Trong khuôn khổ dự án "Hỗ trợ thực hiện Nghị quyết 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững 2011-2020 và Chương trình mục tiêu quốc gia về Giảm nghèo bền vững 2012-2015" nhằm hỗ trợ th
Trang 1"NGHIÊN CỨU CÁC MÔ HÌNH GIẢM NGHÈO CỦA CÁC ĐỐI
TÁC QUỐC TÊ Ở VIỆT NAM”
Trang 2Danh mục những từ viết tắt
ILO Tổ chức Lao động quốc tế
Bộ LĐTBXH Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội
SCJ Tổ chức Cứu trợ trẻ em Nhật Bản
SDC Tổ chức Hợp tác và Phát triển Thụy Sỹ
Trang 3Mục lục
Danh mục những từ viết tắt 2
Những phát hiện chính 5
Lời cảm ơn 6
1 Giới thiệu và tổng quan nghiên cứu 7
1.1 Bối cảnh và câu hỏi nghiên cứu 7
1.2 Phương pháp nghiên cứu 8
1.2.1 Lựa chọn, nghiên cứu sâu ba dự án 10
1.2.2 Rủi ro và hạn chế của nghiên cứu 10
1.3 Mô tả các đối tượng tham gia nghiên cứu 11
2 Nghiên cứu đánh giá 03 mô hình giảm nghèo của các tổ chức quốc tế 12
2.1 Mô hình sinh kế dựa vào chuỗi giá trị của tổ chức OXFAM 12
2.1.1 Phương pháp tiếp cận của mô hình 12
2.1.2 Thiết kế và xây dựng khuôn khổ hợp tác dự án 13
2.1.3 Kết quả và Tác động của dự án 15
2.1.4 Tính bền vững 16
2.1.5 Cách thức hỗ trợ trong và sau khi dự án kết thúc 17
2.1.6 Bài học kinh nghiệm 17
2.2 Mô hình tiết kiệm tín dụng vi mô của tổ chức Cứu trợ trẻ em Nhật Bản (SCJ) 19
2.2.1 Phương pháp tiếp cận của mô hình 19
2.2.2 Thiết kế và xây dựng khuôn khổ hợp tác dự án 21
2.2.3 Kết quả và tác động của dự án 22
2.2.4 Tính bền vững của mô hình 23
2.2.5 Cách thức hỗ trợ trong và sau khi dự án kết thúc 24
2.2.6 Bài học kinh nghiệm 25
2.3 Mô hình giảm nghèo dựa vào phát triển kinh doanh nhóm du lịch cộng đồng của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) 27
2.3.1 Phương pháp tiếp cận của mô hình 27
2.3.2 Thiết kế và xây dựng khuôn khổ hợp tác dự án 28
2.3.3 Kết quả và Tác động của dự án 30
2.3.4 Tính bền vững của mô hình 31
Trang 42.3.5 Cách thức hỗ trợ trong và sau khi dự án kết thúc 32
2.3.6 Bài học kinh nghiệm: 33
3 Đối chiếu phân tích các mô hình phi chính phủ và các mô hình giảm nghèo của các chủ thể khác 36
3.1 Phương pháp tiếp cận 37
3.2 Tác động và tính bền vững 39
3.3 Cách thức hỗ trợ 40
3.4 Lựa chọn đối tác triển khai 41
4 Kết luận và khuyến nghị 41
4.1 Lựa chọn mô hình cho các chương trình giảm nghèo quy mô vừa và nhỏ 42
4.2 Khuyến nghị với các chương trình giảm nghèo quốc gia 43
Danh mục tài liệu tham khảo 45
Phụ lục 1 Tài liệu tóm tắt dự án phát triển cây Mây- Oxfam- Tương Dương Nghệ An 46
Phụ lục 2 Tài liệu tóm tắt dự án tiết kiệm tín dụng SCJ- Yên Bái 63
Phụ lục 3 Tài liệu tóm tắt dự án phát triển du lịch ILO Quảng Nam 66
Phụ lục 4 Tóm tắt dự án Hỗ trợ sinh kế và đa dạng bản sắc dân tộc tại tỉnh Lào Cai- tổ chức Oxfam Anh 70
Phụ lục 5 Tài liệu tóm tắt dự án “Giảm nghèo thông qua Phát triển chăn nuôi Vùng miền núi phía Bắc Việt Nam (Pha 3) - PALD3” - SDC 79
Phụ lục 6 Tài liệu tóm tắt dự án “Phát triển cộng đồng thiểu số Raglai thông qua các giải pháp sinh kế và thị trường” 84
Trang 5Nghiên cứu đã làm rõ phương pháp tiếp cận, quy trình triển khai và kết quả tác động của từng dự
án trong những bối cảnh khác nhau Trong đó nổi bật là tình trạng đói nghèo ở mỗi vùng miền có đặc tính khác nhau và cần các phương pháp tiếp cận khác nhau; trong thực thi cần chú trọng tính
tự chủ của địa phương, sự tham gia của người dân và lựa chọn đối tác triển khai phù hợp Nghiên cứu cũng đã tiến hành đối chiếu so sánh với các dự án tương tự tiến hành cùng trong địa bàn bởi các chủ thể khác như các chương trình giảm nghèo quốc gia, chương trình và sáng kiến giảm nghèo của tỉnh Quá trình phân tích chỉ ra rằng, mô hình của các tổ chức quốc tế thành công hơn bởi họ tuân thủ các nguyên tắc của lý thuyết kinh tế, xây dựng động lực tham gia của các bên và trao quyền tự quyết cho người dân Các mô hình quốc tế cũng triển khai theo hướng nhỏ, chậm chắc và chú trọng về nâng cao năng lực so với các chương trình đại trà nhanh và thiếu kiểm tra đánh giá của nhà nước
Nghiên cứu đã đưa ra các lựa chọn cụ thể cho các chương trình giảm nghèo quy mô vừa và nhỏ cũng như khuyến nghị cho các chương trình giảm nghèo diện rộng ở Việt Nam
Trang 6Chúng tôi đánh giá cao sự hợp tác và đóng góp thông tin kịp thời của các cán bộ địa phương các tỉnh Quảng Nam, Nghệ An và Yên Bái, đặc biệt là lãnh đạo Ủy ban Nhân dân và các phòng ban hữu quan tại các huyện Tây Giang, Đông Giang, Trạm Tấu, Lục Yên, Tương Dương
Không có sự hỗ trợ của các đồng nghiệp và cán bộ của các tổ chức Oxfam, SCJ, ILO, UNDP, v.v chúng tôi đã không thể hoàn thành nghiên cứu này Chúng tôi đặc biệt cám ơn sự chia sẻ và chỉ dẫn nhiệt tình của anh Trần Xuân Cảnh, cán bộ tổ chức SC, chị Nguyễn Thị Huyền Đại diện
dự án ILO-SIT, anh Minh, chị Sâm, chị Chi tổ chức Oxfam
Nhóm nghiên cứu xin cảm ơn Văn phòng dự án PRPP đã hỗ trợ chúng tôi hoàn thành nghiên cứu này
Cuối cùng chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của nhóm biên tập gồm chị Thái Thu Hương và anh Bùi Văn Tuân trong quá trình xuất bản cuốn sách này
Nhóm tư vấn công ty Nghiên cứu và Phân tích VIETSURVEY
Nguyễn Đức Nhật (Trưởng nhóm)
Phạm Quang Trung
Trương Thanh Mai
Phạm Phương Hồng
Trang 71 Giới thiệu và tổng quan nghiên cứu
1.1 Bối cảnh và câu hỏi nghiên cứu
Nhằm mục đích thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung và chính sách giảm nghèo đặc thù theo Nghị quyết số 80/NQ-CP, Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo
bền vững GĐ 2012-2015 tập trung thực hiện 4 dự án: (i) Dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các
huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo; (ii) Dự án hỗ trợ đầu
tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu; các thôn, bản đặc biệt khó khăn; (iv) Dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo; (iii) Dự án hỗ trợ nâng cao năng lực giảm nghèo, truyền thông và giám sát đánh giá thực hiện chương trình Chiếu theo phân công của Thủ
tướng Chính phủ tại Quyết định 148 /QĐ-TTg, Bộ LĐTB XH có nhiệm vụ chủ trì xây dựng và
tổ chức thực hiện Dự án 1,3,4 và UBDT sẽ chủ trì xây dựng và tổ chức thực hiện Dự án 2
Trong khuôn khổ dự án "Hỗ trợ thực hiện Nghị quyết 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững (2011-2020) và Chương trình mục tiêu quốc gia về Giảm nghèo bền vững (2012-2015)" nhằm hỗ trợ thực hiện Nghị quyết 80 của Chính phủ Việt Nam về định hướng giảm nghèo bền vững 2011-2020 và Chương trình mục tiêu quốc gia về Giảm nghèo bền vững (2012-2015), nhóm nghiên cứu đã rà soát, thu thập thông tin, phân tích đối chiếu các mô hình giảm nghèo của các tổ chức phát triển quốc tế (tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ) nhằm trả lời các câu hỏi lớn sau đây: (i) xác định các mô hình sáng tạo và các bài học kinh nghiệm về giảm nghèo nhanh
và bền vững đã được áp dụng/thực hiện bởi các tổ chức phi chính phủ (NGOs) cả trong nước và quốc tế, các đối tác phát triển và cơ quan của Chính phủ và (ii) rà soát, đánh giá, lựa chọn các khuyến nghị chính sách phù hợp/khả thi nhất về các mô hình sáng tạo trong giảm nghèo của các NGOs, đối tác phát triển để áp dụng cho CTMTQG-GNBV
Sau quá trình tiến hành tổng quan tài liệu ban đầu, hai câu hỏi nghiên cứu lớn phát triển các câu hỏi nghiên cứu nhánh dưới đây:
Các dự án giảm nghèo của các tổ chức phát triển quốc tế có kết quả thành công ở Việt Nam đã xây dựng và triển khai dự án theo các phướng pháp tiếp cận nào?
Lý do nào để các dự án phát triển của họ có kết quả và duy trì bền vững?
Trang 8 Bài học thực tế giúp chính phủ định hình chính sách và triển khai xây dựng dự án giảm nghèo ở các quy mô khác nhau hiệu quả?
Với thời gian và nguồn lực của dự án, chúng tôi đã lựa chọn phương pháp nghiên cứu định tính
và phân tích lợi ích người hưởng lợi như trình bày dưới đây
1.2 Phương pháp nghiên cứu
Trước thực tế nhiều tổ chức quốc tế đã tham gia sâu rộng vào công tác giảm nghèo của Việt Nam trong thời gian qua, việc xây dựng một khung phân tích với những mục tiêu và bước đi cụ thể là cần thiết giúp nhóm nghiên cứu tập trung trả lời 03 câu hỏi nêu trên
Trên cơ sở rà soát các tài liệu và nghiên cứu gần đây như các báo cáo về mô hình giảm nghèo của Oxfam và Action Aid (2003, 2012, 2013) chúng tôi nhận thấy ở Việt Nam thực tiễn dự án đã
có nhiều nhưng phần lớn theo dạng liệt kê các hoạt động và kết quả dự án Các phân tích về lý do thành công của dự án phần nhiều bị cô lập trong khuôn khổ của một dự án, hiếm có tính khái quát, so sánh và đối chiếu với các dự án tương tự Điều này dẫn tới người đọc, các nhà hoạch định chính sách gặp khó khăn trong việc rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng chính sách, triển khai thực hiện các chương trình can thiệp giảm nghèo quốc gia
Lý do chúng tôi tìm thấy cho hạn chế nghiên cứu này là thiếu một khung phân tích có dạng khái quát hóa cao từ đó cho phép nhìn thấy sự giống và khác nhau giữa các dự án khác nhau, triển khai ở những địa bàn khác nhau
Trên cơ sở kiến thức và kinh nghiệm của nhóm nghiên cứu, kết hợp với các buổi trao đổi kỹ thuật với các chuyên gia UNDP, OXFAM, Dự án PRPP thuộc Bộ LĐTBXH và các đồng nghiệp tại VIETSURVEY, chúng tôi đề xuất và áp dụng khung phân tích sau cho dự án nghiên cứu này Bất kỳ dự án nào cũng có thể được xem xét từng khía cạnh theo khung phân tích dưới đây: Khung phân tích rà soát các dự án giảm nghèo của các tổ chức phát triển quốc tế ở Việt Nam
Phương pháp tiếp cận Rà soát và tổng kết lý thuyết kinh tế, phương pháp can
thiệp phát triển mà tổ chức phát triển theo đuổi
Trang 9Thiết kế và khuôn khổ xây dựng dự
án
Rà soát và tổng kết cách thức tổ chức thiết kế và xây dựng dự án
Kết quả và tác động dự án Ghi nhận đánh giá kết quả/tác động của dự án với góc
độ giảm nghèo ở bình diện chung và tăng thu nhập/tạo việc làm ở cấp độ hộ gia đình
Tính bền vững của dự án Đánh giá và phân tích thực tế các hoạt động và kết quả
dự án sau khi chấm dứt các can thiệp chính thức Cách thức hỗ trợ của dự án Phân tích đánh giá cách thức hỗ trợ của dự án với địa
phương và nhóm người hưởng lợi trong và sau khi dự án kết thúc
Trong khuôn khổ dự án này, nhằm mục đích rút ra các bài học chính sách chúng tôi chủ đích lựa chọn các dự án tại các địa bàn có khả năng so sánh với các dự án có can thiệp tương tự của Chính phủ Quá trình lựa chọn và phân tích tiến hành qua nhiều bước sử dụng chủ yếu phương pháp thu thập số liệu định tính (tổng quan tài liệu dự án, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung) với các bên liên quan, dựa trên khung phân tích nêu trên
Bước 1: Trên cơ sở kiến thức chuyên gia, rà soát các dự án phát triển trên các huyện nghèo (đối
tượng của các dự án giảm nghèo quốc gia) và các huyện lân cận (đối tượng chính của các tổ chức phát triển quốc tế)
Bước 2: Phỏng vấn sâu các cán bộ dự án phát triển quốc tế, tổng quan các tài liệu nhận được từ
các tổ chức này nhằm xác định danh mục các dự án thành công (có tác động giảm nghèo) và bền vững (địa phương đang tiếp tục các hoạt động sau khi dự án rút đi) Xây dựng hồ sơ tóm tắt các
dự án đã rà soát (được nêu tại phụ lục của báo cáo này) và xác định từ 3 đến 4 dự án thành công chuẩn bị nghiên cứu thực địa ở Bước 3
Bước 3: Phỏng vấn sâu cán bộ dự án từng thiết kế và thực thi các dự án đã được lựa chọn ở
Bước 2 Lên kế hoạch nghiên cứu thực địa, tiến hành phỏng vấn nhiều bên liên quan bao gồm cán bộ địa phương, đối tác địa phương và người hưởng lợi (người dân)
Trang 10Bước 4: Phỏng vấn các phòng ban cấp huyện phụ trách các dự án giảm nghèo quốc gia ở các
huyện lân cận hoặc trong cùng tỉnh Phỏng vấn người dân là đối tượng hưởng lợi của các dự án này
Bước 5: Nhập số liệu định tính, đối chiếu, phân tích và viết báo cáo
1.2.1 Lựa chọn, nghiên cứu sâu ba dự án
Bước 1 của nghiên cứu giúp nhóm nghiên cứu phân loại ra các nhóm dự án do các tổ chức NGOs quốc tế can thiệp bao gồm: các dự án tín dụng vi mô (tiết kiệm tín dụng, tín dụng đi kèm các chương trình mục tiêu); các dự án kết nối người nghèo với thị trường thông qua tăng cường năng lực trực tiếp, các dự án kết nối người nghèo với thị trường thông qua doanh nghiệp (cùng kinh doanh với người nghèo); các dự án hỗ trợ trực tiếp hoặc hỗ trợ tiếp cận nguồn lực và sinh kế; các
dự án hỗ trợ khó khăn và cứu trợ khẩn cấp
Trên cơ sở ý kiến chuyên gia, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn ba dự án để nghiên cứu sâu trong đó bao gồm dự án “Mô hình sinh kế dựa vào chuỗi giá trị” của tổ chức Oxfam, mô hình tiết kiệm tín dụng của tổ chức Cứu trợ trẻ em Nhật Bản (SCJ) và mô hình giảm nghèo dựa vào phát triển kinh doanh nhóm du lịch cộng đồng của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) Tiêu chí lựa chọn bao gồm:
Đặc trưng dự án/mô hình giảm nghèo: hướng tới tăng thu nhập, tạo việc làm cho người nghèo
Có một hoặc nhiều tính chất của các dự án rà soát trong bước 1
Có khả năng so sánh với các dự án tương tự của các chủ thể đầu tư (Trung ương, chính quyền tỉnh, tổ chức phát triển quốc tế, doanh nghiệp, v.v.) khác trong địa bàn của tỉnh, huyện
Sự sẵn sàng hợp tác của các tổ chức và đối tác địa phương về mặt thời gian
1.2.2 Rủi ro và hạn chế của nghiên cứu
Mặc dù đã cố gắng xây dựng một khung phân tích có cấu trúc và khả năng bao quát, tận dụng kiến thức chuyên gia, chúng tôi cần thừa nhận ngay trong phần phương pháp luận này những rủi
ro và hạn chế của nghiên cứu Thực tế công tác đánh giá tác động các dự án giảm nghèo ở Việt
Trang 11nam còn thiếu và yếu, với kiến thức còn hạn chế của mình, nhóm nghiên cứu sẽ không thể bao phủ hết các dự án phát triển và do vậy có thể để lọt một số dự án có bài học chính sách bổ ích Ngoài ra phần lớn các dự án phát triển của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ tiến hành ở quy mô vừa và nhỏ, tập trung vào các vùng nghèo nhưng có khả năng thay đổi Điều này dẫn tới khó khăn khi chính phủ muốn áp dụng các biện pháp tương tự với những vùng trũng về đói nghèo
Với nhận thức rõ ràng các rủi ro trên, chúng tôi cố gắng chỉ tập trung vào trả lời các câu hỏi của từng bước dựa trên những nguồn lực tốt nhất có thể và lựa chọn ra ba dự án tương đối thành công theo nghiên cứu của nhóm trình bày trong các chương sau với tham vọng đặt bước đầu quan trọng cho công tác rà soát và chia sẻ các bài học chính sách từ phía các dự án phát triển phi chính phủ quốc tế
Ngoài ra trong quá trình rà soát chúng tôi cũng nhận thấy nhiều dự án của các tổ chức phát triển quốc tế, tổ chức phi chính phủ cũng gặp những thất bại về kết quả, tác động, thậm chí còn không triển khai được các hoạt động của mình vì nhiều lý do khác nhau Tuy những dự án đó không phải đối tượng chính của nghiên cứu này, điều này cũng cho thấy một hàm ý chính sách cho chương trình giảm nghèo quốc gia cần quan điểm tiếp cận mở nhiều bên và linh hoạt trong từng
bối cảnh địa phương
1.3 Mô tả các đối tượng tham gia nghiên cứu
Trong nghiên cứu này có 4 nhóm đối tượng tham gia nghiên cứu bao gồm i) nhóm các cán bộ tổ chức phát triển quốc tế đã thiết kế quản lý các dự án can thiệp giảm nghèo, ii) nhóm cán bộ chính quyền địa phương ở các địa bàn dự án, iii) nhóm các cán bộ tổ chức đoàn thể địa phương là đối tác triển khai và thực thi dự án và iv) nhóm người dân với tư cách là người hưởng lợi trực tiếp của dự án
Nhóm cán bộ tổ chức phát triển quốc tế là những chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển đã tham gia thiết kế, quản lý, vận hành đánh giá kết quả dự án của các tổ chức phát triển thuộc phạm vi nghiên cứu Nhóm cán bộ này là các chuyên gia/cán bộ chương trình nguyên cán bộ dự án đến từ nhiều tổ chức khác nhau bao gồm UNDP, DFID, SCJ, ILO, Oxfam (Oxfam
GB, Oxfam HongKong, Oxfam Netherland), SDC, Care, Helvetas, Action Aids, v.v.v Phỏng
Trang 12vấn sâu nhóm cán bộ này cung cấp những thông tin chủ chốt cho nghiên cứu này bao gồm cách tiếp cận, qui trình triển khai, đánh giá kết quả, lựa chọn và đánh giá đối tác
Nhóm cán bộ chính quyền địa phương bao gồm cán bộ Ủy ban nhân dân và các phòng ban liên quan tại các huyện triển khai dự án Nhóm cán bộ này bao gồm lãnh đạo Ủy ban huyện, xã, lãnh đạo các phòng như LĐTBXH, Nông nghiệp, Kế hoạch, Văn phòng các dự án giảm nghèo huyện, v.v.tại 03 tỉnh Yên Bái, Nghệ An, Quảng Nam Các cán bộ địa phương cung cấp thông tin về thực tế triển khai, đối chiếu so sánh các mô hình trên cùng địa bàn cũng như thông tin bổ sung về kết quả và tác động từ góc nhìn quản lý địa phương
Nhóm đại diện các tổ chức phi chính phủ trong nước, đoàn thể là đối tác triển khai địa phương của 03 dự án tiến hành nghiên cứu thực địa Nhóm này cho biết thông tin về cách thức triển khai
dự án, kết nối với người dân và thông tin về lựa chọn đối tác
Cuối cùng nhóm người thụ hưởng trực tiếp của dự án bao gồm người dân tại ba dự án nghiên cứu Thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, người dân cung cấp những thông tin về thực
tế triển khai các hoạt động can thiệp và kết quả dự án, những tác động giảm nghèo thực sự đến cuộc sống của họ
2 Nghiên cứu đánh giá 03 mô hình giảm nghèo của các tổ chức quốc tế
2.1 Mô hình sinh kế dựa vào chuỗi giá trị của tổ chức OXFAM
2.1.1 Phương pháp tiếp cận của mô hình
Mô hình giảm nghèo của Oxfam dựa trên lý thuyết phát triển sinh kế theo hướng xây dựng chuỗi giá trị với các can thiệp về mặt thị trường Cơ sở của lý thuyết này xuất phát từ bối cảnh hộ gia đình thường có mức độ và khả năng tiếp cận thị trường kém nhất Khi không tiếp cận được thị trường, khả năng tiếp cận và phát huy các nguồn lực của hộ nghèo cũng giảm đi đáng kể Để thực hiện được chiến lược này, OXFAM đã thiết lập và hỗ trợ quan hệ đối tác giữa chính quyền
và người dân địa phương triển khai thực hiện hoạt động dự án Trên cơ sở những kết quả thực tế, tạo ra những thay đổi và tác động đến phương pháp, quy trình hoạch định chính sách, quy hoạch nguồn lực và giúp chính quyền địa phương có thể nhân rộng mô hình
Trang 13Cụ thể, phương pháp tiếp cận của OXFAM đã dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
Giảm nghèo dựa trên đa dạng hóa sinh kế, tạo công ăn việc làm và thu nhập nhưng vẫn đảm bảo, tôn trọng và phát triển các văn hóa truyền thống của địa phương cũng như phải đảm bảo tiêu chí bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng bền vững
Dự án dựa trên phát triển thị trường vì người nghèo – do vậy xác định được thị trường sản phẩm đầu ra mới hỗ trợ sản xuất Do vậy, cần nghiên cứu kỹ thị trường sản phẩm đầu
ra trước khi quyết định hỗ trợ sản xuất
Không hỗ trợ tài chính theo hình thức cho không mà chỉ hỗ trợ nhỏ giai đoạn đầu và phải kết hợp với xây dựng năng lực cho người dân, tạo liên kết thị trường đầu ra để đảm bảo
mô hình phát triển lâu dài và bền vững
Phân cấp quản lý và áp dụng cơ chế giám sát cộng đồng có sự tham gia Dự án được xây dựng với sự tham gia của nhiều bên, từ các cấp chính quyền, các tổ chức tài chính, tổ chức chuyên môn và người dân Người dân tham gia dưới dạng tổ nhóm, liên kết cộng đồng
Lồng ghép vào mục tiêu phát triển của quốc gia, của địa phương
Dự án hỗ trợ và phát triển chuỗi cung ứng vật liệu và sản phẩm cây mây ở Tương Dương đã được thiết kế và thực hiện theo các nguyên tắc trên
2.1.2 Thiết kế và xây dựng khuôn khổ hợp tác dự án
Dự án được xây dựng dựa trên các đặc điểm về sinh kế, xã hội, tiềm năng thị trường, các điều kiện đất đai, khí hậu tại địa phương cân nhắc nhu cầu và tập quán trồng trọt của người dân Tổ chức OXFAM kết hợp với tổ chức VIRI, chính quyền địa phương đã thực hiện khảo sát, thu thập và nghiên cứu thị trường địa phương trước khi đề xuất các hoạt động dự án Từ các kết quả khảo sát đó, dự án đã nhận được sự ủng hộ của chính quyền các cấp, các tổ chức phát triển khác,
và quan trọng hơn cả sự tham gia của người dân địa phương Các bước chính để triển khai thành công dự án bao gồm:
Trang 14Bước 1: Lựa chọn dự án/ngành hàng
Trước khi triển khai dự án, OXFAM và VIRI đã thực hiện nghiên cứu đánh giá tiềm năng thị trường và các điệu kiện đất đai, khí hậu của địa phương và nghiên cứu đánh giá nhu cầu sản xuất của người dân và lập kế hoạch có sự tham gia của các bên liên quan tại các địa bàn dự án
Từ bước này, OXFAM và VIRI đã xây dựng được mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện của địa phương đồng thời nhận được sự đồng thuận của các bên do có sự tham gia của họ ngay từ khâu chuẩn bị và thiết kế dự án
Cụ thể trong dự án mây, cây mây là cây phù hợp với đất đai và khí hậu ở Tương Dương, có thể mọc ở đất đồi dốc cũng như đất vườn, là những tài nguyên sẵn có tại địa phương Hơn nữa, việc chăm sóc mây và vườn ươm mây không yêu cầu quá nhiều kỹ thuật phức tạp và cũng không chiếm quá nhiều thời gian của người nông dân, đặc biệt phù hợp với phụ nữ, do đó họ vẫn có thể kết hợp làm các công việc khác như chăn nuôi hay trồng trọt các loại cây lương thực để tăng thêm thu nhập cho gia đình
Bước 2: Thiết kế các biện pháp can thiệp
OXFAM, VIRI cùng các bên liên quan như chính quyền địa phương, Phòng Nông nghiệp và người dân sẽ cùng nhau tham gia xây dựng kế hoạch thực hiện dự án, xây dựng các chương trình tập huấn, tài liệu hướng dẫn cho người dân phù hợp với nhu cầu và điều kiện của người dân Đồng thời, ở bước này sẽ thành lập các nhóm sản xuất, tổ chức các lớp tập huấn và hội thảo công
bố lấy ý kiến của các bên
Ngoài ra, OXFAM và Phòng Nông nghiệp huyện cùng tham gia đánh giá hoạt động và hiệu quả
dự án, tổ chức các hội thảo chia sẻ kinh nghiệm với sự tham gia của các bên và người dân, và lồng ghép các hoạt động để nhân rộng dự án
Bước 3: Xây dựng ngân sách thực hiện dự án
Năm đầu tiên dự án sẽ nhận được hỗ trợ về tài chính chủ yếu từ OXFAM, người dân sẽ có trách nhiệm góp vốn bằng sức lao động và thời gian Sang đến năm thứ hai trở về sau, sẽ huy động được nhiều hơn vốn đóng góp từ địa phương, từ vốn sẵn có của người dân và các tổ chức liên quan
Trang 15Bằng cách huy động các nguồn vốn bên ngoài, OXFAM không bị áp lực về mặt tài chính, đồng thời sẽ tăng được sự liên kết, tham gia của các bên vào quá trình thực hiện dự án Nhờ đó, việc xây dựng dự án trong dài hạn cũng được thuận lợi và dễ dàng hơn
Bước 4: Triển khai thực hiện dự án
Tổ chức thực hiện sẽ phối hợp cùng với chính quyền địa phương tổ chức các buổi họp phổ biến cho người dân để người dân tham gia đóng góp ý kiến, đăng ký tham gia dự án, trên cơ sở đó kiểm tra thực tế và chụp ảnh toàn bộ diện tích đất hộ gia đình hiện có phù hợp để thực hiện mô hình không Như vậy, việc tham gia dự án là tự nguyện có sự đánh giá, giám sát của tổ chức thực hiện và chính quyền địa phương Sau khi chọn được các hộ phù hợp, các nhóm nông dân cùng sở thích được thành lập và cùng tham gia vào xây dựng kế hoạch hoạt động của dự án, huy động các kiến thức bản địa và đóng góp tại chỗ của người dân tham gia dự án
VIRI xây dựng tài liệu tập huấn và triển khai tập huấn tiểu giáo viên và tập huấn mở rộng cho người dân, xây dựng mô hình điểm làm Trường thực địa tổ chức tập huấn, tổ chức hội thảo, hoạt động liên kết thị trường, tìm kiếm các đối tác thu mua
Phòng Nông nghiệp và Ban Phát triển nông thôn miền núi huyện phối hợp cùng VIRI triển khai thực hiện hoạt động, tham mưu UBND huyện xây dựng các quy định chính sách phát triển ngành mây và lồng ghép vào các chương trình phát triển nông thôn của huyện
2.1.3 Kết quả và Tác động của dự án
Tính đến thời điểm khảo sát, tuy dự án chưa kết thúc nhưng nhờ có sự nghiên cứu kỹ về bối cảnh địa phương, con người trước khi thực hiện đồng thời trong quá trình thực hiện, dự án đã nhận được sự quan tâm, giám sát chặt chẽ từ phía chính quyền địa phương và các tổ chức trong và ngoài nước, nên đã thu được những kết quả khả quan bước đầu
Kết quả đầu tiên mà dự án đem lại là người dân tham gia vào mô hình có việc làm ổn định, có thêm thu nhập, được dạy các kiến thức, kỹ năng mới để phát triển sản xuất dựa trên các điều kiện sẵn có tại địa phương, từ đó họ có cơ sở để phát triển sinh kế bền vững Dự án đã thành lập được các mô hình trồng mây tự quản, các bản làng nghề làm mây, tạo ra sự gắn kết giữa các hộ, giữa những người trồng mây, làm mây với nhau và với dự án, từ đó giúp thay đổi được nhận thức, ý
Trang 16thức về sự tham gia của người dân Các hộ hưởng lợi và lãnh đạo các cấp đều mong muốn dự án tiếp tục được đầu tư và mở rộng, không chỉ ở vùng dự án mà đối với cả các khu vực xung quanh Thứ hai, dự án đã tạo ra
mối liên kết thị trường
giữa người nông dân trồng
mây, người chế biến mây
và với các doanh nghiệp
thu mua mây Dự án đã
xây dựng được một chuỗi
giá trị liên tục từ khâu sản
xuất tới khâu tiêu thụ, từ
Mô hình trồng và làm mây giảm nghèo ở huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
Trang 17trường tự nhiên sẵn có của địa phương Dự án là của người dân, công việc phải do người dân làm
và luôn có cán bộ dự án “đứng bên cạnh” sẵn sàng giúp đỡ khi người dân cần
Hai là, dự án đã bước đầu tạo được các liên kết thị trường giữa người sản xuất và các doanh nghiệp thu mua, nếu những liên kết này được duy trì và mở rộng sẽ tạo được điều kiện để người nghèo có thể phát triển sinh kế bền vững
Ba là, dự án bền vững ở khía cạnh môi trường khi cây mây hoàn toàn phù hợp với điều kiện của địa phương, trong khi không làm ảnh hưởng tới đất nông nghiệp, giúp bảo vệ môi trường sống của người dân
2.1.5 Cách thức hỗ trợ trong và sau khi dự án kết thúc
Mô hình giảm nghèo được xây dựng dựa trên chiến lược giảm nghèo dựa vào phát triển sinh kế thông qua liên kết thị trường của OXFAM Trong đó, hỗ trợ lớn nhất từ OXFAM là hỗ trợ về mặt tài chính, đồng thời OXFAM cũng là cơ quan đứng ra liên kết người dân với chính quyền địa phương và các tổ chức khác để thực hiện dự án
Bên cạnh đó, dự án cũng nhận được sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật của tổ chức VIRI, và các hỗ trợ về thủ tục hành chính của địa phương Đồng thời, dự án cũng tạo ra các mối liên kết thị trường để kết nối người nghèo với doanh nghiệp, giúp họ có đầu ra cho các sản phẩm của mình Dự án cũng đã kêu gọi được thêm những hỗ trợ khác về mặt kỹ thuật cũng như vốn tài chính từ các tổ chức quốc tế khác để đảm bảo mô hình được duy trì và nhân rộng
2.1.6 Bài học kinh nghiệm
Từ những thành công và hạn chế mà nhóm nhìn thấy qua quá trình nghiên cứu dự án, một số bài học kinh nghiệm có thể được đưa ra:
Trang 18Trong trường hợp dự án của OXFAM, vùng dự án được chọn là huyện Tương Dương, là nơi có nhiều đất đồi, phù hợp với việc trồng mây, lại có nhiều người dân tộc thiểu số sinh sống với trình
độ dân trí không cao trong khi đó hoạt động trồng mây lại tương đối đơn giản nên người dân vẫn
dễ dàng học được các kỹ thuật trồng mây, chế biến mây
Từ dự án phát triển cây mây có thể thấy, mô hình nên được xây dựng theo hướng tập trung, không thực hiện phân tán sẽ gây khó khăn trong hoạt động giám sát, quản lý cũng như hoạt động thu mua sản phẩm Ngoài ra, trong quá trình thực hiện dự án, cần quan tâm tới đặc điểm của từng vùng riêng biệt để có thể điều chỉnh giống cây, hình thức canh tác, kỹ thuật chăm sóc sao cho phù hợp và hiệu quả nhất
Đối với dự án mây nói riêng, chất lượng các sản phẩm về mây chưa cao do tay nghề người sản xuất còn hạn chế nên giá thành sản phẩm mây thấp, các sản phẩm bán ra chủ yếu là sản phẩm thô, chưa qua chế biến Do đó, cần quan tâm hơn nữa vào việc tập huấn, hỗ trợ các loại máy móc cần thiết, tăng cường hướng dẫn người dân trong khâu chế biến và sản xuất
Lựa chọn đối tác
Các cơ quan liên quan phải phối hợp chặt chẽ để các bước từ khâu đầu vào đến khâu đầu ra được thực hiện đồng loạt, kịp thời, không gây tổn thất cho người tham gia cũng như cho dự án Cần có các cơ quan chuyên môn tham gia vào quá trình thực hiện dự án, nghiệm thu sản phẩm để đảm bảo dự án thực hiện có hiệu quả và chất lượng
Cán bộ thực hiện dự án phải là những người có quan hệ gần gũi với người dân để hiểu được nhu cầu, nguyện vọng của người dân và kịp thời nắm bắt được những khó khăn, hạn chế mà người dân cũng như dự án gặp phải trong quá trình thực hiện để đưa ra giải pháp xử lý phù hợp
Cơ chế quyền lợi/giám sát giữa các bên
Tăng cường trao quyền cho địa phương, tạo sự tham gia, tăng cường tiếng nói của người nghèo vào dự án Đồng thời phải có sự giám sát chặt chẽ từ phía dự án để đảm bảo các hoạt động của
dự án được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, đúng với các tiêu chí đặt ra ban đầu
Tăng cường cam kết giữa chính quyền địa phương, các bên liên quan và người dân, đồng thời người dân cũng cần được trao quyền tham gia, giám sát các cán bộ tổ chức, các cơ quan liên
Trang 19quan để đảm bảo quyền lợi cho người dân, tạo điều kiện thuận lợi về chính sách, về quy mô thị trường để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với nguồn nguyên liệu mây và sản phẩm mây tre đan từ người dân Đối với dự án mây, giai đoạn đầu mây còn ít, để tiêu thụ được cần có các chính sách
hỗ trợ các doanh nghiệp thu mua mây với khối lượng ít, ví dụ như hỗ trợ cước vận chuyển để khuyến khích được cả bên mua và bên bán
Lồng ghép và tranh thủ sự ủng hộ của địa phương
Dựa vào cuộc chủ động, tích cực của chính quyền địa phương, chỉ đạo thống nhất, thường xuyên của lãnh đạo huyện và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan: các phòng ban chuyên môn của huyện, chính quyền các xã, thôn/bản và đơn vị tư vấn kỹ thuật trong việc tổ chức thực hiện các hoạt động của dự án là yếu tố tiên quyết đến kết quả thực hiện dự án
Từ dự án mây, có thể thấy được địa phương cần chủ động xây dựng chiến lược phát triển ngành hàng và quy hoạch phát triển các vùng nguyên liệu hàng hóa tập trung trên địa bàn, đưa chương trình vào quy hoạch, chủ trương phát triển của địa phương Đồng thời, cần tổ chức hội thảo cấp tỉnh nhằm đánh giá vai trò kinh tế của ngành hàng được chọn, xúc tiến ngành hàng sản xuất, có
sự tham gia của các cơ quan chuyên môn liên quan, riêng với dự án mây cần có sự tham gia của hiệp hội thủ công mỹ nghệ và doanh nghiệp tiềm năng
Ngoài ra, mô hình giảm nghèo này được lồng ghép với các chương trình, dự án giảm nghèo của quốc gia cũng như của địa phương nên đã nhận được sự ủng hộ từ phía chính quyền địa phương
Để có được sản phẩm phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường, các chương trình mục tiêu quốc gia, khuyến nông, khuyến công cần phối hợp hỗ trợ sản xuất, chế biến, tạo liên thị trường cho tới khi tạo ra sản phẩm cuối cùng
2.2 Mô hình tiết kiệm tín dụng vi mô của tổ chức Cứu trợ trẻ em Nhật Bản (SCJ)
2.2.1 Phương pháp tiếp cận của mô hình
Để giải quyết vấn đề đói nghèo, cần có đủ 5 điều kiện: tăng trưởng kinh tế, phân phối công bằng
về nguồn lực (đất đai), ổn định về chính trị, bền vững về tài nguyên và sự tham gia vào người nghèo Chiến lược tiếp cận của tổ chức Cứu trợ Trẻ em Nhật Bản (Save the Children- SCJ) là đẩy mạnh sự tham gia của người nghèo thông qua các chương trình tài chính vi mô dựa trên
Trang 20nguyên tắc “tín dụng là chiếc vé để người nghèo được tham gia trong quá trình phát triển ở Việt Nam”1 Thông qua hợp tác và trao quyền quản lý và triển khai cho địa phương cụ thể là Hội Phụ
nữ, tổ chức Cứu trợ Trẻ em Nhật Bản đã triển khai thành công mô hình tiết kiệm tín dụng vi mô tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Qua phỏng vấn sâu với cán bộ dự án, cán bộ tại địa phương, người hưởng lợi và nghiên cứu tài liệu thứ cấp, nhóm nghiên cứu đã rút ra được những nguyên tắc chính đáng sau can thiệp của tổ chức Cứu trợ trẻ em Nhật Bản:
Tổ chức đã can thiệp thông qua chương trình tiết kiệm tín dụng dựa trên cơ sở kinh tế học: Người nghèo có khả năng kinh doanh sinh lời đạt được lợi nhuận trên mỗi đơn vị vốn lớn hơn người khá giả và sẵn sang trả lãi vay cao hơn cho những khoản tín dụng từ ngân hàng (Milford Bateman)
Giảm nghèo thông qua thúc đẩy sự tham ra chủ động của người nghèo, tăng tính trách nhiệm của người nghèo Giá trị mỗi khoản vay chỉ từ 500,000 đến 2,000,000 đồng và phải trả cả tiền gốc và lãi hàng tháng thúc đẩy các hộ gia đình chăm chỉ hơn, có tính toán cụ thể để đảm bảo trả nợ hàng tháng
1 Trẻ em, Phụ nữ và Dịch vụ Tài chính cho người nghèo ở huyện Cẩm Xuyên- Nguyên giám đốc SC/UK)
Trang 21Tăng cường gắn kết cộng đồng và tận dụng nguồn lực tại địa phương thông qua thành lập các nhóm vay nhằm tăng sự tham gia và giảm thiểu rủi ro mất vốn2 Việc tận dụng nguồn lực địa phương đảm bảo sự minh bạch, công bằng và dân chủ cũng như quy trình tự giám sát
Trao quyền làm chủ và quản lý về địa phương và áp dụng cơ chế giám sát của cộng đồng Địa phương chủ động lập kế hoạch, giải quyết khó khăn, làm chủ những thành tựu của dự án dựa trên
sự hỗ trợ về tài chính ban đầu và kỹ thuật của dự án
2.2.2 Thiết kế và xây dựng khuôn khổ hợp tác dự án
Dự án này là một phần của chương trình dinh dưỡng tổng hợp gồm 4 hợp phần:
Hợp phần tín dụng tiết kiệm
Hợp phần dinh dưỡng trẻ em
Hợp phần chăm sóc thai nghén
Hợp phần An ninh thực phẩm hộ gia đình
Chương trình được thực hiện theo 2 giai đoạn:
Từ 2003-2008: Thực hiện 3 hợp phần: hợp phần dinh dưỡng trẻ em, chăm sóc thai nghén
Với mục đích duy trì bền vững cho các hoạt động khác trong chương trình, địa phương có quyền quản lý và triển khai hợp phần tiết kiệm tín dụng Cụ thể, chính quyền địa phương và tổ chức
2
Trong dự án tín dụng tiết kiệm của SCJ, hoạt động tiết kiệm- vay vốn được thực hiện thông qua các nhóm vay tại địa phương, thành lập trên nguyên tắc tự nguyện, mỗi nhóm khoảng 5-7 người Do vậy, việc lựa chọn đối tượng cho vay trong nhóm, kiểm soát vốn vay và tiết kiệm rất minh bạch Ngoài ra, các thành viên cũng hộ trợ, giám sát nhau trong việc sử dụng vay vốn và giải quyết các khó khăn trong sản xuất
Trang 22SCJ phối hợp thành lập Ban quản lý dự án với Hội Phụ nữ huyện, hội phụ nữ các xã làm nòng cốt Cán bộ triển khai hoạt động dự án đặt tận cấp cơ sở, mỗi thôn có 1 tình nguyện viên
Vai trò của tổ chức SCJ trong việc thực hiện dự án tiết kiệm tín dụng như sau:
Cung cấp nguồn tài chính (vốn vay và các kinh phí hỗ trợ khác)
Hỗ trợ về mặt kỹ thuật, tổ chức các khóa đào tạo tập huấn: tập huấn về sổ sách, quản lý
dự án, …
Giám sát đánh giá chương trình
Ban đầu hợp phần tiết kiệm tín dụng tại địa phương gặp phải sự phản đối của cấp lãnh đạo địa phương và khó vận động được sự tham gia của địa phương do nghi ngờ khả năng thành công của dự án3 Tuy nhiên với sự điều phối, hợp tác và quyết tâm của hội Phụ nữ huyện Lục Yên, và quá trình nâng cao hiểu biết lợi ích của tiết kiệm tín dụng vi mô thông qua đào tạo, dự án đã tìm kiếm được sự đồng thuận của lãnh đạo địa phương và tin tưởng của người dân Hoạt động hiệu quả và sâu sát của hội phụ nữ gợi ý họ là một trong những đối tác tin cậy và hiệu quả tại địa phương
2.2.3 Kết quả và tác động của dự án
Từ năm 2008 đến nay, sau khi tổ chức SCJ rút khỏi địa bàn dự án, dự án tiết kiệm tín dụng đã được địa phương thực hiện hiệu quả đúng như mục tiêu ban đầu đề ra Trong 5 năm qua, dự án với tổng dư nợ hiện tại là 1,8 tỷ so với vốn cấp ban đầu là 1,02 tỷ đồng đã đạt được những thành công bền vững với những thành quả cụ thể dưới đây:
Thứ nhất, mô hình đã góp phần xóa đói giảm nghèo tại huyện Lục Yên Với số vốn vay nhỏ (1-2 triệu) nhưng đã giúp 83 hội viên phụ nữ thoát nghèo và 645 trẻ em suy dinh dưỡng được hồi phục và thoát khỏi tình trạng suy dinh dưỡng 4 Đây là thành công lớn của dự án so với nhiều dự
án giảm nghèo khác trong việc hoàn thành được mục tiêu giảm nghèo và giải ngân dự án
Trang 23Thứ hai, mô hình tiết kiệm tín dụng này đã giúp duy trì bền vững 3 hợp phần: dinh dưỡng trẻ em, chăm sóc thai nghén, an ninh thực phẩm hộ gia đình từ một phần lãi suất của các khoản vay Từ khi dự án rút đi, nhiều hộ gia đình đã có vườn rau quy củ, đầy đủ dinh dưỡng, bữa ăn gia đình được cải thiện đáng kể Hoạt động chăm sóc phụ nữ có thai vẫn được tổ chức định kỳ
Thứ ba, mô hình đã giúp
thay đổi nhận thức của
người dân về giảm nghèo,
rèn luyện cho người dân
tính cần cù, tiết kiệm để
phát triển kinh tế, phát
triển trách nhiệm cao nhất
đối với bản thân người
vay Để phát triển sản xuất
(chăn nuôi, trồng trọt, buôn
bán nhỏ) người dân phải
thêm vốn của họ vào
khoản được vay giúp họ có
trách nhiệm hơn với hoạt
động sản xuất của bản thân Thành công này đặt ra hoài nghi
về tính hiệu quả của những khoản cho vay lớn hoặc không hoàn lại mà nhiều tổ chức đang áp dụng đối với người nghèo
Thứ tư, năng lực cán bộ của hội phụ nữ từ cấp huyện đến cấp cơ sở được nâng cao Thông qua tập huấn, các bộ cấp cơ sở có thể tự quản lý và duy trì dự án một cách bền vững
Thứ năm, dự án là một mô hình về tính minh bạch, dân chủ, có sự tham gia trực tiếp và chủ động của người nghèo Người nghèo, phụ nữ nghèo được thông báo về các khoản vay, khoản tiết kiệm, cơ chế lựa chọn đối tượng cho vay, có tiếng nói trong cả quá trình Đây là điểm khác biệt lớn giữa dự án của SCJ và nhiều chương trình của nhà nước, như 30A- người dân hoàn toàn bị động trong cơ chế vay
Trang 24Các nguyên tắc và lý thuyết kinh tế về tiết kiệm tín dụng được triển khai và tuân thủ nghiêm túc Điều này làm tổng dư nợ ngày càng tăng, vốn được bảo toàn cùng với sự mở rộng của số lượng người vay Hoạt động tín dụng hiệu quả tự bản thân làm dự án phát triển bền vững
Cơ chế cho vay minh bạch, có sự giám sát và tiếng nói của người dân Phụ nữ tham gia các tổ nhóm tín dụng chính là người chủ của dự án chứ không phải chính quyền hay tổ chức quốc tế Thực tế, dù tổ chức SCJ đã chuyển giao toàn bộ các hoạt động và phần vốn đầu tư ban đầu cho Hội phụ nữ và Ban quản lý dự án, các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật và tư vấn vẫn còn tiếp tục một thời gian dài sau khi dự án kết thúc
Cam kết chính trị và tham gia sở hữu, giám sát mọi mặt dự án của các bên liên quan tại địa phương, bao gồm hội phụ nữ, Ủy ban nhân dân xã và đặc biệt là các tổ nhóm phụ nữ các thôn sau khi được chuyển giao dự án
2.2.5 Cách thức hỗ trợ trong và sau khi dự án kết thúc
Hội phụ nữ không cho vay trực tiếp đến từng cá nhân mà được thực hiện thông qua các nhóm vay, được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện Các thành viên trong nhóm được vay một khoản tiền nhỏ và tăng dần theo thời gian và vòng vay, ban đầu chỉ từ 500.000 đồng tăng dần lên mức 1-2 triệu, tối đa không quá 3 triệu Đến nay phần lớn phụ nữ ở các xã dự án đã vay và trả nợ thành công đến hàng chục vòng, và có các khoản tiết kiệm lên đến tiền triệu Thành công của dự
án và nhiều tài liệu cho thấy, cho vay một khoản tiền nhỏ là phù hợp đối với người nghèo:
Vốn vay không lớn nên dễ trả
Trả liên tục nên buộc hộ gia đình/phụ nữ phải có kế hoạch tiết kiệm
Dễ dàng được vay luôn khi trả xong
Vốn nhỏ nên đầu tư sản xuất nhỏ, hạn chế rủi ro
Mỗi tháng trả cả gốc và lãi nên cuối năm vẫn có lời mà không phải bán non sản phẩm để trả nợ như nhiều món vay của ngân hàng
Vay theo tổ nhóm nên cơ chế giám sát rủi ro và đảm bảo trả nợ vay hoạt động hiệu quả
Trang 25SCJ còn hỗ trợ tập huấn nâng cao năng lực về quản lý sổ sách (vay, tiết kiệm) cho cán bộ hội phụ
nữ các cấp tại địa phương, để họ có thể hoàn toàn làm chủ dự án sau khi dự án rút khỏi địa phương Cuối cùng SCJ giúp hội phụ nữ nâng cao vị thế và uy tín trong các tổ chức đoàn thể trên
cơ sở kỹ năng quản lý tài chính và vận hành dự án thành công
2.2.6 Bài học kinh nghiệm
Dự án tiết kiệm - tín dụng tại huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái là một trong số ít dự án thuộc tài chính vi mô thành công tại Việt Nam Có thể nói đây là một mô hình điển hình về thành công mà nhiều dự án, chương trình giảm nghèo khác có thể học hỏi Trong báo cáo này, nhóm nghiên cứu trình bày những khía cạnh đặc thù sau của dự án:
Lựa chọn vùng dự án:
Huyện Lục Yên có đầy đủ điều kiện để tham gia và thực hiện thành công dự án Thứ nhất, lãnh đạo huyện sẵn sàng đón nhận những ý tưởng, chương trình giảm nghèo mới cho địa phương Ban đầu lãnh đạo huyện rất hoài nghi về sự thành công của mô hình (lãi suất vay cao, vốn vay nhỏ, thời hạn vay ngắn), nhưng vẫn lắng nghe và chấp nhận ra quyết định cho hội Phụ nữ huyện thực hiện Ủy ban Huyện sẵn sàng điều chuyển đối tác nếu cần5
Sau khi nhận thấy hiệu quả của mô hình, lãnh đạo huyện đã cho phép mở rộng các xã tham gia vào dự án trong khi vẫn để Hội phụ
nữ toàn quyền làm chủ, không can thiệp hay đưa ra những quyết định không phù hợp với dự án Thứ hai, dự án đã chứng minh chọn hội phụ nữ làm đối tác triển khai là một quyết định chiến lược bởi hội phụ nữ các cấp nhiệt tình, trách nhiệm, chịu học hỏi các kỹ năng mới, hiểu biết kỹ gia cảnh người vay và hơn hết cam kết tham gia dự án lâu dài Hội phụ nữ đóng vai trò trung tâm trong quá trình vận động cơ quan chính quyền các cấp ủng hộ các hoạt động của dự án
Lựa chọn phương thức hỗ trợ:
Trong khi nhiều chương trình của nhà nước cho phép người dân vay những khoản tiền lớn, kỳ hạn dài không phát huy hiệu quả giảm nghèo, tổ chức SCJ đã hỗ trợ giảm nghèo thông qua các khoản vay nhỏ, thời hạn vay ngắn Thành công của dự án có thể cho thấy:
5 Đối tác ban đầu của dự án là Ủy ban Dân số Huyện
Trang 26Người nghèo phù hợp hơn với những khoản vay nhỏ Kinh nghiệm và quan sat của chính cán bộ
Ủy ban xã6
Khi vay những khoản tiền lớn, người dân với hiệu ứng ảo ảnh tiền mặt thường bị cám dỗ mua những tài sản không sinh lời Điều này luôn tạo ra những rủi ro với các khoản vay lớn, người nghèo với hoàn cảnh eo hẹp tài chính càng khó giải quyết được những rủi ro đối với các khoản vay này Những khoản vay không hoàn lại không có hiệu quả với người nghèo cũng vì hiệu ứng trên Ngoài ra những kiểu hỗ trợ không hoàn lại còn đi ngược với lý thuyết khuyến khích tiết kiệm nên càng không hiệu quả
Lựa chọn và nâng cao năng lực đối tác
Chìa khóa thành công cho mô hình tiết kiệm-tín dụng của SCJ tại huyện Lục Yên là lựa chọn hội phụ nữ để trao quyền quản lý dự án Tổ chức chọn hội phụ nữ làm đối tác vì hội là tổ chức đại diện trực tiếp của phụ nữ- đối tượng hưởng lợi chính từ mô hình Hội có tổ chức đầy đủ ở tất cả các cấp, và thành viên của hội một mặt là những người rất nhiệt tình, chịu khó và có trách nhiệm với công việc chung, mặt khác lại chính là những người đi vay và lo tài chính hàng ngày của gia đình Làm chủ dự án đồng nghĩa với việc hội phụ nữ phải tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình, sở hữu mọi thành quả cũng như rủi ro nếu có
Sự tham gia của người dân
Việc thành lập các nhóm nhỏ cho phép các thành viên tham gia thảo luận, ra quyết định đối với các vấn đề liên quan đến nhóm vay, bình xét đối tượng vay vốn, giám sát việc sử dụng vốn vay của các thành viên khác Ngoài ra, ban QLDA sẽ dễ dàng thu hồi vốn, lãi, huy động tiết kiệm thông qua các đầu mối là trưởng nhóm thay vì giao dịch trực tiếp với từng đối tượng vay
Theo anh Quảng, chủ tịch UBND xã Minh Xuân, một trong những xã thực hiện mô hình thành công nhất cho biết ngân hàng chính sách xã hội huyện cũng đã thử triển khai mô hình tiết kiệm tín dụng nhưng không thành công do thiếu sự quản lý, giám sát chặt chẽ7
và hơn hết thiếu tính dân chủ, minh bạch trong cơ chế, quy trình bình bầu xét duyệt đối tượng vay
6
Chủ tịch xã cho biết Ủy ban xã quản lý hoặc được cấp trên ủy thác quản lý nhiều chương trình giảm nghèo, cho vay tín dung lên đến hàng chục tỷ đồng Quan sát của ông cho thấy trừ 1,2 trương hợp cá biệt, còn chưa trường hợp nào vay lớn mà kinh doanh hiệu quả và trả được vốn vay
7 Có nhiều trường hợp người đi vay không trả được nợ nhìn thấy lãnh đạo xã là chạy trốn- phỏng vấn sâu ở Lục Yên
Trang 272.3 Mô hình giảm nghèo dựa vào phát triển kinh doanh nhóm du lịch cộng đồng của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)
2.3.1 Phương pháp tiếp cận của mô hình
Cùng nhằm mục tiêu giảm nghèo, Tổ chức Lao động thế giới (ILO) có cách tiếp cận khác biệt với nhiều tổ chức khác trong đó hợp tác ba bên giữa người dân với Chính quyền và doanh nghiệp đóng vai trò xương sống Cách tiếp cận của tổ chức này dựa trên những nguyên tắc và quy luật kinh tế đã được chứng minh hiệu quả rõ ràng:
Nguyên tắc 1: Giảm nghèo vừa là mục tiêu vừa là kết quả của quá trình tạo việc làm bền vững
cho các thành viên hộ gia đình nghèo
Nguyên tắc 2: Giảm nghèo thông qua tạo điều kiện thúc đẩy các nhân tố cơ bản còn thiếu cho
tăng trưởng kinh tế hộ nghèo là vốn và kỹ năng sản xuất kinh doanh (bao gồm cả kỹ năng lao động và tiếp cận thị trường)
Nguyên tắc 3: Đặt các hộ nghèo trong bối cảnh thực tế của cộng đồng Việc cấp vốn, nâng cao
năng lực do vậy được thiết kế dưới dạng hợp lực của chính quyền, doanh nghiệp và tổ chức hỗ trợ phát triển (ILO và đối tác)
Nguyên tắc 4: Xác định và duy trì động lực tham gia của các bên vào quá trình giảm nghèo Dự
án can thiệp do vậy cần làm rõ, điều phối và thúc đẩy động lực/quyền lợi của các bên đẩy mạnh
sự tham gia và đầu tư thực chất vào dự án
Nguyên tắc 5: Phân cấp quản lý về địa phương và áp dụng cơ chế giám sát của cộng đồng có
hiệu quả cao nhất Do vậy việc lựa chọn đối tác sẽ chú trọng các cơ quan địa phương và xây dựng cơ chế chính thức giữa cộng đồng, chính quyền và doanh nghiệp đảm bảo tính bền vững Phỏng vấn sâu và nghiên cứu tài liệu dự án ILO về phát triển du lịch trong đất liền tại Quảng Nam cho thấy các nguyên tắc trên được áp dụng triệt để và xuyên suốt
Trang 282.3.2 Thiết kế và xây dựng khuôn khổ hợp tác dự án
Các cấu phần và hoạt động của dự án ILO-SIT Quảng Nam được xây dựng hoàn toàn dựa trên nhu cầu và đồng thuận của các bên và và các cấp địa phương Cụ thể hơn, địa phương có nhu cầu nội tại trong việc cân bằng tăng trưởng và phân bổ thu nhập giữa khu vực duyên hải và các huyện quanh đường mòn Hồ Chí Minh Chính quyền địa phương coi việc phát triển du lịch trong đất liền là một chiến lược hiệu quả góp phần xóa nghèo và duy trì thu nhập bền vững cho các hộ nghèo và dân tộc thiểu số trong khu vực này Chính quyền địa phương và tổ chức ILO đã thảo luận, trao đổi và đồng thuận rằng điểm mấu chốt là thiếu hành lang pháp lý cho đầu từ công, đầu
tư tư nhân và thiếu một hình mẫu thành công kết nối cộng đồng các dân tộc trong khu vực với các hoạt động giảm nghèo bền vững Dự án được xây dựng qua 03 giai đoạn:
Giai đoan I: Xây dựng và duy trì hiệu quả mạng lưới các nhóm làm việc bao gồm
i) Các cơ quan hữu quan tại Quảng Nam như Ủy Ban nhân dân tỉnh, Ủy Ban nhân dân các huyên vùng dự án, Sở Kế hoạch đầu tư, Sở Tài chính, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, v.v…
ii) Các doanh nghiệp du lịch và khách sạn, hiệp hội du lịch, lữ hành bao gồm những nhà đầu tư tiềm năng vào du lịch cộng đồng, du lịch mạo hiểm
iii) Các nhà tài trợ trong nước và quốc tế khác
Việc thành lập và duy trì các nhóm công tác trên cơ sở gặp và thảo luận định kỳ, kết hợp với các buổi làm việc trực tiếp giữa lãnh đạo dự án với từng bên liên quan chính là chìa khóa thành công của dự án ILO Quảng Nam và nét khác biệt với các dự án khác Đây là bài học có giá trị với các
dự án giảm nghèo quốc gia có quy mô lớn hơn nhiều nhưng chưa tạo được động lực tham gia và điều phối hiệu quả
Giai đoạn II: Nâng cao năng lực, vận hành diễn đàn công tư và tìm kiếm nguồn lực đầu tư từ các
doanh nghiệp và chính quyền địa phương
Trong giai đoạn này, dự án đã đầu tư đáng kể vào việc kết nối các bên liên quan trong việc nâng cao nhận thức về mục đích chung của phát triển du lịch trong nội địa; tăng cường đào tạo nâng cao năng lực Khi các bên được trang bị các hiểu biết vững chắc và nhận thức đầy đủ về dự án và
Trang 29tác động của dự án, sự hợp tác và lắng nghe giữa các bên thuận lợi hơn rất nhiều Các sáng kiến đưa ra cũng nhận được sự ủng hộ của nhiều bên tạo tiền đề vững chắc cho các diễn đàn công tư tại tỉnh Quảng Nam Kết quả là một dự án quy mô nhỏ với vốn đầu tư trên dưới 2 triệu USD đã nhận được hỗ trợ về cơ chế chính sách toàn diện của Ủy ban tỉnh, các khoản đầu tư về hạ tầng được nhà nước đầu tư, kích thích các khoản đầu tư thực chất của khối tư nhân
Giai đoạn III: Triển khai các hoạt động cụ thể tại các huyện dự án, xây dựng mô hình du lịch
cộng đồng công bằng bền vững
Với sự chuẩn bị kỹ về nhận thức, kỹ năng và cam kết của các bên, giai đoạn III triển khai trong năm cuối của dự án diễn ra rất nhanh và hiệu quả với sự tham gia chặt chẽ của chính quyền huyện, xã và cộng đồng người Ktu ở địa phương
Các hoạt động nổi bật trong giai đoạn này bao gồm hoàn thành các đầu tư của chính quyền, cam kết bằng văn bản giữa doanh nghiệp và cộng đồng các thôn với sự chứng thực của chính quyền huyện xã Triển khai các hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, tập huấn người dân các kỹ năng và chuyên môn liên quan đến du lịch và dịch vụ hỗ trợ du lịch Đón khách du lịch và nắn chỉnh các khâu thực thi
Trang 30và trong nước đã biết đến
ngoài Hội An, các huyện
trong đất liền Quảng Nam
với các địa danh như
BoHoong, Droong (huyện
Đông Giang), Mỹ Sơn đã
có các dịch vụ du lịch trọn gói như du lịch mạo hiểm, lưu trú,
ăn uống, du lịch văn hóa, v.v
Thứ hai, mô hình du lịch cộng đồng tại khu vực các huyện dự án đã có kết quả cụ thể tạo việc làm và thu nhập cho các hộ gia đình địa phương thông qua đón nhận khách du lịch và cung cấp thường xuyên các dịch vụ đi kèm như ăn, hướng đạo, ca múa dân tộc Các điểm mô hình du lịch cộng đồng của dự án tại BoHoong, Droong và Mỹ Sơn từ khi mở cửa (khoảng 03 tháng) đã đón hàng trăm khách lưu trú và hàng nghìn khách sử dụng các dịch vụ du lịch trong ngày như ăn uống, hướng đạo và tham gia lễ hội văn hóa Các sản phẩm thổ cẩm của nhóm Droong bán chạy tại địa phương, tại Hội An và các hội chợ họ tham gia với thương hiệu Ktu Taya
Thứ ba, người dân địa phương tham gia thực chất vào mô hình du lịch cộng đồng với nhiều cấp
độ, có việc làm và thu nhập từ công việc của mình Các nhóm dịch vụ du lịch từ phục vụ ăn uống, cung cấp dịch vụ hướng đạo, dịch vụ lễ hội Ktu và phát triển hàng thổ cẩm hoàn toàn do các hộ dân địa phương tham gia và tổ chức Tiền thu được từ các dịch vụ này ngoài việc trả trực tiếp cho hộ dân tham gia còn trích một phần vào quỹ cộng đồng Các nhóm như nhóm nấu ăn, nhóm thổ cẩm, nhóm ca múa đều có lịch tham gia và phân công quyền lợi rõ ràng Các hộ dân và
Đồng bào Ktu: Dự án du lịch nội địa của ILO kết hợp sự tham gia của nhiều bên:
doanh nghiệp, địa phương và người dân
Trang 31nhóm lãnh đạo cộng đồng (cán bộ thôn, già làng) đều rất muốn tiếp tục tham gia và mở rộng các hoạt động này
Cuối cùng, các huyện xung
quanh chủ động học tập,
chuẩn bị và bày tỏ kế
hoạch tham gia và các giai
đoạn sau của dự án Huyện
Tây Giang (Lãnh đạo và
Ủy ban Nhân dân huyện)
đã bày tỏ ý định học tập và
cùng tham gia với huyện
Đông Giang trong các pha
tiếp theo của dự án
Bao trùm lên những thành quả cụ thể trên là Tầm nhìn phát triển du lịch trong đất liền và quy hoạch phát triển liên vùng đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh nhất trí và trong quá trình phê duyệt ban hành Chiến lược và tầm nhìn này là nỗ lực tập thể của các ban ngành, địa phương và doanh nghiệp Dự án ILO đóng vai trò xúc tác và thúc đẩy
2.3.4 Tính bền vững của mô hình
Dự án được đánh giá có khả năng bền vững cao dựa trên các cơ sở sau:
Mô hình được xây dựng và duy trì trên cơ sở hợp tác ba bên người dân (cộng đồng, nhóm hộ gia đình), doanh nghiệp và nhà nước Trong đó sự ủng hộ của chính quyền được hiện thực hóa thành quy hoạch, chiến lược và chương trình8 phát triển du dịch cồng động khu vực miền núi cấp tỉnh, huyện, các giải pháp cụ thể về đất đai, cơ sở hạ tầng cho du lịch tại cấp xã, thôn đều được giải ngân và thực hiện nghiêm túc
Tính tới thời điểm nghiên cứu doanh nghiệp du lịch lữ hành đã đầu tư tài chính, cán bộ, hệ thống đặt tour, kỹ năng và thị trường, người dân đầu tư một phần đất của cộng đồng, sức lao động, kỹ
8 Tỉnh Quảng Nam đang trong giải đoạn phê duyêt và ban hành tầm nhìn 2020 và quy hoạch phát triển du lịch đất liền
Nhóm thổ cẩm giảm nghèo của phụ nữ Ktu tỉnh Quảng Nam – tổ chức ILO
Trang 32năng, sức lao động và các tập tục văn hóa của mình Cả doanh nghiệp và cộng đồng các hộ gia đình đều cam kết chính thức bằng văn bản, với sự chứng thực của chính quyền, quy định rõ quy chế tài chính, nguyên tắc phân bổ tài chính, quyền và nghĩa vụ của các bên, đặc biệt là quỹ đóng góp cho cộng đồng Điểm đáng lưu ý là thời gian cam kết của doanh nghiệp với người dân địa phương đều vượt khung thời gian dự án
Bên cạnh việc cộng đồng và người dân tham
gia ngày một sâu hơn, đối tác doanh nghiệp
đã đầu tư đáng kể và đang tiếp tục đầu tư
mở rộng đầu tư và tăng quy mô cung cấp
dịch vụ Doanh nghiệp luôn vận hành trên
cơ sở lợi nhuận và thị trường do vậy khi có
thể kết luận được mô hình này đang thành
công và tiếp tục duy trì khả năng tạo doanh
thu và thu nhập cho các bên trong thời gian
tới
2.3.5 Cách thức hỗ trợ trong và sau khi dự án kết thúc
Đây là một trong những dự án điển hình theo cách tiếp cận của ILO khuyến khích thúc đẩy sự đầu tư của nhiều bên, tập trung vào kết nối thị trường và nâng cao năng lực các bên, không hỗ trợ trực tiếp bằng tiền, hay các hình thức tài sản khác Chưa kể đặc thù riêng biệt và lịch sử của cộng đồng người Ktu trong khu vực, điều đáng ngạc nhiên là cả chính quyền và người dân rất chủ động đón nhận và tham gia thực chất vào các hoạt động của dự án này Các bài học phân tích sẽ nêu ở phần sau nhưng lý do cơ bản nhất đó là dự án thực sự có lợi cho địa phương, địa phương làm chủ và được nâng cao năng lực để thực hiện các nội dung của dự án
Trong những nội dung hỗ trợ, nguồn lực tập trung nhiều nhất vào việc kết nối các bên bao gồm tài chính và thời gian xây dựng và vận hành các nhóm công tác, và chuyển tải kiến thức thực chất về du lịch và kỹ năng làm du lịch cộng đồng cho doanh nghiệp du lịch, chủ đơn vị lưu trú, người lao động và người dân địa phương Hỗ trợ kỹ thuật là cấu phần xương sống và liên tục nhằm mục tiêu hướng các bên trong dự án có cùng nhận thức về phát triển du lịch cộng đồng, và sẵn sàng về kỹ năng khi triển khai can thiệp Dự án không chỉ dùng tài chính của mình mà còn
Trang 33kết hợp với các hoạt động đào tạo khác của Tổng cục du lịch và Phái đoàn EU, ngân sách của tỉnh (các chương trình khuyến công, phát triển văn hóa du lịch) để triển khai hiệu quả các hoạt động đào tạo này Một khoản hỗ trợ quan trong nữa là thúc đẩy và thực hiện cam kết các khoản đầu tư lớn vượt khả năng của người dân địa phương như hệ thống buồng phòng nghỉ, hệ thống bán hàng và marketing du lịch, v.v.v Dự án đã kêu gọi thành công sự hỗ trợ của một quỹ phát triển du lịch đã thực sự tạo cú hích cho dự án đi vào hoạt động thực chất
2.3.6 Bài học kinh nghiệm:
Dự án ILO-SIT tại Quảng Nam đang vào giai đoạn kết thúc nhưng đã bắt đầu nhận sự quan tâm
và cam kết đầu tư của nhiều bên chuẩn bị cho pha tiếp theo Sự vận hành suôn sẻ của các mô hình du lịch cộng đồng tại đây cũng như những kết quả cụ thể về chính sách, đối thoại công tư, giảm nghèo cho người dân tộc để lại bài học kinh nghiệm quý giá cho các dự án phát triển và giảm nghèo khác Nhóm nghiên cứu lựa chọn những khía cạnh cơ bản nhất trình bày trong phần này bao gồm: lựa chọn vùng dự án; lựa chọn và nâng cao năng lực đối tác; cơ chế quyền lợi/giám sát giữa các bên; lồng ghép vào chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Lựa chọn vùng dự án
Việc lựa chọn vùng can thiệp dự án có ý nghĩa sống còn với mục tiêu giảm nghèo và hiệu quả của dự án Thực tế, địa phương được lựa chọn huyện Đông Giang tuy không được tham gia vào một số các chương trình giảm nghèo quốc gia nhưng lại hội tụ đầy đủ các yếu tố phù hợp với dự
án Thứ nhất, huyện là nơi tập trung các hộ gia đình nghèo người dân tộc thiểu số (người Ktu) nên đối tượng can thiệp và hưởng lợi phù hợp với mục tiêu của dự án cũng những mục tiêu phát triển của địa phương Thứ hai, tuy huyện còn rất nhiều khó khăn, nhưng chính quyền địa phương (Ủy ban Nhân dân huyện, các phòng ban liên quan) được ghi nhận là cơ quan điển hình năng động, đổi mới dám nghĩ dám làm và luôn vì người dân Dự án được triển khai hiệu quả, nhanh chóng nhờ sự vào cuộc sát sao của Ủy ban Nhân dân huyện và hệ thống chính quyền cơ sở, hoạt động triển khai dự án luôn nằm trong lịch trình làm việc và triển khai của huyện không có hiện tượng đùn đẩy hay chống chéo, không rõ ràng về mặt trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước như tại nhiều dự án khác
Trang 34Dưới cấp huyện, dự án và địa phương đã thành công lựa chọn những vùng xã, thôn tuy nghèo nhưng có tiềm năng phát triển dịch vụ du lịch hoặc hỗ trợ du lịch cộng đồng Đồng bào dân tộc thiểu số với những đặc điểm văn hóa và lịch sử của mình khi được thiết kế phù hợp lại trở thành những giá trị thu hút đặc biệt với cộng đồng khách du lịch trong và ngoài nước
Lựa chọn và nâng cao năng lực đối tác
Một bài học có ý nghĩa bên cạnh lựa chọn vùng dự án là lựa chọn và nâng cao năng lực đối tác Mỗi vùng miền đều có lịch sử và đặc điểm văn hóa riêng biệt nên chọn đối tác sai, các dự án phát triển và giảm nghèo sẽ rất khó phát huy kết quả, tác động, thậm chí không thể triển khai được các hoạt động của mình Dự án đã lựa chọn việc dựa vào chính quyền cơ sở và cộng đồng địa phương (hội đồng già làng, hội phụ nữ) trong suốt quá trình chuyển giao kiến thức, xây dựng mô hình và vận hành các hoạt động du lịch và hỗ trợ du lịch Với từng cấu phần dự án, các đối tác lựa chọn cũng cần có lưu ý khác nhau:
Các nhóm cần phát triển sản phẩm thổ cẩm, dự án lựa chọn và đầu tư nâng cao năng lực cho hội phụ nữ Kết quả rõ ràng là nhóm này đã tổ chức tập huấn nghề có chất lượng đang hoạt động rất hiệu quả theo mô hình chủ động quản lý về tài chính, đóng góp sức lao động và kỹ năng dệt, may kết hợp với tư vấn thiết kế và thương hiệu của chuyên gia quốc tế trên nền văn hóa Ktu Tiền thu được từ bán các sản phẩm thổ cẩm đã và đang được chia đều cho các chị em tham gia và đầu tư mua nguyên vật liệu Mô hình đang thu hút sự tham gia ngày càng đông của phụ nữ địa phương
Mô hình các nhóm liên quan đến dịch vụ ăn uống và lễ hội văn hóa, dự án lựa chọn nhóm cán bộ thôn và hội đồng già làng Việc lựa chọn đối tác này có ý nghĩa chiến lược bởi người Ktu xưa nay không có thói quen biểu diễn (thậm chí đánh cồng chiêng) cho người lạ thưởng thức, kể cả
lý do thương mại Sự kiên nhẫn giải thích và tạo điều kiện cho nhóm cán bộ thôn và hội đồng già làng hiểu, nhận biết lợi ích và tìm cách thuyết phục người dân địa phương đã giúp các hoạt động
ăn uống và dịch vụ lễ hội được diễn ra, duy trì có hiệu quả
Bài học về đặc điểm vùng miền và văn hóa địa phương được nhìn thấy rõ nét trong dự án ILO Quảng Nam Lời giải cho vấn đề này chính là lựa chọn đùng đối tác cơ sở và nâng cao năng lực cho họ, nâng cao năng lực đủ để họ làm chủ dự án
Trang 35Cơ chế quyền lợi/giám sát giữa các bên
Bài học lớn rút ra từ dự án của ILO Quảng Nam là xây dựng và có khuôn khổ ghi nhận động lực tham gia của các bên, đặc biệt là doanh nghiệp và cơ quan chính quyền các cấp Doanh nghiệp mang vốn, kỹ năng và thị trường đến một vùng miền núi với đầy rủi ro và thách thức, nếu không xác định được quyền lợi của họ, mô hình của dự án ILO chắc chắn không thể đứng vững Dự án
và cộng đồng địa phương đã phân tích, họp nhóm rất nhiều lần tiến tới thống nhất trao cho đối tác doanh nghiệp đầu tư du lịch và lữ hành đất và địa điểm, đặc quyền và độc quyền khai thác dịch vụ du lịch có giới hạn thời gian đổi lại cam kết và thực hiện đầu tư cơ sở du lịch và hệ thống thị trường giới thiệu khách đến địa phương Ngược lại cam kết văn bản cũng trao cho cộng động đặc quyền thu và sử dụng quỹ cộng đồng từ các hoạt động du lịch bên cạnh việc trả công cho mọi lao động địa phương tham gia
Xây dựng động lực cho cán bộ và chính quyền các cấp phải xác định là nhiệm vụ quan trọng và cầnnhiều tâm huyết Chính quyền cơ sở (huyện, xã, thôn) xác định vị trí của mình là đảm bảo cam kết giữa cộng đồng và doanh nghiệp và việc triển khai các hoạt động dự án có hiệu quả được thông tin và đánh giá kịp thời tới các cơ quan lãnh đạo cấp trên (tỉnh, huyện) Dự án cũng tạo điều kiên để chính quyền tỉnh hiện thực hóa các chủ trương lớn về cân bằng thu nhập và giảm đói nghèo tại khu vực miền núi trong đất liền Ngoài kênh báo cáo nội bộ, dự án đã vận dụng hiệu quả bộ máy báo chí, truyền thông đại chúng từ trung ương đến địa phương tạo ra hiệu ứng quả cầu tuyết - dự án càng triển khai, càng nhiều cơ quan và bên ủng hộ và chung sức
Việc các bên tìm thấy lợi ích của mình là sợi dây gắn kết họ chặt chẽ với nhau, làm chủ dự án và duy trì các hoạt động này một cách bền vững Đây là bài học quan trọng với bất kỳ dự án giảm nghèo ở quy mô nào vùng nào ở Việt Nam
Ngoài việc xác định và tạo động lực tham gia, dự án đã và đang duy trì hệ thống giám sát và đánh giá theo cả hai kênh chính thức và phi chinh thức dựa trên hai nguyên tắc: minh bạch về thông tin và tham gia đầy đủ của các bên địa phương Việc đánh giá bởi các chuyên gia độc lập
và tập trung các tiêu chí giảm nghèo giúp các bên trong dự án hiểu rõ về hiệu quả, tác động cũng như có những điều chỉnh thích hợp trong ngắn và trung hạn
Trang 36Lồng ghép với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Chìa khóa thành công của dự án là lồng ghép với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương Kế hoạch này phải được hiểu bao gồm 2 cấu phần hoàn toàn khác biệt: i) Chủ trương của tỉnh - chính sách phát triển, cân bằng khu vực miền núi với các khu vực thuận lợi của tỉnh Quảng Nam; ii) các chương trình , hoạt động cụ thể của huyện, xã – phân bổ nguồn lực về đất đai, tài chính, con người và cơ chế với doanh nghiệp dựa trên quy trình lập kế hoạch từ cơ sở Quan điểm lồng ghép này có tác động qua lại hai chiều: trong giai đoạn triển khai dự án, sự lồng ghép hỗ trợ dự án thực hiện có hiệu quả, khi kết thúc dự án, các kết quả của dự án hỗ trợ tỉnh hình thành kế hoạch, tầm nhìn dài hạn và mô hình thành công có khả năng nhân rộng
3 Đối chiếu phân tích các mô hình phi chính phủ và các mô hình giảm nghèo của các chủ thể khác
Quá trình giảm nghèo của Việt Nam trong thời gian qua ngoài tác động trực tiếp của tăng trưởng kinh tế chung, có sự đóng góp nhiều phía của các chương trình giảm nghèo quốc gia và các chương trình giảm nghèo quy mô vừa và nhỏ của các tổ chức quốc tế Các chương trình giảm nghèo quốc gia triển khai trên diện rộng đã và đang đối mặt với nhiều thách thức từ cách tiếp cận
và công tác thực thi, đánh giá tác động, tính bền vững và khả năng nhân rộng kết quả Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, như đã trình bày trong Chương I – phương pháp luận, nhóm nghiên cứu đã cố gắng đối chiếu và so sánh các mô hình tương đối thành công của các tổ chức quốc tế với công tác triển khai của các chương trình quốc gia để rút ra các bài học kinh nghiệm
về hoạch địch và thực thi chính sách Ba dự án được phân tích sâu trong nghiên cứu này có những thành công ở các cấp độ khác nhau
Trong khi dự án SCJ tập trung phát huy sức mạnh tiết kiệm và khả năng sản xuất kinh doanh quy
mô nhỏ của người nghèo thì dự án ILO lại cho thấy câu chuyện hợp lực nhiều bên và kết hợp hiệu quả với doanh nghiệp Dự án của Oxfam lại cho thấy mặt tích cực của câu chuyện kết nối người nông dân với thị trường
Hạn chế của các dự án cũng cần phải được hiểu rõ Dự án Oxfam vấp phải hàng rào vô hình của chuỗi cung ứng nguyên liệu và sản phẩm mây; dự án ILO phụ thuộc vào năng lực và cam kết của lãnh đạo địa phương, dự án SCJ thì chỉ tập trung quy mô trong một huyện Tuy nhiên những hạn
Trang 37chế này không hề làm mờ đi hiệu quả giảm nghèo mạnh mẽ, tác động tăng thu nhập và tạo việc làm cho người dân Đặc biệt khi chúng ta thử tìm hiểu so sánh với các dự án tương tự của các chủ thể khác trong khu vực
Hạn chế hiệu ứng “so cam
với táo”, nhóm nghiên cứu
đã chọn các chương trình
quốc gia, tỉnh trong địa bàn
cùng tỉnh hoặc huyện lân
cận, với cách can thiệp
giống nhau hoặc tương tự
nhau nhằm chỉ ra những
điểm khác biệt và chìa
khóa thành công của các
mô hình phát triển quốc tế
Chúng tôi tập trung phân
Một số khía cạnh được khái quát hóa với các mô hình thành công nói chung thông qua phỏng vấn sâu và ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực phát triển
3.1 Phương pháp tiếp cận
Khác biệt nổi bật về phương pháp tiếp cận của các mô hình giảm nghèo thực hiện bởi các tổ chức quốc tế là các hoạt động của họ có chiến lược và lộ trình rút bớt can thiệp rất rõ ràng Điều này có hai hàm ý về mặt chính sách, thứ nhất chương trình giảm nghèo trong khuôn khổ thời gian nhất định phải đạt các mục tiêu giảm nghèo, khi các mục tiêu chính đã đạt, chương trình sẽ rút ra và tập trung vào các nhóm nghèo khác Hàm ý thứ hai là nguồn lực tài chính cho các chương trình rất hạn chế, chương trình giảm nghèo của các tổ chức phát triển quốc tế buộc phải
Mô hình giảm nghèo tự chủ của người dân Ktu tại huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam: Đàn bò 30 con của 1 hộ dân
Trang 38ưu tiên hóa, chọn cách tiếp cận, các hoạt động có hiệu quả nhất Những điểm này không được thể hiện rõ ràng trong các chương trình giảm nghèo quốc gia Thực tế khi rà soát các báo cáo đánh giá chương trình 30A tại các địa phương trong khuôn khổ nghiên cứu, trong khi nhiều mục tiêu trong đó có giải ngân thường hoàn thành, nhưng mục tiêu giảm nghèo lại không đạt được Nguồn tiền đầu tư của các chương trình nhà nước thường cũng lớn hơn rất nhiều so với ngân sách một
dự án phát triển quốc tế
Sự khác biệt thứ hai trong phương pháp là các tổ chức phát triển quốc tế thường tiếp cận theo cách “nhỏ, chắc, dần dần và thích ứng theo thực tế” trong khi các chương trình quốc gia thường tiếp cận theo hướng “lớn, đại trà, nhanh và theo mệnh lệnh hành chính” Cho dù hệ thống hành chính quốc gia không cho phép các Chính quyền các cấp vận động và thích ứng linh hoạt như các tổ chức phát triển và đối tác, nhưng cách tiếp cận của họ lại rất có ý nghĩa trong khâu xây dựng, đánh giá các mô hình và hoạch định chính sách trước khi áp dụng toàn quốc
Thứ ba, mục tiêu cao nhất và thường là duy nhất của dự án trong các tổ chức quốc tế là giảm nghèo, với các dự án giảm nghèo trong các chương trình nhà nước, ngược lại thường là đa mục tiêu Điển hình như chương trình 30A tại các địa phương nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chủ dự
án đều nhận thức về bản chất đa mục tiêu từ khâu lập kế hoạch đến đánh giá kết quả Hậu quả là trọng tâm và thực chất giảm nghèo không được đầu tư đúng mực, tạo ra sự trùng lặp trong vận hành dự án
Đặc điểm thứ tư và quan trọng là với các dự án giảm nghèo của các tổ chức phát triển quốc tế người dân tham gia tốt và mạnh mẽ hơn các chương trình quốc gia và nhà nước Các dự án phát triển quốc tế có chủ trương tạo điều kiện và hỗ trợ người dân tham gia sâu từ khâu đánh giá nhu cầu, thiết kế hoạt động dự án, triển khai dự án, và luôn tận dựng sự giám sát với mọi mặt của dự
án Điều này cho kết quả rõ ràng và trực tiếp: trong các dự án phát triển quốc tế các hoạt động và can thiệp phù hợp với địa phương, lựa chọn người thụ hưởng phù hợp và công bằng trên cơ sở bình bầu dân chủ cơ sở Ba dự án thành công trong nghiên cứu này đã phản ánh và phát huy những nguồn lực từ văn hóa, lịch sử, địa lý và con người tích cực và hợp lý
Thứ năm, các dự án, mô hình của các tổ chức phát triển quốc tế điển hình là ba dự án của Oxfam, SCJ, ILO tập trung vào thúc đẩy quá trình giảm nghèo nội sinh, và người dân làm chủ dự án thay
vì xu hướng hỗ trợ ít điều kiện ràng buộc hoặc không điều kiện như các chương trình giảm
Trang 39nghèo quốc gia Cụ thể hơn trong quá trình thiết kế, các dự án quốc tế luôn có cấu phần về tăng cường năng lực, hỗ trợ kỹ thuật trong và sau dự án: quá trình chuyển giao công nghệ, kỹ thuật và năng lực quản lý được đầu tư thích đáng Ngược lại đầu tư cho các kỹ năng mềm này chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong các chương trình giảm nghèo quốc gia và địa phương Ví dụ trong nghiên cứu này, khảo sát thực tế cho thấy các chương trình hỗ trợ chăn nuôi trong 30A hầu hết thất bại, không cho kết quả do việc cấp giống vật nuôi không đi kèm thuốc và hệ thống thú y, người nuôi không có kiến thức chăn nuôi
Thứ sáu, các tổ chức phát triển quốc tế có xu hướng thành lập tổ nhóm, tăng cường quyền và tiếng nói của người dân thông qua nâng cao năng lực tập thể, việc triển khai cũng như giám sát các hoạt động tại địa phương luôn thực chất và nhận được sự tham gia mạnh mẽ của người dân Cuối cùng, cách tiếp cận huy động nguồn lực tập thể của nhiều bên khác nhau: tổ chức, chính quyền, tư nhân, người hưởng lợi là một điểm mạnh rõ rệt khi so với dự án giảm nghèo của nhà nước tuy nhiều tiền những lại nhận được ít sự ủng hộ của các bên Cách tiếp cận này chỉ được hiện thực hóa khi dự án đầu tư vào khâu kết nối, giáo dục, nâng cao năng lực cho các bên và tạo
cơ chế để họ tham gia và sở hữu dự án Điển hình là dự án ILO-tại Quảng Nam, đã huy động sự tham gia và đầu tư của tất cả các bên liên quan
3.2 Tác động và tính bền vững
Các tổ chức phát triển quốc tế , tổ chức phi chính phủ luôn triển khai dự án đi kèm với hệ thống giám sát đánh giá Sự chú trọng vào hệ thông giám sát (M&E) nhiều bên dẫn tới kết quả và tác động của dự ánluôn được thông báo,ghi nhân, đo lường, chia sẻ với các bên liên quan, và điều chỉnh kịp thời các hoạt động dự án Các tổ chức phát triển quốc tế cũng thường xuyên đúc kết, tài liệu hóa chia sẻ các bài học kinh nghiệm với nhau, các mô hình thành công; các mô hình còn
có tác động đến việc hoạch định và vận động chính sách
Tính bền vững của dự án NGO luôn là mục đích hữu cơ của dự án(nhằm tới việc duy trì sau hoạt động dự án rút đi và nhân rộng hoạt động dự án) Việc này đồng nghĩa với thiết kế và thực thi nhằm phân quyền và trao quyền mạnh mẽ cho địa phương và người dân Nói cách khác mặc dù các dự án phát triển quốc tế hỗ trợ có điều kiện nhưng lại trao quyền quản lý, sở hữu dự án cho
Trang 40địa phương trong khi các hỗ trợ quốc gia ít điều kiện nhưng lại tập trung quyền quyết định ở cấp trung ương, đặc biệt là rất hạn chế trao quyền cho người dân
Các tổ chức phát triển quốc tế tuy không cùng tổ chức nhưng dường như lại có sự điều phối rõ ràng và tốt hơn về địa bàn hoạt động, đối tượng thụ hưởng, dẫn tới các chương trình can thiệp ít
bị chồng chéo như của các chương trình của nhà nước
Các dự án giảm nghèo thành công của các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phát triển quốc tế thường có tác động rõ rệt hơn vì ngoài việc được làm chủ dự án, người dân được hỗ trợ thay đổi
từ nhận thức đến hành vi của họ trong các hoạt động sinh kế, giảm nghèo, từ mức độ cá nhân đến
hộ và cộng đồng thông qua các hoạt động kết nối, đào tạo và làm chủ kế hoạch
3.3 Cách thức hỗ trợ
Các tổ chức phát triển quốc tế, tổ chức phi chính phủ, quy trình giải ngân, của dự án được thiết
kế minh bạch, rõ ràng và tuân thủ theo hoạt động và kết quả của dự an Trong khi đó các dự án
nhà nước: giải ngân theo quy chế ngân sách nên nhiều thủ tục rườm rà, nhiều cấp quyết định, không đáp ứng kịp các hoạt động, không phản ánh kết quả của dự án Một ví dụ nhiều chuyên gia và cán bộ địa phương đã nêu như các ngưỡng đầu tư con giống đã không còn phù hợp, quy định kỹ thuật và giải ngân, kiểm soát chất lượng con giống rất cứng nhắc không thực thi được Các khoản hỗ trợ của các tổ chức phát triển quốc tế, tổ chức phi chính phủ đa dạng và cân đối giữa phần mềm (đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, kiến thức, kết nối, v.v) và phần cứng trong khi đó của nhà nước thường tập trung vào phần cứng
Việc lựa chọn đối tương nhận hỗ trợ trong các dự án chính phủ có tập quán thực hiện theo tính chất cào bằng, lập kế hoạch, phân bổ từ trên xuống trong khi các tổ chức phát triển lựa chọn đối tượng theo tiêu chí phù hợp với dự án và lập kế hoạch từ cơ sở lên
Về công tác và cách thức triển khai các khoản hỗ trợ, các tổ chức phát triển cũng gần dân hơn (cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân), thông qua các đoàn thể tổ nhóm thay vì các hoạt động và mệnh lệnh hành chính Đây cũng là biểu hiện cụ thể của phương pháp triển khai có sự tham gia