1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả công tác quản lý hải quan đối với hàng hoá vào, ra khu kinh tế cửa khẩu ở việt nam

68 319 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 463,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa khu TM – CN với các khu chức năng khác trong khu KTCK và nội địa được xem như quan hệ trao đổi giữa nước ngoài và Việt Nam và phải tuân thủ các qu

Trang 1

Lêi më ®Çu

Trong bối cảnh toàn cầu hoá, các nước cần hợp tác với nhau để cùng phát triển Sự hợp tác đó không chỉ diễn ra ở phạm vi khu vực, châu lục mà còn mang tầm thế giới Để có thể mở rộng quan hệ với các nước trên khắp thế giới, trước tiên mỗi quốc gia cần phải tạo lập mối quan hệ tốt với các nước láng giềng của mình, hợp tác vì mục tiêu giữ gìn an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội tại biên giới Đặc biệt trong thời điểm hiện tại khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (CA – AFTA) đang được hiện thực hoá, hợp tác tiểu vùng sông Mê- Kông ngày càng sâu rộng đã khiến cho các cửa khẩu không chỉ là cửa ngõ kinh

tế đơn thuần của các nước mà còn trở thành cửa ngõ phát triển quan hệ kinh tế - chính trị cho cả khu vực Trước tình hình đó, kinh tế biên mậu ngày càng chứng

tỏ vai trò quan trọng của mình đối với đời sống nhân dân vùng biên và trong công cuộc xây dựng kinh tế của đất nước thông qua việc thúc đẩy giao lưu hàng hoá để phát huy lợi thế so sánh của nước mình

Tận dụng lợi thế tự nhiên và lịch sử, đường biên dài 3730 km với 3 nước láng giềng thuộc 25 tỉnh, được thông thương qua 97 cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính, cửa khẩu phụ, bắt nhịp với tiến trình đổi mới quan hệ với các nước láng giềng, từ cuối năm 1996 một mô hình kinh tế mới – Khu Kinh tế cửa khẩu đã ra đời, ngày càng phát triển, trở thành một thực thể không thể thiếu trong cấu thành của nền kinh tế nước nhà Giai đoạn mở đầu có tính chất thử nghiệm của việc thành lập mô hình kinh tế này là quyết định 196 ngày 18/9/1996 của Thủ tướng Chính phủ xây dựng thí điểm khu kinh tế cửa khẩu tại Móng Cái, Quảng Ninh Bằng chính sách khuyến khích hợp lý, nên thị xã tận cùng Đông Bắc từ hoang tàn, đổ nát đã nhanh chóng vươn dậy thành một đô thị xứng tầm, đặt nền móng

về lý luận và thực tiễn cho việc ra đời mô hình kinh tế mới - khu kinh tế cửa khẩu Việc áp dụng thí điểm các chính sách ưu đãi thí điểm tại các khu kinh tế

Trang 2

cửa khẩu này đã tạo đà phát triển mạnh, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu nói chung và cả nước nói riêng.Từ đó đến nay cả nước có tất cả 25 khu kinh tế cửa khẩu thuộc địa phận 19 tỉnh giáp biên Trong số đó ở khu vực biên giới với Trung Quốc có 9 khu kinh tế cửa khẩu, ở khu vực biên giới với Lào có 7 khu và ở khu vực biên giới với Campuchia có 9 khu.

Các khu kinh tế cửa khẩu được thành lập đã khiến cho hoạt động buôn bán tại khu vực biên giới trở nên thuận tiện, dễ dàng hơn, lưu lượng hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng lớn nhưng công tác quản lý tại các khu kinh tế cửa khẩu vẫn còn nhiều yếu kém làm ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế tại khu vực biên giới Vì thế một yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần cải cách, hiện đại hoá công tác quản lý Hải quan, tạo điều kiện để hoạt động xuất nhập khẩu diễn

ra nhanh chóng, thuận lợi Đặc biệt khi Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với việc thực hiện các cam kết trong quan hệ đa phương và song phương về lĩnh vực hải quan như AFTA, APEC, hiệp định thương mại Việt Mỹ, Hiệp định Hải quan ASEAN, cam kết trong WTO ( tổ chức thương mại thế giới) thì yêu cầu tăng cường năng lực quản lý càng trở nên cấp thiết để đáp ứng vai trò thúc đẩy kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, góp phần tăng thu ngân sách, tăng GDP Để góp phần đưa ra định hướng giải quyết yêu cầu trên chúng tôi đã

đi vào nghiên cứu về đề tài :

“ Nâng cao hiệu quả công tác quản lý Hải quan đối với hàng hoá vào, ra khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam “

Trang 3

Chương 1:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HOÁ VÀO, RA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU Ở VIỆT NAM 1.1 Một số nhận thức cơ bản về khu kinh tế cửa khẩu.

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của khu kinh tế cửa khẩu.

1.1.1.1 Khái niệm:

Khu kinh tế cửa khẩu (khu KTCK) là một mô hình kinh tế khá mới mẻ đối với Việt Nam, và hiện tại do chưa có một văn bản pháp lý nào định nghĩa về khu KTCK, do đó nếu xét trên các khía cạnh khác nhau như ranh giới địa lý, mô hình kinh tế thì sẽ có các cách hiểu khác nhau về một khu KTCK như:

Khu KTCK là khu vực có ranh giới địa lý xác định thuộc lãnh thổ và chủ quyền quốc gia với các khu chức năng có môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi nhất theo các quy định hiện hành bao gồm hạ tầng kinh tế - xã hội và chính sách, cơ chế quản lý thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh, phù hợp với cơ chế thị trường

Khu KTCK là một loại hình khu kinh tế, lấy giao lưu kinh tế biên giới qua cửa khẩu (cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu quốc gia) làm nòng cốt, có ranh giới xác định, được thành lập bởi cấp có thẩm quyền, có cơ chế hoạt động riêng,

mô hình quản lý riêng và có quan hệ chặt chẽ với khu vực xung quanh và nội địa phía sau

Khu KTCK là địa bàn bao gồm một cửa khẩu biên giới và một khu vực liền kề bao quanh khu vực cửa khẩu biên giới; được tổ chức, khai thác sử dụng vào các hoạt động giao lưu kinh tế qua biên giới, được áp dụng các chính sách riêng về thương mại - xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh - du lịch, thu hút vốn đầu

Trang 4

tư trong và ngoài nước, xây dựng kết cấu hạ tầng, quản lý tài chính, tiền tệ và phát triển xã hội.

Ở Việt Nam mô hình kinh tế này cũng đã được đề cập đến một cách khá

cụ thể như sau:

Khu KTCK ở Việt Nam là một không gian xác định, gắn với cửa khẩu

có cư dân sinh sống và được áp dụng những cơ chế, chính sách phát triển đặc thù, phù hợp đặc điểm từng địa phương sở tại nhằm mang lại hiệu quả kinh

tế - xã hội cao nhất dựa trên việc quy hoạch, khai thác, sử dụng, phát triển bền vững các nguồn lực, do chính phủ hoặc thủ tướng quyết định thành lập

Hiện tại ở Việt Nam đang tồn tại hai loại hình khu kinh tế cửa khẩu là:Khu KTCK được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính Phủ và thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý

Khu KTCK được thành lập theo từng Quyết định riêng của Thủ tướng Chính phủ và do Trung ương quản lý

1.1.1.2 Đặc điểm:

Các Khu KTCK nằm ở nhiều địa phương thuộc các vùng miền khác nhau của cả nước vì thế sẽ có những điểm khác nhau, tuy nhiên cũng có khá nhiều điểm tương đồng với nhau vì cùng thuộc một loại mô hình kinh tế

Nhìn chung các Khu KTCK có những đặc điểm nổi bật sau :

Thứ nhất: Các khu KTCK cách xa trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của đất nước

Khu KTCK được hình thành bao giờ cũng phải gắn với cửa khẩu tuy nhiên không phải cửa khẩu nào cũng có thể thành lập được khu KTCK mà chỉ có một số tỉnh vùng biên nơi có đường biên giới trên đất liền tiếp giáp với các nước

Trang 5

nằm cách xa Thủ đô Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh, hai trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá lớn nhất cả nước Đồng thời tại các tỉnh có khu KTCK thì hầu hết các khu KTCK cũng đều nằm ở các huyện và khá xa trung tâm tỉnh lỵ.

Thứ hai: Dân cư tại các khu kinh tế cửa khẩu với dân cư địa phương lân

cận của các nước láng giềng có sự tương đồng nhau về văn hoá, truyền thống, tín ngưỡng tôn giáo,

Khu KTCK là nơi giao thoa các chính sách: chính sách quốc gia, chính sách của nước bạn, chính sách hỗ trợ kinh tế, quy định của địa phương, thể chế kinh tế cửa khẩu Đồng thời đây là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá, dịch vụ hết sức sôi nổi, nhộn nhịp vì thế đã thu hút dân

cư từ nhiều tỉnh thành trong cả nước đến sinh sống, kinh doanh, nhất là dân

cư từ các địa phương lân cận của cả Việt Nam và các nước láng giềng Do nhu cầu và yêu cầu của việc giao thương đã khiến mối quan hệ giữa dân cư tại các Khu KTCK với dân cư địa phương của các nước láng giềng trở nên thân thiết, sâu sắc hơn Cùng với sự trao đổi về kinh tế là quá trình giao lưu văn hoá, tìm hiểu truyền thống, tín ngưỡng, tôn giáo lẫn nhau, tiếp thu những cái hay, cái đẹp trong bản sắc văn hoá dân tộc mỗi quốc gia Vì thế có sự tương đồng về văn hoá, truyền thống, tín ngưỡng tôn giáo là điều tất yếu, là một nét đặc trưng của các Khu KTCK

Thứ ba: Các khu KTCK có sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế - xã

hội - môi trường và chất lượng cuộc sống

Khu KTCK là bộ phận hạt nhân của vành đai kinh tế - xã hội vùng biên giới mỗi nước Do vậy đối với nhiều quốc gia chính sách phát triển khu KTCK được coi là trọng tâm để phát triển quan hệ thương mại với các láng giềng Nhận thức được vai trò quan trọng của mô hình này đối với nền kinh

tế quốc dân, các quốc gia đã có thành lập các khu KTCK của mình và có những

Trang 6

chế độ, chính sách khác nhau về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông công cộng, văn hoá, giáo dục, y tế, môi trường và những chế độ ưu đãi nhất định để thúc đẩy phát triển mô hình khu KTCK

Hơn nữa trong cùng một đất nước, do điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội, khả năng kinh tế, lợi thế về nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản… của các vùng, khu vực sẽ không giống nhau vì thế mà nội dung chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư… cũng sẽ khác nhau để phù hợp với điều kiện của từng khu KTCK

Do sự phát triển không đồng đều giữa các khu KTCK làm cho chất lượng cuộc sống ở những nơi này cũng có những khác biệt nhất định Có những khu KTCK mà mức sống của người dân được cải thiện rõ rệt, chất lượng cuộc sống cũng từng ngày thay đổi theo chiều hướng tốt như khu KTCK Lạng Sơn( tỉnh Lạng Sơn), khu KTCK Lào Cai ( tỉnh Lào Cai), khu KTCK Móng Cái (tỉnh Quảng Ninh), khu KTCK Mộc Bài (tỉnh Tây Ninh), KKTCK Cầu Treo (tỉnh Hà Tĩnh)…

Thứ tư: Hợp tác và cạnh tranh là đặc trưng chủ yếu ở các khu KTCK Tại các khu KTCK việc XNK hàng hoá, dịch vụ là hoạt động chủ yếu, quyết định sự tồn vong của mỗi khu KTCK Để những hoạt động xuất nhập khẩu

đó diễn ra thông suốt, thuận lợi, các doanh nhân ở đây đã tích cực hợp tác, tận dụng ưu thế của nhau để cùng phát triển Và các cơ quan, ban ngành có trách nhiệm quản lý các khu kinh tế cửa khẩu cũng tích cực hợp tác với nhau để góp phần bảo vệ an ninh, chính trị, trật tự và an toàn xã hội tại các khu kinh tế cửa khẩu, các tỉnh biên giới và của cả nước

Tuy nhiên trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nhất là khi chúng ta

đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì xu hướng cạnh tranh là

Trang 7

thụ Để tồn tại và phát triển các tổ chức và doanh nghiệp cần tự khẳng định mình trong việc cạnh tranh với các đối thủ kinh doanh trong và ngoài các khu KTCK Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, hợp tác và cạnh tranh là hai xu thế tất yếu và tồn tại song hành, chính hai xu thế này đã thúc đẩy, giúp cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ ngày càng nâng cao cả về chất và lượng

Thứ năm: Hợp tác và giao lưu kinh tế dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ

quyền của nhau, bình đẳng, các bên cùng có lợi

Để thúc đẩy quan hệ hợp tác và giao các bên ký những hiệp định như :Hiệp định mua bán trao đổi hàng hoá và dịch vụ thương mại tại khu vực biên giới giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Campuchia ký ngày 26/11/2001; Hiệp định thương mại giữa Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

và Chính phủ Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào ký ngày 21/12/1998; Hiệp định

về mua bán hàng hoá ở vùng biên giới giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Các thỏa thuận song phương đã được ký kết giữa hai Chính phủ như cam kết để thực hiện hiện đại hoá công tác quản lý cửa khẩu; đơn giản hoá thủ tục kiểm soát xuất nhập cảnh, xuất nhập khẩu; công khai các khoản thu phí, lệ phí, thông báo chính sách quản lý xuất nhập khẩu; cùng nhau ký kết các hiệp định: Hiệp định giao thông đường bộ; Hiệp định đảm bảo chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu và công nhận lẫn nhau Ban Quản lý cửa khẩu hai bên đã thực hiện chế độ giao ban định kỳ hàng quý, thống nhất nội dung phục vụ khánh tiết các ngày lễ, tết, phục

vụ hội chợ thương mại quốc tế (hội chợ này được tổ chức luân phiên mỗi năm một lần), thu hút đầu tư của Chính phủ cho nhau… hợp tác vì mục tiêu lợi ích của mỗi nước mà không làm phương hại đến lợi ích của nhau, tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của đối tác

Thứ sáu: Khu kinh tế cửa khẩu gồm các khu chức năng khác nhau :

Trang 8

 Khu cửa khẩu: Là khu vực hoạt động xuất nhập cảnh, xuất nhập khẩu.

 Khu đô thị và dân cư

 Khu du lịch, dịch vụ

 Khu vực phát triển nông lâm nghiệp

 Khu thương mại công nghiệp,

 Khu quản lý hành chính

 Khu quản lý và kiểm soát cửa khẩu

 Chợ trong Khu KTCK: là chợ được lập ra trong Khu KTCK

 Khu bảo thuế

Các khu chức năng này được phân biệt theo các nguyên tắc nhất định

để áp dụng các cơ chế chính sách phù hợp nhằm tạo môi trường khuyến khích đầu tư, kinh doanh thuận lợi phù hợp với cơ chế thị trường, xu thế hội nhập và các quy định của pháp luật Vị trí từng khu chức năng được xác định trong quy hoạch chung và chi tiết theo từng khu KTCK cụ thể, đảm bảo phù hợp và có tính gắn kết chặt chẽ giữa các khu

Quan hệ trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa khu TM – CN với các khu chức năng khác trong khu KTCK và nội địa được xem như quan hệ trao đổi giữa nước ngoài và Việt Nam và phải tuân thủ các quy định của pháp luật về xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam; phải thực hiện các thủ tục hải quan theo Luật Hải quan Việt Nam Quan hệ trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa khu TM – CN với nước ngoài và giữa các tổ chức kinh tế trong khu TM – CN được xem như quan hệ trao đổi giữa nước ngoài với nước ngoài

Trong quá trình hình thành và phát triển các khu KTCK chịu ảnh hưởng

Trang 9

các bên, chính sách đối ngoại và quan hệ kinh tế - chính trị của mỗi nước, mỗi địa phương.

1.1.2 Vai trò của các KKTCK.

Mô hình khu KTCK được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đầu tư xây dựng và ngày càng mở rộng bởi vì khu kinh tế cửa khẩu đóng vai trò quan trọng, có khả năng tác động tích cực, lan toả đến các vùng kinh tế khác trong cả nước Nó tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và các tỉnh biên giới nói riêng

Các khu KTCK đã có những đóng góp rất lớn đối với nền kinh tế Việt Nam, nhất là trong quá trình hội nhập với kinh tế thế giới Trong quá trình phát triển đất nước chúng có các vai trò chủ yếu sau đây :

Tạo điều kiện phát huy tiềm năng, ưu thế các địa phương biên giới: Mỗi

địa phương đều có những tiềm năng, ưu thế riêng về kinh tế, du lịch, dịch

vụ, nguồn nhân lực… Trước khi có các khu KTCK, hầu hết các tỉnh có cửa khẩu là các tỉnh khó khăn, nay nhiều tỉnh trong số này đã phát triển hơn trước Nhờ có sự ra đời và tồn tại của các KKTCK mà tại các tỉnh biên giới hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh diễn ra sôi nổi hơn, hiệu quả hơn Dựa vào

đó, các địa phương biên giới có thể phát huy những tiềm năng, ưu thế của mình, góp phần phát triển kinh tế địa phương và tăng thu cho ngân sách nhà nước

Góp phần mở rộng giao lưu, buôn bán, giảm dần những tiêu cực trong buôn bán qua biên giới: Khi các khu KTCK được thành lập và đưa vào hoạt

động, nó trở thành nơi tập trung buôn bán, kinh doanh của rất nhiều thương nhân, nhà đầu tư cả trong và ngoài nước Tại đây, Chính phủ đã có những chính sách ưu đãi nhất định đối với các doanh nghiệp như: đầu tư, thuế thu nhập doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng ban đầu, văn phòng, đất đai…; thủ tục hải

Trang 10

khu KTCK và các loại hàng hoá này cũng được xét miễn, giảm thuế TTĐB, GTGT, XKNK tuỳ theo chính sách của từng giai đoạn, từng thời kì phát triển đất nước Đi đôi với việc hình thành các khu kinh tế cửa khẩu, các đô thị, trung tâm kinh tế, thương mại được thành lập đã giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động, khai thác tiềm năng của vùng biên giới hai nước Nhờ đó, quan hệ giao lưu, buôn bán được mở rộng và giảm dần những tiêu cực trong buôn bán qua biên giới do nguyên nhân trốn thuế

Khu KTCK là một mô hình mới, linh hoạt, cới mở và khuyến khích các hoạt động kinh tế - thương mại được pháp luật hai nước cho phép, phù hợp với thông lệ quốc tế, nằm trong quy hoạch về kinh tế - xã hội của địa phương

và trung ương, do đó đã giúp cho chính quyền địa phương và cơ quan quản

lý ngăn ngừa tốt hơn tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại

Xây dựng các hệ thống phân phối, cung cấp trên các lĩnh vực: Nhận thức

được rằng KKTCK là nơi có môi trường kinh doanh thuận lợi với nhiều chế

độ, chính sách ưu đãi riêng có, các doanh nghiệp, tổ chức hoạt động ở nhiều lĩnh vực khác nhau đã tập trung về đây, tham gia sản xuất kinh doanh, lập thành các hiệp hội, nghành nghề; từ đó đã hình thành các hệ thống phân phối, cung cấp hàng hoá, dịch vụ trên các lĩnh vực, phục vụ cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu với các nước và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt của thị trường nội địa và của cư dân sinh sống trong các khu KTCK

Góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống người dân địa phương và các khu vực lân cận: Việc hình thành các khu KTCK, các đô thị, trung tâm kinh

tế, thương mại đã giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động, góp phần mở rộng giao lưu kinh tế giữa Việt Nam và các nước láng giềng, đẩy nhanh tốc

độ tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cải thiện đời sống xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân

Trang 11

lực; quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và các nước láng giềng, giữa các dân tộc được củng cố và phát triển

Củng cố an ninh quốc phòng tại khu vực biên giới giữa Việt Nam và các nước láng giềng: Khu vực biên giới là khu vực khá nhạy cảm của đất nước

Ở đây, chức năng quân sự có vai trò rất quan trọng bởi biên giới chính là ranh giới chủ quyền quốc gia Các đô thị biên giới đều là các căn cứ quân sự, đều có hệ thống phòng thủ để đảm bảo an ninh chính trị cho khu vực biên giới nói riêng và cả nước nói chung Mỗi cửa khẩu cũng là một cửa ngõ quốc gia Việc hình thành các khu KTCK đã thu hút dân cư đến làm ăn, sinh sống, tạo thành những khu tập trung dân cư, đô thị biên giới, góp phần làm tăng tiềm lực kinh tế quốc phòng tại tuyến biên giới Dù chức năng kinh

tế nổi trội nhưng chức năng phòng thủ vẫn và sẽ luôn tồn tại Các khu KTCK tuy được hưởng các chính sách ưu đãi để phát triển cơ sở hạ tầng nhưng việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của khu KTCK không những không phá vỡ quy hoạch và thế phòng thủ bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng tại khu vực cửa khẩu biên giới, mà còn làm tốt hơn công tác giữ trật tự an toàn xã hội và chống buôn lậu do được trang bị kỹ thuật và được chính phủ chỉ đạo sát sao hơn

Góp phần quan thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển: Khu KTCK càng phát

triển, nó sẽ tác động trực tiếp tới việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ ngành nông nghiệp là chủ đạo sang hướng phát triển thương mại - du lịch, dịch vụ mang lại số thu lớn cho ngân sách; thúc đẩy phân công lao động theo hướng chuyên môn hoá sản xuất; làm cho thị trường thông suốt trong cả nước Góp phần đẩy nhanh xu hướng đô thị hoá, hình thành những thị trấn, thị tứ, các khu thương mại dịch vụ

Trang 12

Khuyến khích phát triển văn hóa xã hội: Kinh tế tại các khu KTCK phát

triển sẽ nâng cao mức sống của người dân, đời sống văn hoá nhờ đó cũng được cải thiện, tiến kịp với các khu vực khác trong cả nước

1.2 Một số nhận thức cơ bản về công tác quản lý hải quan.

1.2.1 Công tác quản lý hải quan đối với hàng hoá vào ra khu kinh tế cửa khẩu.

1.2.1.1 Khái niệm, vai trò của công tác quản lý hải quan.

* Khái niệm công tác quản lý hải quan :

Công tác quản lý hải quan là việc cơ quan Hải quan đưa ra các quy trình thủ tục hải quan và thực hiện các quy trình thủ tục đó nhằm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh

* Vai trò của công tác quản lý hải quan :

Công tác quản lý Hải quan được thực hiện tốt, có hiệu quả sẽ mang lại lợi ích không chỉ cho nhà nước mà còn cho cả các doanh nghiệp, các chủ thể kinh

tế vai trò đó được thể hiện cụ thể qua các điểm sau:

Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước: bởi hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu mang lại trên 60% GDP( số liệu năm 2007)

Là công cụ thực thi các chính sách hàng hoá của nhà nước,và giúp nhà nước nắm bắt được tình hình thực thi các kế hoạch đã đề ra, bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính

Bảo vệ lợi ích, sức khoẻ người tiêu dùng thông qua việc kiểm soát chất lượng hàng hoá đưa ra, đưa vào khu KTCK (cấm, hạn chế xuất, nhập khẩu hàng hoá trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ con người)

Trang 13

Chống gian lận thương mại nhất là gian lận qua giá và áp mã hàng hoá; chống buôn lậu để đảm bảo an ninh kinh tế vùng biên.

Tạo môi trường kinh tế an toàn, thuận lợi, khuyến khích các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh với nhau Cùng tồn tại và phát triển, hợp tác và thân thiện

Kiểm soát số lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường để có số liệu thống

kê cung cấp cho bộ phận thống kê Góp phần giúp nhà nước có thể phân tích chính xác tình hình, rút kinh nghiệm từ những việc chưa hiện được hoặc thực hiện chưa tốt và đưa ra những quyết sách kinh tế phù hợp theo từng giai đoạn phát triến của đất nước

1.2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý hải quan đối với hàng hoá vào ra khu KTCK

Trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình, cơ quan Hải quan chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố như:

Định hướng phát triển kinh tế của nhà nước theo từng thời kì: mỗi thời kỳ

khác nhau nhà nước lại có những chủ trương, định hướng khác nhau Từ đó dẫn đến việc ban hành một số văn bản pháp luật điều chỉnh công tác quản lý hải quan

để phục vụ cho những mục tiêu đã định

Nội dung quản lý của các bộ ngành: có liên quan tới các loại hàng hoá

lưu thông, buôn bán tại các khu KTCK: bất cứ một loại hàng hoá nào lưu thông trên thị trường đều thuộc phạm vi quản lý của một bộ ngành nhất định Trong phạm vi quản lý của mình, các bộ ngành đã đưa ra danh mục hàng hoá bị cấm, hạn chế hay khuyến khích xuất khẩu, nhập khẩu Dựa vào đó cơ quan Hải quan tại các khu KTCK thực hiện nhiệm vụ quản lý của mình

Mục tiêu, chính sách ưu đãi của từng địa phương sở tại: tuỳ theo tiềm

năng, ưu thế của mình mà các địa phương đưa ra những mục tiêu phát triển kinh

Trang 14

tế, những chính sách ưu đãi nhất định và có những công văn, chỉ thị điều chỉnh, hướng dẫn thực hiện gửi tới các sở, ban ngành trong toàn tỉnh, trong đó có cả cục Hải quan mà cụ thể ở đây là chi cục Hải quan tại khu KTCK.

Sự phối kết hợp của các cơ quan hữu quan tại các khu KTCK như công

an, biên phòng, thuế, quản lý thị trường, kiểm dịch động thực vật, ban quản lý khu KTCK: nếu các cơ quan này tích cực hợp tác, trao đổi, cung cấp thông tin liên quan sẽ giúp cho công tác quản lý Hải quan được thuận tiện và nhanh chóng hơn

Sự tuân thủ pháp luật hải quan của chủ hàng: Các chủ hàng là những

người có lợi ích trực tiếp và cũng góp phần quan trọng quyết định tới kết quả quản lý Nếu chủ hàng tuân thủ tốt pháp luật Hải quan sẽ đẩy nhanh quá trình kiểm tra, làm thủ tục và thông quan hải quan; công tác quản lý hải quan trở nên đơn giản và hiệu quả hơn

1.2.2 Nội dung công tác quản lý hải quan đối với hàng hoá vào, ra khu KTCK

Hàng hoá vào ra khu kinh tế cửa khẩu đều chịu sự kiểm tra, giám sát của

cơ quan Hải quan và được áp dụng quy trình thủ tục hải quan phù hợp với từng

loại hình theo quy định hiện hành của pháp luật quốc gia

Công tác quản lý hải quan đối với hàng hoá vào, ra các khu KTCK chủ yếu được quy định đối với khu thương mại công nghiệp và khu bảo thuế

1.2.2.1 Thủ tục Hải quan tại khu thương mại công nghiệp:

Khu Thương mại và công nghiệp( khu TM – CN) là một phần của Khu

KTCK, là một loại hình khu phi thuế quan theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, có quy mô, vị trí được xác định trong quy hoạch chung và chi tiết của từng khu kinh tế cửa khẩu và có các đặc điểm sau:

Trang 15

Có hàng rào cứng bảo đảm cách ly các hoạt động trong khu thương mại công nghiệp với các khu chức năng khác của khu KTCK.

Trong khu thương mại công nghiệp, không có dân cư (kể cả người nước ngoài) cư trú thường xuyên hoặc tạm trú

Có trạm kiểm soát để giám sát, kiểm tra người, hàng hóa và các phương tiện vào và ra khu thương mại công nghiệp

* Thủ tục Hải quan

Đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào Khu TM – CN: Tổ chức,

cá nhân sản xuất kinh doanh tại Khu TM – CN thực hiện kê khai hải quan và nộp

hồ sơ hải quan theo đúng quy định đối với từng loại hình nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu thuộc hải quan tỉnh (các Trạm kiểm soát hải quan Khu TM-CN) và phải chịu sự giám sát của các Trạm kiểm soát hải quan Khu TM-CN

Đối với hàng hóa từ nước ngoài nhập khẩu vào nội địa: Thủ tục hải quan

thực hiện tại Chi cục Hải quan cửa khẩu thuộc Hải quan tỉnh (các Trạm kiểm soát hải quan Khu TM – CN )

Đối với hàng hóa, dịch vụ từ nội địa đưa vào Khu TM – CN: Cơ quan Hải

quan làm thủ tục hải quan khi có yêu cầu Thủ tục hải quan được thực hiện như sau:

- Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh tại Khu TM – CN và tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trong nội địa thực hiện kê khai hải quan và nộp hồ sơ hải quan theo đúng quy định đối với từng loại hình xuất nhập khẩu Trường hợp vận chuyển hàng hóa nội bộ giữa doanh nghiệp và chi nhánh trong và ngoài Khu

TM – CN thì thay thế Hợp đồng mua bán bằng chứng từ xuất kho

- Trường hợp tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh nội địa đăng ký tờ khai xuất khẩu tại Chi cục Hải quan nội địa thì kê khai hải quan và nộp hồ sơ hải quan

Trang 16

theo đúng quy định đối với từng loại hình xuất khẩu; Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh tại Khu TM – CN thì kê khai hải quan và nộp hồ sơ hải quan theo đúng quy định đối với từng loại hình nhập khẩu.

Đối với hàng hóa từ Khu TM – CN xuất khẩu ra nước ngoài: Tổ chức, cá

nhân sản xuất kinh doanh tại Khu TM – CN thực hiện kê khai hải quan và nộp

hồ sơ hải quan theo đúng quy định đối với từng loại hình xuất khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu hoặc các Trạm kiểm soát hải quan trong Khu TM – CN

Đối với hàng hóa từ nội địa xuất khẩu ra nước ngoài qua cửa khẩu: Làm

thủ tục hải quan tại Chi cục Hải quan cửa khẩu (các Trạm kiểm soát hải quan Khu TM – CN ) Trong trường hợp làm thủ tục hải quan tại Chi cục Hải quan nội địa, việc vận chuyển hàng đến cửa khẩu thực hiện theo quy định đối với hàng hóa xuất khẩu chuyển cửa khẩu

Đối với hàng hóa từ TM – CN đưa vào nội địa: Thủ tục hải quan thực

hiện tại Chi cục Hải quan cửa khẩu (các Trạm kiểm soát Hải quan trong Khu TM-CN) Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh tại TM – CN (bên bán) và tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh nội địa (bên mua) có trách nhiệm:

- Kê khai hải quan và nộp hồ sơ hải quan theo đúng quy định đối với từng loại hình xuất nhập khẩu Trường hợp vận chuyển hàng hóa nội bộ giữa doanh nghiệp và chi nhánh trong và ngoài Khu TM – CN hoặc doanh nghiệp trực tiếp mang hàng vào nội địa bán thì trong hồ sơ hải quan thay thế hợp đồng bằng chứng từ xuất kho

- Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh tại Khu TM – CN phải nộp thêm cho cơ quan Hải quan bản sao Tờ khai hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào Khu TM – CN nếu hàng hóa đưa vào nội địa là hàng hóa có nguồn gốc nước ngoài, bản sao có đóng dấu sao y bản chính có giá trị pháp lý

Trang 17

- Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh tại Khu TM – CN (bên bán) phải nộp cho Chi cục Hải quan cửa khẩu bản định mức nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài cấu thành trong sản phẩm nếu là hàng hóa sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp tại Khu TM – CN có sử dụng nguyên liệu, linh kiện của nước ngoài.

Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh qua Khu TM – CN: Chỉ được đi

qua các cổng có trạm kiểm soát hải quan và làm thủ tục hải quan tại Chi cục Hải quan cửa khẩu (các Trạm kiểm soát hải quan TM - CN)

Cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm mở sổ theo dõi đối với từng tổ chức,

cá nhân sản xuất kinh doanh tại Khu TM - CN để thống kê và kiểm tra, đối chiếu với Phiếu xuất kho của số hàng hoá, dịch vụ đó

Định kỳ 6 tháng, doanh nghiệp khu TM – CN có trách nhiệm gửi cơ quan Hải quan Báo cáo quyết toán vật tư, nguyên vật liệu, hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong kỳ và Báo cáo xuất - nhập - tồn kho sản phẩm Cơ quan Hải quan kiểm tra đối chiếu và gửi cơ quan Thuế để kiểm tra xác định các khoản thuế phải nộp

1.2.2.2 Thủ tục Hải quan tại Khu bảo thuế:

Khu bảo thuế: là khu vực có tường rào cứng bảo đảm ngăn cách các hoạt

động trong Khu bảo thuế với các khu chức năng trong Khu KTCK và nội địa Việt Nam, có trạm Hải quan để giám sát, kiểm tra hàng hóa ra vào Trong Khu bảo thuế có các hoạt động kinh doanh:

Dịch vụ hậu cần (logistic);

Sản xuất, chế biến hàng hóa;

Thương mại buôn bán quốc tế;

Triển lãm giới thiệu sản phẩm

Trang 18

Khu bảo thuế được Chính phủ cho phép thành lập và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh có Khu KTCK quyết định.

* Thủ tục Hải quan.

Tất cả hàng hoá đưa vào, đưa ra khu bảo thuế đều phải làm thủ tục khai hải quan, chịu sự kiểm tra giám sát hải quan, trừ hàng hoá có xuất xứ Việt Nam đưa từ khu bảo thuế vào nội địa thì không phải làm thủ tục hải quan

Đối với hàng hoá từ nước ngoài đưa vào khu bảo thuế : Khi đưa hàng hoá

từ nước ngoài vào khu bảo thuế, người khai hải quan phải khai trên tờ khai hải quan theo đúng quy định đối với từng loại hình nhập khẩu tại Hải quan khu bảo thuế Hàng hoá từ nước ngoài nhập khẩu vào khu bảo thuế không thuộc diện chịu các loại thuế đối với hàng nhập khẩu, vì vậy, khi khai hải quan người khai hải quan không phải thực hiện kê khai tính thuế

Hàng hoá đưa vào khu bảo thuế được miễn kiểm tra hải quan Nếu pháp hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì cơ quan hải quan thực hiện việc kiểm tra thực tế hàng hoá

Đối với hàng hoá từ nội địa đưa vào khu bảo thuế : Hàng hoá từ nội đưa

đưa vào khu bảo thuế coi như hàng hoá xuất khẩu doanh nghiệp nội địa phải làm thủ tục hải quan theo đúng quy định đối với từng loại hình xuất khẩu Doanh nghiệp trong khu bảo thuế làm thủ tục hải quan theo đúng quy định đối với từng loại hình nhập khẩu

Trường hợp doanh nghiệp nội địa đặt cơ sở trong khu bảo thuế gia công hàng hoá, thì thủ tục hải quan thưc hiện như doanh nghiệp nội địa đặt gia công tại nước ngoài Doanh nghiệp nội địa đăng ký hợp đồng gia công và làm thủ tục xuất khẩu nguyên phụ liệu và khu bảo thuế tại Chi cục Hải quan trong nội địa Hải quan khu bảo thuế giám sát, xác nhận hàng vào khu bảo thuế

Trang 19

Việc kiểm tra thực hiện hàng hoá thực hiện theo quy định như đối với hàng xuất khẩu ra nước ngoài Trường hợp hàng đưa vào khu bảo thuế do Chi cục hải quan khác Chi cục Hải quan khu bảo thuế làm thủ tục, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì Chi cục Hải quan khu bảo thuế thực hiện kiểm tra lại hàng hoá theo quy định.

Đối với hàng hoá từ khu bảo thuế xuất khẩu ra nước ngoài : Hàng hoá từ

nước ngoài hoặc hàng hoá từ nội địa đưa vào khu bảo thuế sau đó xuất khẩu nguyên trạng ra nước ngoài thì doanh nghiệp khai hải quan theo tờ khai xuất khẩu khu bảo thuế và bản kê chi tiết (nếu có)

Hàng hoá được sản xuất, chế biến tại khu bảo thuế từ nguyên liệu NK hoặc

từ nội địa đưa vào thì ngoài chứng từ trên phải nộp thêm bản định mức

Hàng hoá có xuất xứ hoàn toàn Việt Nam thì thủ tục hải quan thực hiện như hàng hoá xuất khẩu bình thường

Các hàng hoá trên được miễn kiểm tra thực tế, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật thì thực hiện kiểm tra thực tế hàng hoá

Đối với hàng hoá từ khu bảo thuế đưa vào nội địa : Tất cả hàng hoá từ khu

bảo thuế đưa vào nội địa coi như hàng nhập khẩu từ nước ngoài, phải làm thủ tục hải quan theo đúng quy định đối với từng loại hình nhập khẩu trừ hàng xuất xứ Việt Nam

* Giám sát hải quan đối với hàng hoá đưa ra, đưa vào, đi qua khu bảo thuế :

Tất cả hàng hoá đưa ra, đưa vào khu bảo thuế, hàng hoá vận chuyển qua khu bảo thuế để nhập khẩu vào nội địa hoặc xuất khẩu ra nước ngoài phải đi qua cổng kiểm soát hải quan và phải chịu sự giám sát của Hải quan cổng kiểm soát này

Trang 20

Hàng hoỏ từ nước ngoài nhập khẩu vào nội địa hoặc hàng hoỏ từ nội địa xuất khẩu ra nước ngoài khi đi qua khu bảo thuế phải đi đỳng tuyến đường do Hải quan khu bảo thuế phối hợp với Ban quản lý khu KTCK quy định.

Ngoài cỏc quy định trờn, cỏc bờn liờn quan phải thực hiện cỏc nghĩa vụ khỏc quy định tại Luật Hải quan, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quy định tại cỏc văn bản quy phạm phỏp luật cú liờn quan

1.3 Hàng hoỏ và một số quy định đối với hàng hoỏ được đưa vào, đưa ra khu KTCK.

1.3.1 Khỏi niệm hàng hoỏ:

Hàng hoỏ: bao gồm hàng hoỏ xuất khẩu, nhập khẩu, quỏ cảnh; hành lý,

ngoại hối tiền Việt Nam của người xuất cảnh, nhập cảnh; vật dụng trờn phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quỏ cảnh; kim khớ quớ, cổ vật, văn hoỏ phẩm, bưu phẩm, cỏc tài sản khỏc xuất khẩu, nhập khẩu, quỏ cảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan ( Khoản 1, Điều 4 luật Hải quan Việt Nam)

1.3.2 Một số quy định đối với hàng hoỏ đưa vào, đưa ra khu KTCK.

Hàng hoỏ vào ra cỏc khu KTCK bao gồm hàng hoỏ xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tỏi xuất, tạm xuất tỏi nhập, chuyển khẩu, quỏ cảnh, gia cụng, hàng phi mậu dịch

Những h ng à hoỏ n y dù có phải chịu thuế hải quan và thuế khác hayàkhông, đều phải chịu kiểm tra hải quan và phải thực hiện kiểm dịch động thực vật, kiểm tra về vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng hàng húa theo tiờu chuẩn, chất lượng trước khi qua cửa khẩu Khụng được nhập khẩu qua những cửa khẩu khụng cú cỏc điểm kiểm dịch động thực vật, kiểm tra chất lượng

hàng húa theo quy định của phỏp luật Việt Nam

Trang 21

Tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh tại Khu KTCK được xuất khẩu, nhập khẩu các loại hàng hoá, trừ các hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và hàng hoá cấm lưu thông theo pháp luật Việt Nam.

Việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện, hàng hoá hạn chế kinh doanh được thực hiện theo hướng dẫn của các Bộ quản lý ngành

Chất lượng hàng hóa buôn bán qua khu kinh tế cửa khẩu phải phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý chất lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Trang 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HOÁ VÀO, RA KHU KINH T Ế CỬA KHẨU Ở VIỆT NAM

Hiện tại ở Việt Nam có 25 khu KTCK, được thành lập sớm nhất là khu KTCK Móng Cái ( Quảng Ninh) năm 1996 Danh sách các khu KTCK đưa ra trong bảng dưới đây

Bảng 1: Danh sách các khu kinh tế cửa khẩu của Việt Nam:

Số

thứ tự

Khu kinh tế cửa khẩu Thuộc địa phận tỉnh

1 Khu Kinh tế cửa khẩu Móng Cái Quảng Ninh

2 Khu kinh tế cửa khẩu Bắc Phong sinh và

Hoành Mô

Quảng Ninh

3 Khu Kinh tế cửa khẩu Lạng Sơn Lạng Sơn

5 Khu kinh tế cửa khẩu Tà Lùng Cao Bằng

6 Khu Kinh tế cửa khẩu Trà Lĩnh Cao Bằng

7 Khu Kinh tế cửa khẩu Trà Lĩnh Sóc Giang Cao Bằng

8 Khu Kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy Hà Giang

9 Khu Kinh tế cửa khẩu Lào Cai Lào Cai

10 Khu Kinh tế cửa khẩu Ma Lù Thàng Lai Châu

Trang 23

11 Khu Kinh tế cửa khẩu Tây Trang Điện Biên

13 Khu Kinh tế cửa khẩu Cầu Treo Hà Tĩnh

14 Khu Kinh tế cửa khẩu Cha Lo Quảng Bình

15 Khu Kinh tế cửa khẩu Nam Giang Quảng Nam

16 Khu Kinh tế c ửa khẩu Quốc tế Bờ Y Kon Tum

17 Khu Kinh tế cửa khẩu Đường 19 Gia Lai

18 Khu Kinh tế cửa khẩu Bonuê Bình Phước

19 Khu Kinh tế cửa khẩu Mộc Bài Tây Ninh

20 Khu Kinh tế cửa khẩu Xa Mát Tây Ninh

21 Khu Kinh tế cửa khẩu tỉnh Đồng Tháp Đồng Tháp

22 Khu Kinh tế cửa khẩu Khánh Bình An Giang

23 Khu Kinh tế cửa khẩu Tịnh Biên An Giang

24 Khu Kinh tế cửa khẩu Hà Tiên Kiên Giang

25 Khu Kinh tế cửa khẩu Xà Xía Kiên Giang

Trang 24

2.1 Thực trạng hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá.

2.1.1 Thực trạng hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá tại các khu KTCK.

Hàng xuất khẩu của Việt Nam qua các khu KTCK ban đầu thường là than nhiệt lượng thấp, cao su nguyên liệu, hàng tiêu dùng chất lượng bình dân, thì nay

đã có thêm nhiều hàng chất lượng cao, và từ nước bạn còn sang nước thứ ba Ngược lại qua cửa khẩu, nhiều nguyên nhiên vật liệu cho sản xuất của Việt Nam nhanh tới các cơ sở, với giá cả, chi phí chấp nhận được so với việc phải nhập khẩu từ các thị trường xa Các doanh nghiệp tham gia hoạt động tại các khu KTCK lúc đầu phần lớn thuộc loại vừa và nhỏ nay đã có doanh nghiệp có tiếng tăm Hoạt động của các doanh nghiệp ban đầu chủ yếu nhằm vào thương mại - dịch vụ nay đã đầu tư vào một số lĩnh vực sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất Một

số doanh nghiệp nước ngoài đã lập văn phòng đại diện, chi nhánh, xây dựng trung tâm thương mại, tiến tới việc làm ăn lâu dài tại Việt Nam Những thành công bước đầu này đã chứng minh sự đúng đắn của chính sách mở ra khu KTCK của Đảng và Nhà nước ta là hợp lý và kịp thời

Các khu KTCK được hình thành nhằm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế mậu biên, trở thành địa điểm trung chuyển hàng hóa cho các thương vụ của các DN trong và ngoài nước sang thị trường Lào, Campuchia và các nước trong khu vực Chúng ta chủ yếu trao đổi, mua bán những mặt hàng có tính bổ trợ, phục vụ nhu cầu phát triển sản xuất của hai nước, các sản phẩm về nông nghiệp, nông sản, giống cây trồng, vật nuôi, các loại máy móc, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, thức ăn gia súc, thuốc thú y, lương thực và thực phẩm chế biến, hàng tiêu dùng, công nghệ điện gia dụng, thời trang dệt may, giày da, vải sợi, hoá mỹ phẩm, vật liệu xây dựng, trang trí nội thất, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng lưu niệm, đồ chơi trẻ em… được các DN trong và ngoài nước khai thác triệt để, đẩy

Trang 25

nhanh xúc tiến thương mại, đưa hàng hoá xuất nhập khẩu sang nước bạn và ngược lại đạt hiệu quả cao và an toàn

Các sự kiện xúc tiến thương mại trong chương trình xúc tiến Thương mại quốc gia như các hội chợ triển lãm, giao lưu, khảo sát thị trường giữa các đối tác Việt Nam với nước láng giềng…đã tưng bừng diễn ra tại các khu KTCK Lào Cai, Móng Cái, Mộc Bài…

Tuy nhiên một thực tế cần nhìn thẳng là cho đến nay, phần tăng trưởng của các khu KTCK tại biên giới với Trung Quốc vẫn chủ yếu là do nguồn hàng

từ bên ngoài khu KTCK giao lưu qua các khu KTCK, chúng ta đã thể hiện rõ sự

bị động của mình, chưa tận dụng tốt những lợi thế và hiệu quả của kinh tế - thương mại cửa khẩu

2.1.2 Đánh giá kết quả và tồn tại trong hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá

ở các khu kinh tế cửa khẩu – nguyên nhân.

2.1.2.1 Kết quả đạt được – nguyên nhân

Các loại hình hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng đa dạng, phong phú Ngoài xuất nhập khẩu kinh doanh, điều đáng chú ý là các loại hình khác như: quá cảnh, tạm nhập tái xuất, nhập đầu tư, nhập sản xuất hàng xuất khẩu… ngày càng hoạt động sôi động hơn

Năm 2006, tổng kim ngạch xuất khẩu (XK) qua các khu KTCK đạt 2.1 tỷ USD chiếm 5.2% giá trị XK của cả nước và nhập khẩu (NK) 1.4 tỷ USD chiếm 3.8% giá trị NK của cả nước Trị giá hàng quá cảnh đạt trên 1.6 tỷ USD và hàng bán miễn thuế đạt trên 800 triệu USD Trong đó nổi trội là các khu KTCK ở biên giới Việt – Trung, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu (XNK) qua khu vực này chiếm 59.8% kim ngạch XNK của 23 khu KTCK cả nước Riêng XK qua Móng Cái, (Quảng Ninh), Hữu Nghị, Đồng Đăng (Lạng Sơn) chiếm 75% tổng kim

Trang 26

KTCK Lào Cai luôn phát triển qua từng năm, với mức tăng bình quân 26.6% Kim ngạch xuất nhập khẩu qua khu KTCK tỉnh Lào Cai trong 5 năm qua đã có bước phát triển vượt bậc Năm 2003 chỉ đạt 290 triệu USD thì đến năm 2007 đã tăng lên 957.6 triệu USD, tăng 330.2%; ước tính kim ngạch XNK năm 2008 đạt trên 1.2 tỷ USD.

Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn

2003 – 2007 (Đơn vị tính: Triệu USD)

Còn tại các khu KTCK trên biên giới với của Campuchia, tổng kim ngạch

2 chiều năm 2006 cũng đạt 1.2 tỷ USD, chiếm 34.4% trong tổng kim ngạch

2 chiều qua các khu KTCK cả nước Tại các cửa hàng miễn thuế khách Việt Nam mua được hàng giá rẻ ít nhất là 10% so với ở ngoài, còn khách hàng Campuchia có thể mua hàng Việt Nam ở đây không sợ hàng giả, và lại rẻ hơn bên Campuchia Kim ngạch xuất nhập khẩu tại khu KTCK của các tỉnh biên giới với Campuchia tăng rất mạnh qua các năm (năm 2002 đặt 135.56 triệu USD; năm 2003 đạt 191.23 triệu USD; năm 2004 đạt 282.53 triệu USD; năm 2005 đạt 367.15 triệu USD; năm 2006 đạt 601.02 triệu USD; năm 2007 đạt 865.71 triệu USD); tăng bình quân mỗi năm là 4.12%, trong đó xuất khẩu tăng 32.21%, nhập khẩu tăng 45.48%; chiếm một tỷ trọng lớn trong kim

Trang 27

bằng 75%, năm 2007 bằng 78.7% Hiện tại, hàng hóa được tập trung trao đổi chủ yếu tại các khu KTCK thuộc tỉnh An Giang và Tây Ninh Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa qua các khu KTCK của riêng hai tỉnh này chiếm đến 93% kim ngạch xuất nhập khẩu của các tỉnh có khu KTCK giáp Campuchia Chỉ tính riêng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tại các khu KTCK của An Giang năm 2006, đạt trên 500 triệu USD, bằng 78.6% kim ngạch xuất nhập khẩu biên mậu các tỉnh biên giới với Campuchia.

Các khu KTCK trên biên giới với Lào năm 2006 đạt tổng kim ngạch

là 206 triệu USD, chiếm 5.8% kim ngạch qua các khu KTCK Các dịch vụ tạm nhập, tái xuất, quá cảnh, chuyển khẩu cũng diễn ra với các quy chế áp dụng riêng cho từng biên giới với mỗi quốc gia

* Có được kết quả trên chủ yếu là do các nguyên nhân sau:

từng khu đã góp phần tăng trưởng quan hệ mậu dịch giữa Việt Nam với 3 nước láng giềng

Để tăng cường hiệu quả kinh tế và hình thành khu vực kinh tế cửa khẩu làm đòn bẩy thúc đẩy kinh tế - xã hội cho địa phương và cho cả các tỉnh lân cận, Chính phủ Việt Nam đã ban hành các chính sách ưu đãi đầu tư vào các khu kinh

tế cửa khẩu; Cơ chế xuất nhập cảnh người, phương tiện, hàng hoá qua biên giới

và quy chế về hoạt động kinh doanh dành cho người nước ngoài Qua đó kêu gọi các thành phần kinh tế đến đầu tư toàn phần hoặc đầu tư từng phần các khu trung tâm kinh tế cửa khẩu

Tại các cửa hàng miễn thuế trong các khu KTCK chúng ta chủ yếu bán những mặt hàng chất lượng cao và những mặt hàng thiết yếu theo nhu cầu mua sắm của người dân vùng biên, trong đó phần lớn là hàng nhu yếu phẩm Điều

Trang 28

Do tác động tích cực của việc hoàn thành gần như toàn bộ các tuyến hành lang Ðông - Tây, hành lang Bắc - Nam, hành lang phía Nam đi đôi với các nỗ lực đồng bộ nhằm giảm thiểu những rào cản phần mềm đối với sự di chuyển người và hàng hóa qua biên giới thể hiện qua Hiệp định Vận tải qua biên giới GMS (CBTA) Những biện pháp này đã góp phần cắt giảm chi phí và thời gian

di chuyển, thúc đẩy thương mại qua biên giới và những cơ hội hợp tác kinh tế tại các khu KTCK, đồng thời tăng cường sự giao lưu giữa các cộng đồng, kết quả triển khai giai đoạn đầu của Hiệp định CBTA tại các cặp cửa khẩu Lao Bảo - Dansavanh, Mukdahan - Savanakhet và Hà Khẩu - Lào Cai đã mang lại những dấu hiệu đáng mừng kể trên

2.1.2.2 Tồn tại – nguyên nhân

Tại các khu KTCK hiện tượng buôn lậu vẫn diễn ra hàng ngày và ngày càng trở nên tinh vi, phức tạp hơn điều này đã gây không ít khó khăn cho công tác chống buôn lậu của các cơ quan có trách nhiệm, trong đó có cơ quan hải quan Tính chất buôn lậu rất đa dạng và phức tạp, có lúc phân tán nhỏ lẻ, có khi tập trung công khai, ồ ạt, các đối tượng buôn lậu sẵn sàng sử dụng bạo lực để chống lại các lực lượng chức năng ở khu KTCK, cho nên công tác chống buôn lậu rất gian nan và đầy nguy hiểm Các đối tượng chuyên mua gom hàng miễn thuế cho các đầu nậu, vào các cửa hàng trong chợ đường biên mua dây xích xe đạp, sữa ngoại, rượu ngoại rồi tuồn hàng qua khe hở ở tường rào bảo vệ, hoặc ném hàng qua tường rào ra ngoài Sau khi nhận được hàng, các đầu nậu sẽ sử dụng hóa đơn khống của chính các cửa hàng trong chợ đường biên để hợp thức hóa nguồn gốc số hàng này rồi chuyển về tiêu thụ trong nội địa Đầu tháng 7-

2007, tại cửa kiểm soát số 2, cán bộ Chi cục hải quan Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài đã phát hiện người bán hàng của Công ty TNHH 3868 có cửa hàng trong chợ đường biên, đã đem ra ngoài 45 hóa đơn khống để hợp thức hóa cho số lượng

Trang 29

hàng đã bán trước đó cho các đối tượng mua gom Theo Ban quản lý Khu kinh tế

mở Mộc Bài, hầu hết rượu tại đây đều có nguồn gốc từ Campuchia, cộng với ưu đãi miễn thuế nên có giá rẻ hơn thị trường.Tại khu KTCK Lào Cai, ngày 1/11/2006 Chi cục Hải quan ở đây đã bắt giữ 1vụ vận chuyển 1 bánh heroin; trong năm 2006 đã bắt giữ 69 vụ buôn lậu qua biên giới, trị giá 960 triệu đồng giảm 10 vụ so với năm 2005.Số vụ vi phạm thủ tục hải quan là 09 vụ trị giá trên

10 tỷ đồng tăng 04 vụ so với năm 2005 Kết quả xử lý :cảnh cáo: không; phạt tiền với số tiền là 60.700.000 đ; trị giá hàng vi phạm khoảng: 11.932.370.000.đ

Từ đầu năm tới nay, lực lượng chống buôn lậu ở các khu KTCK phía Nam

đã tạm giữ hơn 250.000 gói thuốc lá ngoại các loại, 15 xe đạp Nhật, 96 xe gắn máy, 7 xe ôtô, trên chai rượu ngoại, 21.000 vỉ và lọ thuốc tân dược các loại, 1.700 kg đường cát, 1.000 kg bột ngọt và một số lượng lớn phụ tùng xe ôtô, xe máy, mỹ phẩm, quần áo, các loại hàng tiêu dùng khác

Còn tại các khu KTCK phía bắc, hàng hoá xuất lậu chủ yếu là: các loại quặng đồng, than, sắt, linh kiện điện tử, phế liệu, gạo… Mặt hàng nhập lậu chủ yếu là đồ điện tử, chảo thu phát tín hiệu vệ tinh, đầu thu phát tín hiệu vệ tinh, đồ chơi trẻ em bạo lực, đĩa hình, trứng gia cầm, sản phẩm chế biến từ gia cầm, ma tuý, vũ khí, chất nổ, lá thuốc lá và một số mặt hàng tiêu dùng như: vải, hoa quả… Năm 2006 chi cục Hải quan khu KTCK Lào Cai đã thu giữ được 7,5 tấn gạo; 3.750m vải các loại; phụ tùng ôtô cũ là 280 cái; 3,2 tấn phế liệu linh kiện điện tử xuất khẩu trái phép; 9.964 quả pháo các loại, 3 tần đồng phế liệu xuất khẩu; 50 bộ chảo thu phát tín hiệu vệ tinh, 53 chiếc đầu thu phát tín hiệu vệ tinh; trứng gia cầm 29.560 quả, lá thuốc lá 30 ấn, đồ chơi trẻ em bạo lực 352 cái, đĩa hình DVD,VCD trên 7.000 chiếc

Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam và các nước còn đơn điệu Hàng hóa tại các khu KTCK giáp Lào chủ yếu là gỗ và hàng điện tử, gia dụng

Trang 30

từ Lào đưa sang Tại các tỉnh miền Trung, người tiêu dùng rất dễ dàng mua các sản phẩm điện tử, hàng gia dụng của Trung Quốc dán nhãn Lào, với giá rẻ chỉ bằng 1/3-1/4 hàng chính hãng Một lý do được đưa ra là hàng đã đáp tại Lào rồi mới vào nội địa Và hiện tượng tái xuất xăng dầu vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam sang Campuchia Nhiều mặt hàng thế mạnh của Việt Nam chưa vào được thị trường nước bạn, thương mại xuất nhập khẩu chưa tương xứng với tiềm năng, thiếu hợp đồng ngoại thương của đối tác lớn

Hoạt động thương mại - dịch vụ của các khu KTCK chưa theo một định hướng tổng thể, có biểu hiện tự phát, lộn xộn, quy mô chưa tương xứng, thường không có cơ quan Nhà nước bảo đảm, không được bảo hiểm, nguy cơ rủi ro thường trực Có thể nói hình thức hoạt động tại các khu KTCK mới chỉ ở mức độ

là hình thức trao đổi thương mại quốc tế cấp thấp

Nguyên nhân

Nguyên nhân của hiện tượng buôn lậu vẫn đang diễn ra mạnh mẽ là do việc lợi dụng chính sách miễn thuế đang được áp dụng tại các Khu kinh tế cửa khẩu nên nhiều đầu nậu vẫn tiếp tục bỏ tiền ra thuê nhiều người dân sử dụng chứng minh nhân dân để mua hàng Đồng thời theo quy chế riêng, một số sản phẩm có xuất xứ từ Lào ngoài việc được áp mức thuế nhập khẩu 5% theo quy chế AFTA, còn được hưởng ưu đãi thêm một nửa mức thuế suất AFTA nữa Như vậy hàng hóa Lào được giảm thuế nhập khẩu còn 2.5% Do đó, không loại trừ khả năng có thể nhiều hàng hóa từ các nước khác, nhất là những nước ngoài ASEAN, đi đường vòng sang Lào và từ đây, mang danh liên doanh sản phẩm nước này để đi vào Việt Nam bằng mức thuế rẻ

Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam và các nước vẫn đơn điệu bởi vì hầu hết cơ sở vật chất kỹ thuật thương mại các cửa khẩu còn thấp kém, lạc

Trang 31

hậu Tại nhiều khu kinh tế cửa khẩu, các công trình cơ bản như trung tâm thương mại, kho ngoại quan, hệ thống cửa hàng giới thiệu mua bán hàng hóa và khu dịch

vụ xuất nhập khẩu chưa được đầu tư thích đáng Hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống thanh toán còn thiếu và yếu Không chỉ có thế, mức thuế suất nhập khẩu vào Campuchia còn cao, thuế VAT không hoàn lại 10%, việc hàng hóa trốn thuế và gian lận thương mại còn phổ biến làm cho hàng hóa chính ngạch của Việt Nam không thể cạnh tranh với hàng hóa của các nước khác Các doanh nghiệp Việt Nam thường giao hàng và thanh toán tại Việt Nam hoặc khu vực cửa khẩu, còn vận chuyển nhập khẩu vào Campuchia thường do người mua Campuchia tự lo Và các doanh nghiệp Campuchia mua hàng của Việt Nam đều

là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngại mua bán theo hình thức thanh toán qua ngân hàng bằng L/C bởi vì chưa quen, kiến thức về nghiệp vụ thanh toán quốc tế chưa thành thạo, và cũng lợi dụng hình thức buôn bán này để trốn thuế

Trong buôn bán với Trung Quốc chúng ta bị động và dành phần chủ động cho phía bạn trong việc khai thác lợi ích từ giao lưu kinh tế qua biên giới là do những năm qua các hoạt động biên mậu của Trung Quốc đã được thực hiện trên

cơ sở khung pháp lý, đường lối đầy đủ và hoàn chỉnh bao gồm các luật, chỉ thị của Quốc vụ viện, các chính sách cụ thể phù hợp Còn chúng ta ? Đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh tế ở biên giới, chúng ta thiếu một khung pháp lý để hoạt động như: các văn bản, chỉ thị, các biện pháp hành chính, kinh

tế, luật pháp, thiếu sự phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan tương ứng phía nước bạn.Tình trạng này không phải chỉ tồn tại ở khu vực biên giới với Trung Quốc mà tồn tại ở tất cả các khu KTCK của nước ta

Thực tế cho thấy, hiện nay tuy hạ tầng cơ sở tại các Khu KTCK đã được nâng cấp, nhưng kết cấu hạ tầng giao thông trong nước nối liền với nhiều tỉnh có khu KTCK chậm được đầu tư, nâng cấp nên chưa đáp ứng được yêu cầu mới,

Trang 32

nhiều tuyến đường hiện đang xuống cấp nghiêm trọng, không đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá từ các tỉnh có KTCK vào nội địa Việt Nam.

2.2 Công tác quản lý hải quan đối với hàng hoá vào, ra khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam.

2.2.1 Kết quả đạt được – nguyên nhân.

Hiện nay hồ sơ Hải quan đã được đơn giản hơn, giảm bớt các loại giấy

tờ không cần thiết như: hợp đồng đối với hàng hoá xuất khẩu, C/O đối với hàng hưởng thuế suất ưu đãi, giấy thông báo thuế… Số lượng chứng từ trong

bộ hồ sơ hải quan đã giảm đến 50%, từ 8 chứng từ xuống còn 4 chứng từ cơ bản phải nộp, gồm: tờ khai hải quan; hợp đồng đối với hàng nhập khẩu; hoá đơn thương mại và bản kê chi tiết hàng hoá Riêng đối với hàng xuất khẩu chỉ yêu cầu phải nộp 2 loại chứng từ là tờ khai Hải quan và hoá đơn thương mại Kết quả của công tác kiểm tra sau thông quan năm 2006 cụ thể như sau: Số hồ

sơ hải quan đã được phúc tập: trên 450.000 bộ; Số cuộc kiểm tra tại trụ sở hải quan: hơn 260 doanh nghiệp; Số tiền thuế truy thu: hơn 20 tỷ đồng Xử lý

vi phạm hành chính: khoảng 25 triệu đồng

Quy trình thủ tục đã được rút gọn đáng kể, loại bỏ các khâu trung gian thông qua việc áp dụng phương pháp quản lý rủi ro để phân luồng hàng hoá xuất nhập khẩu Theo đó, hàng hoá phân luồng đỏ còn 4 bước, luồng vàng còn 3 bước, luồng xanh còn 2 bước Qua đó, tỷ lệ kiểm tra thực tế đối với hàng hoá xuất nhập khẩu được giảm đáng kể, từ 100% của năm 2000 trở về trước đến nay còn khoảng 10 đến 15% Trong khi đó, tỷ lệ miễm kiểm tra thực tế hàng hoá tăng lên khá cao Năm 2006, trung bình tỷ lệ kiểm tra thực tế đối với hàng hoá xuất khẩu là 79.24%, hàng hoá nhập khẩu là 61.39% Các đơn vị đã đăng ký trên 500

000 tờ khai hàng hoá xuất nhập khẩu, trong đó tờ khai xuất nhập khẩu mậu dịch chiếm khoảng 90% và tờ khai xuất nhập khẩu tiẻu ngạch chiếm khoảng 10% tổng số tờ khai Tỷ lệ tờ khai xuất khẩu được miễn kiểm tra chiếm 56.7% tổng số

Trang 33

tờ khai XK và tỷ lệ tờ khai nhập khẩu được miễn kiểm tra chiếm 85.8% tổng số

tờ khai NK

Tại khu KTCK Lào Cai, số liệu về các loại tờ khai và trị giá của chúng được tổng hợp trong bảng sau:

Loại hình XNK Tờ khai miễn kiểm tra Tờ khai kiểm tra

Số lượng Trị giá (USD) Số lượng Trị giá (USD)

Trang 34

Tổng nộp ngân sách nhà nước năm 2006 là khoảng 8000 tỷ đồng, đạt 94

% so với kế hoạch được giao, đạt 92,3% so với chỉ tiêu phấn đấu, tăng 19,4 % so với cùng kỳ năm 2005 tổng nợ thuế trên không.6.000 tỷ đồng ( trong hạn là trên 5.500 tỷ, quá hạn 500 tỷ)

Ngày đăng: 29/01/2015, 19:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý hải quan đối với hàng hoá vào, ra khu kinh tế cửa khẩu ở việt nam
Bảng 2 Kim ngạch xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w