụ nông nghiệp, bao gồm các loại như: thuốc trừ sâu, thuốc trừ

nấm bệnh; thuốc trừ cỏ, thuốc trừ mối, thuốc trừ chuột, thuốc trừ ốc…, các hóa

chất kích thích tố; điều hòa sinh trưởng, các chất dẫn dụ côn trùng, chất hỗ trợ khác…

Ở Việt Nam, lượng hóa chất BVTV được sử dụng cũng tăng theo thời gian,

do nhu cầu của phát triển của ngành nông nghiệp Việc sử dụng nhiều sản phẩm hóa chất BVTV tuy đã góp phần kiểm soát được dịch bệnh, sâu hại cây trồng làm tăng sản lượng và chất lượng nông sản nhưng cũng đã mang lại hậu quả không tốt đối với môi trường và cộng đồng Để giảm thiểu tác động xấu của chúng, các nhà sản xuất cũng đang theo đuổi các chương trình đa dạng hóa sản

phẩm, sử dụng các hoạt chất mới có độc tính cao đối với sâu bệnh nhưng an toàn hơn đối với người và môi trường Các hoạt chất vi sinh và trích chiết từ thảo mộc Ngoài ra các nhà gia công sản xuất cũng đã nghiên cứu thành công đưa vào

sử dụng các dạng gia công mới; tiên tiến, an toàn, thân thiện, và sạch với môi trường

a Đánh giá theo chủng loại sản phẩm

Hiện nay, bộ sản phẩm hoá chất BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam do các nhà máy trong nước sản xuất và nhập khẩu thành phẩm trực tiếp do Bộ Nông nghiệp và PTNT quản lý và có bổ sung hàng năm Bộ sản phẩm này rất đa dạng, phong phú, đã đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng cho hầu hết đối tượng cây trồng Tính đến tháng 03/2011, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã cho phép đăng ký lưu hành tổng số 1.028 hoạt chất và 3.173 tên thương phẩm, bao gồm:

- Thuốc trừ sâu: 442 hoạt chất với 1.420 tên thương phẩm

- Thuốc trừ bệnh hại cây trồng: 304 hoạt chất với 974 tên thương phẩm

- Thuốc trừ cỏ : 160 hoạt chất với 511 tên thương phẩm

- Thuốc trừ chuột: 11 hoạt chất với 19 tên thương phẩm

- Chất kích thích sinh trưởng cây trồng: 49 hoạt chất với 130 tên thương phẩm

- Chất dẫn dụ côn trùng: 06 hoạt chất với 09 tên thương phẩm

Trang 14

- Thuốc trừ ốc : 19 hoạt chất với 102 tên thương phẩm

- Các loại khác: với 26 tên thương phẩm

b Đánh giá theo thành phần kinh tế

Tính đến năm 2011, cả nước có hơn 250 doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đăng ký xin công nhận danh mục sản phẩm được phép sử dụng tại Việt Nam Trong đó có 170 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực hoá chất BVTV với năng lực thực tế đạt 60.000 tấn/năm So với 90 doanh nghiệp năm 2000, số lượng các doanh nghiệp đã tăng gần gấp 2 lần, chủ yếu là các Công ty có vốn nước ngoài, Công ty cổ phần có vốn Nhà nước, các Công ty trách nhiệm hữu hạn và tư nhân, trong đó: có 93 doanh nghiệp có xưởng sản

xuất gia công, nhập nguyên liệu, phụ gia về pha chế, ra chai đóng gói

- Khu vực các Công ty có vốn Nhà nước: Có 20 doanh nghiệp, với năng lực

sản xuất khoảng 30.000 – 40.000 tấn/năm, chiếm 70% năng lực sản xuất toàn quốc Các doanh nghiệp này chủ yếu được cổ phần hóa từ các Công ty Nhà nước trước đây thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và PTNT

- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: Có 08 doanh nghiệp, với năng lực sản

xuất 5.000 tấn/năm, chiếm 7% năng lực sản xuất toàn quốc

- Khu vực tư nhân (Các Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty tư nhân):

Có 50 doanh nghiệp, với năng lực sản xuất 10.000 – 20.000 tấn/năm, chiếm 23% năng lực sản xuất toàn quốc

- Số còn lại nhập bán thành phẩm về đóng gói ra chai hoặc nhập trực tiếp thành phẩm về kinh doanh

c Đánh giá theo cơ cấu sản phẩm

Trong tổng số 1.028 hoạt chất được lưu hành ở Việt Nam, đa số thuộc thế hệ tiên tiến, thuộc nhóm II, III như nhóm carbamate, pyrethroid, sulfunil urea, vi sinh (Nguồn từ : Thông tư số 24/2010/TT-BNNPTNT ngày 08/04/2010 và số 10/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/03/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNN Tuy nhiên trên thực tế trong những năm qua chỉ khoảng 2/3 trong tổng số các hoạt chất và bộ sản phẩm được duyệt là có sản phẩm tham gia vào thị trường Số còn lại chỉ mới ở dạng đăng ký

Cơ cấu các hóa chất BVTV tại Việt Nam được trình bày trong bảng sau:

B ảng 8 Cơ cấu sử dụng hoá chất BVTV trong khu vực và Việt Nam

Lo ại sản phẩm Đài Loan

(%)

Hàn Qu ốc (%)

Philippine (%)

Thái Lan (%)

Vi ệt Nam (%)

Trang 15

Ngu ồn: Farm Chemical International Handbook - Tính từ Tổng cục Hải quan

Các sản phẩm nông dược sản xuất, gia công trong nước bao gồm các loại thuốc trừ sâu, trừ nấm bệnh, trừ cỏ dại, kích thích tố, tăng trường cây trồng, bảo

quản kho tàng ở các dạng truyền thống như: Bột rắc (D), Hạt (H, Gr), Bột hòa nước (BHN, SP), Bột thấm nước (BTN, WP), Nhũ dầu (ND, EC), Dung dịch (DD, SL)… Nhóm này chiếm 80% trên tổng số sản phẩm đang lưu hành Hiện tại các dạng gia công nông dược cũng thay đổi theo hướng hạn chế ảnh hưởng

tới môi trường, nên đã có nhiều dạng gia công tiên tiến, thân thiện hơn với môi trường như: Huyền phù đậm đặc ( HP, SC), Nhũ dầu trong nước (EW), Vi nhũ tương (ME), Nhũ tương huyền phù (SE), Hạt phân tán trong nước (WDG)… Nhóm này mới chỉ chiếm khoảng 20%, đa phần nhập trực tiếp thành phẩm hoặc bán thành phầm về ra chai đóng gói tại Việt Nam, chỉ có một số đơn vị đầu tư thiết bị sản xuất trong nước Nhìn chung, kỹ thuật gia công thành phẩm ở Việt Nam đã có nhiều tiến bộ, đạt trình độ công nghệ của các nước trong khu vực

d Đánh giá theo vùng kinh tế

Các cơ sở sản xuất thuốc BVTV thường có quy mô nhỏ và vừa được phân

bổ khắp cả nước, đặc biệt ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long như thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam như Bình Dương, Đồng Nai, Tiền Giang, Long An, An Giang, Hậu Giang và Thành phố Cần Thơ Một số cơ sở khác có rải rác ở Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc, miền Trung

và địa phương trong cả nước

Cách bố trí này rất thuận tiện cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Hiện nay đa số các doanh nghiệp sản xuất đều di chuyển vào các khu công nghiệp tập trung để dễ quản lý về việc xử lý môi trường

Hiện nay, phần lớn các hoạt chất cho sản xuất gia công vẫn phải nhập Công nghệ tổng hợp hữu cơ ở nước ta chưa phát triển, do đó chưa chủ động được việc cung cấp các hoạt chất cho nhu cầu trong nước

Hiện nay chỉ có hai Công ty liên doanh thuộc Công ty Cổ phần Thuốc sát trùng Việt Nam có nhà máy sản xuất hoạt chất, gồm có:

- Công ty TNHH Nông Dược KOSVIDA: chuyên sản xuất 02 loại hoạt chất thuốc trừ sâu chính thuộc nhóm Cacbamate như: Carbofuran KT 95% và 75%, BPMC KT 95% Ngoài ra còn sản xuất thành phẩm thuốc trừ cỏ Glyphosate, thuốc trừ bệnh Isoprothiolan Đây là liên doanh giữa VIPESCO và Hàn Quốc, công suất 3.500 tấn/năm

- Công ty TNHH Nông dược Vi sinh VIGUATO: (Liên doanh giữa VIPESCO và Trung Quốc) chuyên sản xuất hoạt chất Validamycin theo công nghệ lên men vi sinh, công suất 5.000 tấn/năm Nhà máy có trình độ công nghệ

và thiết bị ở mức trung bình khá trong khu vực Dự kiến trong tương lai nhà máy đầu tư thiết bị công nghệ để sản xuất sản phẩm Validamycin 5 – 10% bột tan

Trang 16

2.2.3 Đối với nhóm sản phẩm hóa dầu

Một trong các nhiệm vụ nêu trong chiến lược phát triển ngành công nghiệp

dầu khí là đẩy mạnh khâu chế biến nhằm tăng giá trị nguồn tài nguyên dầu khí,

từng bước đảm bảo nhiên liệu cho nhu cầu phát triển kinh tế; chú trọng phát triển hóa dầu nhằm cung cấp nguyên liệu cho các ngành kinh tế khác như sợi

tổng hợp cho ngành dệt may, chất dẻo cho ngành nhựa, phân bón cho nông nghiệp; chất nổ, thuốc nhuộm, chất tẩy rửa, cao su tổng hợp, hóa phẩm cho ngành hóa chất

Sản phẩm của ngành công nghiệp hóa dầu bao gồm các nhóm sản phẩm chính sau:

- Nhóm sản phẩm nguyên liệu cho ngành nhựa được biết đến như các nguyên liệu PE, PP, HDPE, LDPE, LLDPE, PVC, PS

- Nhóm sản phẩm nguyên liệu cho ngành dệt may: sơ xợi tổng hợp PET

- Nhóm sản phẩm nguyên liệu trung gian như: DOP, VCM, PTA, PA, EG

- Nhóm các sản phẩm chất hoạt động bề mặt (LAB, LAS…), phụ gia, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác (Cao su tổng hợp, than đen )

Xét về vai trò và mức độ ảnh hưởng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, so

với các nhóm ngành khác thì ngành hóa dầu là một trong những ngành công nghiệp nặng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Ngành Hóa dầu cung cấp nguồn nguyên liệu thô cho nhiều ngành công nghiệp khác như: nhựa, dệt may, sản xuất phân bón, cao su…

Ngành công nghiệp hóa dầu tại Việt Nam vẫn được coi là còn non trẻ so với các nước khác trong khu vực cũng như trên thế giới Thực tế cho thấy sản phẩm đầu nguồn của ngành hóa dầu chính là từ công nghiệp lọc dầu, như các nguyên

liệu Naphta, Ethylen, Propylen, BTX Trước khi nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động, cho ra các nguyên liệu dùng cho ngành công nghiệp hóa dầu thì trong nước mới chỉ sản xuất được các sản phẩm như PVC, chất hóa dẻo DOP và

xơ sợi tổng hợp PET

Hiện nay, nguyên liệu nhựa PVC và PET đã được sản xuất trong nước Có hai liên doanh sản xuất PVC với công suất tổng hợp 300.000 tấn/năm Đó là Công ty liên doanh TNHH TPC Vina là Liên doanh giữa Tổng Công ty nhựa

Việt Nam, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam và Công ty Thái Plastic&Chemical Public Ltd của Thái Lan với công suất 200.000 tấn/năm và Công ty TNHH Nhựa và Hóa chất Phú Mỹ là liên doanh giữa Công ty XNK tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tập đoàn Dầu khí Petronas của Malaysia

có Tổng số vốn là 100 triệu USD và công suất 100.000 tấn bột PVC/năm Nhà máy sản xuất nguyên liệu nhựa PP ở Khu kinh tế Dung Quất công suất 150.000

tấn đã đi vào sản xuất từ năm 2010 Đến nay, tổng năng lực sản xuất nguyên liệu

nhựa mới đáp ứng được khoảng 23% nhu cầu trong nước

Trang 17

Chất hóa dẻo Di-octhyl Phthalate (DOP) năm 2006 tiêu thụ 39.070 tấn thì

2010 được tiêu thụ khoảng 60.000 tấn Hiện nay đã có 01 liên doanh giữa Tập đoàn Hoá chất Việt Nam và Tập đoàn LG của Hàn Quốc sản xuất chất hoá dẻo DOP với công suất 30.000 tấn/năm hoạt động từ năm 10/1997 Năm 2003 đã nâng công suất lên 40.000 tấn/năm Lượng DOP thiếu hụt được nhập khẩu từ các nước châu Á như Malaysia, Đài Loan, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo và một số nước châu Âu

Xơ sợi tổng hợp chủ yếu được sử dụng cho ngành dệt may, vì vậy nhu cầu tiêu thụ chủ yếu phụ thuộc vào sự phát triển của ngành này Hiện nay nguyên

liệu đầu vào để sản xuất hàng may mặc phần lớn phải nhập khẩu gồm: Xơ-sợi các loại, đặc biệt là các xơ sợi PET chiếm tới 90% tổng lượng xơ sợi tổng hợp

nhập khẩu Vì vậy việc sản xuất xơ sợi tổng hợp đi từ hoá dầu để chủ động nguồn nguyên liệu cho dệt may là cần thiết Hiện nay trong nước có Công ty Hưng nghiệp Formosa của Đài Loan (tại Đồng Nai) sản xuất các sản phẩm xơ sợi Polyeste với công suất 142.000 tấn/năm Ngoài Công ty Formosa còn có Công ty Hualong với công suất 30.000 tấn/năm và một vài Công ty khác như: Công ty Thế Kỷ, Đông Tiến Hưng cũng sản xuất mặt hàng này Tổng sản lượng

sơ xợi tổng hợp sản xuất trong nước có khả năng đáp ứng được 40% nhu cầu

Gần đây nhất, tháng 7/2011 nhà máy xơ sợi tổng hợp Đình Vũ- Hải Phòng công suất 170.000 tấn cũng đã hoàn thành và đi vào hoạt động Sản phẩm xơ sợi PET của nhà máy sẽ góp phần đáp ứng được một phần nhu cầu của thị trường trong nước

Theo kế hoạch, giai đoạn 2011-2020 Việt Nam sẽ có thêm một nhà máy sản

xuất xơ sợi PET công suất 120 tấn/ngày tại Khu công nghiệp Phố Nối B Hưng Yên, Nhà máy sản xuất sợi PET tại Khu liên hợp Lọc hoá dầu Nghi Sơn với công suất 260.000 tấn/năm

2.2.4 Đối với nhóm sản phẩm hóa chất cơ bản

Hóa chất cơ bản là phân ngành sản xuất quan trọng trong ngành CNHC Hóa chất cơ bản đóng vai trò thiết yếu trong nhiều lĩnh vực sản xuất của nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành sản xuất, góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc nâng cao đời sống nhân dân Hóa chất cơ bản được chia thành 2 nhánh chính là vô cơ và hữu cơ

Hoá chất vô cơ cơ bản được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực sản xuất

Một khối lượng lớn các axít vô cơ cơ bản như axít sunfuric, axít phốtphoric, axít nitric được dùng để sản xuất phân bón phục vụ nông nghiệp Xút là hóa chất chủ yếu trong công nghiệp sản xuất giấy, xà phòng, trong quá trình chế biến bauxit

để sản xuất nhôm… Sô đa được sử dụng với khối lượng lớn trong ngành sản xuất thuỷ tinh, bột giặt Silicat natri được dùng làm sơn nước trong ngành xây dựng Các loại phèn đơn, phèn kép được dùng để lọc nước Bột nhẹ CaCO3 dùng làm chất độn trong ngành sản xuất giấy, sản phẩm cao su, thuốc đánh răng Nhiều loại muối vô cơ được dùng để sản xuất dược phẩm…

Trang 18

Các hợp chất hữu cơ có ứng dụng rộng rãi hơn các hợp chất vô cơ, lĩnh vực

ứng dụng của hợp chất hữu cơ trải dài khắp mọi lĩnh vực từ nhuộm, tẩy, nhựa,

chất dẻo, chất nổ, thực phẩm, sơn, cao su, nhựa, sợi tổng hợp Hóa chất cơ bản luôn luôn được đánh giá là ngành quan trọng trong ngành hóa chất Các hợp chất hữu cơ cơ bản có thể chia thành các nhóm dựa theo công thức và tính chất hóa học:

- Các hợp chất hoạt động bề mặt bao gồm alcol (rượu): rượu mạch thẳng alkôxylate, nonyl và octyl phenol ethôxylate, propylên glycol

- Cacbua hydro mạch thẳng và mạch vòng như benzen, toluen, xylen, spirit khoáng

- Các hợp chất aldehyd như formaldehyde

- Axít như axít acetic, axít adipic, axít benzoic, axít formic

- Các hợp chất este như acetate, benzoate, formate, stearate

- Các hợp chất rượu như methanol, propanol, butanol, benzyl alcohol, isopropyl alcohol,…

- Các hợp chất amine như cyclohexylamine, melamine, triethanol amine, diethylamine,…

- Các hợp chất ete và acetate glycol như diethylen glycol monobutyl ether, monoethylether, monomethylether…

- Các hợp chất silicone như silicone lỏng, silicone ở dạng huyền phù,…

- Các hợp chất glycol như ethylen glycol, diethylen glycol, dipropylen glycol

sử dụng công nghệ sinh học Các loại hóa chất hữu cơ cơ bản khác trong thời gian trước mắt một phần do nhu cầu chưa lớn, một phần do vấp phải sự cạnh tranh với các nước khác về giá cả nên tạm thời phải nhập từ nước ngoài

Hóa chất vô cơ cơ bản được nói trên đây bao gồm các hóa chất vô cơ cơ bản như xút, axít, sô đa và các hoá chất vô cơ được sản xuất với khối lượng tương đối lớn ở quy mô công nghiệp, một số hóa chất vô cơ dạng tinh và tinh khiết

Trang 19

thông dụng cũng được sử dụng trong nhiều lĩnh vực ở nước ta, nhưng quy mô sản xuất nhỏ, không có nhu cầu quy hoạch Các hóa chất hữu cơ cơ bản như benzen, toluen, xylen, methanol, etylen do công nghiệp hóa dầu chưa phát triển nên hầu hết chưa xuất hiện Tuy nhiên có loại cũng được đề cập ở trong các nhóm sản phẩm khác như các sản phẩm paraxylen và benzen (dự kiến là sản phẩm của nhà máy lọc dầu số 2) sẽ được dùng để sản xuất PTA là nguyên liệu trung gian cho quá trình tổng hợp thành xơ, sợi PET cho ngành Dệt, methanol phục vụ cho sản xuất axít axetic dùng cho công nghiệp thực phẩm, keo dán gỗ… được đề cập trong phần hoá dầu Các loại hóa chất hữu cơ cơ bản khác như axít cytric do lượng dùng quá nhỏ nên cũng không có nhu cầu quy hoạch

a Đánh giá theo chủng loại sản phẩm có thể thấy như sau:

Sản phẩm xút (NaOH):

Xút (natri hydroxit – NaOH) là một trong những sản phẩm quan trọng nhất của ngành CNHC Xút được sử dụng nhiều trong sản xuất giấy, dệt may, xà phòng và chất tẩy rửa, xử lý nước, trong thực phẩm (dầu ăn, sản xuất đường, tinh bột, bột ngọt), thuộc da và sản xuất sillicat Nó còn được sử dụng trong quá trình chế biến bauxit (quá trình Bayer) để sản xuất nhôm hydroxit và nhôm oxit Theo thống kê, cả nước có 4 cơ sở sản xuất xút lớn và một số cơ sở sản xuất nhỏ khác, với tổng năng lực sản xuất khoảng 130.000 tấn/năm Cụ thể như sau:

Công ty cổ phần Hóa chất Việt Trì (Công ty con của VINACHEM)

Nhà máy của Công ty hiện đang được tập trung hiện đại hóa sản xuất Hóa chất cơ bản, năng lực sản xuất xút lỏng NaOH 20.000 tấn/năm, ngoài ra còn có các sản phẩm như Clo lỏng Cl2 5.000 tấn/năm; axít chlohydric HCl 31% 35.000 tấn/năm, và một số sản phẩm hóa chất cơ bản khác

Hiện nay, nhu cầu về xút của các ngành sản xuất giấy, dệt và các ngành sản xuất khác ở miền Bắc có cao hơn trước, song nhu cầu về HCl và clo lỏng chỉ ở mức thấp Để cân đối, nhà máy đã tổ chức sản xuất một số sản phẩm gốc clo có giá trị kinh tế cao như canxi clorua CaCl2, bari clorua BaCl2; dây chuyền CaCl2

sản xuất bằng phương pháp phun sấy công suất 5.000 tấn/năm

Nhà máy Hoá chất Biên Hoà (trực thuộc Công ty TNHH một thành viên Hóa chất cơ bản miền Nam – Công ty con của VINACHEM)

Đây là nhà máy do ngành Hoá chất tự thiết kế xây dựng Sau nhiều lần đầu

tư cải tạo tháng 10/2009 Nhà máy khánh thành dây chuyền công nghệ điện hoá –

sử dụng màng trao đổi ion, năng lực sản xuất xút đã được nâng lên 30.000 tấn/năm, tăng gấp 7-8 lần năng lực cũ, sản xuất ổn định và có hiệu quả hơn Ngoài ra, Nhà máy còn có năng lực sản xuất một số sản phẩm chính như: axít clohydric HCl (≥31,5%) 57.800 tấn/năm; clo lỏng Cl2 3.800 tấn/năm; natri silicat Na2SiO328.800 tấn/năm

Xưởng xút-clo của Công ty Bột ngọt VEDAN

Trang 20

Xưởng xút - clo của Công ty Bột ngọt VEDAN được xây dựng vào thời kỳ 1991-1995 với thiết bị điện giải tiền tiến và có công suất ban đầu tương đối cao,

20 ngàn tấn/năm, với nhiệm vụ là cung cấp axít HCl cho dây chuyền sản xuất bột ngọt Xưởng xút đã được mở rộng lên công suất 80.000 tấn/năm Sản phẩm xút lỏng có chất lượng tương đối cao (42% NaOH) được cân đối theo lượng tiêu dùng axít tại Công ty, một lượng nhỏ xút sản xuất dư thừa được bán ra thị trường phía Nam

Xưởng xút-clo Công ty Giấy Bãi Bằng

Xưởng sản xuất xút-clo của Công ty Giấy Bãi Bằng được xây dựng cùng thời kỳ với các xưởng sản xuất giấy (dây chuyền thiết bị có cùng xuất xứ Thụy Điển), đi vào hoạt động từ ngày khánh thành Nhà máy Giấy Bãi Bằng Xưởng cung cấp xút lỏng cho việc nấu bột giấy và clo cho việc tẩy trắng bột giấy Công suất của dây chuyền xút là 7.000 tấn/năm, thiết kế đáp ứng công suất sản xuất giấy ban đầu là 55.000 tấn/năm Sau nhiều đợt đầu tư nâng cao công suất dây chuyền sản xuất bột giấy và giấy, hiện nay nhà máy giấy của Công ty đã có công suất sản xuất bột giấy 71.000 tấn/nãm và giấy là 130.000 tấn/nãm; tuy nhiên do Công ty có nhập khẩu bột giấy vào sản xuất giấy nên sản lượng sản xuất xút-clo không gia tăng Năm 2010 Xưởng sản xuất 4.500 tấn xút

Sản phẩm axít sunfuric (H 2 SO 4 ):

Axít sunfuric được sử dụng chủ yếu trong các ngành công nghiệp: sản xuất phân bón, chế biến quặng, tổng hợp hóa học, tinh chế dầu mỏ, luyện kim, chế biến thực phẩm (trong nhà máy ðýờng, bột ngọt), thuộc da; trong các quá trình sản xuất phèn lọc nước, dệt nhuộm, xử lý nước, chế tạo ắc quy Theo thống kê, trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2007, lượng axít sunfuric tiêu thụ trên thị trường nước ta vào khoảng 360.000 tấn/năm; năng lực sản xuất axít sunfuric của các cơ sở sản xuất trong nước đáp ứng được khoảng trên 350.000 tấn/năm, nhu cầu còn lại khoảng 10.000 tấn/năm phải nhập khẩu từ một số nước như Indonesia, Singapore, Ấn Độ để đáp ứng

Các cơ sở sản xuất axít sunfuric lớn của nước ta là các đơn vị thành viên của VINACHEM: Công ty cổ phần Supe Phốtphat và Hóa chất Lâm Thao, Nhà máy Supe Phốtphat Long Thành, Nhà máy Hoá chất Tân Bình; năng lực sản xuất hiện nay như sau:

Công ty cổ phần Supe Phốtphat và Hóa chất Lâm Thao (Công ty con của VINACHEM)

Hiện tại Công ty có năng lực sản xuất axít sunfuric kỹ thuật 280.000

tấn/năm,mới chỉ đáp ứng được nhu cầu cho sản xuất super photphat đơn của

Công ty và một phần cho sản xuất của các ngành khác như sản xuất phèn, ắc quy Để đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất phân bón của Công ty, tổng nhu cầu axít sunfuric cho sản xuất của Công ty cổ phần Supe Phốtphat và Hóa chất Lâm Thao được dự tính tối thiểu là khoảng 380.000 tấn/năm, đó là chưa kể đến sự gia

Trang 21

tăng của nhu cầu trên thị trường Do đó, Công ty đang triển khai dự án đầu tư dây chuyền mới, nâng công suất sản xuất axít sunfuric lên 400.000 tấn/năm

Nhà máy Supe Phốtphat Long Thành (trực thuộc Công ty Cổ phần phân bón Miền Nam – Công ty con của VINACHEM)

Công ty có 2 dây chuyền sản xuất axít đi từ lưu huỳnh với tổng công suất là 80.000 tấn/năm Sản phẩm được dùng làm nguyên liệu cho dây chuyền sản xuất

super photphat đơn công suất 200.000 tấn/năm Dây chuyền số 1 có công suất

40.000 tấn/năm được xây dựng cách đây khoảng 15 năm, trên cơ sở thiết bị nhập của chính quyền miền Nam cũ Dây chuyền số 2 cũng có công suất tương tự 40.000 tấn/năm, được xây dựng gần đây, nên một số khâu thiết bị được cải tiến như lò đốt lưu huỳnh, dàn làm lạnh, chuyển hoá SO2, hấp thụ axít, thu hồi axít; thiết bị gọn nhẹ, sản xuất trong hệ thống tương đối kín, mức độ chuyển hoá SO2

và thu hồi axít cao, nên bảo đảm tương đối tốt môi trường sinh thái khu vực

Nhà máy Hoá chất Tân Bình (trực thuộc Công ty TNHH một thành viên Hóa chất cơ bản miền Nam – Công ty con của VINACHEM)

Nhà máy ban đầu có 1 dây chuyền sản xuất axít sunfuric, sau khi tự cải tạo, đạt công suất 25.000 tấn/năm Sản phẩm chủ yếu dùng để sản xuất phèn nhôm các loại Axít được sản xuất theo phương pháp đốt lưu huỳnh, dây chuyền thiết

bị gọn nhẹ Tuy nhiên, dây chuyền đã được đưa vào vận hành từ lâu (gần 25 năm), trong điều kiện ăn mòn mạnh, nên sản xuất gặp một số khó khăn nên sau này Nhà máy đã được Công ty mẹ đầu tư phân xưởng sản xuất axít sunfuric công suất 60.000 tấn/năm tại Khu công nghiệp Biên Hòa I tỉnh Đồng Nai trong năm 2006-2007

Công ty TNHH một thành viên DAP – VINACHEM (Công ty con của VINACHEM)

Tháng 4 năm 2009, nhà máy DAP của Công ty TNHH một thành viên DAP – VINACHEM tại Đình Vũ – Hải Phòng đã đi vào hoạt động trong đó có xưởng sản xuất axít sunfuric công suất 420.000 tấn/năm Lượng axít sunfuric này được

sử dụng nội bộ làm nguyên liệu để nhà máy sản xuất sản phẩm trung gian là axít phốtphoric và sản phẩm cuối cùng là phân DAP

Các cơ sở thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam:

Ngoài các đơn vị thuộc VINACHEM, từ năm 2008 lượng axít sunfuric sản xuất ra trên toàn quốc được gia tăng do tổ hợp mỏ-tuyển-luyện đồng Sin Quyền của Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam bắt đầu đi vào hoạt động, dây chuyền sản xuất axít sunfuric từ việc tận thu khí thải của các lò luyện đồng (tổng công suất 10.000 tấn đồng /năm) của tổ hợp này có công suất 40.000 tấn H2SO4 /năm Năm 2010 tổ hợp sản xuất được 27.000 tấn axít sunfuric, tiêu thụ trực tiếp ra thị trường Hiện nay, Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã có chủ trương mở rộng nâng công suất Nhà máy luyện đồng Tằng Loỏng lên gấp 3 lần

Trang 22

khi đó lượng axít sunfuric (H2SO4) sản xuất từ tổ hợp này sẽ tăng lên 120.000 tấn/năm

Ngoài những cơ sở luyện đồng như Tổ hợp Sin Quyền, một số cơ sở luyện kim khác thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam cũng có phương án sản xuất axít sunfuric từ khí thải của quá trình luyện kim Dây chuyền sản xuất kẽm điện phân tại Nhà máy kẽm điện phân Thái Nguyên (đơn

vị thành viên của Công ty TNHH MTV Kim loại màu Thái Nguyên) sử dụng công nghệ thiêu tinh quặng kẽm sunfua bằng lò tầng sôi, công suất thiết kế là 10.000 tấn kẽm thỏi /năm, khí lò thiêu lớp sôi được đưa đi sản xuất axít 98%

H2SO4 Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam (VIMICO) đang chuẩn bị một dự

án đầu tư xây dựng công trình nhà máy sản xuất H2SO4 từ quặng pyrit và lưu huỳnh công suất 40.000 T/N tại Bát Xát - Lào Cai

Tập đoàn còn có chủ trương trong những năm tới sẽ đầu tư tiếp để từ sản phẩm axít sunfuric sản xuất ra phân bón (như sunfat amon - SA); giải quyết triệt

để tác nhân độc hại, đảm bảo phát triển sản xuất bền vững và thân thiện với môi trường

Sản phẩm Sô đa:

Sô đa là một trong những hóa chất vô cơ cơ bản được sử dụng trong nhiều lĩnh vực sản xuất, đặc biệt trong ngành sản xuất kính thủy tinh, chất tẩy rửa Nước ta có một số điều kiện thuận lợi để đầu tư sản xuất sô đa như có nguồn đá vôi, muối, là những nguyên liệu chính trong sản xuất sô đa (cứ sản xuất 1 tấn sô

đa theo công nghệ tiên tiến tiêu hao 1,6 tấn muối, 1,45 tấn đá vôi); ngành công nghiệp tiêu thụ sô đa nhiều là ngành Kính, thủy tinh có điều kiện để phát triển ở nước ta vì ta có nguồn cát có trữ lượng lớn và chất lượng tốt Thế nhưng, từ trước tới nay nước ta vẫn chưa sản xuất được sô đa ở quy mô công nghệ ổn định, hiện nay nước ta vẫn phải nhập sô đa với số lượng nhập ngày càng tăng, khoảng 380.000 tấn vào năm 2010

Trong những năm sau ngày thống nhất đất nước, do nhu cầu tiêu thụ sô đa tăng nhanh, phải nhập nhiều sô đa và tiêu tốn nhiều ngoại tệ, nên Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đã có chủ trương đầu tư nghiên cứu và sản xuất sô đa trong nước với quy mô ≤ 3.000 tấn/năm để khẳng định thiết bị và công nghệ do ta tự xây dựng ở 3 địa điểm khác nhau: Tràng Kênh - Hải Phòng, Nhà máy Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc, Văn Điển - Hà Nội, đều áp dụng phương pháp Solvay truyền thống Các dự án đã thực hiện về sản xuất sô đa tổng hợp theo phương pháp Solvay truyền thống thường dùng nhiên liệu đốt lò là than antraxít Hòn Gai, thiết bị công nghệ chưa hoàn thiện nên các quá trình amon hóa và cacbonat hóa không liên kết được với nhau Do đó, các chỉ tiêu kỹ thuật và kinh tế không đảm bảo, dẫn đến chất lượng sản phẩm sô đa thấp, chi phí nguyên nhiên liệu cao hơn định mức Mặt khác, các vùng nguyên-nhiên liệu đá vôi, than đá (miền Bắc) và muối (miền Nam) lại cách xa nhau; đồng muối của nước ta chưa được đầu tư để sản xuất được muối công nghiệp, hàm lượng NaCl chỉ đạt khoảng 92% - 96%,

Trang 23

tạp chất nhiều Vì vậy các dự án không thu được kết quả mong muốn về chất lượng và kinh tế nên đã phải ngừng hoạt động Vốn đầu tư cho cơ sở sản xuất sô

đa có công suất định hình trên thế giới (thời kỳ nửa cuối thế kỷ 20 là cõỡ 20 vạn tấn/nãm) tương đối lớn, ước khoảng 80 triệu USD Sản xuất sô đa yêu cầu công nghệ cao, thiết bị thuộc loại đặc chủng chịu ăn mòn mạnh, cần thiết phải nhập

kỹ thuật, có đầu tư nước ngoài Đó là những lý do chắnh mà cho đến nay, ta chậm xây dựng cơ sở sản xuất sô đa

Năm 2010, Nhà máy sản xuất sô đa Chu Lai đầu tiên của Việt Nam mới bắt đầu được xây dựng tại Khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam do Công ty cổ phần sản xuất Sô đa Chu Lai đầu tư, tổng vốn đầu tý 115 triệu USD, công suất thiết kế 200.000 tấn/nãm với các chủng loại sản xuất chắnh là sô đa nặng và sô

đa nhẹ đáp ứng nhu cầu sử dụng cho ngành sản xuất thuỷ tinh và kắnh xây dựng; công nghiệp tẩy rửa, bột giấy, giấy dự kiến đến cuối nãm 2011 sẽ hoàn thành

và đi vào hoạt động

S ản phẩm photpho vàng:

Hiện nay, ở Việt Nam đã có 5 nhà máy sản xuất phốtpho vàng đều xây dựng

ở tỉnh Lào Cai, công suất của mỗi nhà máy còn nhỏ, trong khoảng từ 2.000 đến 10.000 tấn/năm, với tổng công suất 36.000 tấn/năm; sản phẩm chủ yếu dùng cho

xuất khẩu Với nhu cầu trên thế giới là rất lớn và trong tương lai nhu cầu trong nước có xu hướng tăng mạnh, việc phát triển xây dựng nhà máy sản xuất photpho vàng là cần thiết

Các muối vô cơ, ôxit vô cơ:

Muối vô cơ, oxýt vô cơ bao gồm nhiều loại và được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực sản xuất Phần dưới đây chỉ mô tả một số loại mà ta đã và đang sản xuất mang tắnh công nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu của một số lĩnh vực sản xuất như phim ảnh, thực phẩm, lọc nước, xây dựng, sản xuất dược liệu, sản xuất giấy, sản phẩm cao su, bột giặt, kem giặtẦViệc sản xuất ắt nhiều đã hạn chế được nhập khẩu các hóa chất vô cơ thông dụng có nhu cầu không lớn mà ta có nguyên liệu để sản xuất

Silicat natri (Na 2 SiO 3 )

Silicat natri được dùng chủ yếu làm chất phụ gia bê tông trong xây dựng, một phần nhỏ được dùng trong thành phần bột giặt, kem giặt, công nghệ gốm sứ,

mỹ phẩm, giấy, dệt Silicat natri được sản xuất chủ yếu tại các cơ sở như: Nhà máy Hoá chất Biên Hoà, Nhà máy Hóa chất Việt Trì Công suất thiết kế hiện có

từ hơn 20 năm nay là 50.000 tấn/năm, công suất không nâng cao do yếu tố thị trường Sản lượng bình quân 5 năm 2005 ọ 2009 là 34.669 tấn/năm Năm 2010 Nhà máy Hoá chất Biên Hoà sản xuất 28.800 tấn, Nhà máy Hóa chất Việt Trì sản xuất 4.115 tấn, Công ty Vật tư Xuất nhập khẩu hoá chất sản xuất 10.679 tấn

Phèn nhôm các loại

Phèn nhôm được sử dụng chủ yếu để xử lý nước

Trang 24

Phèn nhôm được sản xuất chủ yếu tại Nhà máy Hóa chất Tân Bình, đi từ hydroxit nhôm và axít sunfuric Vào năm 2002, sản lượng phèn nhôm các loại tại Công ty Hóa chất cơ bản miền Nam đạt đến 120.687 tấn/năm (nhôm sunfat loại 15-17% Al2O3, nhôm kali/amon sunfat 10,3% Al2O3) Tuy nhiên, hiện nay

để xử lý nước người ta đã quan tâm đến những chất keo tụ mới nhiều hơn vì bản thân chất keo tụ nhôm sunfat bộc lộ một số nhược điểm, nhu cầu thị trường không còn lớn, năm 2010 Nhà máy Hóa chất Tân Bình chỉ sản xuất với sản lượng 16.000 tấn

Cacbonat canxi (CaCO 3 )

Năm 2002 năng lực sản xuất cacbonat canxi chỉ khoảng 8-10 ngàn tấn, được sản xuất tại Nhà máy Đất đèn Tràng Kênh (Hải Phòng), một vài HTX Bột nhẹ ở

Hà Nam, Nhà máy Hoá chất Vĩnh Thịnh (Lạng Sơn) Ngoài ra, cacbonat canxi ở dạng bột đá trắng nghiền siêu mịn còn được sản xuất tại Xí nghiệp liên doanh Yên Bái, Nhà máy Đất đèn Tràng Kênh, Xí nghiệp Vật tư Yên Viên thuộc Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam

Trong 10 năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế trong nước, nhu cầu cacbonat canxi của các ngành công nghiệp đều tăng, đặc biệt là phạm vi sử dụng còn được mở rộng ra các ngành sản xuất nhựa, hoá mỹ phẩm; chế biến thức ăn gia súc, nuôi trồng thuỷ sản (xử lý nước) và vật liệu trang trí trong xây dựng Do

đó ở miền Bắc và miền Trung đã phát triển khá nhiều doanh nghiệp khai thác - chế biến khoáng sản (đá vôi), sản xuất cacbonát canxi các dạng, kể cả dạng

cacbonat canxi hoạt hóa (tráng phủ sản phẩm bằng axít béo) Tuy nhiên, phần

lớn số doanh nghiệp này sản xuất cacbonat canxi chỉ ở quy mô nhỏ, khoảng vài nghìn tấn/năm, sản lượng chủ yếu tập trung ở một số doanh nghiệp như: Công ty

Cổ phần Xi măng và Khoáng sản Yên Bái (công suất 200.000 tấn/năm và là Nhà máy chế biến CaCO3 lớn nhất Việt Nam); Tập đoàn khoáng sản Hamico (tỉnh

Hà Nam - sản lượng 100.000 tấn/năm); Nhà máy Đất đèn và Hóa chất Tràng Kênh (trực thuộc Công ty TNHH một thành viên Hơi kỹ nghệ Que hàn, Công ty con của VINACHEM- công suất 10.000 tấn/năm)

Một số muối clorua

Canxi clorua CaCl2 (95% CaCl2.2H2O) dùng làm chất tải nhiệt trong kỹ nghệ lạnh, làm tăng quá trình đông cứng của bê tông trong xây dựng ; bari clorua BaCl2 (BaCl2.2H2O) dùng làm pháo hoa, thuốc diệt chuột, thuốc thử, phát hiện

và ðịnh lýợng axít sunfuric, làm mềm nýớc; Nuớc tẩy javel (NaClO loại min

100 g/l - 150 g/l clo hữu hiệu) được sản xuất tại Hóa chất Việt Trì và Hoá chất Biên Hoà

Công ty Hóa chất cơ bản miền Nam cũng sản xuất và cung cấp cho thị trường một số sản phẩm muối Clorua như:

- Dung dịch Sắt III clorua (38-45% FeCl3) dùng trong công nghệ xử lý nước, phụ gia thuốc trừ sâu

Trang 25

- Magiê clorua (98% MgCl2.6H2O) dùng trong sản xuất dược phẩm

- Kali clorua tinh khiết (98,5% KCl) dùng trong dược phẩm, dầu khí, kỹ thuật phim ảnh

- Muối natri clorua tinh chế / nấu (98% NaCl) dùng trong công nghiệp chế

biến thực phẩm, nguyên liệu trong công nghệ sản xuất đường, thức ăn gia súc,

chất tẩy rửa, khai thác dầu khí…

- Muối natri clorua cao cấp (99% NaCl) dùng trong công nghiệp chế biến thực phẩm, nguyên liệu trong công nghệ sản xuất đường

- Bột tẩy clorin - Ca(OCl)2 (30% clo hữu hiệu) dùng làm chất tẩy trắng trong công nghệ giấy, dệt; dùng trong công nghệ xử lý nước, môi trường, sát trùng

Khối lượng các loại muối trên được sản xuất theo yêu cầu của thị trường,

mỗi năm từ 2 đến 10 ngàn tấn mỗi loại

Các muối sunfua, polysunfua và sunfat

Hiện tại phần lớn các loại sản phẩm muối sunfua, polysunfua và sunfat do Công ty Hóa chất cõ bản miền Nam sản xuất cung cấp cho thị trýờng:

- Kẽm sunfat (98% ZnSO4.7H2O) dùng trong sản xuất thức ăn gia súc, phân bón vi lượng, sản xuất mực in, thuốc nhuộm, thuốc khử trùng

- Magiê sunfat (98% MgSO4.7H2O) dùng trong thức ăn gia súc, phân bón

vi lượng, sản xuất mực in, thuốc nhuộm, thuốc khử trùng

- Sắt II sunfat (98% FeSO4.7H2O) dùng trong sản xuất thức ăn gia súc, phân bón vi lượng, sản xuất mực in, thuốc nhuộm, thuốc khử trùng

- Natri thiosunfat (98% Na2S2O3.5H2O) dùng xử lý nước

Một vài loại hóa chất xử lý nước khác được Công ty cổ phần Supe Phốtphat

và Hóa chất Lâm Thao sản xuất: natri sunfit (92% Na2SO3), natri bisunfit (22%

Na2HSiO3), natripyrosunfit (93% Na2S2O5) Tuy nhiên, tương tự các loại sản phẩm muối đi từ axít sunfuric sản xuất tại Hoá chất Biên Hoà, khối lýõòng các loại muối trên ðýõòc sản xuất theo yêu cầu của thị trýờng không ổn định, sản lượng không quá 5 ÷ 6 ngàn tấn mỗi loại

Các muối photphat

Hiện tại phần lớn các loại sản phẩm muối photphat do Công ty Hóa chất cõ bản miền Nam sản xuất cung cấp cho thị trýờng, nhu cầu của thị trýờng không

ổn ðịnh, sản lýợng cũng không quá 5 ÷ 6 ngàn tấn mỗi loại:

- MAP (mono amon photphat) - 98%(NH4)H2PO4- dùng lên men vi sinh trong sản xuất bột ngọt, men bánh mì; dùng làm phân bón vi lýợng

- MKP (mono kali photphat) - 98% KH2PO4 - dùng lên men vi sinh trong sản xuất bột ngọt, men bánh mì; dùng làm phân bón vi lýợng

Trang 26

- Natri photphat (98% Na3PO4.12H2O) dùng ðể sản xuất phân bón vi lýợng, cây cảnh, cây trồng

- Natri hydrophotphat (98% Na2HPO4.12H2O) dùng xýÒ lý nýõìc

Các muối fluor

Natriflorua (NaF) loại tinh khiết được sử dụng trong công nghiệp sản xuất thuốc đánh răng Natriflosilicat được sản xuất tại Công ty cổ phần Supe Phốtphat và Hóa chất Lâm Thao, và Nhà máy Supe Phốtphat Long Thành, trên

cơ sở tận thu nguồn khí thải HF trong quá trình sản xuất Supe Phốtphat Natriflosilicat được sử dụng trong công nghiệp sành sứ, thuỷ tinh, thuộc da, xử

lý nước sinh hoạt, xử lý gỗ chống mối mọt Sản phẩm có chất lượng 98% của Công ty Supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao đã từng được xuất khẩu sang Trung Quốc

Đối với một số muối vô cơ và oxýt vô cơ thì ta mới sản xuất được một số loại với số lượng nhỏ, do thị trường nước ta có nhu cầu không lớn, công nghệ sản xuất không phức tạp, không đòi hỏi vốn đầu tư nhiều để nhập thiết bị sản xuất và chủ yếu là dựa vào gốc muối mà các nhà máy đang sử dụng Việc tổ chức sản xuất các sản phẩm với khối lượng nhỏ nêu trên đã đáp ứng tốt nhu cầu của nhiều lĩnh vực sản xuất trong nước như ngành sản xuất dược liệu, phim ảnh,

xử lý nước, chăn nuôi , hạn chế việc nhập khẩu

Riêng một số loại hóa chất như oxit titan, bicromat natri, bột màu crôm, oxit mangan điện giải Mặc dầu ta có đủ nguyên liệu cho sản xuất, song do công nghệ sản xuất chúng khá phức tạp, cần sản xuất ở quy mô lớn và theo công nghệ tiền tiến thì mới có hiệu quả kinh tế, nên trong nước vẫn chưa sản xuất được ở

quy mô công nghiệp

Các hóa chất vô cơ tinh và tinh khiết:

Hiện nay, có nhiều loại hóa chất vô cơ tinh khiết thông dụng đã được sản xuất tại các cơ sở thuộc Công ty Hóa chất cơ bản miền Nam, Hoá chất Đà Nẵng, Hoá chất Đức Giang và các viện nghiên cứu hóa chất

Các nhà máy đã dựa trên loại sản phẩm đang sản xuất hoặc loại hóa chất công nghiệp được nhập về, rồi thông qua các thiết bị có dung tích nhỏ hoặc tự chế tạo để tinh chế thành loại hóa chất tinh và tinh khiết Chủng loại sản phẩm này rất đa dạng và khối lượng sản xuất từ 1 tấn đến vài ba chục tấn

Sản phẩm hydroxit nhôm:

Nhôm hydroxit Al(OH)3 và nhôm oxit Al2O3 là những hợp chất được chế biến từ quặng bauxit chứa thành phần chủ yếu là nhôm Trong công nghiệp, bauxit được tinh luyện thành nhôm hydroxit và sau đó chế biến tiếp ra nhôm oxit (còn được gọi là alumin) thông qua công nghệ Bayer

Nhôm hydroxit được sử dụng phần lớn, đến 90%, vào sản xuất nhôm oxit; ngoài ra nhôm hydroxit được dùng làm nguyên liệu để sản xuất các hợp chất

Trang 27

nhôm khác như nhôm sunfat, nhôm clorua, zeolit, natri aluminate v.v ứng dụng trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, chất xử lý nước, thủy tinh, dệt nhuộm, dược phẩm

Công nghiệp ứng dụng nhôm oxit phân loại nhôm oxit thành hai dòng chủ

yếu là SGA (Smelter Grade Alumina – nhôm oxit phẩm cấp luyện kim) và CGA (Chemical Grade Alumina – nhôm oxit phẩm cấp hóa chất) khác nhau ở mức độ kích thước hạt và tính chất vật lý sau chế biến SGA được sử dụng là phần lớn, đến 92%, để sản xuất nhôm kim loại bằng phương pháp điện phân (công nghệ Hall-Heroult) Sản phẩm của các dự án Tổ hợp Bauxit Nhôm Lâm Đồng (Tân Rai – Lâm Đồng), Nhà máy sản xuất Alumin Nhân Cơ (Đăk Nông) của Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam là dòng nhôm oxit này Đối

với dòng nhôm oxit phẩm cấp hóa chất, CGA được dùng làm nguyên liệu hoặc

phụ gia trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, vật liệu chịu lửa, vật liệu hãm cháy từ plastic và elastic, vật liệu bề mặt cứng (đá nhân tạo, gỗ nhân tạo), vật liệu mài, men gốm sứ v.v

Từ trước năm 1975, tại nhà máy Hóa chất Tân Bình (COPHATA – Sài Gòn)

đã có một dây chuyền sản xuất nhôm hydroxit công suất thiết kế ban đầu là 2.500 tấn/năm Sau này, khi trở thành đơn vị trực thuộc Công ty Hóa chất cơ

bản Miền Nam, dây chuyền sản xuất nhôm hydroxit của nhà máy đã nhiều lần được đầu tư cải tạo và đã nâng công suất đạt tới 18.000 tấn/năm Tuy nhiên, do nhu cầu của thị trường chưa cao và không ổn định, sản lượng tiêu thụ còn thấp

so với công suất Năm 2010 sản lượng sản xuất và tiêu thụ của Nhà máy là 5.400 tấn Hiện tại, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đang phát triển một dự án liên doanh

với các đối tác Nhật Bản đầu tư sản xuất nhôm hydroxit và nhôm oxit phẩm cấp hóa chất quy mô công suất 300 – 500 nghìn tấn/năm, với phương án đối tác liên doanh bao tiêu xuất khẩu 80% sản phẩm

Tài nguyên khoáng sản của ta không nhiều, trong đó có một số khoáng sản quan trọng có trữ lượng nhỏ hoặc đã cạn kiệt, nhưng riêng về bauxit nước ta có nguồn tài nguyên phong phú Theo kết quả điều tra địa chất, trữ lượng tài nguyên bauxit dự báo khoảng 5,6 tỷ tấn, kiến tạo tập trung ở các tỉnh Lâm Đồng, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông (khu vực Tây Nguyên); ngoài ra còn được tìm thấy ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và ven biển miền Trung (trữ lượng nhỏ, không tập trung) Khai thác quặng bôxít là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta đã được nêu trong Nghị quyết Đại hội X, nhằm xây dựng ngành công nghiệp bôxít, alumin, nhôm, phục vụ phát triển kinh tế đất nước nói chung và góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên nói riêng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch phát triển bauxit với tinh thần đảm bảo hiệu quả, đồng thời bảo đảm vấn đề môi trường, phát triển bền vững Chi tiết Quy hoạch

có tại Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxit

giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến năm 2025 (phê duyệt tại Quyết định số

167/2007/QĐ-TTg ngày 01/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ), và tới đây tại

Trang 28

Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến, quặng bauxit đến năm 2020 có xét đến năm 2030 (đang trong giai đoạn trình duyệt)

Sản phẩm amon nitrat và axít nitric:

Trong công nghiệp, amon nitrat (NH4NO3) chủ yếu được dùng làm phân bón

và vật liệu nổ Axít nitric (HNO3) được sử dụng ở nước ta chủ yếu để sản xuất

vật liệu nổ, axít nitric là bán thành phẩm trong quá trình sản xuất amon nitrat, từ amon nitrat chế biến tiếp ra các loại vật liệu nổ dùng trong công nghiệp và quốc phòng

Hiện nay, tại Việt Nam, các doanh nghiệp được Nhà nước cho phép sản xuất thuốc nổ và phụ kiện nổ công nghiệp là Công ty Công nghiệp Hóa chất mỏ –TKV và 5 Công ty thuộc Công nghiệp Quốc phòng (theo Quyết định số 03/2006/QĐ-BCN của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp trước đây, nay là Bộ Công Thương ban hành ngày 14/3/2006), trong đó mới có một nhà máy Z195 của Bộ Quốc phòng được phép sản xuất amon nitrat cho các nhu cầu của quân đội với sản lượng là khoảng 20.000 tấn/năm, nhưng đến nay sản xuất vẫn chưa ổn định Hiện tại, mới có thêm một dự án sản xuất amon nitrat là Dự án Nhà máy sản

xu ất amon nitrat công suất 200.000 tấn/năm tại Cụm công nghiệp Thái Thọ - huy ện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình đang được Tổng Công ty Công nghiệp Hóa

chất mỏ VINACOMIN triển khai Dự án dự kiến sẽ lựa chọn công nghệ sản xuất

axít nitric theo phương pháp áp suất liên hợp - công nghệ sản xuất amon nitrat theo phương pháp trung hòa có áp (là những công nghệ tiên tiến và phổ biến

trên thế giới hiện nay do đối tác Uhde CHLB Đức cung cấp bản quyền)

S ản phẩm amoniac:

Phần lớn (trên 80%) lượng amoniac (NH3) được tiêu thụ với mục đích sản

xuất phân bón NH3 lỏng là dạng thương phẩm chủ yếu được sử dụng ở quy mô

lớn và chủ yếu cũng để sản xuất phân bón Tại Việt Nam, NH3 ngoài lĩnh vực sản xuất phân urê, phân DAP, lượng NH3 tiêu thụ chủ yếu là cho lĩnh vực làm lạnh (sản xuất nước đá, bảo quản thực phẩm và thủy sản, v.v ) Trong thời gian tới nhu cầu về amoniac sẽ tăng lên khi các nhà máy sản xuất phân SA, nhà máy sản xuất amon nitrat được đầu tư và đi vào sản xuất

Đến nay, với công suất urê cả nước tổng cộng vào khoảng 900-950 nghìn

tấn/năm, thì lượng NH3 cần cho sản xuất phân bón trong nước hàng năm là

500-540 nghìn tấn NH3 Khối lượng này do các cơ sở sản xuất tự sản xuất, cân đối

và hiện không phải nhập khẩu thêm từ bên ngoài Các nhà máy phân urê Cà Mau (từ khí thiên nhiên), Ninh Bình (từ than cám) khi hoàn thành thi công xây dựng

và đi vào hoạt động cũng sẽ tiêu thụ những lượng lớn NH3 do các nhà máy tự sản xuất

Năm 2009, Nhà máy sản xuất DAP Hải Phòng 330.000 tấn/năm đi vào hoạt động thì có khả năng phải nhập khẩu khoảng 70-80 nghìn tấn NH3 lỏng/năm

Một số nhà máy DAP tiếp tục được xây dựng trong tương lai cũng được tính

Trang 29

toán là sẽ sử dụng NH3 lỏng nhập khẩu hoặc cân đối một phần từ công suất dư của các nhà máy urê trong nước

Hiện nay cũng có những tính toán về khả năng đầu tư một cơ sở sản xuất NH3 phục vụ cho nhu cầu sử dụng trong nước (sản xuất DAP, SA, v.v…) và

xuất khẩu

b Đánh giá theo thành phần kinh tế

Phần lớn các cơ sở sản xuất hóa chất cơ bản đều là những cơ sở thuộc thành phần kinh tế nhà nước Đó là những Công ty con (vốn Nhà nước chiếm 51÷100% vốn ðiều lệ), Công ty liên kết (vốn Nhà nýớc chiếm dưới 50% vốn ðiều lệ) của các Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Tập ðoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam Số lượng cơ sở sản xuất hóa chất cõ bản thuộc thành phần kinh tế ngoài nhà nước tuy có nhưng sản lượng sản phẩm chiếm tỷ trọng không lớn Thành phần kinh tế có vốn ðầu tý nýớc ngoài có Công ty Bột ngọt Vedan, sản xuất xút với khối lượng khá lớn, chiếm khoảng 62% năng lực sản xuất toàn Ngành

c Đánh giá theo cơ cấu sản phẩm

Như trên đã nói, hai dòng sản phẩm có sản lượng lớn nhất trong nhóm các sản phẩm hóa chất vô cơ cơ bản là xút và axít các loại Trong các loại axít thì axít sunfuric là loại được sử dụng nhiều nhất Cụ thể là:

- Xút quy đổi 100% NaOH, công suất thiết kế hiện có là 130.000 tấn/năm, sản lượng năm 2010 là 70.124 tấn, (trong đó sản lượng của Vinachem là 38.441 tấn)

- Axít sunfuric, công suất thiết kế hiện có là 880.000 tấn/năm, sản lượng năm 2010 là 579.530 tấn (trong đó sản lượng của Vinachem là 552.530 tấn)

- Axít clohydric, công suất thiết kế hiện có là 180.000 tấn/năm; sản lượng năm 2010 của VINACHEM là 85.044 tấn

- Axít phốtphoric: trước khi có nhà máy DAP lượng axít phốtphoric chủ yếu do Nhà máy Hóa chất Đồng Nai – thuộc Công ty Hóa chất cơ bản Miền Nam – sản xuất trên dây chuyền công suất 7.000 tấn/năm(sản phẩm axít phốtphoric cấp kỹ thuật, cấp thực phẩm, dùng cho các mục đích sản xuất các

muối photphat, xử lý bề mặt kim loại, hương vị nước ngọt, dược phẩm , lượng

tiêu dùng không l ớn) Năm 2010 xưởng axít phốtphoric công suất 162.000

tấn/năm của Công ty TNHH DAP – VINACHEM mới có sản phẩm, sản xuất được 75.139 tấn, đưa toàn bộ vào sản xuất DAP

Ngoài xút và axít có sản phẩm silicat natri được sản xuất gần hết công suất thiết kế là 50.000 tấn/năm Sản lượng bình quân 5 năm 2005 ÷ 2009 là 34.669 tấn/năm, sản lượng năm 2010 là 45.214 tấn (trong đó sản lượng của Vinachem

là 43.624 tấn)

Trang 30

Bảng sau cho thấy sự thay đổi về sản lượng của hai sản phẩm chính là xút và axít sunfuric

B ảng 9 Sản lượng sản phẩm xút và axít sunfuric qua các năm

Nguồn: Tổng cục Thống kê và Tập đoàn Hóa chất Việt Nam

Qua bảng trên ta thấy, trong 6 năm qua, do có nhiều yếu tố thuận lợi nên đã tạo sự tăng trưởng tích cực trong ngành hóa chất vô cơ cơ bản Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, sự phát triển của nhiều lĩnh vực sản xuất như phân bón, giấy, thuỷ tinh, chất tẩy rửa tổng hợp đã thúc đẩy sự mở rộng nhanh năng lực sản xuất một số sản phẩm hóa chất vô cơ cơ bản chủ yếu như axít sunfuric, xút Cụ thể: Năm 2010 so với năm 2005, sản lượng xút tăng 2,9 lần, sản lượng axít sunfuric tăng 1,6 lần

d Đánh giá theo vùng kinh tế

Theo số liệu thống kê số lượng doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hóa chất cõ bản theo các vùng kinh tế - xã hội năm 2010, có 94,9% tổng số doanh nghiệp nằm trên ðịa bàn các vùng 1, 2, 3 và 5, phân bố như sau:

- 38,4% tổng số doanh nghiệp nằm trên địa bàn vùng 2 (chủ yếu tập trung ở thành phố Hà Nội, Hải Phòng; các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Bắc Ninh, Hải Dương)

- 35,5% tổng số doanh nghiệp nằm trên ðịa bàn vùng 5 (chủ yếu tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh; các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu)

- 12,3% tổng số doanh nghiệp nằm trên ðịa bàn vùng 3 (chủ yếu ở thành phố Đà Nẵng; các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên)

- 8,7% tổng số doanh nghiệp nằm trên ðịa bàn vùng 1 (chủ yếu ở các trung tâm công nghiệp Việt Trì, Lâm Thao – tỉnh Phú Thọ);

- 4,4% tổng số doanh nghiệp nằm trên ðịa bàn vùng 6 (chủ yếu tập trung ở

tỉnh Long An)

- 0,7% tổng số doanh nghiệp nằm trên địa bàn vùng 4

Trang 31

Xét về mặt sản lượng và giá trị công nghiệp, sản xuất hóa chất cơ bản tập trung chủ yếu ở các trung tâm công nghiệp Biên Hòa, Long Thành – tỉnh Đồng Nai; và Việt Trì, Lâm Thao – tỉnh Phú Thọ

2.2.4 Đối với nhóm sản phẩm nguồn điện hóa học

a Đánh giá theo chủng loại sản phẩm

Ở nước ta hiện chỉ có hai loại nguồn điện hoá học chính với công nghệ hiện bản quyền từ các nhà sản xuất uy tín trên thế giới Trong những năm gần đây đã

có nhiều Công ty sản xuất mới ra đời cạnh tranh với các Công ty sản xuất thuộc quốc doanh về cả sản lượng và chất lượng Các nhóm sản phẩm chính đang được tập trung sản xuất trong nước như:

- Pin kiềm (pin hệ Mn/Zn điện dịch kiềm) với tỷ lệ đa số và pin muối (pin

hệ Mn/Zn điện dịch muối) vẫn được duy trì sản xuất do nhu cầu của thị trường

- Ắc quy chì-axít kín khí ít bảo dưỡng (Maintenance Free - MF)

- Ắc quy tích điện khô

Lĩnh vực sử dụng của những nguồn điện này có thể khái quát như sau :

- Ắc quy: khởi động, chiếu sáng, radio, vô tuyến…

- Pin : thắp sáng, radio, máy ảnh, đồng hồ điện, đồ chơi…

b Đánh giá theo thành phần kinh tế

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, hiện nay cả nước có 26 doanh nghiệp

hoạt động trên lĩnh vực sản xuất pin ắc quy, trong đó:

- Doanh nghiệp nhà nước có 2 đơn vị là Công ty Cổ phần Pin Ắc quy miền Nam và Công ty Cổ phần Ắc quy Tia Sáng Hai đơn vị này trực thuộc VINACHEM quản lý

- Doanh nghiệp ngoài nhà nước có 14 đơn vị, chiếm 54%

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 10 đơn vị, trong đó 9 đơn vị 100% vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 38%

B ảng 10 Các doanh nghiệp ngành theo thành phần kinh tế

Doanh nghiệp ngoài nhà

Doanh nghiệp có vốn

Trang 32

Ngu ồn: Tổng cục Thống kê, Vinachem

Lĩnh vực sản xuất Ắc quy phát triển mạnh mẽ trong sự cạnh tranh gay gắt

giữa các doanh nghiệp Số lượng các Công ty mới xâm nhập vào ngành với sự chuẩn bị và đầu tư kĩ lưỡng không ngừng gia tăng Bên cạnh đó, các sản phẩm

Ắc quy từ thị trường nước ngoài nhập về cũng ngày càng gia tăng tạo ra sự cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm trong nước

Ngoài ra còn có một số doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và một số Công ty tư nhân sản xuất mang tính nhỏ lẻ, thủ công (những Công ty tư nhân này có trình độ công nghệ lạc hậu và quy mô sản xuất nhỏ nên không có nhiều khả năng cạnh tranh)

Nếu so sánh sản lượng pin và ắc quy do các doanh nghiệp nhà nước sản xuất trong những năm gần đây với tổng sản lượng của các thành phần kinh tế ta thấy thị trường trước kia chịu chi phối của các Công ty thuộc thành phần quốc doanh nay đang dần chuyển sang các Công ty cổ phần và 100% vốn nước ngoài do được đầu tư đáng kể về công nghệ cũng như năng lực sản xuất

Năm 2005 sản lượng pin và ắc quy của các doanh nghiệp do nhà nước quản

lý chiếm thị phần 50-70% đối với ắc quy và 90% đối với pin, tính đến hết năm

2010 sản lượng pin do các doanh nghiệp nhà nước sản xuất chỉ chiếm trên 70% (chiếm thị trường chủ yếu là sản phẩm pin thông dụng của các Công ty Pin Văn Điển, Công ty Pin Ắc Quy Miền Nam) và ắc quy chỉ chiếm khoảng 70% sản

lượng chung toàn ngành

B ảng 11 Một số cơ sở sản xuất lớn phân theo thành phần kinh tế

Doanh

nghiệp ngoài

nhà nước

Đầu tư nước

ngoài

Cty LD Malaysia- VN Pin, pin khô, ăc quy 350.000 kwh/năm

Trang 33

Thành phần

Công ty GS

Các loại ăc quy ôtô, xe máy

700.000 kWh/năm

Nguyen Huu Chanh Battery

c Đánh giá theo cơ cấu sản phẩm

Đánh giá theo cơ cấu sản phẩm ngành, số lượng doanh nghiệp sản xuất ắc quy cho xe máy chiếm tới 40% trong tổng số doanh nghiệp chuyên ngành Trong khi nhóm doanh nghiệp sản xuất pin chỉ chiếm khoảng 20%, còn lại 20% dành cho nhóm các doanh nghiệp sản xuất ắc quy cho ô tô và ắc quy khác

B ảng 12 Các doanh nghiệp ngành nguồn điện hóa học theo cơ cấu sản phẩm

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Vinachem

*S ố lượng doanh nghiệp ở đây lớn hơn số doanh nghiệp thực tế Do một doanh

nghiệp có thể sản xuất nhiều loại sản phẩm

d Đánh giá theo vùng kinh tế

Hiện tại các doanh nghiệp sản xuất pin và ắc quy phân bố tại 4 vùng lãnh thổ, nhưng tập trung chủ yếu ở vùng 2 và vùng 5 chiếm 80%, trong khi các vùng

1 chỉ tập trung 15% các doanh nghiệp và tương tự vùng 6 chiếm 4%

B ảng 13 Năng lực sản xuất theo vùng lãnh thổ Vùng lãnh

Trang 34

Vùng 1 Thái Nguyên, Hòa Bình, Lạng Sơn, Phú Thọ 4

Tính đến hết năm 2010 tổng sản lượng hai nhà máy ắc quy trực thuộc VINACHEM đạt khoảng 1.800.000 kWh/năm, chiếm khoảng 70% tổng sản lượng toàn ngành, chủ yếu tập trung vào các sản phẩm ắc quy chì-axít không

bảo dưỡng (CMF) và phải bảo dưỡng, chiếm khoảng 50% thị phần trong nước

về về mảng thị trường thay thế và khoảng 80% mảng thị trường cung cấp cho các hãng lắp ráp ô tô sản xuất trong nước như Ford, Huyndai, Suzuki, Trường Hải, Chiến Thắng…

Mảng thị trường còn lại thuộc về các doanh nghiệp liên doanh và 100% đầu

tư nước ngoài như các Công ty Liên doanh Malaysia- VN, Công ty 3K, Công ty LeLong, Công ty GS, Công ty Kornam…Các Công ty này có năng lực sản xuất cao hơn hẳn các Công ty trong nước, khoảng hơn 19 triệu kWh gồm các chủng loại ắc quy cho xe máy, ô tô, ắc quy tích điện, ắc quy viễn thông… Tuy nhiên thị trường mục tiêu là xuất khẩu, chỉ dành tối đa 15% tổng sản phẩm để cung cấp cho thị trường trong nước nên thị trường ắc quy trong nước vẫn có tiềm năng phát triển cho các Công ty ắc quy Việt Nam

B ảng 14 Sản lượng pin- ắc quy ngành nguồn điện hóa học sản xuất

trong nước Doanh

Trang 35

Ắc quy khác 1.000kW/h 794 1.193 9.411 1.881 5.299 8.518

Ngu ồn: Tổng cục Thống kê 2010

Trong đó sản lượng pin phân theo thành phần kinh tế được trình bày trong bảng sau:

B ảng 15 Sản lượng pin sản xuất tại Việt Nam

192,6

195,6

208,5

229,3 Doanh nghiệp ngoài

nhà nước 39,7

155,3

150,2

134,2

182,9

217,0 Doanh nghiệp có vốn

0,6

1,8

1,9

Nguồn: Niên giám thống kê 2010

2.2.6 Đối với nhóm sản phẩm khí công nghiệp

Khí công nghiệp là phân ngành sản xuất quan trọng trong Công nghiệp Hóa chất Khí công nghiệp bao gồm ôxy, nitơ, acetylen, argon, khí nén, N2O, hêli, hydrô và khí trộn… giữ vai trò thiết yếu và được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: khí ôxy dùng để thở được sử dụng trong lĩnh vực y tế phục vụ điều trị, chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân Mặt khác khí công nghiệp được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp Ôxy, axêtylen dùng trong công nghiệp hàn cắt kim loại, công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển, công nghiệp luyện cán thép; Nitơ dùng trong công nghiệp chế biến thực phẩm đông lạnh, công nghiệp dược, công nghiệp điện tử, làm sạch đường ống dẫn khí và một số ngành công nghệ ứng dụng lưu hóa cao su, tôi thép đặc chủng, sản xuất kính nổi, sản xuất phân bón…

Cùng với xu thế phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành khí công nghiệp cũng đang được đầu

tư phát triển tương xứng với vai trò và tầm quan trọng của nó trong nền kinh tế quốc dân

a Đánh giá theo chủng loại sản phẩm

Tùy thuộc vào công nghệ chế biến khí mà hình thành nên các doanh nghiệp theo chủng loại sản phẩm Theo thống kê tính đến thời điểm năm 2010 số lượng các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh sản phẩm khí công nghiệp được thống

kê trong bảng dưới đây:

Trang 36

B ảng 16 Số lượng doanh nghiệp theo dạng sản phẩm chủ yếu

* Ghi chú: một doanh nghiệp có thể sản xuất nhiều loại sản phẩm

b Đánh giá theo thành phần kinh tế

Sản phẩm khí công nghiệp gồm 2 dạng lỏng và khí, với nhiều cấp chất lượng khác nhau, nhu cầu vốn đầu tư cho mỗi dạng, mối cấp chất lượng cũng khác nhau, nên việc sản xuất khí công nghiệp hiện nay ở Việt Nam có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Mỗi thành phần kinh tế tùy theo khả năng về vốn, công nghệ mà có cách tiếp cận phù hợp với khả năng cung cấp đáp ứng nhu cầu khách hàng về chất lượng và sản lượng sản phẩm

Sản xuất ôxy, nitơ, argon trực tiếp ra dạng lỏng với hàm lượng ôxy 99,6%, hàm lượng nitơ và argon trên 99,999% đòi hỏi nhu cầu vốn đầu tư lớn, dây chuyền công nghệ hiện đại, tại thời điểm này có các nhà cung cấp nước ngoài tham gia đó là tập đoàn Messer Dây chuyền công nghệ của Đức công suất 16.500 m3/h, tập đoàn Air Liquyde dây chuyền công nghệ của Pháp công suất 14.000m3/h, Công ty Gas Việt Nhật (VIJAGAS) công suất 17.500 m3

99,3%-/h

Sản xuất ôxy, nitơ dạng khí với hàm lượng ôxy 99,3 – 99,6% hàm lượng nitơ trên 99,99% ; hóa lỏng khí ôxy, nitơ thành phẩm ra dạng lỏng để đáp ứng nhu cầu thị trường, đòi hỏi kỹ thuật công nghệ trung bình tiên tiến, nhu cầu vốn đầu tư vừa phải phù hợp với doanh nghiệp nhà nước Từ năm 1999 đến nay Công ty Sovigas Công ty THHH nhà nước một thành viên thuộc tập đoàn hóa

chất Việt Nam đã đầu tư 6 dây chuyền sản xuất trải khắp 3 miền Hiện nay năng

lực sản xuất của Công ty khoảng 8.000 m3

/h Ngoài ra còn phải kể đến một số Công ty cổ phần khác đã hiện đại hóa, đổi mới công nghệ để đáp ứng với nhu cầu ngày càng cao của thị trường

Sản xuất ôxy, nitơ dạng khí với hàm lượng ôxy và nitơ từ 98-99%, thỏa mãn nhu cầu khách hàng không có yêu cầu cao về chất lượng, yêu cầu về trình độ công nghệ, nhu cầu vốn đầu tư thấp, nên có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, nhất là khu vực kinh tế tư nhân chủ yếu phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của đại phương Năng lực sản xuất ước đạt khoảng 12.000 m3

Trang 37

c Đánh giá theo vùng kinh tế

Hiện nay các doanh nghiệp chế biến và kinh doanh sản phẩm khí công nghiệp có quy mô khác nhau hoạt động trên tất cả các vùng lãnh thổ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu xã hội của mọi vùng miền Tuy nhiên tập trung chủ yếu ở vùng 2 và vùng 5 là nơi tập trung các vùng công nghiệp trọng điểm của cả nước chiếm 71%, vùng 3 chiếm 14% còn lại các vùng khác chỉ chiếm 15% Số lượng doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh sản phẩm khí công nghiệp phân bổ theo vùng kinh tế được trình bày trong bảng dưới đây

B ảng 18 Số lượng doanh nghiệp theo vùng kinh tế

Đơn vị: Doanh nghiệp

đã đầu tư công nghệ hiện đại và nhanh chóng đầu tư mở rộng và chiếm lĩnh thị trường, đẩy các nhà sản xuất trong nước với công nghệ lạc hậu hoặc phá sản

Trang 38

hoặc phải thu hẹp thị trường hoặc chuyển thành các đại lý phân phối cho các các Công ty nước ngoài

Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005-2010 của nhóm sản phẩm khí công nghiệp đạt 15,75% năm Trong đó tăng mạnh nhất là sản lượng khí ôxy bình quân 40,51%/năm Sản lượng khí axetylen trong các giai đoạn giảm 2,68% /năm

Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005-2010 của nhóm sản phẩm khí công nghiệp đạt 15,75% năm Trong đó tăng mạnh nhất là sản lượng khí ôxy bình quân 40,51%/năm Sản lượng khí axetylen trong các giai đoạn giảm 2,68% /năm Cụ thể sản lượng khí công nghiệp sản xuất trong giai đoạn 2005-2010 được thể hiện trong bảng sau:

B ảng 19 Sản lượng khí công nghiệp phân theo dạng sản phẩm

2.2.7 Đối với nhóm sản phẩm cao su

a Đánh giá theo chủng loại sản phẩm

Ngành cao su được chia thành 7 nhóm chuyên ngành theo tính chất kỹ thuật công nghệ sản xuất và tính chất sử dụng các sản phẩm cao su kỹ thuật, bao gồm:

lốp ôtô các loại; lốp xe máy các loại; lốp xe đạp các loại; Săm ôtô các loại; săm

xe máy các loại; săm xe đạp các loại; chi tiết cao su kỹ thuật ( gioăng, đệm, phớt

chặn, dây đai truyền, băng tải, găng tay cao su …) Bảng dưới đây trình bày số lượng doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm cao su theo dạng sản phẩm

Bảng 20 Số lượng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm cao su theo

Trang 39

Săm ôtô 8 8 9 9 8 10

Ngu ồn: Tổng cục Thống kê; Số doanh nghiệp ở đây nhiều hơn số doanh nghiệp

thực tế vì 1 doanh nghiệp nằm ở nhiều nhóm sản phẩm

Năng lực sản xuất của ngành tính đến năm 2010 được đánh giá cụ thể như sau:

- Sản phẩm lốp ôtô: năng lực thiết kế ước tính 9 triệu sản phẩm/năm

- Sản phẩm lốp xe máy: năng lực thiết kế 35 triệu sản phẩm

- Sản phẩm lốp xe đạp: năng lực thiết kế ước khoảng 30 triệu chiếc

- Sản phẩm săm ôtô: năng lực thiết kế ước tính 10 triệu chiếc

- Sản phẩm săm xe máy: năng lực thiết kế ước tính cả nước đạt 65 triệu chiếc

- Sản phẩm săm xe đạp: năng lực thiết kế vào khoảng 35 triệu chiếc

- Sản phẩm cao su kỹ thuật: năng lực thực tế đạt 254.000m băng tải; 20.128.000 m ống cao su; 12.548 tấn gioăng, phớt, cao su kỹ thuật khác

- Sản phẩm găng tay cao su: năng lực thiết kế khoảng 1,5 tỷ đôi

b Đánh giá theo thành phần kinh tế

Ngành sản xuất các sản phẩm cao su trong giai đoạn 2005-2010 đã có sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế với quy mô khác nhau, số lượng doanh nghiệp qua các năm được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 21 Số lượng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm cao su

theo lo ại hình kinh tế

Doanh nghiệp ngoài nhà

Trang 40

Khu vực doanh nghiệp nhà nước với 5 cơ sở sản xuất và kinh doanh sản phẩm cao su trong đó có 3 doanh nghiệp lớn thuộc tập đoàn VINACHEM nằm trong top 200 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam Đó là Công ty CP công nghiệp Cao su Miền Nam; Công ty CP cao su Đà Nẵng; Công ty CP Cao su Sao vàng

có năng lực sản xuất các sản phẩm cao su gồm:

- Lốp ôtô chiếm gần 30% đạt 1.969.556 chiếc

- Lốp xe máy chiếm 26% đạt 5.750.000 bộ

- Lốp xe đạp chiếm 54% đạt 11,7 triệu lốp

- Săm ôtô chiếm 15% đạt 1,3 triệu chiếc

- Săm xe máy chiếm 45% đạt 26.6 triệu chiếc

- Săm xe đạp chiếm 64% đạt 17,2 triệu chiếc

- Các sản phẩm cao su kỹ thuật khác như găng tay, phớt , đệm , cua roa, băng tải, ống cao su …chiếm khoảng 38% năng lực sản xuất toàn quốc

Khu vực ngoài nhà nước: Chiếm 6% năng lực sản xuất lốp xe máy, chiếm 1% về lốp xe đạp; 15% săm ôtô; 5% săm xe máy, 8% năng lực sản xuất săm xe đạp, chiếm 40% năng lực sản xuất cao su kỹ thuật bao gồm băng tải, cua roa, gioăng, phớt, đệm, găng tay cao su …Sản phẩm lốp ôtô xe máy, lốp xe đạp các

loại sản xuất với số lượng ít không đáng kể do chất lượng sản phẩm không cạnh tranh được với hai thành phần kinh tế kia

Khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có năng lực sản xuất các sản phẩm cao su gồm :

- Lốp ôtô chiếm 70%, đạt 5,8 triệu chiếc

- Lốp xe máy chiếm 68% đạt 28,5 triệu chiếc

- Lốp xe đạp chiếm 45% đạt 13,5 triệu chiếc

- Săm ôtô chiếm 65%, đạt 5,9 triệu chiếc

- Săm xe máy chiếm 50% đạt 25 triệu chiếc

- Săm xe đạp chiếm 28% đạt 6,5 triệu chiếc

- Các sản phẩm cao su kỹ thuật gioăng, phớt, băng tải… chiếm trên 20% năng lực sản xuất của toàn quốc

Ngày đăng: 29/01/2015, 19:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng sau cho thấy sự thay đổi về sản lượng của hai sản phẩm chính là xút và  axít sunfuric - thực trạng phát triển nghành hóa chất và khả năng nâng cao năng lực cạnh trạnh thông qua tăng cường khai thác các yếu tố liên quan tới thương mại
Bảng sau cho thấy sự thay đổi về sản lượng của hai sản phẩm chính là xút và axít sunfuric (Trang 30)
Bảng 20. Số lượng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm cao su theo  d ạ ng s ả n ph ẩ m - thực trạng phát triển nghành hóa chất và khả năng nâng cao năng lực cạnh trạnh thông qua tăng cường khai thác các yếu tố liên quan tới thương mại
Bảng 20. Số lượng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm cao su theo d ạ ng s ả n ph ẩ m (Trang 38)
Bảng 21. Số lượng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm cao su   theo lo ạ i hình kinh t ế - thực trạng phát triển nghành hóa chất và khả năng nâng cao năng lực cạnh trạnh thông qua tăng cường khai thác các yếu tố liên quan tới thương mại
Bảng 21. Số lượng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm cao su theo lo ạ i hình kinh t ế (Trang 39)
Sơ đồ dưới đây mô tả cơ cấu và năng lực sản xuất các sản phẩm chất tẩy rửa theo  vùng lãnh th ổ - thực trạng phát triển nghành hóa chất và khả năng nâng cao năng lực cạnh trạnh thông qua tăng cường khai thác các yếu tố liên quan tới thương mại
Sơ đồ d ưới đây mô tả cơ cấu và năng lực sản xuất các sản phẩm chất tẩy rửa theo vùng lãnh th ổ (Trang 45)
Bảng 28. Số doanh nghiệp Sơn theo dạng sản phẩm chủ yếu - thực trạng phát triển nghành hóa chất và khả năng nâng cao năng lực cạnh trạnh thông qua tăng cường khai thác các yếu tố liên quan tới thương mại
Bảng 28. Số doanh nghiệp Sơn theo dạng sản phẩm chủ yếu (Trang 48)
Bảng dưới đây liệt kê  các nguyên liệu, sản phẩm hoá dược chiết xuất từ  dược  liệu và bán tổng hợp - thực trạng phát triển nghành hóa chất và khả năng nâng cao năng lực cạnh trạnh thông qua tăng cường khai thác các yếu tố liên quan tới thương mại
Bảng d ưới đây liệt kê các nguyên liệu, sản phẩm hoá dược chiết xuất từ dược liệu và bán tổng hợp (Trang 54)
Bảng 42. Tình hình tiêu thụ thuốc BVTV trong các năm từ 2006 - 2010  t ạ i Vi ệ t Nam - thực trạng phát triển nghành hóa chất và khả năng nâng cao năng lực cạnh trạnh thông qua tăng cường khai thác các yếu tố liên quan tới thương mại
Bảng 42. Tình hình tiêu thụ thuốc BVTV trong các năm từ 2006 - 2010 t ạ i Vi ệ t Nam (Trang 72)
Bảng 46. Xuất khẩu các loại sản phẩm cao su - thực trạng phát triển nghành hóa chất và khả năng nâng cao năng lực cạnh trạnh thông qua tăng cường khai thác các yếu tố liên quan tới thương mại
Bảng 46. Xuất khẩu các loại sản phẩm cao su (Trang 83)
Bảng 49. Xuất khẩu sản phẩm chất tẩy rửa giai đoạn 2005-2010 - thực trạng phát triển nghành hóa chất và khả năng nâng cao năng lực cạnh trạnh thông qua tăng cường khai thác các yếu tố liên quan tới thương mại
Bảng 49. Xuất khẩu sản phẩm chất tẩy rửa giai đoạn 2005-2010 (Trang 87)
Bảng 52. Tình hình thực hiện GPS - thực trạng phát triển nghành hóa chất và khả năng nâng cao năng lực cạnh trạnh thông qua tăng cường khai thác các yếu tố liên quan tới thương mại
Bảng 52. Tình hình thực hiện GPS (Trang 89)
Bảng 57. Trị giá xuất nhập khẩu hóa chất - thực trạng phát triển nghành hóa chất và khả năng nâng cao năng lực cạnh trạnh thông qua tăng cường khai thác các yếu tố liên quan tới thương mại
Bảng 57. Trị giá xuất nhập khẩu hóa chất (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w