1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH GIÁO DỤC VÀ Y TẾ TẠI VIỆT NAM VÀ PHÂN TÍCH VIỆC ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC

48 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 259 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy con người là vốn quý nhất. Bên cạnh nguồn tài nguyên thiên nhiên, tiềm lực kinh tế thì chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển nhanh và bền vững của toàn cầu cũng như của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, công tác dân số luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, coi đó là bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế xã hội hàng đầu của quốc gia, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội. Mục tiêu nâng cao chất lượng dân số vì vậy được coi là “chính sách cơ bản của Nhà nước trong sự nghiệp phát triển đất nước”1. Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất, văn hóa và mọi nền văn minh của các quốc gia và đã khẳng định: “con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta” . Đảng đã chỉ rõ: “Chỉ có thể tăng trưởng nguồn lực con người khi quá trình hiện đại hóa các ngành giáo dục, văn hóa văn nghệ, bảo vệ sức khỏe, dân số kế hoạch hóa gia đình gắn liền với việc kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc” . Là 1 một của công tác dân số công tác giáo dục và y tế của cả nước còn có nhiều vấn đề cần phải chú ý. Khi xã hội phát triển, đồng nghĩa với nhu cầu của người dân của nước đó cũng sẽ cao hơn. Họ có nhu cầu học tập và nhu cầu được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cao hơn, chính vì thế đã làm tăng sự quá tải trong hệ thống giáo dục – y tế công lập. Khi mà hệ thống này của nước ta ngày càng thiếu cả về cơ sở vật chất và đội ngũ phục vụ. Điều này nếu không được giải quyết một cách thỏa đáng sẽ gây ra nhiều vấn đề bất cập trong xã hội, từ đó sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển chung cho cả nước theo định hướng của XHCN. Nhận thấy được điều đó, Nhà nước XHCN Việt Nam đã không ngừng khuyến khích việc mở rộng các cơ sơ ngoài công lập cho các ngành nghề nói chung, cũng như cho lĩnh vực giáo dục và y tế nói riêng, nhằm thỏa mãn nhu cầu bức thiết của xã hội.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU



Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy con người là vốn quý nhất Bên cạnh nguồn tài nguyên thiên nhiên, tiềm lực kinh tế thì chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển nhanh và bền vững của toàn cầu cũng như của mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, công tác dân số luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, coi đó là bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của quốc gia, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội Mục tiêu nâng cao chất lượng dân số vì vậy được coi là “chính sách cơ bản của Nhà nước trong sự nghiệp phát triển đất nước”1

Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất, văn hóa và mọi nền văn minh của các quốc gia và đã khẳng định: “con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta”1 Đảng đã chỉ rõ: “Chỉ có thể tăng trưởng nguồn lực con người khi quá trình hiện đại hóa các ngành

Trang 2

giáo dục, văn hóa văn nghệ, bảo vệ sức khỏe, dân số - kế hoạch hóa gia đình gắn liền với việc kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc”2.

Là 1 một của công tác dân số - công tác giáo dục và y tế của cả nước còn có nhiều vấn đề cần phải chú ý Khi xã hội phát triển, đồng nghĩa với nhu cầu của người dân của nước đó cũng sẽ cao hơn Họ có nhu cầu học tập

và nhu cầu được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cao hơn, chính vì thế đã làm tăng sự quá tải trong hệ thống giáo dục – y tế công lập Khi mà hệ thống này của nước ta ngày càng thiếu cả về cơ sở vật chất và đội ngũ phục vụ Điều này nếu không được giải quyết một cách thỏa đáng sẽ gây ra nhiều vấn đề bất cập trong xã hội, từ đó sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển chung cho cả nước theo định hướng của XHCN Nhận thấy được điều đó, Nhà nước XHCN Việt Nam đã không ngừng khuyến khích việc mở rộng các cơ

sơ ngoài công lập cho các ngành nghề nói chung, cũng như cho lĩnh vực giáo dục và y tế nói riêng, nhằm thỏa mãn nhu cầu bức thiết của xã hội

Trang 3

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

I LỢI ÍCH KINH TẾ XÃ HỘI

1 Lợi ích kinh tế xã hội:

− Lợi ích kinh tế - xã hội và môi trường là một phạm trù kinh tế tương đối.Một mặt nó phản ánh lợi ích trên phạm vi toàn xã hội,toàn bộ nền kinh tế quốc dân,mặc khác nó phản ánh lợi ích từng mặt kinh tế,xã hội và môi trường,đồng thời có mối quan hệ thống nhất và mâu thuẫn giữa ba mặt đó trong từng thời gian nhất định

− Chủ đầu tư bỏ vốn để thực hiện dự án đầu tư,mục tiêu chủ yếu là thu được nhiều lợi nhuận.Khả năng sinh lời của dự án là thước đo chủ yếu để thu hút các nhà đầu tư,mức sinh lợi càng cao thì độ hấp dẫn càng lớn.Tuy nhiên không phải lúc nào dự án đầu tư cũng có khả năng sinh lời lớn và mức

an toàn tài chính cao đều có lợi ích kinh,xã hội và môi trường cao.Phân tích kinh tế xã hội và môi trường của dự án đầu tư là phải xem xét những lợi ích

xã hội được thụ hưởng là gì?Đó chính là sự đáp ứng của đối với mục tiêu chung của xã hội và nền kinh tế quốc dân

− Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư,xã hội cũng phải đóng góp hoặc bỏ ra chi phí.Như vậy lợi ích kinh tế - xã hội và môi trường là phần

Trang 4

phải trả.Phần chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh tế - xã hội ngày càng cao.Các lợi ích - xã hội và môi trường có thể là lợi ích định lượng được như mức gia tăng sản phẩm,mức tăng thu nhập quốc dân,sử dụng lao động,tăng thu ngân sách…cũng có thể không định lượng được như sự phù hơp của dự

án đầu tư với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội,những lĩnh vực ưu tiên…Chính vì vậy việc tính toán và đo lường các chỉ tiêu kinh tế-xã hội và môi trường phải có phương pháp luận đúng đắn với những thông số được lựa chọn hợp lý,đảm bảo độ tin cậy cao,tránh sai sót có thể xảy ra

2.

Mục tiêu và tác dụng của nghiên cứu kinh tế - xã hội và môi trường :

* Mục tiêu:

− Thông qua xác định những lợi ích kinh tế - xã hội và môi trường do

dự án đầu tư mang lại mà xác định cụ thể vị trí của dự án đầu tư trong kế hoạch kinh tế quốc dân,tính phù hợp của dự án với mục tiêu

− Đảm bảo độ tin cậy của dự án đầu tư thông qua việc sử dụng đúng đắn

cơ sở lý thuyết và sự đóng góp thiết thực của dự án vào lợi ích chung của toàn xã hội

− Góp phần đảm bảo công bằng xã hội,bảo vệ môi trường khi thực hiện

dự án đầu tư

* Tác dụng :

Trang 5

Đối với nhà đầu tư:Phần phân tích kinh tế - xã hội là căn cứ chủ yếu

để nhà đầu tư thuyết phục các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận dự án và thuyết phục các ngân hang cho vay

Đối với Nhà nước:Là căn cứ chủ yếu để quyết định có cấp giấy phép

đầu tư hay không

Đối với các Ngân hàng,các cơ quan viện trợ song phương,đa phương:Là căn cứ chủ yếu để họ quyết định có tài trợ vốn hay không.Các

ngân hang quốc tế rất nghiêm ngặt trong vấn đề này.Nếu không chứng minh được các lợi ích kinh tế - xã hội thì họ không tài trợ

II SỰ KHÁC NHAU GIỮA NGHIÊN CỨU TÀI CHÍNH VÀ NGHIÊN CỨU KINH TẾ XÃ HỘI

1 Về mặt quan điểm :

− Nghiên cứu tài chính chỉ mới xét trên tầng vi mô,còn nghiên cứu kinh

tế xã hội xét trên tầng vĩ mô

− Nghiên cứu tái chính mới xét trên góc độ của nhà đầu tư,còn nghiên cứu kinh tế xã hội phải xuất phát từ quyền lợi của toàn xã hội

− Mục đích của nhà đầu tư là tối đa lợi nhuận,thể hiện trong nghiên cứu tài chính,còn mục tiêu chủ yếu của xã hội là tối đa phúc lợi sẽ phải được thể

Trang 6

2 Về mặt tính toán:

a) Thuế: Các loại thuế mà dự án có nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước là một

khoản chi phí đối với nhà đầu tư thì nó lại là một khoản thu nhập đối với ngân sách quốc gia,đối với nền kinh tế quốc dân.Việc miễn giảm thuế ưu đãi,khuyến khích nhà đầu tư lại là một sự hy sinh của xã hội,một khoản chi phí mà xã hội phải gánh chịu.Mặt khác thuế chiếm một phần trong giá.Người tiêu thụ phải trả các khoản thuế chứa đựng trong giá của hàng hóa.Chính phủ là người thu các khoản thuế này để tái đầu tư hoặc chi dung vào các việc chung.Vì vậy,xét trên phạm vi toàn thể cộng đồng thì hai khoản này triệt tiêu nhau,nó không tạo ra hoặc mất đi một giá trị nào cả

− Tuy nhiên khi tính toán thu nhập thuần trong nghiên cứu tài chính đã trừ đi các khoản thuế,như là các khoản chi bây giờ trong nghiên cứu kinh tế -

xã hội phải cộng lại các khoản thuế này để xác định giá trị gia tăng cho xã hội mà dự án mang lại

b) Lương: Lương và tiền công trả cho người lao động là một khoản chi của

nhà đầu tư nhưng lại là một lợi ích mà dự án mang lại cho xã hội.Trong nghiên cứu tài chính coi lương và tiền công là chi phí thi nay trong nghiên cứu kinh tế- xã hội coi lương là thu nhập

Trang 7

− Trên thực tế tiền lương,tiền công trả cho người lao động chưa phải là thước đo chính xác giá trị sức lao động mà người lao động bỏ ra.Nói cách khác tiền lương,tiền công tính trong nghiên cứu tài chính là đồng tiền chi thực,nhưng trên bình diện xã hội thì nó không phản ánh được giá trị lao động đóng góp cho dự án.Vì vậy ở nhiều nước trong nghiên cứu kinh tế- xã hội thường sử dụng khái niệm”lương mờ”.Tại một số nước tiên tiến,sử dụng

lý thuyết cận biên để xác định tiền lương.Có những nước dung phương pháp điều chỉnh đơn giản như sau:

+ Đối với người có lao động chuyên môn:Để nguyên như trong phân tích tài chính

+ Đối với lao động không có chuyên môn:Chỉ tính 50%

− Ở nước ta hiện nay chưa có quy định về vấn đề này,tạm thời để tham khảo cách tính của các nước.Trong nghiên cứu tài chính đã xem tiền lương,tiền công là một khoản chi,thì trong nghiên cứu kinh tế - xã hội phải là khoản thu

c) Các khoản nợ: Việc trả nợ vay(nợ gốc) là các hoạt động thuộc nghiệp vụ

tín dụng,là sư chuyển giao quyền sử dụng vốn từ người này sang người khác

mà không làm tăng hoặc giảm thu nhập quốc dân.Trong nghiên cứu tài chính

đã trừ đi các khoản trả nợ thì nay trong nghiên cứu kinh tế-xã hội phải cộng

Trang 8

d) Trợ giá,bù giá: Là hoạt động bảo trợ của nhà nước đối với một số loại

sản phẩm chủ yếu của nền kinh tế quốc dân.Đây là một loại chi phí kinh tế

mà cả xã hội phải gánh chịu đối với việc thực hiện dự án.Như vậy trong tính toán kinh tế xã hội phải trừ đi các khoản nợ,bù giá nếu có

e) Giá cả:- Trong nghiên cứu tài chính giá cả được lấy theo giá thị

trường,ảnh hưởng đến các khoản thực thu,thực chi của xí nghiệp và nhà đầu tư.Tại những nước có chính sách bảo hộ mậu dịch,thuế ưu đãi,lãi suất trợ cấp…thì giá thị trường ngày càng bóp méo,khác biệt với giá trị đích thực của hàng hóa.Vì vậy lợi nhuận tính trong nghiên cứu tài chính không phản ánh đúng đắn mức lời,lỗ của cả đất nước.Khi nghiên cứu kinh tế xã hội cần phải loại bỏ những méo mó nói trên của giá cả,phải sử dụng giá phản ánh được giá trị thực của hàng hóa.Giá này không tồn tại được trong thế giới thực nên được goi là”giá mờ”

− Việc nghiên cứu tiền lương nói trên cũng thuộc phạm vi “giá mờ”,vì tiền kương cũng chính là giá cả của sức lao động.Việc xác định “giá mờ”hiện nay rất khó khăn.Nhà nước ta chưa có quy định gì về mặt này,cần phải có công trình nghiên cứu chuyên đề kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn mới giải quyết được.Vì vậy hiện nay về phương diện giá cả nhất là giá cả các tài nguyên được sử dụng trong dự án trong tính toán có thể tham khảo

Trang 9

III CÁC CHỈ TIÊU XÁC ĐỊNH ẢNH HƯỞNG CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN

1 Vấn đề tạo công ăn việc làm của dự án:

Để đánh giá hiệu quả về tạo công ăn việc làm của dự án, chúng ta cần sử dụng hai nhóm chỉ tiêu hiệu quả sau đây:

 Nhóm 1: Nhóm hiệu quả tuyệt đối bao gồm các chỉ tiêu:

- Tổng số lao động lành nghề cần thiết cho dự án

- Tổng số lao động không lành nghề cần thiết cho dự án

- Tổng số lao động (lành nghề và không lành nghề) cần thiết cho dự án

- Tổng số lao động lành nghề cần thiết của dự án liên quan tăng lên (hoặc giảm đi) do dự án mới ra đời

- Tổng số lao động không lành nghề cần thiết của dự án liên quan tăng lên (hoặc giảm đi) do dự án mới ra đời

- Tổng số lao động (lành nghề và không lành nghề) cần thiết cho các dự

án liên quan tăng lên (hoặc giảm đi) do dự án mới ra đời

- Tổng số lao động lành nghề tăng lên nói chung

- Tổng số lao động (lành nghề và không lành nghề) tăng lên nói chung

 Nhóm 2: Nhóm hiệu quả tương đối bao gồm các chỉ tiêu phản ánh số việc làm được tạo ra trên một đơn vị vốn đầu tư bao gồm:

Trang 10

- Suất việc làm trực tiếp cho lao động lành nghề trên một đơn vị vốn đầu tư.

- Suất việc làm trực tiếp cho lao động không lành nghề trên một đơn vị vốn đầu tư

- Suất việc làm trực tiếp cho lao động lành nghề hoặc không lành nghề trên một đơn vị vốn đầu tư

- Suất việc làm gián tiếp cho lao động lành nghề hoặc không lành nghề trên một đơn vị vốn đầu tư

- Suất việc làm cho toàn bộ lao động lành nghề và không lành nghề trên một đơn vị vốn đầu tư

2 Tác động điều thiết thu nhập:

− Một dự án đầu tư ra đời đóng góp cho nền kinh tế quốc dân bằng giá trị gia tăng của mình và giá trị gia tăng của các dự án có liên quan Phần giá trị gia tăng đó sẽ được phân bố cho các nhóm đối tượng khác nhau như những người làm công ăn lương, những người hưởng lợi nhuận, Nhà nước, các quỹ dự trữ và phát triển của doanh nghiệp hoặc sẽ được phân phối theo các vùng khác nhau Chính việc phân phối này sẽ tạo nên những ảnh hưởng của dự án đối với các mối quan hệ về thu nhập trong xã hội và từ đó sẽ có những tác động đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Hai dự án tạo ra

Trang 11

hàng năm cùng một lượng giá trị gia tăng như nhau nhưng sẽ tạo ra những ảnh hưởng khác nhau nếu như việc phân phối giá trị gia tăng đó có khác nhau Như vậy, cơ cấu phân phối giá trị gia tăng của dự án là yếu tố quyết định đến sự tác động điều tiết thu nhập Cơ cấu này được thể hiện qua 2 loại chỉ tiêu:

 Chỉ tiêu tuyệt đối: Được xác định phần giá trị giá trị gia tăng phân phối hàng năm cho các nhóm đối tượng khác nhau

 Chỉ tiêu tương đối: Được xác định bằng tỷ trọng giá trị gia tăng phân phối hàng năm cho từng nhóm đối tượng trên tổng giá trị gia tăng thực hàng năm

3 Khả năng cạnh tranh quốc tế

− Để đánh giá khả năng cạnh tranh quốc tế cần đề cập đến khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế của sản phẩm, lợi ích ngoại tệ thu được của dự án, chi phí ngoại tệ của dự án và chi phí để sản xuất cho xuất khẩu

− Chỉ tiêu xác định khả năng cạnh trạnh quốc tế của dự án là tỷ lệ cạnh tranh quốc tế IC Nó bằng giá trị hiện tại lãi ngoại tệ (PVFE) chia cho giá trị hiện tại của chi phí cho việc xuất khẩu (PWC)

IV ẢNH HƯỞNG CỦA DỰ ÁN ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG SINH THÁI

Trang 12

− Tạo thêm nguồn nước sạch cho người và sinh vật.

− Tạo thêm cây xanh làm trong sạch không khí và dịu mát

− Cải thiện điều kiện vệ sinh, y tế

− Làm đẹp thêm cảnh quan, tôn tạo vẻ đẹp của thiên nhiên

− Mức độ ô nhiễm môi trường được đánh giá bằng các thiết bị do riêng cho từng loại Các chỉ tiêu quy định cho phép về độ ô nhiễm đã được Nhà nước ban hành Những dự án nào vi phạm các quy định này sẽ bị loại bỏ Trong khi lập dự án cần phải xem xét đến mức độ ảnh hưởng xấu đến môi trường; nguyên nhân, đề xuất các giải pháp khắc phục và chi phí cần thiết cho việc bảo vệ môi trường

V CƠ SỞ NGOÀI CÔNG LẬP – CÁC HÌNH THỨC CƠ SỞ NGOÀI CÔNG LẬP

Trang 13

− Nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao trong sự phát triển về vật chất và tinh thần của nhân dân, cùng với việc củng cố các tổ chức công lập, Nhà nước khuyến khích phát triển rộng rãi các cơ sở ngoài công lập phù hợp với quy hoạch của Nhà nước trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, hoạt động không theo mục đích thương mại hoá (dưới đây gọi là cơ sở ngoài công lập) Nhà nước và xã hội coi trọng và đối xử bình đẳng đối với các sản phẩm và dịch vụ của cơ sở ngoài công lập như các sản phẩm và dịch vụ của cơ sở công lập Các cơ sở ngoài công lập cũng có một phần trách nhiệm thu nhận và cung cấp dịch vụ cho các đối tượng chính sách xã hội như các cơ sở công lập.

− Nhà nước khuyến khích các tổ chức và cá nhân huy động các nguồn lực trong nhân dân và trong các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao theo đúng quy định của pháp luật

− Theo nghị định Về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập- Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng

12 năm 2001; Căn cứ Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18 tháng 04 năm

2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao; Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Trang 14

• Cơ sở ngoài công lập là cơ sở do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân, nhóm cá nhân hoặc cộng đồng dân cư thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tự bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước và hoạt động theo quy định của pháp luật

• Cơ sở ngoài công lập được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, khoa học - công nghệ, môi trường, xã hội, dân số, gia đình, bảo

vệ chăm sóc trẻ em

• Cơ sở ngoài công lập được thành lập theo quy định của pháp luật có

tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng Cùng với việc củng cố các cơ sở công lập, Nhà nước khuyến khích phát triển các

cơ sở ngoài công lập, đồng thời tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đầu tư vốn và huy động các nguồn lực trong nhân dân, của các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để thành lập, xây dựng và phát triển các cơ sở ngoài công lập phù hợp với định hướng phát triển của nhà nước

 Các hình thức ngoài công lập:

• Bán công: Là cơ sở được thành lập trên cơ sở liên kết giữa tổ chức Nhà nước với các tổ chức không phải tổ chức Nhà nước, thuộc mọi thành

Trang 15

phần kinh tế hoặc các cá nhân theo các phương thức: thành lập mới, chuyển toàn bộ hoặc một phần từ đơn vị công lập để cùng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, quản lý, điều hành mọi hoạt động theo quy định cuả pháp luật

• Dân lập: Là cơ sở do tổ chức đứng ra thành lập, được đầu tư bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước (vốn của tổ chức, tập thể, cá nhân) và quản lý điều hành mọi hoạt động theo quy định của pháp luật Không lấy vốn, tài sản, kinh phí của Nhà nước để đầu tư cho các cơ sở dân lập

• Tư nhân: Là cơ sở do cá nhân, hộ gia đình thành lập và quản lý điều hành mọi hoạt động theo quy định của pháp luật

Trang 16

Chương II: KHẢO SÁT TÌNH HÌNH GIÁO DỤC VÀ Y TẾ TẠI VIỆT

NAM

1 Tổng quan về nền kinh tế VN qua các chỉ số phát triển

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP và GDP bình quân trên đầu người của VN giai đoạn 1990-2008

Nguồn: Tính toán từ số liệu Niên giám thống kê VN, WB và IMF

Gần 20 năm phát triển (1990-2008) tốc độ tăng trưởng kinh tế của VN liên tục giữ ở mức cao, tốc độ tăng GDP bình quân giai đoạn 1990-2008 là

Trang 17

hãm, đã dẫn đến mức thu nhập GDP bình quân trên đầu người mỗi năm một tăng Nếu năm 1990, GDP trên đầu người của VN chỉ khoảng trên 100 USD, thì đến năm 2007, GDP/người đã đạt 835 USD, tăng trên 8 lần Năm 2008, GDP trên đầu người ước tính đạt khoảng 1.047 USD/người Với mức thu nhập này, VN lần đầu tiên thoát ra khỏi nhóm nước nghèo (nhóm nước có thu nhập thấp nhất) Theo cách phân loại của Ngân hàng Thế giới, phân nhóm các nước theo mức thu nhập gồm:

Nhóm 1: Nhóm những nước có thu nhập thấp nhất, với thu nhập quốc nội (GDP) bình quân đầu người dưới 935 USD;

Nhóm 2: Nhóm các nước có thu nhập trung bình dưới, với GDP bình quân đầu người trong khoảng từ 936 đến 3.705 USD;

Nhóm 3: Nhóm những nước có thu nhập trung bình trên, với GDP bình quân đầu người trong khoảng từ 3.705 đến 11.455 USD; và

Nhóm 4: Nhóm những nước thu nhập cao, có GDP bình quân đầu người trên 11.455 USD.

Như vậy, năm 2008 đánh dấu mốc phát triển của nền kinh tế VN chuyển từ nhóm nước có thu nhập thấp nhất sang nhóm nước có thu nhập trung bình dưới

2 Thực trạng giáo dục Việt Nam

Trang 18

 Tình hình chung:

Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới đã và đang góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng dân số nước ta về trí tuệ và chất lượng nguồn nhân lực, tạo điều kiện cho đất nước tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế

Năm học 2007-2008, cả nước có gần 23 triệu học sinh, sinh viên, tăng 1,03% so với năm học 2000-2001; trong đó số học sinh học nghề tăng 2,14 lần; số học sinh trung cấp chuyên nghiệp tăng 2,41 lần; số sinh viên cao đẳng, đại học tăng 1,83 lần, nâng tỷ lệ sinh viên cao đẳng, đại học trên một vạn dân tăng 1,6 lần, số học viên cao học và nghiên cứu sinh tăng 2,48 lần.Mạng lưới trường lớp được phát triển rộng khắp trong toàn quốc Về cơ bản đã xóa được "xã trắng" về giáo dục mầm non; trường tiểu học đã có ở tất

cả các xã, trường trung học cơ sở có ở xã hoặc cụm liên xã, trường trung học phổ thông có ở tất cả các huyện Các cơ sở đào tạo nghề, cao đẳng và đại học được thành lập ở hầu hết các địa bàn dân cư lớn, các vùng, các địa phương, đặc biệt ở vùng chậm phát triển như Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long Các tỉnh và nhiều huyện miền núi đã có trường nội trú

và bán trú cho con em các dân tộc thiểu số

Hiện nay, cả nước có trên 9.000 trung tâm học tập cộng đồng, gần 700

Trang 19

nhiều trường đại học triển khai các chương trình đào tạo từ xa Ngoài ra, có nhiều cơ sở đào tạo ngoại ngữ và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có yếu tố nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam

Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo đã có tiến bộ

đáng kể Nội dung dạy học và kiến thức của học sinh phổ thông đã toàn diện

hơn Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của một bộ phận học sinh, sinh viên được nâng cao Số đông sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng có hoài bão lập thân, lập nghiệp, có tinh thần tự lập và đại bộ phận đã

có việc làm Chất lượng đào tạo của một số ngành đào tạo khoa học và công nghệ đã được nâng cao một bước

Các trường phổ thông chất lượng cao được hình thành ở nhiều địa phương Nhiều trường đại học đã tổ chức dạy học theo các chương trình tiên tiến quốc tế Đến tháng 12/2008 đã có 23 chương trình đào tạo tiên tiến quốc

tế được thực hiện ở 17 trường đại học giảng dạy trực tiếp bằng tiếng Anh

Đã tăng cường sự gắn kết giữa hoạt động khoa học công nghệ với hoạt động đào tạo sau đại học, tập trung vào các lĩnh vực: công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu, khoa học nông-lâm-ngư và khoa học giáo dục Để đáp ứng tốt hơn yêu cầu cung cấp nhân lực cho các lĩnh vực kinh tế-

xã hội, nâng cao hiệu quả đào tạo, trong 2 năm gần đây ngành giáo dục đào

Trang 20

Đồng thời với sự đổi mới chương trình, sách giáo khoa và tài liệu dạy học theo Nghị quyết 40/2000/QH của Quốc hội, phương pháp giáo dục ở các nhà trường đã bước đầu được đổi mới theo tinh thần phát huy tính năng động, chủ động và tích cực của người học, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy và học Chuẩn nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên ở các cấp học và trình độ đào tạo đã và đang được xây dựng làm cơ sở cho việc đánh giá và bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn

Thành tựu đáng nổi bật là: Tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước đã được công nhận chuẩn quốc gia về xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và đang thực hiện phổ cập trung học cơ sở Đến 12/2008 đã có 42/63 tỉnh, thành phố (67%) đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; 47/63 tỉnh (74,6%) đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ của cả nước là 94%; số năm học trung bình của dân số từ 15 tuổi trở lên là 9,6 năm Sự khác biệt về trình độ học vấn giữa nam và nữ ngày càng được thu hẹp Về cơ bản nước ta đã đạt được sự bình đẳng nam nữ trong giáo dục cơ bản

Công tác xã hội hoá giáo dục ngày càng được đẩy mạnh Các lực lượng

xã hội tham gia ngày càng tích cực vào việc huy động trẻ đến trường, giám sát, đánh giá và hiến kế cho giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất trường học,

Trang 21

khác nhau Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng liên tục từ 15,5% năm 2001 lên 20% năm 2007 Trong năm 2007, khoảng 25% tổng chi phí của xã hội cho học tập là đóng góp của người dân Bên cạnh đó, cũng đã huy động được sự đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị-xã hội

và đầu tư nước ngoài

Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa có tiến bộ rõ rệt Đến năm học 2007-2008 có 278 trường dân tộc nội trú của trung ương, tỉnh, huyện và cụm xã, với khoảng 86.000 học sinh Các trường, lớp chuyên biệt đã thu hút hơn 250.000 trẻ khuyết tật đi học

Những thành tựu của giáo dục và đào tạo đã khẳng định đóng góp quan

trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho

đất nước Đồng thời cũng thể hiện được việc quan tâm của nhà nước cũng như nói lên được nhu cầu học tập của người dân này càng cao Đòi hỏi nhà nước phải có một sự quan tâm mực thiết

 Thực trạng giáo dục ngoài công lập tại Việt Nam:

Hiện nay nhu cầu học tập trong xã hội đã được nhân rộng và thể hiện ở nhiều góc độ khác nhau như :

Thứ nhất là nhu cầu của từng người học: sau những năm đổi mới,

Trang 22

kinh tế mới này với những cơ chế thị trường đã có ảnh hưởng và tác dụng to lớn tới người học Người học trong xã hội hôm nay ở nước ta có nhu cầu học không chỉ để thành người, để làm việc, mà còn để tăng thu nhập, để làm giầu, để biết theo sở thích, để chung sống với nhau, để làm rạng rỡ cho gia đình, thôn xóm, họ tộc, làng nước Trong xã hội đang xuất hiện ngày một

đa dạng các ngành nghề, việc làm với tiền công và thu nhập rất khác nhau Phần lớn những công việc, ngành nghề có thu nhập cao đều đòi hỏi cao về phẩm chất, đạo đức, tác phong công nghiệp và trình độ học vấn của người lao động Trên thực tế, người lao động qua đào tạo có nhiều cơ may hơn trong tìm kiếm việc làm, trong nâng cao chất lượng, tăng năng suất và hiệu quả lao động, nhờ vậy thu nhập từ đó cũng tăng theo Do vậy nhu cầu của người học là đa dạng, nhiều tầng bậc, mầu sắc và muôn hình muôn vẻ đang đòi hỏi giáo dục cung ứng diễn ra trong một xã hội học tập mà từng thành viên trong xã hội được học tập suốt đời Mặt khác với chính sách dân số ở nước ta hiện nay, mỗi gia đình chỉ có từ một đến hai con; Với truyền thống của dân tộc ta chăm lo cho con cái được học hành, do vậy mọi gia đình Việt Nam đều có xu hướng đầu tư vào học tập cho con cháu và coi sự thành đạt của con cháu với những thang bậc cao trong học tập là tài sản vô giá mà mình có thể để lại được Nhiều gia đình ở nước ta hôm nay quan niệm đầu tư

Trang 23

hiệu quả nhất.

Thứ hai là nhu cầu của doanh nghiệp: với nền kinh tế mở, nền kinh

tế nhiều thành phần, các doanh nghiệp ngày hôm nay đang cần một nguồn nhân lực lớn cả về đội ngũ cán bộ quản lý và những người lao động chuyên môn trực tiếp Đội ngũ này cần có cơ cấu đa dạng về ngành nghề, thang bậc trình độ, lý thuyết, tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo, nhanh nhạy, sáng tạo có thể làm việc được ngay khi được nhận vào doanh nghiệp Tuy nhiên hầu như tất

cả mọi doanh nghiệp hầu như không chịu bỏ vốn trực tiếp cho giáo dục đào tạo dài hạn ( nếu có thì với lượng vốn rất nhỏ cho dăm ba người), vì thông qua thị trường lao động họ cũng không khó lắm có thể tìm được người lao động Trong những trường hợp cụ thể, các doanh nghiệp thường chỉ chi vốn cho các chương trình đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn đang rất cần cho cán bộ, nhân viên của họ để đảm bảo hoạt động có hiệu quả của doanh nghiệp

Thứ ba là nhu cầu của Nhà nước: để đảm bảo phát triển toàn diện và

bền vững cho đất nước, Nhà nước định ra chiến lược phát triển nguồn nhân lực tổng thể cho toàn xã hội, trong đó tập trung vào những mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội lâu dài, những lĩnh vực kinh tế mũi nhọn và những trung tâm kinh tế-xã hội trọng điểm và đặc biệt những khu vực kinh tế-xã hội mà các doanh nghiệp khác ngoài Nhà nước ít làm, hoặc không chịu làm và

Trang 24

không được làm.

Giáo dục là động lực của phát triển con người, phát triển xã hội Trong

đó tài và đức là hai yếu tố cơ bản của động lực, giáo dục là nhu cầu không thể thiếu đối với mỗi người Ngày nay con người đòi hỏi giáo dục ngày càng cao thì giáo dục phải đáp ứng được mọi yêu cầu đó Giáo dục là lợi ích chung của xã hội, lợi ích chung của cộng đồng Vì vậy giáo dục cũng được coi là “hàng hoá công cộng” và mọi người bất cứ là ai đều có điều kiện tiếp nhận nó một cách dễ dàng Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cung giáo dục là sự đáp ứng nhu cầu của xã hội và nhu cầu, nguyện vọng muốn học của người học Chính nhu cầu này là yếu tố quyết định cho sự tồn vong và phát triển của các cơ sở giáo dục và người làm giáo

dục Cung giáo dục chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau:

Nguồn kiến thức: bao gồm đội ngũ giáo viên, nội dung chương trình,

tài liệu nghiên cứu, sách vở, thiết bị dạy và học

Sự đa dạng của loại hình trường, lớp và phương thức đào tạo:

trường công lập, ngoài công lập, các tổ chức giáo dục khác với các phương thức dạy và học linh hoạt, mềm dẻo chính quy, không chính quy, cận chính quy và phi chính quy luôn phù hợp với yêu cầu của người học, phù hợp với yêu cầu của xã hội

Ngày đăng: 29/01/2015, 15:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP và GDP bình quân trên đầu người của VN   giai đoạn 1990-2008 - KHẢO SÁT TÌNH HÌNH GIÁO DỤC VÀ Y TẾ TẠI VIỆT NAM VÀ PHÂN TÍCH VIỆC ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC
Bảng 1 Tốc độ tăng trưởng GDP và GDP bình quân trên đầu người của VN giai đoạn 1990-2008 (Trang 16)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w