Tiếp theo các nghiên cứu của chúng tôi gần ựây3, trong bài viết này, ựịa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc ựược xem xét trên cả hai phương diện: ngôn ngữ và văn hoá tộc người; qua ựó ch
Trang 1GIÁ TRỊ PHẢN ÁNH HIỆN THỰC CỦA ðỊA DANH CÓ NGUỒN GỐC NGÔN NGỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở THỪA THIÊN HUẾ
Trần Văn Sáng
( Trường ðại học Phú Xuân - Huế Nghiên cứu sinh Viện Ngôn ngữ học)
1 Dẫn nhập
1.1 ðịa danh, trước hết, là một hiện tượng ngôn ngữ Nó là những “khối ngôn ngữ kí sinh” ñược dùng ñể ñịnh danh các ñối tượng ñịa lí Nhưng ñịa danh ñược sinh ra cùng văn hoá, phát triển cùng văn hoá, do vậy, nó cũng là một hiện tượng văn hoá ðịa danh không chỉ thực hiện chức năng cơ bản là ñịnh danh sự vật, cá thể hoá ñối tượng mà còn thực hiện chức năng phản ánh Mỗi ñịa danh ñều ra ñời trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể nên nó phản ánh nhiều mặt xã hội xung quanh ðây cũng có thể quan niệm là chức năng xã hội của ñịa danh Ngoài ra, ñịa danh còn biểu hiện ñặc ñiểm văn hoá ngôn ngữ của cộng ñồng Mỗi ñịa danh hay một lớp ñịa danh ñều gắn với văn hoá của cộng ñồng hay từng khu vực cụ thể Nói như A.V.Superanskaja, nhà ñịa danh học người Nga, ñịa danh chính là “những tấm bia bằng ngôn ngữ ñộc ñáo về thời ñại của mình”1 Theo ñó, ñịa danh phản ánh nhiều khía cạnh ñịa lý, lịch sử, văn hóa, dân tộc, kinh tế…nơi mà nó chào ñời
1.2 Nghiên cứu ñịa danh ở Thừa Thiên Huế nói chung, ñịa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu số nói riêng, là một hướng tiếp cận liên ngành ngôn ngữ-văn hoá học về một vùng ñịa lý hội tụ nhiều lớp, nhiều tầng văn hóa có sự giao thoa, tiếp biến giữa các dân tộc chung sống trên ñịa bàn cư trú (Kinh, Chăm, Cơ Tu, Pa Cô-Ta Ôi) Trong quá trình hình thành và chuyển biến, ñịa danh không chỉ chịu tác ñộng bởi các yếu tố ngôn ngữ mà còn cả các yếu tố ngoài ngôn ngữ Các yếu tố này làm cho ñịa danh trở thành những “trầm tích sống” bằng ngôn ngữ, ký thác nhiều thông tin tư liệu quý giá ñối với các ngành khoa học: ngôn ngữ học, dân tộc học, văn hoá học, lịch sử và khảo cổ học
1.4 Ở Việt Nam, vấn ñề ñịa danh từ lâu ñã ñược nhiều nhà ngôn ngữ học, dân tộc học, ñịa lý học quan tâm2 Tuy nhiên, mảng ñịa danh ngôn ngữ dân tộc thiểu số trên ñịa bàn
1 Dẫn theo: Lê Trung Hoa(2006), ðịa danh học Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.52
2 Các công trình nghiên cứu ñịa danh phải kể ñến ở Việt Nam là các chuyên luận: Lê Trung Hoa với hai công
trình “ðịa danh ở Thành phố Hồ Chí Minh”, Nxb KHXH ấn hành năm 1991 và “ðịa danh học Việt Nam” do Nxb KHXH ấn hành năm 2006; Nguyễn Trí Dõi với công trình “Ngôn ngữ và sự phát triển văn hoá xã hội”, Nxb Văn hoá thông tin ấn hành năm 2001 Các luận án tiến sĩ ñã bảo vệ: “Những ñặc ñiểm chính của ñịa danh Hải Phòng (sơ bộ so sánh với một số vùng khác)”(1996) của Nguyễn Kiên Trường; “Nghiên cứu ñịa danh Quảng Trị”(2003) của Từ Thu Mai; “Những ñặc ñiểm chính của ñịa danh ðak Lăk”(2005) của Trần Văn Dũng; “Khảo sát các ñịa danh ở Nghệ
An”(2006) của Phan Xuân ðạm
Trang 2Thừa Thiên Huế lâu nay vẫn ựang còn chưa ựược ai nghiên cứu Tiếp theo các nghiên cứu của chúng tôi gần ựây3, trong bài viết này, ựịa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc ựược xem xét trên cả hai phương diện: ngôn ngữ và văn hoá tộc người; qua ựó chỉ ra giá trị phản ánh hiện thực của mỗi ựịa danh trên ựịa bàn nghiên cứu
Ở Thừa Thiên Huế, các tộc người thiểu số chủ yếu cư trú ở huyện Nam đông và A Lưới, ngoài ra còn có một số nhỏ sinh sống ở các huyện Phú Lộc, Hương Trà và Phong điền Pa Cô-Ta Ôi, Cơ Tu, Bru-Vân Kiều là ba tộc người thiểu số sống tựa vào sơn hệ Trường Sơn, tạo thành một bộ phận gắn kết lâu ựời trong bức tranh dân cư Thừa Thiên Huế Nghiên cứu giá trị phản ánh hiện thực của ựịa danh là một cánh cửa rộng mở cho việc tiếp cận bức tranh văn hoá-tộc người ựầy sinh ựộng và giàu màu sắc trong ựời sống của các dân tộc thiểu số ựịnh cư trên dải Trường Sơn Bắc này
2 Nội dung vấn ựề
2.1 Khảo sát, thống kê 2.248 ựịa danh ở Thừa Thiên Huế, chúng tôi tiến hành phân
loại chúng theo hai tiêu chắ sau:
Căn cứ vào ngôn ngữ tạo ựịa danh, các ựịa danh ở Thừa Thiên Huế ựược phân thành hai nhóm chắnh: a) Nhóm các ựịa danh tiếng Việt, bao gồm Hán Việt và Thuần Việt( 1763 ựịa danh); b) Nhóm các ựịa danh tiếng dân tộc thiểu số (485 ựịa danh)
Căn cứ vào ựối tượng ựịa lắ mà ựịa danh phản ánh, chúng tôi chia ựịa danh Thừa Thiên Huế thành ba nhóm chắnh: a) Nhóm các ựịa danh hành chắnh-cư trú (1327 ựịa danh, chiếm 59%); b) Nhóm các ựịa danh công trình xây dựng (382 ựịa danh, chiếm 17%); c)Nhóm các ựịa danh chỉ ựối tượng ựịa hình tự nhiên (539 ựịa danh, chiếm 24%)
Trong số 485 ựịa danh dân tộc thiểu số thu thập ựược, nhóm ựịa danh có nguồn gốc tiếng Pa Cô- Ta Ôi và Cơ Tu chiếm ựa số; nhóm các ựịa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc khác Bru-Vân Kiều, Chăm cổ chiếm một phần nhỏ và một số ựịa danh hiện vẫn chưa xác ựịnh ựược rõ ràng nguồn gốc ngôn ngữ tạo nên chúng
Sự có mặt ựầy ựủ các loại hình ựịa danh và sự phong phú về ngôn ngữ tạo ựịa danh qua số liệu thống kê ở trên cho thấy rõ: Thừa Thiên Huế là một vùng ựất có bề dày lịch sử
3 Xem thêm các bài viết của chúng tôi: Trần Văn Sáng(2008), Bước ựầu tìm hiểu ựặc ựiểm cấu tạo và ý nghĩa các ựịa
danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở huyện A Lưới, Thừa Thiên Huế, Báo cáo Hội thảo Ngữ học toàn quốc
lần thứ nhất, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Cần Thơ, ngày 18-4; Trần Văn Sáng(2009), Cách phiên chuyển ựịa danh từ
tiếng Pa-cô Ta-ôi ở Thừa Thiên Huế sang tiếng Việt, Báo cáo Hội thảo Ngôn ngữ học toàn toàn, Viện Ngôn ngữ học
Việt Nam, tháng 11, Hà Nội; Trần Văn Sáng (2008), Các phương diện văn hoá của ựịa danh ở Thừa Thiên Huế, Hội
thảo quốc tế Việt Nam-Trung Quốc, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đại học Quốc gia Hà Nội, tháng
11, Hà Nội
Trang 3văn hoá và giàu bản sắc Bức tranh ngôn ngữ văn hoá tộc người giàu bản sắc ấy, trước hết, ñược thể hiện qua hệ thống ñịa danh Mỗi ñịa danh là một “vật dẫn văn hoá” về vùng ñất mà
nó chào ñời
2.2 ðịa danh phản ánh các phương diện văn hoá của các tộc người sống trên
ñịa bàn nghiên cứu
ðịa danh ra ñời trong một khoảng không gian và thời gian nhất ñịnh và gắn với một chủ thể ñịnh danh nhất ñịnh; nó ghi lại rõ nét nhất những ñặc ñiểm về ñịa lí tự nhiên của một vùng ñất và ñặc ñiểm văn hoá, tâm lí tộc người của chủ thể văn hoá ðặc ñiểm văn hoá -tộc người của ñịa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Thừa Thiên Huế thể hiện qua ba nhân tố: chủ thể văn hoá, không gian văn hoá và thời gian văn hoá
2.2.1.Sự phản ánh ñặc ñiểm không gian văn hoá qua ñịa danh ngôn ngữ dân tộc
Không gian văn hoá của ñịa danh tiếng dân tộc ở Thừa Thiên Huế thể hiện qua các phương diện: ñặc ñiểm ñịa hình tự nhiên, thế giới thực vật, thế giới ñộng vật gắn với vùng ñất chứa ñịa danh
2.2.1.1 Sự phản ánh ñặc ñiểm ñịa hình tự nhiên: ñịa danh ngôn ngữ dân tộc phản ánh qua cách ñịnh danh theo ñặc ñiểm ñịa thế, hình dáng, vị trí riêng của một vùng ñất Qua các ñịa danh, chúng ta biết thêm về những thông tin thú vị về ñịa lí tự nhiên tỉnh Thừa Thiên Huế, ñặc biệt vùng cao nguyên Trung Trường Sơn Cư dân các dân tộc thiểu số chủ yếu ñịnh cư ở miền Tây Thừa Thiên Huế, với ñặc ñiểm ñịa hình núi non hiểm trở, nhiều ñèo nhiều suối nằm chênh vênh giữa núi rừng heo hút ðặc ñiểm ñịa lí tự nhiên nổi bật này ñược phản ánh rõ nét qua nghĩa của các ñịa danh
+ ðịa danh phản ánh ñúng hiện thực ñặc ñiểm hình dáng và kích thước của ñối tượng ñịa lí nơi vùng ñất chứa nó Nhóm ñịa danh Pa Cô- Ta Ôi: ñộng Tam Boi (Tambơơi: ñộng
nhô ra như cằm người), sông Tà Rình (Tarreenh: từng miếng/lát một), núi A Sáp (Asap: hình
ảnh như tổ ong), ñồi ðon Pa Ní (Dol Parnis: ñồi hình cái chổi), ñầm A Roi (Aroi: ñầm hình
cái ñuôi con vật), sông Bơ Lung (Pallúng: sông hình cái bụng của người/ñộng vật), núi A Pi Lát (Aplat: hình lép không bình thường); khe A Ve (Avér: ngắn, nhỏ), thôn Tru (Tru: sâu), thôn Tà Kêu ( Takêu: cao chỏng), núi Ka Tanh (Katăng: căng ra) Nhóm ñịa danh Cơ Tu: núi A Sap(Asap: hình dáng tổ ong); núi A Hô(Ahơaq: há miệng); núi Cha Vung(Chagung:
cong que, co quắp)
+ ðịa danh miêu tả rõ tính chất của ñối tượng ñược gọi tên Nhóm ñịa danh gốc Pa
Cô- Ta Ôi: thôn Loá (Loah: sạch trơn), thôn Chai (Chaih: tháo vát), núi Cô Bung (Kapúng:
Trang 4ôm ấp), suối Tà Ay (Ta-ăi: làm cho ñau), núi Cù Mông (Kammoóng: siêng năng), sông Tà Hàm (Taham: làm cho chảy máu), núi Li Leng (Lileng: chắc, bền), thôn Cô Lênh (Kléng: làm cho mặn mòi, ngọt ngào), thôn A Bã (Abăq: chỉ sự mặn mòi, ñằm thắm), thôn Ka Lô
(Klô: có nghĩa là xấu hổ) Nhóm ñịa danh Cơ Tu: sông Bao Lác (Parlak: khoái cảm); thôn
Cha ðu (Chadu: nấp, che); thôn Poi Ring (Paríng: làm cho thấu ñáo); khe Nà Sặt (Rsặt: chật
chội)
+ ðịa danh phản ánh ñúng vị trí, ñịa ñiểm hình thành ñối tượng ñược gọi tên Nhóm ñịa danh Pa Cô- Ta Ôi: ñồi Tu Nơ Trong (Tu Ntrong: ñầu của một chiếc cầu), ñồi Tu Ắt (Tu Ăt: ñầu nguồn cư trú của gấu khỉ ), ñồi Ka Lâm (Kallơơm: ñiểm tiểu tiện), gò A Xin (Asil: ñiểm dốc nghỉ ngơi khi ñi rừng về), khe Tu Tôm (Tu Toóm: ñầu một con suối), suối Ka Tê
(Katéh: phía trên kia), núi A Rum Cà Lưng (Arum Karrrúm: núi phía dưới mặt trăng) Nhóm
ñịa danh Cơ Tu: núi Bơ Lạch (Parleech: ñiểm cuối); khe Tu Chùn (Tu Chưnh: ngọn núi ñá);
núi A Tây Luật (Atilượt: ñi qua, vượt trước ñi); núi Cha Lu (Challuch: tuột xuống); núi Bol Dol (Bôl Dol: ñộng ngang qua)
Các ñặc ñiểm về hình dáng, kích thước, vị trí ñược chủ thể ñịnh danh lựa chọn ñể gọi tên các ñối tượng ñịa lí ñã phản ánh trung thực những ñặc ñiểm nổi bật về ñịa hình nơi ñịa bàn mà các dân tộc thiểu số ñang cư trú
2.2.1.2 Sự phản ánh thế giới thực vật qua ñịa danh: Việc dùng tên cây cỏ ñể ñặt ñịa danh là một hiện tượng phổ biến bởi thực vật là yếu tố tự nhiên gần gũi với con người, trực quan và thường ñược nhận biết sớm Thế giới thực vật ñược phản ánh một cách phong phú
nhất qua ñịa danh phải nói ñến các ñịa danh dân tộc thiểu số, tạo nên một nét văn hoá dân
dã trong lối ñịnh danh của cư dân bản ñịa Loại ñịa danh dân tộc thiểu số, chẳng hạn ñịa danh tiếng Pa Cô-Ta Ôi, gọi theo tên thực vật có thể phân chia theo ñặc ñiểm của từng loại thực vật do tính phong phú của nó:
+ Các thực vật thông thường, phổ biến: thôn A Roh (Aróh là lá tơi), thôn A Ho (Aho
là cây trúc), thôn La Ngà (Langa là cây tre vàng), thôn A Ngo (Ango là cây thông dùng ñun củi, thắp lửa), thôn A Sam (Asam là một thứ rau như rau dền), núi Ta Vi (Taviar: cây giang), núi A Túc (Atuk: một loại cây vả), ñồi Kru (Krul: cây chôm chôm), núi A Chét (Acheat: cây tranh lợp nhà), ñèo A Năm (Anăm: một loại rêu có thể ăn ñược), thôn A Min (Amin: một loại cây cùng họ với cây mây), thôn Mù (Mu: một loại cây mây), thôn A Bung (Abung: cây
lồ ô)
Trang 5+ Các loại cây mang tắnh tâm linh, thường là nơi ngự trị của các vị thần linh Chẳng
hạn, thôn Pi Ring (Piring là một thứ quả ổi rừng), thôn A đâng (Adâng là một thứ rau cải rừng), thôn Ỷ Ri (Iri là cây ựa), thôn Ta Rã (Taraq: cũng thuộc họ cây ựa), suối A Xôm
(Asoom: tua cây nêu ngày Tết)
+ Các ựịa danh gọi tên theo các sản vật ựịa phương, phần lớn là những loại sản vật ựược trồng trên ựồi núi như: thôn Ka Rôn (Karông là một loại sắn ngon), thôn Pa Ri (Paris
là củ riềng thường dùng trong chế biến các món thức ăn hàng ngày), thôn Poi Ring (Poiring
là thứ trái cây ngon dùng ựãi khách quý), núi A Lau (Ơrlau: một loại cây tiêu rừng), núi A Tùng (Atúng: một loại mắa ngon), thôn Ta Lo (Talo: cây cọ) Ngoài ra còn có những sản vật
ựược thiên nhiên ban tặng riêng cho người dân bản ựiạ như: thôn Chi Hóa (chihoar là tiêu
rừng ựược xem là loại gia vị ựặc biệt của người Ta-ôi), thôn Priêng (tên một loại quả rừng), thôn A Tia (Atia: một loại tiêu rừng), thôn A đên (Adên: một loại môn rừng)Ầ
Nhóm các ựịa danh ngôn ngữ Cơ Tu tuy ắt hơn nhóm ựịa danh Pa Cô- Ta Ôi song cũng phản ánh ựược những loại cây cỏ hết sức ựặc trưng cho vùng ựất mà tộc người Cơ Tu
cư trú Chẳng hạn, khe Ta Ra (Taraq: bồ kết); thôn Ky Ré (Kire: cây mây); ựộng Kam (Kăm: môn tắa); khe A Ro (Aroq: môn ựỏ); núi A Vi (Aviq: cơm); núi Chà Tang (Chitang: cây
nứa)
2.2.1.3 Sự phản ánh thế giới ựộng vật qua ựịa danh: So với các ựịa danh thuần Việt
và Hán Việt, ựịa danh có nguồn gốc tiếng dân tộc thiểu số ở Thừa Thiên Huế ựược gọi tên theo tên các loài vật chiếm số lượng ựáng kể Chẳng hạn, các ựịa danh tiếng Pa Cô-Ta Ôi phản ánh văn hoá dân dã về lối ứng xử với môi trường tự nhiên qua thế giới loài vật đó là
những loài vật sống trên cạn: sông A Ling (Aling: con kiến nói chung), sông A Lin (Alin: sinh linh bé nhỏ), suối Hu (Hu: ựộng vật ựầu lợn mình chó), sông Pling (Pling: chim phượng), khe Cà Xình (Kaseénh: con rắn), ựồi A Bia (Abiah: một loại sóc), suối A Á(A-aq: con quạ), thôn A đớt (Adơơs: một loại khỉ), sông A Lim (Alim: con châu chấu),ẦVà có cả những loài vật sống dưới nước: thác Ra Ka (Ơrka: một loại cá suối), núi A Ha (Ahar: một loại ếch ựá), núi A Rur (Abrur: một loại cá trắm), thôn A Hưa (Ahơơar: ếch ộp) Dân tộc Cơ
Tu cũng lựa chọn những ựộng vật quen thuộc, gắn với ựời sống sinh hoạt của cộng ựồng ựể ựặt tên cho sông, núi, khe, suối, thôn bản: sông Dòng (Joóng: một loại nai), khe Dong
(Yong: một loại chim sáo); núi Tà Lu (Tilu: con thằn lằn nhỏ); thôn Ka Dong (Kajoong: con
kì nhông)
Trang 6Như vậy, môi trường tự nhiên hội ñủ các ñặc ñiểm về tính chất và ñịa hình vùng ñất, một thế giới ñộng-thực vật phong phú gắn với ñặc trưng vùng cao nguyên miền Trung, tất
cả ñều ñược “hoá thân” thành ñịa danh, qua ñó khắc hoạ rõ nét nhất một không gian văn hoá của các tộc người ở Thừa Thiên Huế giàu bản sắc Sinh tụ trên dạng môi trường ñặc thù, các dân tộc ít người nơi ñây ñều xem rừng núi, cây cỏ, sông suối như bà mẹ lớn, không chỉ nơi cung cấp thức ăn, thức uống, nguyên liệu làm nhà mà còn là chốn nuôi dưỡng ñời sống tâm linh, tinh thần, khởi nguồn cho mạch sống văn hoá Con người và rừng gắn chặt với nhau, hoà quyện vào nhau, và sức sống và âm vang của núi rừng ñã tạo nên một không gian văn hoá ñầy sinh khí
2.2.2 Sự phản ánh các giá trị văn hoá lịch sử qua ñịa danh tiếng dân tộc
Nếu “văn hoá là cái còn lại khi người ta ñã quên ñi tất cả” theo cách nói của Edouart Herriot4 thì cũng có thể nói ñịa danh là một trong những “cái còn lại” ñó, trở thành “vật hoá thạch” lưu giữ nhiều thông tin lịch sử văn hoá của một thời ñại Ngoài các tài liệu thư tịch
cổ, ñịa danh là một trong những nguồn ngữ liệu quý giá có thể phục vụ cho công tác nghiên cứu lịch sử, ghi lại rõ nét tất cả những dấu ấn về lịch sử ñã từng xảy ra trên vùng ñất mà ñịa danh chào ñời Giá trị phản ánh hiện thực về phương diện thời gian văn hoá, tức mặt lịch sử phát triển và hình thành của ñịa bàn cư trú, của ñịa danh dân tộc thiểu số ở Thừa Thiên Huế rất phong phú và ña dạng, thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau
2.2.2.1 Mỗi ñịa danh ra ñời trong một hoàn cảnh xã hội và lịch sử nhất ñịnh Do vậy,
các ñịa danh ngôn ngữ dân tộc ở Thừa Thiên Huế là một trong những nguồn tài liệu có thể
giúp các nhà sử học, dân tộc học nghiên cứu về quá trình di trú của một hay nhiều tộc
người trong lịch sử Thừa Thiên Huế, trước khi trở thành vùng ñất kinh sư của Triều Nguyễn, xét về lịch sử hình thành và phát triển, nó ñược biết ñến là vùng ñất “phên dậu”,
“biên viễn xa xôi”, nơi cư trú của tộc người Chăm, và cư dân Môn-Khơ Me bản ñịa Nhiều ñịa danh còn bảo lưu những “dấu vết” của dân tộc Chăm(Chàm) và các cuộc di dân của người Kinh(Việt) trong tiến trình lịch sử văn hoá vùng Thuận Hoá Dựa vào những tài liệu lịch sử và ñịa chí có giá trị phản ánh hiện thực vùng ñất Thừa Thiên Huế ngày nay, chúng ta
có thể nêu lên giả thuyết rằng những ñịa danh ñược cấu tạo bằng các yếu tố không phải Hán Việt và thuần Việt là những chứng tích ghi lại dấu vết cư trú của người Chăm và cư dân nói ngôn ngữ Môn- Khơ Me như Ta Ôi, Cơ Tu, Bru-Vân Kiều Bằng cách truy tìm từ nguyên
4 Dẫn theo: Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr.1
Trang 7các ựịa danh, chúng ta có thể lắ giải nguồn gốc các ựịa danh: sông Ô Lâu, Thành Lồi có nguồn gốc từ ngôn ngữ Chăm cổ; các ựịa danh Sịa, Truồi, nơi hiện ựa số người Kinh sinh
sống, lại có nguồn gốc từ các ngôn ngữ nhóm Môn- Khơ Me Bằng chứng là, ỘLồiỢ trong
Thành Lồi có thể là biến âm của từ ỘHồiỢ(người Hồi, tức người Chăm); ỘÔỢ trong Ô Lâu
vốn có nghĩa chỉ ựối tượng ỘsôngỢ trong tiếng Chăm cổ, theo qui luật biến âm
ỘôỢ-ỘlôỢ(tương tự: ỘlặngỢ- ỘắngỢ, ỘlìỢ- ỘìỢ), một sự thể hiện của nhóm các yếu tố khloong, lương, loong, lô, lâuẦchỉ sông trong các ngôn ngữ đông Nam Á cổ ựại5 Trong khi ựó,
theo nguồn tư liệu ựiền dã chúng tôi có ựược, ỘSịaỢ có hình thức ngữ âm cổ là ỘSéaqỢ, âm hiện nay là ỘAsiuỢ có nghĩa là ỘcáỢ trong tiếng Ta Ôi; hay ỘTruồiỢ là ựịa danh gốc dân tộc thiểu số, có nghĩa là Ộcon gàỢ trong tiếng Bru-Vân Kiều (ntruôi) hay trong tiếng Pa Cô-Ta Ôi(atruôi) Có thể nói, những vùng ựất mà người Kinh (Việt) ựang sinh sống với xóm làng
ựông ựúc, thực chất trước ựây ựã là nơi cư trú của người Chăm hoặc cư dân Môn-Khơ Me điều này chứng tỏ, trong lịch sử phát triển vùng ựất Thừa Thiên Huế, ựã có những cuộc di trú của cư dân Môn-Khơ Me (Ta Ôi, Cơ Tu, Bru-Vân Kiều) từ vùng ựồng bằng lên vùng núi cao ựể tụ cư, lập làng Hay nói cách khác, trước khi người Kinh(Việt) ựặt chân ựến, vùng ựất này vốn trước ựây là nơi cư trú của người Chăm và cư dân Môn-Khơ Me bản ựịa
Lịch sử phát triển hơn 700 năm vùng ựất Thuận Hoá-Phú Xuân, kể từ cuộc hôn nhân lịch sử Chăm-Việt, Châu Ô, Châu Rắ ựã thuộc về chủ quyền quốc gia đại Việt(1306) và cũng từ ựó cho ựến nay liên tiếp, dồn dập diễn ra những ựợt di dân lớn nhỏ từ Bắc vào, từ Nam ra trên ựất Thừa Thiên-Huế, trong ựó ựợt di dân thời kỳ các chúa Nguyễn (thế kỷ XVI)
là lớn, ồ ạt và ựáng quan tâm nhất, nhưng ựáng kể nhất vẫn là vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh chuyển vào Quá trình di trú nói trên phần nào ựược phản ánh qua các ựịa danh Chẳng hạn,
các làng Khuông Phò, Dương Nỗ, Mỹ Xuyên vốn có tên cũ từ các làng Phò Lê, Nguyệt Viên,
đa Cảm di cư từ Thanh Hoá vào đặc biệt, khi tìm hiểu các ựịa danh gốc dân tộc thiểu số ở
Thừa Thiên Huế, chúng tôi phát hiện ựược nhiều Ộdấu vếtỢ cho quá trình di trú của cư dân sống trên ựịa bàn Có những ựịa danh ựược ựem từ bên nước bạn Lào sang theo con ựường
di dân của dân tộc Ta Ôi như thôn A Rum Cà Lưng, thôn A đớt,Ầ; có những ựịa danh ựược
hình thành theo con ựường di dân của người Kinh sau 1975 lên vùng núi sinh sống bằng
5 Xem thêm: Hoàng Thị Châu (1966), ỘMối liên hệ về nguồn gốc cổ ựại ở đông Nam Á qua một vài tên sôngỢ,
Thông báo khoa học, đại học Tổng hợp Hà Nội, số 2, Nxb Giáo dục; Trần Trắ Dõi(2001), Ngôn ngữ và sự phát triển
văn hoá xã hội , Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội; Nguyễn Tài Cẩn (2001), Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo),
tái bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội
Trang 8cách giữ nguyên tên gọi vùng ựất cố hương của mình ở ựồng bằng như Hương Giang, Quảng Phú, Hồng Thượng, Hồng Quảng, Hồng Thuỷ, của huyện Nam đông, A Lưới
2.2.2.2 địa danh là một phạm trù lịch sử, mang những dấu vết của thời ựiểm mà nó chào ựời Vì thế, nó ựược xem là Ộựài kỷ niệmỢ hay là Ộtấm bia bằng ngôn ngữ ựộc ựáo về
thời ựại của mìnhỢ Vì vậy, ựịa danh ở Thừa Thiên Huế còn cho chúng ta biết ựược các biến
cố- sự kiện lịch sử ựã xảy ra trên một vùng ựất Nhắc ựến ựồi A Bia thuộc huyện A Lưới,
chúng ta liên tưởng ngay ựến những trận ựánh khốc liệt trong thời kì kháng chiến chống
Mỹ đồi A Bia ựược gọi là Ộđồi thịt bămỢ cũng do tắnh khốc liệt nói trên, mặc dù theo nguồn gốc tiếng Cơ Tu, A Bia là cách Việt hoá của ỘAbiahỢ, nghĩa là một loại sóc có ở chốn
này Hiện nay, ựịa danh này trở thành di tắch lịch sử chiến tranh nổi tiếng và là nơi hàng trăm du khách ghé thăm mỗi lần lên vùng cao A Lưới Mỗi ngọn núi, dòng sông, con suối từ
Hồng Vân-Cu Tai phắa bắc ựến A đớt, A Roàng phắa nam, những cái tên ựộng A So-A Túc,
A Bia-Lam Sơn, ựộng Tiên Công, sân bay A So, A Sầu, A Lưới, dốc con Mèo,Ầ tất cả những
ựịa danh lịch sử ựó ựều gắn liền với những sự tắch anh hùng, gắn liền với lịch sử quê hương,
mà mỗi khi nhắc tới chúng ta không giấu nổi niềm tự hào, xúc ựộng về những ựóng góp to lớn của bao thế hệ cán bộ chiến sĩ, ựồng bào ựã chiến ựấu và chiến thắng trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ ựại
Ngoài ra, ựịa danh ở Thừa Thiên Huế còn cho chúng ta biết thêm những thay ựổi về ựịa giới và các ựơn vị hành chắnh của vùng ựất Thuận Hoá- Phú Xuân với lịch sử trên 700 năm
hình thành và phát triển Quá trình hình thành, mất ựi của các ựịa danh hành chắnh ựánh dấu
sự phát triển, mở rộng không ngừng của vùng ựất mới sau khi trở về với đại Việt Thừa Thiên Huế từ thời ựiểm ựó ựến nay ựã phải chứng kiến nhiều lần Ộthay da, ựổi thịtỢ qua nhiều giai ựoạn và triều ựại thống trị khác nhau Theo ỘÔ Châu cận lụcỢ (1555) của Dương Văn An6, Thừa Thiên Huế thời ựiểm ựó có 170 xã, 21 thôn, 89 sách; trong ỘPhủ biên tạp lụcỢ7(1776), Lê Quý đôn thống kê ựược 23 tổng, 234 xã, 23 thôn, 84 phường, 9 giáp, ấp, sách, trang; Những năm 1810-1818, Gia Long cho lập ựịa bạ dinh Quảng đức, thống kê
6 Dương Văn An (2001), Ô châu cận lục, (Trần đại Vinh, Hoàng Văn Phúc hiệu ựắnh và dịch chú), Nxb Thuận Hoá, Huế
7 Lê Quắ đôn (1977), Phủ biên tạp lục, Nxb đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội
Trang 9ựược 20 tổng, có khoảng 354 xã thôn8 Sự thay ựổi, hình thành các ựơn vị hành chắnh mới cho thấy sự phát triển lớn mạnh của cư dân Thuận Hoá-Phú Xuân theo dòng lịch sử
Sự duy trì tên gọi các làng cổ cho ựến ngày nay là những bằng chứng sống ựộng về chức năng bảo tồn của ựịa danh, góp phần lưu giữ những giá trị lịch sử và sự phát triển về mặt kinh tế-xã hội của Thừa Thiên Huế qua các thời kỳ khác nhau Những tên làng hiện nay
như: Sình, Sịa, Sam, Nong, Truồi,Ầ có thể có nguồn gốc Việt cổ hoặc ngôn ngữ dân tộc
thiểu số Chăm, Pa Cô-Ta Ôi, Cơ Tu, Bru- Vân Kiều
2.2.3 Sự phản ánh phương diện chủ thể văn hoá qua ựịa danh tiếng dân tộc
Mỗi ựịa danh ựều ựược ra ựời và hình thành gắn liền với ựặc ựiểm văn hoá của chủ
thể tạo nên chúng Do vậy, ựịa danh có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin về văn hoá-tâm lắ của một tộc người, cũng như nguồn gốc dân cư với tư cách là những chủ thể của một vùng văn hoá, chủ thể tạo nên các ựịa danh
2.2.3.1 địa danh phản ánh tên người
địa danh là sản phẩm do con người tạo ra Giữa ựịa danh và nhân danh lại có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cả hai ựều có thể biểu thị tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của con người, nhưng ựịa danh phần lớn Ộsống thọỢ hơn nhân danh Vì vậy, từ xa xưa, người Việt ựã rất thắch lấy tên người, tên dòng họ ựặt cho tên làng, tên sông, suối nơi mình
cư trú ựể ghi nhớ những người ựã có những ựóng góp cho ựồng bào, quê hương, tổ quốc Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy các ựịa danh nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc ở Thừa Thiên Huế phản ánh tên người thể hiện trên mấy khắa cạnh sau:
địa danh dân tộc thiểu số ựược ựặt theo tên người ựã góp phần phản ánh ựặc ựiểm văn hoá của chủ thể văn hoá là cư dân Môn-Khơ Me sống trên mảnh ựất Thừa Thiên Huế Phần lớn các ựịa danh dân tộc ựặt theo tên những vị anh hùng của cộng ựồng, là nhân vật trong các truyền thuyết, sử thi hay những người có công khai phá làng bản thôn xóm Chẳng hạn,
các ựịa danh Pa Cô-Ta Ôi: ựồi Pơ Rok (Prók: tên một nhân vật tiêu biểu trong làng ở xã A
đớt), núi Quỳnh Trên (Koonh Trên: tên nhà cách mạng, nhà lãnh ựạo huyện A Lưới), thôn
A Lưới (Alơaiq: nhân vật anh hùng của cộng ựồng trong sử thi), thác A Nô (Anôr: nhân vật
lịch sử trong sử thi)
Mỗi ựịa danh là những bài học ngắn gọn viết nên những trang sử vẻ vang của dân tộc mình đặc biệt, ựịa danh gắn với danh nhân là những người ựược sinh ra trên mảnh ựất
8 Nguyễn đình đầu (2005), ỘTìm hiểu Thừa Thiên Huế qua sưu tập ựịa bạỢ, in trong Cố ựô Huế, xưa và nay,
Nxb Thuận Hóa, Huế, trang 645 - 658
Trang 10Thừa Thiên Huế sẽ mãi là Ộtấm gươngỢ, Ộựài tưởng niệmỢ cho thế hệ con cháu ở ựịa phương noi theo
2.2.3.2 địa danh phản ánh tên các dòng họ tiêu biểu:
đối với các ựịa danh thuần Việt và Hán Việt, chúng phản ánh tên các dòng họ có công khai canh khai khẩn lập làng. Sự có mặt tên các dòng họ qua ựịa danh ựã ựể lại những
Ộdấu tắchỢ về thời ựiểm lịch sử hình thành làng xã của cư dân trên ựịa bàn cư trú: Văn Xá,
Lê Xá, Cao Xá, Võ Xá, Lê Xá đông, Lê Xá Tây, Cao Xá Hạ, Cao Xá Thượng,Ầ Theo các nhà nghiên cứu, loại ựịa danh ỘX + XáỢ9 có thể hình thành từ một trong hai lắ do sau: một dòng họ chiếm ựịa vị ựộc tôn hoặc ựa số trong một khu dân cư; hoặc một dòng họ vốn nổi tiếng nhất trong khu vực ấy đối với các ựịa danh dân tộc thiểu số ở Tây Thừa Thiên Huế, nhờ các ựịa danh mà tên một số dòng họ ựã ựổi theo họ người Kinh nhưng vẫn còn ựược bảo lưu cho ựến tận ngày nay Các dòng họ người dân tộc thiểu số ở Thừa Thiên Huế có ựến hằng trăm, song những dòng dọ ựược dùng ựể ựặt tên cho các ựịa danh phải là những dòng
họ tiêu biểu của công ựồng, có những ựóng góp to lớn và có một quá trình hình thành phát triển lâu ựời Các ựịa danh ựược ựặt theo tên các dòng họ của người Pa Cô-Ta Ôi thường
gặp là: suối Ven (Vean: tên dòng họ kiêng ăn thịt chó), sông Pa Rin (Paring: tên dòng họ kiêng ăn thịt con sóc), thôn A Hố (Ahooq: tên dòng họ kiêng làm cối xay), thôn Kê (Kê: tên dòng họ kiêng con bìm bịp), suối Pi Ây (Pi- âi: tên dòng họ kiêng ăn thịt chó), sông Y Reo (Ireau: tên dòng họ kiêng ăn bìm bịp), thôn Ta (Ta: tên dòng họ kiêng làm tấm ván), thôn Pi
Re (Pireq: tên dòng họ kiêng làm cối xay), thôn Tu Vây (Tuvăi: tên dòng họ kiêng chặt mây nước); Các ựịa danh phản ánh các dòng họ của tộc người Cơ Tu: thôn Mù Nú (Munuq: tên một dòng họ); thôn Ap Rung (Aprung: dòng họ kiêng vật tổ là cái bẫy cung; aprung: cái hố
ựặt bẫy)
Rõ ràng, mỗi dòng họ ựều thờ những vật tổ của mình và ựó cũng là những con vật kiêng ựối với cả cộng ựồng thôn bản Mỗi ựịa danh mang tên dòng họ ựều ký thác trong mình những câu chuyện cổ tắch mang ựậm dấu ấn văn hoá của dân tộc mình
Qua việc khảo sát ựịa danh trên ựịa bàn Thừa Thiên Huế, chúng tôi nhận thấy: nhóm các ựịa danh Hán Việt và thuần Việt phản ánh phương diện tâm lắ văn hoá của chủ thể ựịnh
9 Mô hình ựịa danh ỘX + XáỢ là một kiểu ựặt ựịa danh mang ựặc trưng cho quá trình tự cư lập làng của người
Việt từ Thừa Thiên Huế trở ra Xem thêm: Lê Trung Hoa(2006), địa danh học Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội;