1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Diện mạo kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII - XX

209 615 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Diện mạo kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII - XX
Tác giả Phan Văn Kiến
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Thanh Thanh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 209
Dung lượng 4,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Diện mạo kinh tế An Giang, các thế kỷ XVII - XX

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

-

PHAN VĂN KIẾN

DIỆN MẠO KINH TẾ AN GIANG TRONG CÁC THẾ KỶ XVII - XX

Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

An Giang là một tỉnh ở miền Tây Nam Bộ thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Cách đây hơn 300 năm, khi người Việt đặt chân đến vùng này, về cơ bản, đây là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá, sình lầy, sông rạch chằng chịt, cây rừng rậm rạp, với hàng nghìn trâu rừng tụ họp Nhưng không đầy ba thế kỷ sau, An Giang trở thành một vùng đất trù phú, một vựa lúa lớn của cả nước Việc dựng lại diện mạo kinh

tế An Giang trong các thế kỷ XVII - XX có ý nghĩa quan trọng đối với việc tìm hiểu sự phát triển kinh tế An Giang ngày nay

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, dưới sự lãnh đaọ của Đảng Cộng sản Việt Nam, kinh tế An Giang đạt được rất nhiều thành tựu quan trọng, nhất là sản lượng lương thực trong những năm gần đây luôn luôn đứng đầu cả nước Tìm hiểu kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII - XX có ý nghĩa quan trọng, giúp cho địa phương vạch ra những chính sách, định hướng, giải pháp phát triển kinh tế An Giang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay

Trong những năm qua, có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về tình hình kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long, góp phần không nhỏ trong việc nhận thức lại quá khứ, cung cấp những cơ sở khoa học cho việc quy hoạch phát triển kinh tế của vùng Một hệ thống đề tài về kinh tế của mỗi tỉnh trong các thế kỷ XVII - XX vẫn là mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

Mặt khác, đề tài này còn góp phần giáo dục thế hệ trẻ lòng yêu quê hương, con người An Giang cần cù và sáng tạo trong lao động sản xuất, anh dũng, kiên cường trong chống giặc ngoại xâm; từ đó có thái độ và trách nhiệm trong việc góp phần xây dựng quê hương An Giang giàu đẹp

Trang 3

Mục đích của luận văn là dựng lại bức tranh lịch sử về kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII - XX, tập trung nghiên cứu tất cả các mặt hoạt động kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp và giao thông vận tải Qua đó, thấy được những biến đổi của kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII -

XX Trên cơ sở nghiên cứu các mặt hoạt động của kinh tế An Giang, tác giả rút ra được một số đặc điểm cơ bản về kinh tế An Giang Tìm ra thế mạnh của kinh tế An Giang, góp phần vào việc hoạch định chính sách kinh tế của tỉnh Đồng thời nêu được những tác nhân kìm hãm sự phát triển kinh tế, ảnh hưởng của chúng đến đời sống nhân dân

An Giang trong các thế kỷ XVII - XX, từ đó có những kiến nghị cho việc phát triển kinh tế An Giang trong giai đoạn hiện nay

Tôi sinh ra, lớn lên và công tác tại An Giang, việc nghiên cứu kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII - XX sẽ giúp tôi giảng dạy tốt lịch sử địa phương, cũng như việc biên soạn tài liệu dạy học lịch sử địa phương An Giang cho các trường phổ thông hiện nay Việc nghiên cứu này còn góp phần bổ sung nguồn tư liệu tham khảo cho giáo viên giảng dạy lịch sử địa phương An Giang

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Chủ đề của luận văn là Diện mạo kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII -

XX Tác giả đi sâu tìm hiểu các hoạt động kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, thủ công

nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp và giao thông vận tải, cũng như những tác động của những hoạt động đó tới đời sống nhân dân An Giang trong bốn thế kỷ qua

Về không gian, vùng đất An Giang từ thời chúa Nguyễn cho đến khi thực dân Pháp chiếm Nam Kỳ có địa giới rất rộng, bao gồm An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, một phần Đồng Tháp và Bạc Liêu ngày nay Luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề lịch sử thuộc phạm vi không gian địa giới tỉnh An Giang ngày nay Khi

Trang 4

giới hạn phạm vi nghiên cứu, tác giả có tính đến sự thay đổi về địa giới hành chính qua các thời kỳ lịch sử

Về thời gian, luận văn giới hạn trong các thế kỷ XVII - XX Cụ thể là từ năm

1620, là năm vua Chân Lạp Chey Chetta II xin cưới công nương Ngọc Vạn, con của chúa Nguyễn Phúc Nguyên, từ đây, vua Chân Lạp tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt đến khai phá đất đai và định cư sinh sống ở vùng đất Nam Bộ, trong đó có An Giang; và đến năm 2000, là năm kết thúc thế kỷ XX, bước sang kỷ nguyên mới, cũng

là năm An Giang đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội sau hơn 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới

Quyển Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1726 - 1783) được viết vào khoảng

năm 1776, thời điểm đang diễn ra cuộc khẩn hoang, mở rộng lãnh thổ về phía Nam Do vậy, tác phẩm có những tư liệu quý về cảnh quan, môi trường thiên nhiên, những biến động kinh tế và chính trị vùng sông Tiền, sông Hậu nói riêng, vùng đất Nam Bộ nói chung

Tác phẩm Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825) được

viết vào thời vua Gia Long (1802 - 1820) Đây là quyển địa phương chí đầu tiên đề cập một cách khái quát về địa giới, khí hậu, vùng đất, con người, sản vật, núi sông, phong tục và tình hình kinh tế vùng đất Nam Bộ nói chung, trong đó có vùng đất An Giang nói riêng ở các thế kỷ XVIII - XIX

Trang 5

Bộ Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn, được vua Minh Mạng cho biên soạn vào năm 1821, gồm hai phần : Đại Nam thực lục tiền biên ghi chép giai

đoạn lịch sử từ khi Nguyễn Hoàng vào Nam (1558) đến đời chúa Nguyễn Phúc Thuần

(1777); Đại Nam thực lục chính biên ghi chép Nguyễn Ánh bôn ba tìm cách khôi phục

lại quyền lực (1777) đến năm vua Đồng Khánh mất (1889) Đây là bộ tư liệu ghi chép khá đầy đủ về vùng đất An Giang trong các thế kỷ XVII - XIX trên các phương diện

kinh tế, chính trị, xã hội Ngoài ra, Đại Nam thực lục còn khắc hoạ đậm nét về xã hội

Việt Nam từ 1858 đến năm 1867, trong đó có vùng đất An Giang

Trong Quốc triều chánh biên toát yếu của Quốc sử quán triều Nguyễn, có

đoạn miêu tả công việc đào kênh làm thuỷ lợi, công cuộc khẩn hoang lập đồn điền và

sơ lược về sở hữu đất đai của một số làng thuộc vùng đất An Giang trước khi thực dân Pháp chiếm An Giang vào năm 1867

Địa bạ Nam Kỳ lục tỉnh được lập năm 1836 dưới thời vua Minh Mạng, gồm

484 tập Trong đó, Địa bạ An Giang có 43 tập bao gồm An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng

và một phần tỉnh Đồng Tháp Đây là tài liệu miêu tả sinh động, chính xác về các đơn vị hành chính, các loại đất đai, tình hình phân bố ruộng đất, thuế, cơ cấu cây trồng và các vấn đề xã hội khác ở tỉnh An Giang trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX

Bộ sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, được biên

soạn vào năm Tự Đức thứ 29 (1875) và hoàn thành vào khoảng năm 1881 Trong tập Thượng của bộ sách có nhiều ghi chép về tình hình môi trường tự nhiên, kinh tế An Giang thế kỷ XIX Đây là tư liệu quý khái quát phần nào bức tranh về tự nhiên, kinh tế

An Giang dưới triều Nguyễn

Như vậy, thư tịch cổ viết về kinh tế An Giang khá phong phú, nhưng còn rời rạc

và đan xen với nhiều sự kiện khác Cho đến nay, việc nghiên cứu vùng đất An Giang trong các thế kỷ XVII - XIX nói chung, kinh tế An Giang nói riêng vẫn còn thiếu, rất cần tài liệu nghiên cứu chuyên khảo đề cập một cách hoàn chỉnh, có hệ thống về kinh

Trang 6

tế An Giang Do đó, các tư liệu trên vẫn là nguồn chính cho việc tham khảo và đối chiếu trong quá trình nghiên cứu

Trong thời thực dân Pháp cai trị và trở lại xâm lược (1867 - 1954) có một số sách địa phương chí về tỉnh Long Xuyên, tỉnh Châu Đốc do người Pháp biên soạn như:

Đặc khảo về tỉnh Châu Đốc (năm 1902), Đặc khảo về tỉnh Long Xuyên (năm 1905), Các tỉnh Nam Kỳ - Long Xuyên (năm 1907), Địa phương chí tỉnh Long Xuyên năm

1953, Địa phương chí tỉnh Châu Đốc năm 1953, đề cập các mặt hành chính, kinh tế,

văn hoá, xã hội Đồng thời, năm 1941, công trình khai hoang ở An Giang đã được nhắc

đến trong bài viết Mảnh sử liệu việc khai hoang ở Nam Kỳ dưới triều Nguyễn của tác

giả Tiên Đàm (Báo Tri Tân, số 21)

Thời kỳ 1954 - 1975 có nhiều công trình nghiên cứu về Nam Bộ, vùng đất An Giang hoặc có đề cập đến kinh tế An Giang được công bố

Dưới chính quyền Sài Gòn, Ban nghiên cứu Toà hành chính An Giang còn cho

biên soạn các quyển địa phương chí như : Địa phương chỉ tỉnh Long Xuyên 1956, Địa

phương chí tỉnh Châu Đốc 1956, Địa phương chí An Giang 1959, Địa phương chí An Giang 1961, Địa phương chí An Giang 1963, Địa phương chí tỉnh An Giang 1967, Địa phương chí tỉnh Châu Đốc 1968, Địa phương chí tỉnh An Giang 1973,… đã đề cập một

cách tổng quát về lịch sử, danh lam thắng cảnh, điều kiện tự nhiên, hành chính, kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh

Quyển Tân Châu xưa của Nguyễn Văn Kiềm và Huỳnh Minh được biên soạn

vào năm 1964 đã đề cập đến một phần đất An Giang Đây là loại sách chuyên khảo viết

về nơi định cư sinh sống sớm nhất của người Việt ở An Giang, sự quản lý của chúa Nguyễn ở vùng đất mới tiếp quản này Ngoài ra, tác giả còn trình bày diện mạo vùng đất Tân Châu từ 1757 - 1965 qua các mặt kinh tế, địa phận, văn hoá, tín ngưỡng,

Tác phẩm Việt sử xứ Đàng Trong của Phan Khoang được viết vào những năm

1970 Tác phẩm này viết về quá trình Nam tiến của dân tộc Việt Nam dưới thời các

Trang 7

chúa Nguyễn, quá trình xác lập chủ quyền ở vùng đất Nam Bộ, trong đó có đề cập đến tình hình các mặt ở vùng đất An Giang

Thoại Ngọc Hầu và công cuộc khẩn hoang vùng Hậu Giang của Nguyễn Văn

Hầu được xuất bản năm 1973 Tác giả viết về công trình đào kênh, mở đường, khẩn hoang lập làng ở An Giang của Thoại Ngọc Hầu vào giai đoạn cuối thời vua Gia Long đầu thời vua Minh Mạng

Quyển Lịch sử khẩn hoang miền Nam của Sơn Nam xuất bản năm 1973, cũng

đã cung cấp những tư liệu về cuộc khẩn hoang lập làng ở vùng đất Nam Bộ nói chung,

An Giang nói riêng vào thế kỷ XVIII - XIX

Người Chàm Hồi giáo miền Tây Nam phần Việt Nam của Nguyễn Văn Luận

xuất bản năm 1973 Tác giả đề cập đến quá trình lịch sử, sinh hoạt kinh tế và đời sống văn hoá - xã hội của người Chăm ở An Giang trước năm 1975

Quyển Người Việt gốc Miên của Lê Hương xuất bản 1969, đã miêu tả sinh

động về sinh hoạt xã hội, tôn giáo, văn hoá, giáo dục và kinh tế của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung, trong đó có sinh hoạt kinh tế của người Khmer

An Giang

Ngoài ra, trong tác phẩm Gia Định xưa, nhà văn Sơn Nam đã đề cập đến vấn

đề đất đai, thiên nhiên, phong thổ, phong tục, tập quán của vùng đất Nam Bộ và công cuộc khẩn hoang vùng biên giới Tây Nam

Từ sau năm 1975, có nhiều công trình nghiên cứu về đồng bằng sông Cửu Long

và An Giang, với những vấn đề sâu hơn

Tác phẩm Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ do Huỳnh Lứa chủ biên, đã góp

phần tìm hiểu sâu hơn về quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ, trong đó có An Giang Các tác giả đã khái quát quá trình di chuyển dân cư, khai hoang lập đồn điền, tổ chức sản xuất nông nghiệp, những biến đổi về mặt xã hội, …

Trang 8

Quyển Những trang về An Giang của Trần Thanh Phương xuất bản 1984 Đây

là quyển sách địa chí, đã đề cập đến thiên nhiên, con người, kinh tế, văn hoá, giáo dục,

y tế An Giang trong các thế kỷ XVIII - XX

Trong Lịch sử An Giang của Sơn Nam được xuất bản vào năm 1988, tác giả

đã đề cập đến những biến đổi về mọi mặt của vùng đất An Giang từ khi hoà hợp vào lãnh thổ nước ta đến thời Pháp thuộc

Quyển Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Công Bình,

Lê Xuân Diệm, Mạc Đường xuất bản năm 1990 đã nghiên cứu về các tộc người đang sinh sống trên mảnh đất Đồng bằng sông Cửu Long Các tác giả đã đề cập đến mọi mặt trong sinh hoạt về mặt kinh tế - xã hội của cư dân đã từng sinh sống ở vùng đất này

Tác phẩm Về dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long xuất bản năm 1991 đã đề

cập khá chi tiết về sinh hoạt kinh tế của các dân tộc Khmer, Chăm, Hoa đang sinh sống

ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, vùng đất An Giang nói riêng

Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam Kỳ lục tỉnh

của Nguyễn Đình Đầu được xuất bản năm 1992 Tác phẩm cung cấp những tư liệu quý

về quá trình khai hoang lập ấp, chế độ công điền công thổ ở An Giang từ khi lưu dân người Việt có mặt cho đến khi Pháp xâm chiếm vùng này vào năm 1867

Quyển Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX của

Huỳnh Lứa xuất bản năm 2000 Tác giả có đề cập đến quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ, khai hoang lập ấp, công cuộc đào kênh, các hoạt động kinh tế ở An Giang trong hai thế kỷ XVIII - XIX

Bên cạnh đó còn có các tác phẩm Đồng bằng sông Cửu Long nghiên cứu và

phát triển do Nguyễn Công Bình chủ biên, Nghề nông Nam Bộ của Trần Xuân Kiêm

biên soạn năm 1992, Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam của Vũ Minh Giang chủ

biên

Trang 9

Ngoài ra, các bài viết trong các Kỷ yếu hội thảo khoa học như Nam Bộ và

Nam Trung Bộ những vấn đề lịch sử thế kỷ XVII - XIX do Trường Đại học Sư phạm

thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, Lịch sử phát triển kinh Vĩnh Tế, Lịch sử hình thành

vùng đất An Giang do Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ An

Giang và Sở Khoa học Công nghệ Môi trường tỉnh An Giang đã phối hợp với Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, ; các bài viết trên các báo chuyên ngành được công bố thường xuyên có liên quan đến kinh tế An Giang

Những nội dung vừa được đề cập ở trên chưa có tính hệ thống, chưa có tính liên tục, chưa được đi sâu, trong đó có kinh tế Nhìn chung, cho đến nay chưa có công

trình nghiên cứu chuyên sâu về đề tài Kinh tế An Giang từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX

Như vậy, chủ đề này vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cho giới nghiên cứu

4 NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Nguồn tài liệu

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi nghiêm túc kế thừa không chỉ tư liệu mà cả về lý luận của các công trình đi trước có liên quan đến đề tài Nguồn tư liệu bao gồm : sách, báo, tạp chí có ở Thư viện Khoa học Xã hội, Thư viện Khoa học Tổng hợp, Thư viện Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện An Giang, Thư viện Cần Thơ Bên cạnh đó còn có các bản báo cáo, tập địa chí được lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ An Giang, Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang, Cục Thống kê tỉnh An Giang, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II; các luận văn cao học và phó tiến sĩ lưu lại tại Thư viện Khoa học Xã hội, Thư viện Khoa học Tổng hợp

Ngoài ra, chúng tôi còn thu thập tài liệu điền dã để có thêm cơ sở nhận định về kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII - XX

Trang 10

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, tác giả vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic : Đây là những phương pháp cơ bản sử dụng trong luận văn Trong đó, phương pháp lịch sử đóng vai trò chủ đạo

Phương pháp hệ thống hoá : Hệ thống lại những vấn đề được viết tản mạn, rải rác trong các tư liệu và nhiều nguồn tư liệu khác nhau có liên quan đến kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII - XX Phương pháp hệ thống hoá là cơ sở để trình bày những nội dung trong luận văn

Phương pháp so sánh : Dùng phương pháp này để đối chiếu kinh tế An Giang

ở các vùng địa phương trong tỉnh hoặc với các tỉnh khác trong vùng

Phương pháp liên ngành : Trong quá trình thực hiện đề tài, kết hợp chủ yếu các loại tài liệu và kế thừa thành tựu nghiên cứu của các ngành khác nhau như địa lý, kinh tế, thống kê,…

Phương pháp khảo sát điền dã : Tác giả luận văn đã tiếp xúc với những người trồng lúa ở Long Kiến, nghề mộc ở Long Điền A (huyện Chợ Mới), nghề dệt ở huyện Tân Châu, nghề gốm ở huyện Tri Tôn, nghề đá ở Núi Sập, nghề sản xuất gạch ngói ở huyện Châu Thành, làm mắm ở thị xã Châu Đốc,… Đồng thời còn thu thập tài liệu điền dã để có thêm cơ sở nhận định về kinh tế An Giang trong bốn thế kỷ đã qua

5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Luận văn góp phần hệ thống hoá và làm phong phú khối lượng tư liệu liên quan đến tiến trình phát triển kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII - XX Nguồn tư liệu này được bổ sung vào tư liệu nghiên cứu kinh tế Nam Bộ nói chung

Luận văn còn đóng góp một số kết luận cụ thể về những thuận lợi và khó khăn của kinh tế An Giang trong bốn thế kỷ đã qua, rút ra những đặc điểm cơ bản kinh tế An

Trang 11

Giang trong các thế kỷ XVII - XX Từ đó có những đề xuất và giải pháp nhằm phát triển kinh tế An Giang trong giai đoạn hiện nay

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn gồm 207 trang, trong đó phần mở đầu 10 trang, nội dung chính 168

trang, kết luận 10 trang, tài liệu tham khảo 7 trang, phụ lục 12 trang Luận văn được chia làm 3 chương

Chương 1 : Môi trường tự nhiên - điều kiện cơ bản của diện mạo kinh tế An Giang Chương 2 : Diện mạo kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII - XX

Chương 3 : Cư dân An Giang - chủ thể làm nên diện mạo kinh tế An Giang

Trang 12

Chương 1 : MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN - ĐIỀU KIỆN

CƠ BẢN CỦA DIỆN MẠO KINH TẾ AN GIANG

1.1 Vị trí, địa hình

1.1.1 Vị trí

An Giang là một tỉnh ở miền Tây Nam Bộ thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa sông Tiền, sông Hậu và có một phần diện tích nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên Mặt khác, An Giang còn là một tỉnh biên giới vừa có đồng bằng, vừa có đồi núi, có nhiều tôn giáo và thành phần dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm sinh sống

Tỉnh An Giang có diện tích tự nhiên là 3.406,23 km2, dân số năm 2006 là 2.218.403 người [10, tr.19], đứng đầu các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long và đứng thứ 6 trên tổng số 64 tỉnh, thành phố Tỉnh An Giang có 11 huyện, thị, thành phố trực thuộc gồm thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và các huyện Châu Thành, Châu Phú, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên, An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới; với 154

xã, phường, thị trấn

Phía bắc và tây bắc giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 104

km, phía đông giáp với tỉnh Đồng Tháp 107,628 km, phía nam và đông nam giáp với thành phố Cần Thơ 44,734 km, phía tây nam giáp với tỉnh Kiên Giang 69,789 km Chiều dài nhất của tỉnh An Giang theo hướng Bắc - Nam là 86 km và hướng Đông - Tây là 87,2 km, nơi hẹp nhất ở phía bắc là 20 km

Là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, nằm liền kề với thành phố Cần Thơ, cách Thành phố Hồ Chí Minh 190 km An Giang có hệ thống giao thông thuỷ bộ rất thuận lợi Quốc lộ 91 nối liền với quốc lộ 2 của Vương quốc Campuchia qua cửa khẩu quốc

tế Tịnh Biên (huyện Tịnh Biên); Tỉnh lộ 956 với Campuchia qua cửa khẩu quốc tế

Trang 13

Khánh Bình (huyện An Phú); sông Hậu, sông Tiền và mạng lưới kênh rạch là những tuyến giao thông thủy quốc tế quan trọng nối tỉnh An Giang với các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long và Campuchia qua cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương (huyện Tân Châu) Đây là điều kiện thuận lợi để An Giang phát triển và hội nhập kinh tế với các tỉnh trong khu vực, với nước ngoài, nhất là khu vực Đông Nam Á

1.1.2 Địa hình

An Giang có địa hình thấp dần từ biên giới Việt Nam - Campuchia xuống đến

lộ Cái Sắn và từ bờ sông Tiền qua đến giáp ranh tỉnh Kiên Giang An Giang có 2 dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi

Địa hình đồng bằng chiếm 87% diện tích tự nhiên của tỉnh, có 2 loại chính đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi

Đồng bằng phù sa là do phù sa sông Tiền và sông Hậu bồi đắp hàng năm, rất bằng phẳng và có nhiều dạng Dạng cồn bãi (còn gọi là cù lao), ở giữa cao và thấp dần sang hai bên như “cù lao Mỹ Hoà Hưng, cù lao Tiên, cồn Phó Ba (thành phố Long Xuyên), Bà Hoà (huyện Châu Thành), Bình Thuỷ, Khánh Hoà (huyện Châu Phú), Vĩnh Trường (huyện An Phú) trên sông Hậu; và cù lao Giêng (huyện Chợ Mới), cù lao Tây,

cù lao Ma, Cái Vừng (huyện Tân Châu) trên sông Tiền” [79, tr.104] Dạng lòng chảo, địa hình ở hai bên bờ sông cao hơn, thấp dần vào trong đồng ruộng, đó là khu vực giữa sông Tiền và sông Hậu, rõ nét nhất là huyện Phú Tân, vì nơi đây có ba mặt sông bao bọc Dạng hơi nghiêng, ở phía hữu ngạn sông Hậu thuộc vùng trũng Tứ giác Long Xuyên, địa hình cao ở gần bờ sông Hậu rồi thấp dần vào trong đồng ruộng cho đến tận ranh giới tỉnh Kiên Giang Dạng gợn sóng là một dạng phụ nằm trong khu vực dạng lòng chảo, được hình thành do sự kết nối đan xen các bãi bồi ven các sông nhánh và các rạch tự nhiên đã bị phù sa sông bồi lấp, tập trung chủ yếu ở cù lao Vĩnh Trường (huyện An Phú), các xã Vĩnh Hòa và Vĩnh Xương của huyện Tân Châu

Trang 14

Đồng bằng phù sa ở An Giang ngày nay có nhiều thay đổi so với cách đây hơn 200 năm, những cánh đồng tràm mênh mông với vô số đàn ong xây tổ làm mật, những cánh đồng um tùm, đầy lau sậy hoang vu xưa kia, nay đã được khai thác hết để trồng lúa và cây hoa màu, cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày, từ một vụ đến hai,

ba vụ mỗi năm Đồng bằng còn bị chia cắt bởi hệ thống kênh đào, các tuyến giao thông đường bộ và các khu dân cư tập trung đông đúc

Đồng bằng ven núi tập trung chủ yếu quanh các chân núi ở 2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên Dạng đồng bằng này có nhiều bậc thang ở những độ cao khác nhau, nhưng

ở mỗi bậc thang thì khá bằng phẳng, không có độ nghiêng; chênh lệch độ cao giữa các bậc thang không lớn Cách đây hơn 200 năm, trên những cánh đồng này là những thảm thực vật phủ xanh với nhiều chủng loài Nhưng ngày nay được khai phá hết để trồng lúa, hoa màu và cây ăn quả, dẫn đến nguy cơ bị xói mòn dần và sa mạc hóa, đòi hỏi việc đa dạng hóa cây trồng, nhất là cây ăn quả

Địa hình đồi núi thấp chiếm 13% diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu ở 3 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và Thoại Sơn; có hàng chục ngọn núi khá lớn, nhỏ, cao, thấp khác nhau Đồi núi An Giang chia làm 2 dạng chính : dạng núi cao và dốc, dạng núi thấp và thoải Dạng núi cao và dốc như núi Cấm, núi Cô Tô, núi Dài,… Dạng núi thấp

và thoải, phần lớn các núi thấp nằm liền hoặc nằm kề các núi lớn như núi Nam Qui, Sà Lon, núi Đất,…

Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức viết trước năm 1820 ghi

chép về đồi núi ở An Giang gồm 19 núi, đó là : núi Thụy Sơn, núi Bảo Sơn (thuộc cụm núi Sập huyện Thoại sơn ngày nay), núi Ba Thê, núi Tà Chiếu, núi Trà Nghinh (thuộc cụm núi Ba Thê huyện Thoại Sơn ngày nay), núi Tượng Sơn, núi Cà Âm, núi Nam Sư, núi Khê Lạp, núi Toái Sơn, núi Tà Biệt, núi Ba Xui, núi Ngật Sum, núi Nam Vi, núi Đài Tốn, núi Chân Sum, núi Sâm Đăng, núi Đại Bà Đê và núi Tiểu Bà Đê (phần lớn các núi này nằm trên địa bàn 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên ngày nay [17, tr.49-52]

Tuy nhiên, sách Đại Nam nhất thống chí biên soạn hoàn thành vào năm 1882 đã đề cập

Trang 15

đến danh từ Thất Sơn, Bảy Núi và ghi bổ sung thêm 4 núi là Tô Sơn, Ốc Nhẫm, Tà Biệt và Nhân Hòa

Ngoài núi Sập, núi Ba Thê (huyện Thoại Sơn), núi Sam (thị xã Châu Đốc),

An Giang còn có một dãy núi nằm nối đuôi nhau chạy dài giáp vùng biên giới Việt Nam - Campuchia, gọi là Bảy Núi hoặc Thất Sơn, với 7 núi chính : núi Nước (Thủy Đài Sơn), núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn), núi Két (Anh Vũ Sơn), núi Dài (Ngọa Long Sơn), núi Cấm (Thiên Cấm Sơn), núi Tượng (Liên Hoa Sơn), núi Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn) Trong đó, một số núi khá lớn như núi Dài, núi Cô Tô có độ cao trên 500 mét và

núi có đỉnh cao nhất là núi Cấm (Thiên Cấm Sơn) 705 mét Theo Gia định thành thông

chí, đồi núi An Giang được mô tả : “Vách dốc ngậm mây, suối cong tắm ngọc, có

những thứ giáng hương, tốc hương; cây cối um tùm, chim muông béo tốt” [17, tr.50]

Còn Đại Nam nhất thống chí ghi lại núi Sập : “Cách sông Thụy Hà 18 dặm rưỡi về

phía tây, cao 30 trượng, chu vi 3 dặm, ba ngọn núi chồng chất, cây cối xanh um, cấm

chặt cây” [60, tr.195]; hay núi Nam Vi “ ở cách huyện Hà Dương 8 dặm về phía tây

nam, cao 30 trượng, chu vi hơn 8 dặm, cây cối um tùm, cấm chặt cây, khe sâu cỏ rậm,

rất nhiều hươu nai hổ báo” [60, tr.196]

Theo Địa chí An Giang (năm 2000), tỉnh An Giang có 37 núi :

TT Tên núi Độ cao

(mét) Chu vi (mét) (xã, huyện) Vị trí núi

5 Núi Ba Thê 221 4220 Thị trấn Óc Eo, Thoại Sơn

Trang 16

9 Núi Chóc 19 550 Xã Vọng Đông, Thoại Sơn

11 Núi Sam (Học Lãnh Sơn) 228 5200 Núi Sam, thị xã Châu Đốc

12 Phú Cường (Bạch Hổ Sơn) 282 9500 An Nông, huyện Tịnh Biên

13 Núi Dài (Ngũ Hồ Sơn) 265 8751 An Phú, huyện Tịnh Biên

14 Núi Két (Anh Vũ Sơn) 266 5250 Thới Sơn, huyện Tịnh Biên

16 Núi Trà Sư (Kỳ Lân Sơn) 146 1750 Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên

24 Núi Tà Nung 59 1450 Thị trấn Tịnh Biên, Tịnh Biên

25 Núi Cấm (Thiên Cấm Sơn) 705 28600 An Hảo, huyện Tịnh Biên

26 Núi Bà Đội 261 6075 Tân Lợi, huyện Tịnh Biên

27 Núi Nam Qui 213 8875 Châu Lăng, huyện Tri Tôn

28 Núi Bà Khẹt 129 1380 Chi Lăng, huyện Tịnh Biên

32 Núi Dài (Ngọa Long Sơn) 554 21625 Lê Trì, huyện Tri Tôn

33 Núi Tượng (Liên Hoa Sơn) 145 3825 Ba Chúc, huyện Tri Tôn

34 Núi Sà Lon 102 2325 Lương Phi, huyện Tri Tôn

35 Núi Nước (Thủy Đài Sơn) 54 1070 Ba Chúc, huyện Tri Tôn

36 Núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn) 614 14375 Cô Tô, huyện Tri Tôn

Trang 17

37 Núi Tà Pạ 102 10225 An Tức, huyện Tri Tôn Nguồn : [79, tr.107]

Tóm lại, do môi trường sinh thái có nhiều biến đổi hơn 200 năm qua, từ chỗ rừng rậm rạp, khe suối có nhiều nước đến chỗ rừng cạn kiệt và các khe suối khô như hiện nay, địa hình đồi núi ở An Giang có nhiều thay đổi Các hoạt động khai thác đá xây dựng trong suốt nhiều năm qua ở núi Sam, núi Sập, núi Cô Tô,… đã khoét sâu vào chân núi, sườn núi, làm cho hình dạng của các núi này thay đổi, mất vẻ đẹp tự nhiên và tác động xấu đến môi trường xung quanh Những năm gần đây, An Giang có nhiều biện pháp tích cực để khắc phục thực trạng trên bằng cách đình chỉ mọi hoạt động khai thác đá, cát tại núi Sam, núi Sập; trồng cây gây rừng trên các đồi núi, xây dựng các hồ chứa nước,… trên vùng đồi núi Tri Tôn và Tịnh Biên

Khác với các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, An Giang là tỉnh không chỉ có địa hình đồng bằng mà còn có đồi núi Địa hình đồng bằng tương đối bằng phẳng, do phù sa bồi đắp hàng năm Đất ở đây rất thích hợp cho việc trồng lúa và hoa màu Còn đất ở địa hình đồi núi thì thích hợp với việc trồng cây ăn quả và trồng rừng Ngoài ra, đồi núi An Giang không chỉ là thắng cảnh đẹp mà còn là nguồn tài nguyên lớn về khoáng sản, cây công nghiệp, là nơi có nhiều loại cây thuốc quí Đá núi Sập, núi Sam, núi Cô Tô,… được dùng trong xây dựng và dụng cụ gia đình trong và ngoài tỉnh Địa hình đồi núi An Giang còn là bức tường thành chống giặc ngoại xâm, bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc

1.2 Sông, rạch, kênh và hồ

1.2.1 Sông

An Giang là một trong hai tỉnh đầu nguồn sông Mê Kông Sông Mê Kông bắt nguồn từ Tây Tạng (Trung Quốc), chảy theo hướng nam qua các nước Trung Quốc, Myanma, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam Khi vào địa phận nước ta, sông Mê

Trang 18

Kông chia làm hai nhánh : nhánh ở phía đông gọi là sông Tiền và nhánh ở phía tây gọi

là sông Hậu

Sông Tiền chảy qua Tân Châu, Sa Đéc, Vĩnh Long và đổ ra Biển Đông bằng 6

cửa : Cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu Đoạn chảy qua địa phận tỉnh An Giang dài khoảng 80 km, chiều rộng phía trên Vàm Nao lớn hơn 1.000 mét và phía dưới Vàm Nao từ 800 - 1.100 mét [74, tr.15]; độ sâu trung bình khoảng 20 mét và có nơi sâu khoảng 45 mét như tại khu vực thị trấn Tân Châu Trịnh Hoài Đức đã ghi lại lợi ích của sông này : “…nước ngọt rưới nhuần bừa ruộng mạ, được thóc kể cả trăm lần…; ngòi rạch thì đầy rẫy cá tôm cua lươn, nhà tự đi bắt lấy để ăn” [17, tr.52] Ngày nay, sông Tiền còn là ranh giới của 2 tỉnh An Giang, Đồng Tháp Sông Tiền là trục giao thông thuỷ quan trọng, tàu thuỷ có thể chạy từ thành phố Hồ Chí Minh trên tuyến sông này lên đến Phnôm Pênh và ngược lại; là nguồn cung cấp nước tưới và phù sa cho các cánh đồng ở huyện Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới Bên cạnh đó, sông Tiên còn có nhiệm vụ tải lũ và cung cấp nguồn thuỷ sản lớn cho tỉnh An Giang

Sông Hậu chảy song song với sông Tiền qua Châu Đốc, Long Xuyên, Cần

Thơ và đổ ra Biển Đông bằng 3 cửa là Định An, Bát Xắc, Tranh Đề Đoạn chảy qua tỉnh An Giang dài gần 101 km, trong đó chảy qua hai trung tâm đô thị lớn của tỉnh : thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc; chiều rộng phía trên sông Vàm Nao từ 500 -

900 mét, còn phía dưới Vàm Nao từ 800 - 1.200 mét; độ sâu trung bình khoảng 13 mét

và có nơi sâu khoảng 45 mét như tại khu vực cửa đổ vào sông Vàm Nao Sông Hậu là trục giao thông thuỷ xuyên suốt trung tâm của tỉnh từ thượng nguồn về hạ lưu; là nguồn cung cấp nước tưới, phù sa hầu hết đất đai sản xuất ở vùng trũng bờ tây sông Hậu (vùng Tứ giác Long Xuyên) bằng hệ thống kênh mương Bên cạnh đó, sông Hậu còn cung cấp nguồn thuỷ sản chủ yếu của tỉnh An Giang

Sông Vàm Nao là con sông nối liền giữa sông Tiền và sông Hậu, chảy ven

giữa thị trấn Phú Mỹ, xã Tân Hòa (huyện Phú Tân) và xã Kiến An, Mỹ Hội Đông (huyện Chợ Mới) Trước kia, người Việt gọi là kênh Vàm Nao bởi “còn hẹp, cạn, bãi

Trang 19

bùn Hai bên bờ cây cối um tùm, cảnh vật sầm uất tối tăm, không ngớt vang lên những

âm thanh rừng rú… Bây giờ những ngọn cây tre rừng hay những cành cây lớn hai bên

bờ sông giao tiếp nhau, người có thể leo lên đu qua được Lòng sông không sâu, rong,

cỏ, nhất là lục bình từ thượng nguồn đổ xuống tấp vào, cá tôm theo đó dựa vào đây sinh sống Do đó các loài cá lớn như cá sấu, cá mập, cá đao, rắn,… nom theo bắt mồi”

[27, tr.18] Vào đầu thế kỷ XIX, sách Gia Định thành thông chí ghi về con sông này :

“Cửa trên ở phía nam sông Tiền Giang rộng 8 tầm, sâu 2 tầm, chảy về phía nam 75 dặm rưỡi, đến cửa dưới hợp với sông Hậu, bờ tây có sở thủ ngự, ven sông dân Kinh khai khẩn ruộng vườn, rừng rậm ở phía sau là sóc, sách của dân Cao Mên” [17, tr.57] Trải qua thời gian, bờ dưới, phía Chợ Mới bị nước từ thượng lưu chảy xuống mạnh (nhất là mùa lũ) làm cho đất đứt chân, lở sụp từng mảng lớn Mặt khác, nước tràn ồ sang hữu ngạn thành những con sóng khổng lồ, nước chảy xiết và xoáy cuộn tròn đã làm đánh đắm nhiều thuyền bè qua lại nơi đây Cứ lâu ngày, đất càng bị sụp lở nhiều hơn, sông rộng lớn ra, từ đó “kinh Vàm Nao” được người ta gọi là “sông Vàm Nao” Ngày nay, sông Vàm Nao rộng lớn rất nhiều so với thế kỷ XVIII, chiều dài của sông trên 6 km, rộng khoảng 700 mét, sâu khoảng 17 mét, có tác dụng làm cân bằng dòng chảy giữa sông Tiền và sông Hậu đoạn dưới Vàm Nao Nhờ vậy, sông Vàm Nao hiền hoà hơn xưa, tàu bè tấp nập qua lại suốt ngày đêm, dưới sông không còn cá sấu; dọc hai bên bờ sông dân cư đông đúc, các cánh đồng lúa và vườn cây ăn quả

quanh năm tươi tốt

Sông Bình Di và sông Châu Đốc, tại thị trấn Long Bình (huyện An Phú), sông

Hậu chia hai nhánh, nhánh hữu hẹp hơn gọi là sông Bình Di dài 10 km Sông Bình Di chảy đến Vĩnh Hội Đông rồi gặp sông Tà Keo và sông Châu Đốc Từ ngã ba này, sông Châu Đốc chảy dài cho đến thị xã Châu Đốc thì hội tụ với sông Hậu, dài 18 km, rộng bình quân 150 mét, sâu trung bình 7 mét (có chỗ sâu 25 mét)

Những con sông trên đóng vai trò rất quan trọng đối với đời sống kinh tế của nhân dân An Giang trong các thế kỷ qua, nhất là cung cấp nước ngọt cho sản xuất nông

Trang 20

nghiệp, thức ăn cá, tôm, cua, ốc,… và điều hoà khí hậu Đồng thời, nó có một vị trí quan trọng trong hệ thống giao thông đường thuỷ, tạo mối giao lưu văn hoá giữa các vùng trong và ngoài vùng đất An Giang Mặt khác, chế độ thủy văn ở An Giang phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ nước sông Mê Kông, hằng năm đều phải ngập lụt 1 - 2,5 mét Đây là trở ngại lớn, ảnh hưởng rất lớn quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng đất An Giang

1.2.2 Rạch

Bên cạnh các con sông lớn, trên địa bàn An Giang còn có một hệ thống rạch tự

nhiên Theo Địa chí An Giang ghi : “Trải qua thời gian dài, một số rạch bị phù sa sông

Tiền và sông Hậu chảy vào bồi đắp lâu ngày thành ruộng, một số được con người đào cải tạo thành các con kênh thẳng, nên số còn lại hiện nay không nhiều Những rạch lớn

ở An Giang hiện có là Mương Khai, Cái Đầm, Cái Tắc (huyện Phú Tân), Ông Chưởng, Cái Tàu Thượng (huyện Chợ Mới), rạch Long Xuyên (thành phố Long Xuyên), Chắc

Cà Đao, Mặc Cần Dưng (Châu Thành) và rạch Cần Thảo (Châu Phú)” [79, tr.115]

Rạch Ông Chưởng có hình uốn khúc như một con rồng, là con rạch góp phần

điều tiết nước từ sông Tiền chảy qua sông Hậu Năm 1700, khi quan quân đóng tại Chợ Mới ngày nay, Nguyễn Hữu Cảnh quyết định: “Cho quân sĩ vét sâu, khơi rộng thêm nhánh sông Tiền rẽ ngang xuống sông Hậu, từ vàm Thủ Ngự Hùng Sai đến vàm Cái Hố” (tức rạch Ông Chưởng ngày nay) [25, tr.106] Sông sâu, lòng rộng thuyền bè đi lại

dễ dàng, nhất là dòng nước ngọt quý giá cho con người và trồng trọt Theo Gia Định

thành thông chí, sở dĩ rạch có tên Ông Chưởng là do “…phía tây bờ sông ở cửa trên có

miếu thờ Khâm sai Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Công (tức Nguyễn Hữu Cảnh),

đó là để dân cư nhớ ơn ông là người đầu dẹp nước Cao Mên để mở mang đất ấy mà làm miếu để thờ,…; lấy tên ông để đặt tên sông, là muốn cho người đời nghĩ đến công

ơn ông mà không quên được” [17, tr.57]

Trang 21

Vào những năm giữa thế kỷ XIX, rạch Ông Chưởng được sách Đại Nam

nhất thống chí ghi lại như sau : “Cửa trên của sông rộng 4 trượng, sâu 8 thước, phía

trước có bãi nhỏ cũng gọi theo tên sông, cách đạo Đông Khẩu cũ chừng 90 dặm về phía tây, chảy về phía nam 60 dặm rưỡi đến cửa dưới của sông vào sông Hậu Giang” [60, tr.201] Ngày nay, rạch Ông Chưởng có độ rộng rất nhiều so với trước, rạch có chiều dài 20 km, độ rộng khoảng 100 mét, sâu hơn 8 mét Con rạch này là tuyến giao thông đường thuỷ rất quan trọng nối sông Tiền với sông Hậu, tàu thuyền qua lại tấp nập suốt ngày đêm; là trục nước tưới tiêu chính cho những cánh đồng lúa và hoa màu của huyện Chợ Mới Hai bên bờ con rạch dân cư ở rất đông đúc

Rạch Long Xuyên là con rạch lớn nhất so với các con rạch khác ở An Giang

Rạch bắt nguồn từ sông Hậu tại thành phố Long Xuyên, chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, nối với kênh Thoại Hà tại xã Vĩnh Trạch (huyện Thoại Sơn), đi qua núi Sập rồi nối với sông Kiên đổ ra cửa biển Rạch Giá

Do lòng rạch cạn, tàu bè chỉ có thể qua lại được vào mùa nước lớn, năm 1902, thực dân Pháp tiến hành cải tạo rạch Long Xuyên, “chiều rộng từ 30 mét lên 50 mét, chiều sâu từ 3,5 mét lên 5 mét” [30, tr.32] Con rạch được cải tạo đã đem lại thuận lợi

về mặt giao thông, tàu bè có thể qua lại quanh năm; mặt khác, việc cải tạo con rạch này còn góp phần tăng lượng nước tưới dồi dào hơn trước cho các cánh đồng ruộng

Ngày nay, con rạch này có độ rộng khoảng 100 mét, sâu 8 mét, trở thành tuyến giao thông đường thủy quan trọng nối sông Hậu với biển Rạch Giá, và là một trong những con rạch cung cấp nước tưới tiêu cho các cánh đồng ruộng của vùng Tứ giác Long Xuyên

Rạch Cái Tàu Thượng (huyện Chợ Mới) có chiều dài 14 km, nối sông Tiền

(xã Hội An) với sông Hậu (Vàm Cống) Đại Nam nhất thống chí ghi lại con rạch này :

“Cách huyện Vĩnh An 55 dặm về phía tây bắc, lại có tên nữa là kênh Thương Thuyền, thượng lưu rộng 1 dặm rưỡi, sâu 19 trượng, cửa sông đối diện với bãi Tùng Sơn và bãi

Trang 22

Doanh Châu, nước chảy về phía nam 55 dặm rưỡi đến chỗ ngã ba, lại chảy về phía nam

24 dặm rưỡi đến sông Cường Thành, đổ vào sông Hậu Giang” [60, tr.201-202] Rạch Cái Tàu Thượng không chỉ cung cấp nước tưới cho những cánh đồng lúa, hoa màu mà còn là ranh giới giữa hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp

Rạch Cái Đầm thuộc huyện Phú Tân, dài 9 km, rộng 50 mét, ăn thông với

kênh Thần Nông từ xã Phú Vĩnh huyện Tân Châu

Rạch Cái Tắc, vàm tại thị trấn Phú Mỹ có chiều dài 9 km, rộng 30 mét, ăn qua

xã Hiệp Xương (huyện Phú Tân)

Rạch Chắc Cà Đao (huyện Châu Thành) dài 20 km, rộng 30 mét nối từ sông

Hậu đến kênh Bốn Tổng và rạch Long Xuyên, nhận nước từ sông Hậu chảy vào các cánh đồng vùng Tứ giác Long Xuyên, thông với các kênh rạch khác trong vùng

Rạch Cần Thảo (huyện Châu Phú) dài 20 km, rộng 30 mét, nhận nước từ

sông Hậu chảy vào các cánh đồng thuộc vùng Tứ giác Long Xuyên, thông với các kênh rạch khác trong vùng

1.2.3 Kênh

An Giang có khoảng 21 kênh đào như kênh Vĩnh Tế, Thoại Hà, Vĩnh An, Trà

Sư, Thần Nông, Vàm Xáng, Tri Tôn, Ba Thê, Mặc Cần Dưng, Kênh Mới,…

Kênh Thoại Hà

Năm 1817, khi làm Trấn thủ Vĩnh Thanh, Nguyễn Văn Thoại chú ý đến việc khai hoang vùng đất An Giang và thấy được việc giao thông thương mại ở vùng đất này gặp nhiều khó khăn, “ngòi sông nhỏ bùn lầy, cây cỏ đầy lấp, thuyền bè không đi lại đươc” [17, tr.59] nên mọi trao đổi hàng hoá giữa sông Hậu và vùng duyên hải Hà Tiên đều phải đi vòng qua đường biển Ông nghĩ đến việc đào kênh và kiến nghị lên vua Năm 1818, ông được vua Gia Long giáng chỉ cho đào kênh Đông Xuyên - Rạch Giá Kênh đào theo lạch nước cũ, nối rạch Long Xuyên tại Vĩnh Trạch dài theo hướng tây nam ngang qua chân núi Sập, tiếp với sông Kiên, đổ ra biển Tây tại cửa

Trang 23

Rạch Giá Số nhân công lên đến 1.500 người, đào hơn 1 tháng là xong Kênh dài 12.410 tầm, rộng 20 tầm, “luôn luôn ghe thuyền qua lại tiện lợi” [23, tr.171] Công việc hoàn tất, Nguyễn Văn Thoại cho vẽ “hoạ đồ” và lên sớ tâu vua Vua Gia Long khen, ra lệnh lấy tên người mà đặt cho tên kênh là Thoại Hà và ban tên núi Sập là Thoại Sơn để biểu dương công trạng của quan Trấn thủ

Việc đào kênh Thoại Hà ngay từ đầu chỉ nhằm phục vụ giao thông, quốc phòng Nói đúng hơn là nhằm cho việc tiện liên lạc đồn binh giữa Long Xuyên và Rạch Giá Nhưng về sau, kênh Thoại Hà trở thành nơi thu hút dân chúng đến định cư, lập nghiệp Trải qua nhiều lần cải tạo, kênh Thoại Hà rộng lớn hơn Ngày nay, kênh Thoại

Hà không những cung cấp nước tưới, phù sa bồi đắp cho vùng Tứ giác Long Xuyên,

mà còn là con đường giao thông thủy vận chuyển hàng hóa rất quan trọng nối thành phố Long Xuyên với Rạch Giá

Kênh Vĩnh Tế

Năm 1816, khi thành Châu Đốc vừa đắp xong, Trấn thủ Vĩnh Thanh là Lưu

Phước Tường tâu lên, vua Gia Long xem địa đồ xứ Châu Đốc rồi truyền cho các thị thần rằng : “Xứ nầy nếu mở đàng lũy thông với Hà Tiên, thời nông thương đều lợi cả; ngày sau dân ở càng đông, đất mở càng rộng, sẽ trở thành một trấn to” [62, tr.129] Nhưng vua chưa ra lệnh đào ngay, vì vùng đất mới khai mở, nhân dân còn nhiều cơ cực, bắt dân làm xâu khổ sở sợ lòng dân không yên

Song, vua Gia Long rất chú ý đến vùng đất biên giới An Giang từ Châu Đốc đến Hà Tiên giáp với Chân Lạp (Campuchia), là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng ở biên giới Tây Nam nước ta Địa hình vừa có núi có sông, vừa có đồng bằng, dân cư thưa thớt và đường liên lạc Hà Tiên - Châu Đốc gặp rất nhiều khó khăn Nhằm giải quyết nhu cầu quốc phòng lúc bấy giờ, theo đề nghị của Nguyễn Văn Thoại,

“tháng 9 năm Kỷ Mão, vua truyền cho Gia Định thành lo việc đào kênh và quan Trấn

Trang 24

thủ Nguyễn Văn Thoại được lệnh chỉ huy dân binh tiến đến Châu Đốc để khởi công vào ngày rằm tháng chạp” [79, tr.117]

Trước khi đào kênh, vua Gia Long ra chỉ dụ cho Thống chế Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại, cùng với Chưởng cơ Tuyên Quan hầu Phan Văn Tuyên huy động dân binh khắp Vĩnh Thanh, mỗi phiên 5.000 người, thêm 500 binh đồn Uy Viễn (Vĩnh Long) Chiêu Thuỳ nước Cao Miên là Tôn La A Toàn Phù tức Nguyễn Văn Tồn huy động dân quân người Khmer, mỗi phiên 5.000 người Kênh Vĩnh Tế được khởi công vào ngày 15 tháng 12 năm 1819

Kênh được đào chia làm hai giai đoạn Giai đoạn đầu, “ trừ Náo Khẩu 4.075 tầm (khoảng 10 km) không phải đào thêm công, thực lực phải đào là 26.279 tầm (67 km), lường tính công đất, khó dễ, sức người nặng nhẹ, lấy từ cửa hào cho đến Náo Khẩu, đất khô cứng có 7.575 tầm (19 km) thì chia cho dân Kinh làm, đất bùn ẩm 18.740 tầm (47 km) thì chia cho dân Cao Mên; bề ngang sông 15 tầm (38 mét), sâu 6 thước (2,798 mét), nhà nước cấp cho mỗi người tiền 6 quan, gạo 1 phương (tương đương 1 giạ)” [17, tr.58] Đến ngày 15 tháng 3 năm 1820, kênh đào xong giai đoạn 1 Sau thời gian không tiến hành được, tháng 10 năm 1822, vua Minh Mạng ra lệnh cho Tổng đốc Gia Định tiếp tục bắt dân đinh ở các đồn Uy Viễn, Vĩnh Thanh, Định Tường Số người lên đến 39.000 người Việt và 16.000 người Khmer, chia làm 3 phiên Trong đợt này, ngoài sự chỉ huy của Nguyễn Văn Thoại và Phan Văn Tuyên, còn có Trần Công Lại Đến tháng 3 năm sau, do hạn hán công việc bị đình lại

Tháng 2 năm 1824, triều đình Nguyễn huy động thêm Phó Tổng trấn Vĩnh Thanh là Trần Văn Năng huy động số dân binh 25.000 người, trong đó có người Khmer, làm việc suốt ngày đêm Tháng 5 năm 1824, kênh đào xong, “dài 205 dặm rưỡi (91 km), rộng 7 trượng 5 thước (25 mét), sâu 6 thước (3 mét)” [23, tr.181-187] Tổng

số người huy động lên đến 80.000 người kể cả người Việt và người Khmer

Trang 25

Sau khi đào xong, vua Minh Mạng ghi công, như bia Vĩnh Tế ghi lại : “Lại hạ

cố vợ thần là Châu Thị Tế, rằng có đức dầy trong vòng lễ giáo, bên trong biết giúp đỡ chồng, một lòng chân thành bền chặt, có chút công lao, nên xuống lệnh ban cho tên núi Sam là núi Vĩnh Tế … Đất đặt tên cho họ, núi đặt tên cho người” (Bia Vĩnh Tế)

Về lợi ích của kênh Vĩnh Tế, sách Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn

ghi : “Từ đấy đường sông mới thông, việc biên phòng và việc buôn bán được hưởng mối lợi vô cùng” [60, tr.207] Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), triều đình cho lệnh đúc Cửu Đỉnh (9 đỉnh đồng lớn ở sân Thái Miếu nhằm thể hiện uy vũ của nhà vua và để ghi tác các công trình lớn ở nước ta lúc bấy giờ, trong đó trên Cao đỉnh có chạm hình kênh Vĩnh Tế

Kênh Vĩnh Tế là một công trình thuỷ lợi lớn nhất Nam Bộ lúc bấy giờ Lúc

đầu, mục đích của việc đào kênh là phục vụ giao thông, quốc phòng Triều Nguyễn thấy cần thiết phải tìm một con đường thủy, tiện lợi cho việc di chuyển, đi lại, giao dịch, thuận lợi cho việc lưu thông, vận chuyển lúa gạo hàng hóa Bên cạnh đó, kênh Vĩnh Tế còn có mục đích quân sự quốc phòng Hà Tiên - Châu Đốc là vùng đất biên cương Tây Nam của Tổ quốc mà kẻ thù xung quanh thường xuyên dòm ngó, để làm bàn đạp thôn tính vùng đất phía Nam Kênh Vĩnh Tế hình thành là đường chuyển quân quan trọng khi hữu sự và trở thành tuyến phòng thủ quốc phòng chắc chắn canh giữ vùng biên giới Tây Nam Tuy nhiên, sự ra đời của kênh Vĩnh Tế đã phát sinh ra những lợi ích mới nhưng lại rất to lớn và quan trọng có ảnh hưởng đặc biệt lâu dài tới ngày nay Đó là “sản xuất nông nghiệp thêm nhiều thuận lợi Nó góp phần làm giảm áp lực

lũ lụt tàn phá đồng bằng, đưa được một phần lũ thoát ra biển phía Tây, tiêu đỡ úng lụt cho vùng Tứ giác Long Xuyên” [63, tr.67] Mặt khác, kênh Vĩnh Tế còn đưa nước ngọt

từ sông Hậu vào tháo chua rửa mặn, cải tạo đất đai, cung cấp phù sa cho đồng ruộng, vừa là trục tưới tiêu có vai trò quyết định trong việc khẩn hoang ruộng đất của vùng Tứ giác Long Xuyên và vùng đồi núi An Giang

Kênh Vĩnh An

Trang 26

Năm 1843, triều Nguyễn cho đào con kênh Vĩnh An lấy nước từ sông Tiền bổ

sung cho sông Hậu và tạo trục giao thông thuận lợi giữa hai trung tâm Tân Châu và Châu Đốc, thông nối các vị trí quân sự và kinh tế chiến lược của biên cương từ Hà Tiên qua Châu Đốc đến Tân Châu Theo Sơn Nam : “Dân phu đào kênh từ Vĩnh Long đến, hiệp với An Giang Kênh đào gấp, lúc này chiến sự giữa ta và Xiêm đang hồi căng thẳng, nhằm đưa chiến thuyền từ sông Tiền qua sông Hậu, hoặc ngược lại được nhanh chóng hơn” [46, tr.186-187] Kênh Vĩnh An đào trong 3 năm thì xong, dài 17 km, rộng

30 mét, sâu 6 mét Kênh đào xong, các thuyền to nhỏ qua lại tấp nập Nhưng do cửa đổ của kênh vào sông Hậu đúng chỗ giáp nước nên dòng chảy rất yếu, làm cho phù sa ứ đọng và bồi đắp lòng kênh Sau vài chục năm, vào mùa nước lớn thì thuyền bè có thể qua lại được, còn vào mùa khô thì kênh trở nên cạn Song, kênh Vĩnh An là nguồn nước tưới tiêu cho các cánh đồng thuộc xã Châu Phong, Lê Chánh, Phú Vĩnh, Long Phú của huyện Tân Châu

Kênh Trà Sư

Kênh Trà Sư được đào trong khoảng thời gian 1830 - 1850, dựa trên cơ sở

khai thông con rạch nhỏ có sẵn chạy từ cầu Trà Sư (nằm trên lộ Châu Đốc đi thị trấn Nhà Bàng) đến cầu Sắt 13 (nằm trên Lộ tẻ Mặc Cần Dưng đi Tri Tôn), với chiều dài 23

km và độ sâu trên 2 mét Kênh đào với mục đích ngăn lũ núi, thau chua rửa phèn và dẫn nước lũ phù sa từ sông Hậu vào để phục vụ khai thác các cánh đồng hoang hoá thuộc khu vực Thới Sơn - Văn Giáo (huyện Tịnh Biên) lúc bấy giờ

Việc đào các con kênh dưới triều Nguyễn không những thuận lợi giao thông thương mại, an ninh quốc phòng vùng biên cương, khai phá các vùng hoang hoá mà còn là cơ sở qui dân lập ấp, dân số và sản xuất lúa gạo của An Giang tăng lên

Kênh Thần Nông

Năm 1882, Pháp cho phóng tuyến đào kênh Thần Nông đi suốt dọc giữa

huyện Phú Tân hiện nay, bắt đầu từ xã Phú Vĩnh (huyện Tân Châu) nối liền kênh Vĩnh

Trang 27

An kéo dài đến rạch Cái Đầm đi qua các xã Long Phú, Phú Vĩnh (huyện Tân Châu), Long Sơn, Phú Lâm, Phú An, Hòa Lạc, Bình Thạnh Đông (huyện Phú Tân) Kênh được đào nhằm mục đích tiêu nước vào mùa mưa và lấy nước tưới vào mùa khô cho toàn huyện Phú Tân ngày nay Kênh có chiều dài 25 km, rộng 6 mét và sâu 3 mét

Kênh Vàm Xáng

Để khắc phục nhược điểm bị bồi lắng ở kênh Vĩnh An, từ năm 1914 đến 1918, thực dân Pháp cho đào kênh Vàm Xáng cách kênh Vĩnh An 4 km về thượng lưu, lấy nước sông Tiền bổ sung cho sông Hậu, đồng thời tạo ra trục giao thông thuỷ nối liền giữa Tân Châu và Châu Đốc thay cho kênh Vĩnh An Ban đầu kênh dài 9 km, rộng 30 mét và sâu 6 mét Do có cửa đổ nước sông Hậu ở vị trí thuận lợi về thế nước và địa hình tạo ra được độ dốc có dòng chảy lớn, đến nay kênh có độ rộng trên 100 mét và sâu trên 20 mét

Như vậy, sau sông Vàm Nao, kênh Vàm Xáng trở thành tuyến kênh quan trọng trong việc điều hoà lượng nước từ sông Tiền bổ sung cho sông Hậu, tạo lập trục giao thông thuỷ nối liền hai sông này nên tàu thuyền lớn nhỏ qua lại nơi đây một cách

dễ dàng quanh năm suốt tháng

Kênh Mặc Cần Dưng

Để làm tăng giá trị của vùng đất hoang hóa, nhất là vùng đất rộng lớn ở Tứ giác Long Xuyên, chính quyền thực dân Pháp cho đào kênh Mặc Cần Dưng (nay thuộc huyện Châu Thành) vào năm 1922 Kênh có chiều dài 42,2 km, rộng 20 mét, sâu 4 mét Con kênh này được đào sâu vào vùng hoang hóa của tổng Định Thành (quận Châu Thành) tạo ra những vùng canh tác mới ở xã Bình Hòa, An Hòa, Cần Đăng, Vĩnh Hanh

Kênh Cái Sắn

Kênh được đào bằng xáng bắt đầu từ năm 1922 đến năm 1923 thì hoàn thành

Con kênh có chiều dài 55,8 km, rộng 30 mét, sâu 4 mét Đây là con kênh được đào dài

Trang 28

nhất của tỉnh Long Xuyên lúc bấy giờ Con kênh này hoàn thành có tác dụng tạo ra vùng canh tác mới của 2 tổng Định Phước (quận Châu Thành) và Định Mỹ (quận Thốt Nốt) Ngày nay, kênh Cái Sắn không chỉ cung cấp nước tưới tiêu, phù sa cho các cánh đồng, mà còn là trục giao thông đường thủy quan trọng nối liền sông Hậu với biển (qua tỉnh Kiên Giang)

Tiếp đó, từ năm 1918 - 1930, thực dân Pháp cho đào các kênh Tám Ngàn, kênh Tri Tôn, kênh Ba Thê nhằm mục đích khai phá vùng đất hoang hoá bờ trong sông Hậu (vùng Tứ giác Long Xuyên) Điều này chứng tỏ rằng, Pháp quyết tâm khai thác vùng đất còn hoang hoá ở An Giang Bên cạnh đó, trong suốt 10 năm (1910 - 1920), thực dân Pháp còn cho đào nhiều kênh phụ, làm nhiệm vụ dẫn nước sâu vào các cánh đồng :

Tên các kênh phụ Chiều dài (km) Rộng (mét) Sâu (mét)

Trang 29

Từ năm 1931 - 1945, thực dân Pháp tiếp tục dự án phát triển thuỷ lợi trong vùng trũng Tứ giác Long Xuyên gồm nạo vét và mở rộng kênh Mặc Cần Dưng; nạo vét

và đào thông nối kênh Tám Ngàn, kênh Tri Tôn và kênh Ba Thê với kênh Mặc Cần Dưng và với sông Hậu; đào thêm kênh Đào, kênh Cần Thảo, kênh Bốn Tổng Song dự

án này không hoàn thành theo đúng kế hoạch, mãi đến năm 1942 mới nạo vét được kênh Tri Tôn kéo dài đến kênh Mặc Cần Dưng đến sông Hậu, đào xong kênh Đào, kênh Cần Thảo và kênh Bốn Tổng

Từ năm 1957 đến năm 1960, dưới thời chính quyền Sài Gòn, trên địa bàn An Giang đào thêm được Kênh Mới nối kênh Vĩnh Tế với kênh Tám Ngàn tại Lò Gạch, là trục kênh tạo nguồn chuyển nước từ kênh Vĩnh Tế vào vùng Bắc Hà Tiên

Sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước 1975, chính quyền cho đào thêm kênh T15 để nối kênh Cần Thảo với kênh Mạc Cần Dưng tại cầu Sắt 15 và kéo dài đến giáp ranh tỉnh Kiên Giang, kênh 10 Châu Phú, kênh núi Chóc Năng Gù, kênh Bảy Xã, kênh Cà Mâu, kênh Kátambong …, đồng thời tiến hành nạo vét, mở rộng hoặc kéo dài tất cả các trục kênh tạo nguồn có trước năm 1975, để đáp ứng yêu cầu ngày càng gia tăng của sản xuất nông nghiệp, phòng chống thiên tai, giao thông và phân bố dân cư

Sau những trận lũ lớn liên tục từ năm 1994 - 1996, đáp ứng yêu cầu chống lũ,

hệ thống công trình thoát lũ ra biển Tây được hình thành, trong đó có trục kênh T4, T5, T6 chuyển nước từ kênh Vĩnh Tế băng qua vùng Bắc Hà Tiên đổ vào kênh Rạch Giá -

Hà Tiên nhằm để thoát lũ ra biển Tây Với công trình này, vấn đề lũ, ngập lụt, mặn và chua phèn của vùng Tứ giác Long Xuyên cơ bản được giải quyết; nhờ vậy mà sản xuất được hai, ba vụ lúa mỗi năm, nâng cao năng suất sản xuất

Nhìn chung, sau gần 200 năm phát triển, tính đến giữa năm 1999, hệ thống kênh trên địa bàn An Giang có tổng chiều dài 5.171 km, gấp 3 lần so với trước năm

1975 Mạng lưới kênh rạch ở An Giang phân bố tương đối đồng đều, kết hợp với các

Trang 30

sông chính tạo ra mạng lưới giao thông thủy hoàn chỉnh Với hệ thống sông, rạch và kênh chằng chịt, địa hình An Giang lại thấp, hai bên bờ sông lớn không có đê bao ngăn

lũ, lại ở vị trí đầu nguồn nên hằng năm khi mùa mưa đến, lũ sông Mê kông đổ về, An Giang là một trong những tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long bị úng lụt nặng nề nhất Nhưng mặt khác, lũ cũng mang lại nhiều lợi ích cho việc phát triển nông nghiệp Lũ về làm ngập hầu hết diện tích đất đai của tỉnh, khi lũ rút đi thì đất được thau chua, rửa phèn, đồng ruộng được bồi đắp phù sa, thêm chất đạm cho lúa, hoa màu phát triển, ao,

hồ, đầm lầy có thêm nguồn thuỷ sản

1.2.4 Hồ

Hồ ở An Giang có 2 loại : hồ tự nhiên và hồ nhân tạo Hồ tự nhiên gồm có hồ

Búng Bình Thiên Lớn và Búng Bình Thiên Nhỏ (huyện An Phú), hồ Nguyễn Du (thành phố Long Xuyên) Nguồn nước hồ Búng Bình Thiên Lớn và Bính Bình Thiên Nhỏ là

do sông Hậu và sông Bình Di cung cấp Vào mùa khô, diện tích mặt hồ Búng Bình Thiên Lớn là 193 ha, độ sâu trung bình 6 mét; còn Búng Bình Thiên Nhỏ là 10 ha, sâu

5 mét Bên cạnh cung cấp nguồn thủy sản tự nhiên, trong tương lai 2 hồ này sẽ là nơi tham quan du lịch của tỉnh Còn hồ Nguyễn Du được hình thành từ một nhánh của sông Hậu kéo dài 1.500 mét Hiện nay, hồ có chiều dài 350 mét, độ rộng 50 mét Hồ Nguyễn

Du là một nơi vui chơi giải trí, còn là thắng cảnh đẹp góp phần cải tạo môi trường sinh thái của thành phố Long Xuyên

Hồ nhân tạo được xây dựng ở vùng đồi núi Tri Tôn, Tịnh Biên vào những năm

1986 đến 1994 như hồ Soài So (huyện Tri Tôn), Ô Tức Xa, Cây Đuốc, An Hảo (huyện Tịnh Biên), nhằm mục đích cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân và phần cải tạo môi trường vùng đất vốn thường xảy ra hạn kiệt Bên cạnh đó, các hồ này còn cung cấp nước tưới cho hàng trăm ha cây hoa màu, phục vụ cho công tác trồng rừng phủ kín đồi trọc, phòng chống cháy rừng và tạo ra điểm du lịch hấp dẫn của tỉnh

1.3 Khí hậu, thuỷ văn

Trang 31

1.3.1 Khí hậu

Cũng giống như các tỉnh ở Nam Bộ, An Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhiệt độ trung bình năm khá cao và ổn định từ 26 - 28 C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 29,5 C và nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 24 C Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm thấp Nhiệt độ cao nhất năm thường xuất hiện vào tháng 4, dao động trong khoảng 36 - 38 C; nhiệt độ thấp nhất trong năm thường xuất hiện vào tháng 12, chưa có năm nào xuống dưới 18 C

0

0

0 Khí hậu ở An Giang chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa khô, từ tháng 12 đến tháng 4,

có gió mùa đông bắc, thời tiết trong sáng, ít mưa, thiếu nước trầm trọng cho cây trồng

và sinh hoạt, việc canh tác gặp nhiều trở ngại Mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 11, có gió tây nam, mưa nhiều, chiếm đến 90% lượng mưa cả năm, tập trung cao nhất vào tháng 8, 9 và 10

Do An Giang là tỉnh nằm sâu trong đất liền của Nam Bộ nên ít chịu ảnh hưởng của gió bão, bão ở đây thường xuất hiện vào cuối mùa nên tốc độ không mạnh, phạm

vi hoạt động nhỏ, ít gây ra tác hại lớn Lượng mưa trung bình ở An Giang hàng năm từ 1.400 - 1.500mm Thường lượng mưa lớn vào mùa mưa lại trùng vào mùa nước lũ của sông Mê Kông dồn về hạ lưu, do đó tạo nên tình trạng ngập lụt ở An Giang, chi phối nhiều hoạt động kinh tế và đời sống xã hội

Nói chung, khí hậu ở An Giang tương đối ôn hòa, dễ chịu, nắng nhiều, mưa trung bình, ít thiên tai, thời tiết ít thất thường, hầu như không có bão và sương mù xảy

ra Đây là những thuận lợi cơ bản cho việc trồng trọt, chăn nuôi, khai thác thuỷ sản và các ngành kinh tế khác Tuy nhiên, cũng như các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, An Giang cần có những giải pháp đối phó với việc thiếu nước vào mùa khô, lũ vào mùa mưa để tận dụng các nguồn lợi to lớn của lũ mang lại như bồi đắp phù sa, nguồn lợi thủy sản, mà vẫn sống chung với lũ

1.3.2 Thuỷ văn

Trang 32

An Giang nằm vào vị trí trung tâm của hạ lưu sông Mê Kông, lại có hệ thống sông ngòi và kênh rạch chằng chịt, do đó bị tác động rất lớn của quá trình thuỷ văn Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5, lượng mưa ít, mực nước sông hạ thấp dần Tháng 4 là tháng có mực nước thấp nhất, làm cho tình hình khô cạn tự nhiên ở các cánh đồng trở nên căng thẳng, thiếu nước trầm trọng cho cây trồng và sinh hoạt, thậm chí đất đai bị nứt nẻ do hạn hán, việc canh tác gặp nhiều trở ngại Chính vì vậy, việc

mở rộng diện tích trồng lúa cao sản, diện tích trồng lúa 2, 3 vụ/năm thời gian qua cũng gặp nhiều khó khăn, trở ngại Mùa lũ bắt đầu vào tháng 6 đến tháng 11, từ tháng 8 đến

tháng 10 là giai đoạn cao của con lũ và hình thành “mùa nước nổi” với mực nước cao

thấp hằng năm khác nhau Năm 1904, “mực nước cao nhất là 4 thước 14 Các nhà lá ngập lụt trên 2 thước và dân chúng sống trên gác phải trổ nóc nhà làm cửa ra vào Tại tỉnh lỵ, chỉ lưu thông bằng thuyền bè Mười chín năm sau, năm 1923, tỉnh Long Xuyên phải trải qua một mùa lũ tàn khốc nữa Lần này mực nước chỉ thấp hơn mực nước năm

1904 là 34 phân” [51, tr.24]

Ở thế kỷ XX vừa qua, lũ lớn nhất xảy ra ở An Giang vào năm 1961, với mực nước đỉnh lũ tại Tân Châu là 5,11 mét và nhỏ nhất vào năm 1998 là 2,81 mét Tuy chênh lệch nhau không lớn, nhưng do địa hình An Giang khá bằng phẳng và lại là tỉnh nằm đầu nguồn sông Cửu Long nên hậu quả tàn phá của lũ lớn gây ra cho An Giang rất nặng nề Thiệt hại của lũ lớn năm 1961 được chính quyền Sài Gòn ghi lại “chết 68 người; 4.491 nhà sập và nhà ngập hư; 82.437 mẫu ruộng lúa, 169 mẫu hoa màu và 188 mẫu vườn cây ăn trái bị hư hại nặng; 6.554 con gia súc bị chết; 295,135 km đường lộ

và 125 cầu bị phá huỷ” [83, tr.31] hay trận lũ năm 1996, “trên địa bàn An Giang có 37 người chết, các thiệt hại về cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội lên tới hơn 400 tỷ đồng, đó

là chưa kể thiệt hại về môi trường sinh thái” [79, tr,137]

Những năm lũ lớn, nước trong đồng rút muộn làm cho thời vụ xuống giống đông xuân phải lùi lại dẫn đến thời vụ xuống giống hè thu cũng chậm trễ, do đó vào cuối vụ rất dễ bị ngập lụt bởi lũ đầu mùa Ngược lại, những năm lũ nhỏ thì trước đây

Trang 33

lúa mùa có năng suất thấp do nước ngập lũ nông và thời gian ngập lụt không đủ kéo dài theo yêu cầu sinh lý của cây lúa nổi

Sau năm 1975, nhân dân cùng với chính quyền địa phương thực hiện nhiều công trình thủy lợi nhằm hạn chế tác hại của lũ lụt gây ra, dần dần tiến tới “sống chung với lũ” một cách chủ động

Song song với những thiệt hại do lũ gây ra, mùa lũ ở An Giang cũng có những mặt tích cực Nó đem lại một khối lượng thuỷ sản thiên nhiên khổng lồ với đầy đủ các loại tôm, cá…, đặc biệt đã mang lại một lượng phù sa làm cho đất thêm màu mỡ

1.4 Địa chất, khoáng sản và thổ nhưỡng

1.4.1 Địa chất

Cấu tạo địa chất ở An Giang gồm tầng đất đỏ hoặc xám, tầng sét và tầng bùn Tầng đất đỏ hoặc xám được hình thành trong điều kiện trầm tích của phù sa sông Cửu Long hiện nay, nằm trên cùng Nơi nào thế đất cao thì nơi đó có tầng đất đỏ dày, cũng có nơi tầng đất này bị bóc mòn gần hết do hiện tượng xói mòn Tầng đất này chiếm bộ phận nổi của địa hình

Tiếp theo tầng đất đỏ là tầng đất sét lam, có bề dày đều đặn, bình quân từ 1,8 - 2,2 mét Tầng lớp này chứa nhiều gốc Sulphát là nhân tố chủ yếu phát sinh làm hóa chua đất Đặc tính của đất tầng sét lam là ngăn thấm rất tốt

Dưới tầng sét lam là tầng bùn có biên độ cở hạt rất rộng từ sỏi, cát đến hạt bột

và sét, nhưng nó có đặc tính chung là ở dạng bùn, có tính chất phân ly trong nước rất rõ rệt Tầng bùn rất mềm yếu và thấm nước mạnh Bề dày tầng bùn thay đổi rất nhiều từ vài mét đến vài chục mét

1.4.2 Khoáng sản

Vùng đất An Giang rất phong phú về khoáng sản, chia làm các nhóm sau :

Trang 34

- Nhóm vật liệu xây dựng gồm đá xây dựng, cát sông, sét gạch ngói Đá xây dựng dùng để trải đường, đá xây, đổ bê tông Đá xây dựng có hai nhóm đá : loại đá granit, trữ lượng ước tính 11 triệu m3, được phân bố ở núi Trà Sư, núi Két, núi Bà Đội (huyện Tịnh Biên), núi Sập, núi Ba Thê nhỏ, núi Tượng, núi Chóc, núi Trọi (huyện Thoại Sơn), núi Cô Tô (huyện Tri Tôn); loại đá phun trào, chủ yếu ở núi Dài (thuộc xã Châu Lăng, Tri Tôn), núi Phú Cường, núi Sà Lon, trữ lượng ước tính 28,6 triệu m3 Cát xây dựng có 2 loại cát núi và cát sông Cát núi nằm theo triền hoặc trong các trũng giữa núi Cấm và núi Dài thuộc xã An Cư, Thới Sơn (huyện Tịnh Biên); hiện nay việc khai thác cát núi ở An Giang còn ít vì nhu cầu sử dụng chưa cao lắm Cát sông nằm ở sông Tiền và sông Hậu với tổng sản lượng khai thác hàng năm gần 2 triệu khối Đất sét gạch ngói : các vùng đất nông nghiệp ở huyện Châu Thành, Châu Phú đều thích hợp cho việc sản xuất gạch ngói Chỉ cần khai thác ở lớp đất bề mặt có bề dày 0,2 - 0,3 mét là có thể cung cấp cho hơn 400 nhà máy sản xuất gạch ngói lớn nhỏ trong toàn tỉnh, trữ lượng ước tính 40 triệu m3 Đất sét ở An Giang dùng làm gạch ống, gạch thẻ, ngói lợp, gạch tàu

- Nhóm vật liệu trang trí gồm đá ốp lát, đá aplite Đá ốp lát chủ yếu là các nhóm đá granite, granodiorite, rhyolite có nhiều màu sắc rất được ưa chuộng trong trang trí cao cấp Còn đá aplite ở An Giang được khai thác để cung cấp cho nhà máy sản xuất gạch ceramic Đồng Tâm và một số nhà máy khác ở thành phố Hồ Chí Minh

- Than bùn được phân bố chủ yếu ở khu vực Bảy Núi thuộc 2 huyện Tri Tôn

và Tịnh Biên, trữ lượng ước tính khoảng 16,4 triệu tấn Các mỏ than bùn An Giang được phân bố chủ yếu ở các xã Núi Tô, Châu Lăng, Lương Phi, Ba Chúc, An Tức, Vĩnh Gia thuộc huyện Tri Tôn Ngoài sử dụng làm chất đốt, than bùn An Giang có thành phần rất phù hợp cho việc chế biến phân hữu cơ vi sinh phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và axit humic

Trang 35

- Mỏ vỏ sò được hình thành trong vùng các cửa sông, được phân bố thành những khối với bề mặt đáy bằng phẳng, vách dốc Diện tích khu mỏ tổng cộng 21,7 ha

và trữ lượng dự báo khoảng 808.691 tấn Trước đây, vỏ sò ở An Giang được khai thác

và chế biến làm phân NPK

- Đất sét cao lanh có trữ lượng 2,5 triệu tấn, tập trung chủ yếu ở huyện Tri Tôn, không chỉ dành cho sản xuất sành sứ mà còn dùng làm khung xương gạch men cao cấp, sản xuất bột sơn Ngoài ra, ở An Giang còn có đất sét betntonite dùng làm chất tẩy rửa và hút nhờn, được tìm thấy ở Lê Trì (huyện Tri Tôn) với trữ lượng khá lớn

- Đá quý và ngọc có ở núi Nam Qui, Tà Pạ

- Quặng kim loại gồm có quặng molipden và quặng mangan, được phân bố ở núi Trà Sư, núi Két, Tà Lọt nhưng không nhiều

- Nước khoáng thiên nhiên có ở núi Cô Tô, núi Dài, núi Cấm, núi Phú Cường, núi Két

- Diatomite có ở Lê Trì (Tri Tôn), nằm cách mặt đất 1,8 - 2,2 mét, bề dày bình quân khoảng 1,7 - 2 mét, trữ lượng dự báo khoảng từ 800.000 đến 1 triệu tấn Diatomite được dùng rộng rãi trong công nghiệp như lọc bia, rượu, dầu ăn

Tất cả loại tài nguyên khoáng sản trên đều được khai thác bắt đầu từ thời Pháp thuộc Nhìn chung, nguồn khoáng sản của An Giang không nhiều so với các tỉnh trong nước, nhưng lại là nguồn tài nguyên quí đối với một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Nếu khai thác đúng hướng sẽ góp phần phát triển kinh tế chung của tỉnh

1.4.3 Thổ nhưỡng

Đặc tính đất ở An Giang giàu chất oxýt sắt và oxýt nhôm, tầng phù sa dày, màu đỏ và chất xám sáng Đất đai ở An Giang có thể phân chia thành 3 nhóm chính : nhóm đất đồi núi, đất phù sa và đất phèn

Đất đồi núi ở An Giang chủ yếu phân bố ở hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và một phần nhỏ của huyện Thoại Sơn (vùng Ba Thê) Tổng diện tích đất đồi núi khoảng

Trang 36

29.320 ha, chiếm khoảng 8,6% tổng diện tích đất của tỉnh An Giang Đất được sử dụng chủ yếu vào mùa mưa, khi có nước; cây trồng chủ yếu là lúa 1 vụ/năm, một số nơi có thể trồng được cây hoa màu, khoai mì

Đất phù sa do phù sa sông Tiền và sông Hậu bồi đắp, chiếm 44,27% tổng diện tích đất của tỉnh với khoảng 156.507 ha, phân bố chủ yếu ở các huyện Châu Thành, Châu Phú, An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới, Thoại Sơn, một phần của thành phố Long Xuyên và thị xã Châu Đốc Đây là nhóm đất dùng để sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là trồng cây lúa, bao gồm các nhóm đất sau :

- Đất cồn bãi phân bố chủ yếu ven sông Tiền và sông Hậu và một phần nhỏ trên sông Vàm Nao Đất do phù sa sông Tiền và sông Hậu bồi đắp, hàm lượng dinh dưỡng cao Qua thống kê, “trên sông Tiền có 8 cồn và cù lao, trên sông Hậu có 14 cồn

và cù lao” [79, tr.172] như cồn Tào, cồn Cỏ Găng, cồn Béo (xã Vĩnh Hòa, Tân Châu), cồn Cả (xã Phú An, Phú Tân, cù lao Giêng (xã Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân, thuộc huyện Chợ Mới), cồn Én (xã Tấn Mỹ, Chợ Mới), cồn Phước (Mỹ Luông, huyện Chợ Mới), cồn Cũ (xã Bình Phước Xuân, Chợ Mới), cù lao Vĩnh Lộc (xã Vĩnh Lộc, An Phú), cù lao Bắc Nam (xã Quốc Thái, An Phú), cù lao Ba, cù lao Cỏ Túc, cù lao Hà Bao (xã Vĩnh Trường, An Phú), cồn Khánh Bình (xã Khánh Bình, Khánh An thuộc huyện An Phú), cù lao Ka Tam Bong (xã Khánh Hòa, Châu Phú), cù lao Bình Thủy (Châu Phú), cù lao Bà Hòa (xã Bình Thạnh, Châu Thành), cù lao Ông Hổ, cồn Phó Ba, cồn Tiên (xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên), cồn Phó Quế (phường Mỹ Long, Long Xuyên), cồn An Thạnh (xã Hòa Bình, Chợ Mới),… Đất ở đây thích hợp cho việc trồng lúa, cây hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn trái

- Đất phù sa xám nâu được bồi, ít hữu cơ, chiếm một diện tích khá lớn ở 4 huyện cù lao An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới và cánh đồng ven sông Hậu thuộc Châu Phú, Châu Thành, khoảng 24.455 ha, dùng để trồng lúa 2 vụ là chủ yếu Một số nơi ở Châu Phú, An Phú , đất có thể trồng một vụ lúa, một vụ màu như mè, đậu, dưa,…

Trang 37

- Đất phù sa xám nâu ít được bồi, được phân bố ở địa hình thấp và thường ở sâu trong nội đồng, cách xa sông Tiền, sông Hậu Nhóm đất này chiếm diện tích khoảng 44.525 ha, tập trung nhiều ở vùng ven các xã Ô Long Vĩ, Đào Hữu Cảnh, Thạnh Mỹ Tây (huyện Châu Phú), Tân Lập (huyện Tịnh Biên), Vĩnh An, Tân Phú, Vĩnh Nhuận (huyện Châu Thành), Vĩnh Phú, Tây Phú (huyện Thoại Sơn) và một phần nhỏ ở huyện Chợ Mới, thị xã Châu Đốc Đất ở đây được trồng lúa 2 vụ/năm

- Đất phù sa có phèn, được phân bố chủ yếu ở các huyện Châu Thành, Châu Phú, Thoại Sơn, Tri Tôn, với tổng diện tích 84.872 ha, chiếm 24,7% diện tích đất trồng của tỉnh Đất được sử dụng chủ yếu là trồng lúa 2 vụ/năm

- Đất phù sa cổ, có tổng diện tích khoảng 94.446 ha, chiếm 27,68% tổng diện tích đất của tỉnh, phân bố chủ yếu những nơi có địa hình cao thuộc 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên Do ảnh hưởng của phù sa mới sông Hậu qua các đợt lũ tràn về đã tạo thành tầng tích tụ mùn khá dày, thích hợp cho cây trồng Đất ở đây được trồng lúa 2 vụ là chủ yếu, một số còn canh tác lúa mùa

Đất phèn ở An Giang chiếm 23% tổng diện tích [5, tr.137], được phân bố nhiều ở vùng giáp ranh tỉnh Kiên Giang, thuộc huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và một phần của huyện Châu Phú Ở những vùng có đất phèn nhiều, trước đây chủ yếu trồng tràm, nhưng sinh trưởng yếu, phần lớn là bỏ hoang với thực vật cỏ năn, hiện nay ở một số nơi được cải tạo trồng mì hoặc lúa nhưng năng suất thấp Những nơi đất phèn ít, trước đây canh tác một vụ, một số bỏ hoang và hiện nay nhờ hệ thống kênh mương nên đã chuyển sang làm lúa 2 vụ

Tóm lại, đất đai An Giang được phân bố trên 3 vùng :

Vùng cù lao giữa sông Tiền và sông Hậu, thuộc 4 huyện An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới, với diện tích đất là 73.150 ha, chiếm 21,4% diện tích toàn tỉnh Đây là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, hầu hết diện tích được phù sa sông bồi đắp hằng năm

Trang 38

Vùng trũng Tứ giác Long Xuyên, nằm ở bờ hữu sông Hậu kéo đến giáp ranh tỉnh Kiên Giang Đất ở đây khá phức tạp với nhiều nhóm đất, tổng diện tích 239.203

ha, chiếm 69,87% diện tích toàn tỉnh

Vùng đồi núi, thuộc 2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và một phần nhỏ Ba Thê (huyện Thoại Sơn), có diện tích gần 30.000 ha

1.5 Thực vật, động vật

1.5.1 Thực vật

Về thực vật tự nhiên, xưa kia, đồi núi An Giang chủ yếu ở vùng Bảy Núi (thuộc 2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên) có rừng rậm rạp, với nhiều loại gỗ quý Đến thế kỷ XVII, nơi đây vẫn còn là vùng đất hoang vu, chưa được khai phá bao nhiêu và còn là

một vùng rừng nguyên sinh Theo Gia Định thành thông chí, “ở núi Đài Tốn sản vật có

trầm hương, tốc hương, sa nhân, gỗ sao, giáng hương, xam, trúc các thứ xanh tốt rậm rạp” [17, tr.51] Mặt khác, rừng ở đồi núi An Giang thuộc loại rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới trung bình năm 20 - 250C, nhiệt độ tháng lạnh nhất trung bình từ 15- 200C;

có cấu trúc ba tầng rõ rệt : tầng cây gỗ, tầng cây bụi và tầng thân thảo, phong phú về chủng loại, “vùng Thất Sơn có rất nhiều cây gỗ quý như cà chất, căm xe, cẩm lai, giá tị, trắc, sến, nu, sao… Những rừng rú điệp điệp trùng trùng lại còn cung cấp vô số củ nâu, dây trại dây mây và vô số dược liệu như dầu khấu, sa nhơn, chỉ xác, đổ trọng,…” [64, tr.42] Do sự hủy diệt của bom đạn, chất độc hoá học trong chiến tranh ; đồng thời do nhu cầu về lương thực vì dân số gia tăng, con người đã trồng cây hoa màu, cây ăn quả, phần lớn rừng cây ở đây đã bị tàn phá nhiều Năm 1993, tỉnh trồng được 10.000 ha rừng trên núi và 7.000 ha rừng đồng bằng

Theo điều tra năm 1993 của Chi cục Kiểm lâm An Giang, thảm thực vật ở vùng Bảy Núi có 187 loài Cây gỗ lớn gồm có dầu con gái, kiền kiền, sao đen, bằng lăng ổi, băng lăng nhiều hoa, cẩm lai, căm xe, gõ mật, nỉnh, cẩm lai đen, xây, bách

Trang 39

bệnh, xoan đậu, lòng mang, tra bồ đề, sung mù u, bàng nước, bưa, trường, gáo vàng, cầy, sơn, bã đậu,… Cây gỗ trung bình có bình linh, me, móng bò, diệp rang, chưng bầu, vông nem, so đũa, me keo, bời lời Cam-pốt, bời lời nhớt, bời lời vàng, hubasoi, co keo bù lót, câm bông,… Các loài cây nhỏ và cây bụi như lục lạp, trảng quả dẹp, táo, sâm ngọt, sâm núi, hoàng tiên, sò đo, đinh lăng, đủng đỉnh, tầm vông, thầu dầu, cánh kiến,… Các loài cây thân thảo và cỏ như chuối, sa nhân, rong giềng, riềng rừng, cỏ mực, ngải cứu, ớt hiểm, cỏ sữa, cỏ tranh, cỏ đuôi chồn, cỏ lá tre, lau, sậy, củ chuối, lá lốt, rau má, rau ngổ,… Các loài dây leo và phụ sinh như hà thủ ô, trinh nữ móc, gia trinh nữ, dây móng bò, dây khoai rừng,… Các loài cây thuốc như dây bìm bịp, dây cứt quạ, dây kim luông, cối xay, ké đầu ngựa, ké bông hồng, sâm nam, sả, hoài nhơn, huyết dụ, trầm hương, ngũ linh chi, cát căn bạch truật, cam thảo, sa nhân, bí kỳ nam, bách bệnh, ráng bay,…

Bên cạnh đó, do An Giang là vùng đất trũng nên còn có rừng tràm, lau sậy, cỏ, năn, mồm móc, bòng bong, móp gai, bàng, rau bợ… Cách đây gần một thế kỷ, “tràm mọc thành rừng, phủ kín cả vùng đồng bằng” [72, tr.16] Song do con người khai thác bừa bãi nên hiện nay rừng tràm bị thu hẹp dần, chỉ còn ở huyện Tri Tôn và Tịnh Biên Ngoài ra còn có các loại cây trồng như lúa, dừa, cam, xoài… Những năm gần đây có thêm cây khoai mì để chế biến tinh bột, bắp lai dùng trong công nghiệp chế biến thức ăn, đậu nành rau để xuất khẩu; cùng với nhiều loại hoa màu, cây thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày để phục vụ lương thực, thực phẩm cho nhân dân

Để tạo sự cân bằng về sinh thái, điều hòa khí hậu, cải tạo đất, tạo nguồn nước ngọt và hạn chế lũ lụt, An Giang cần phải khôi phục lại rừng tràm và phủ xanh đồi núi trọc của vùng núi Tri Tôn và Tịnh Biên

1.5.2 Động vật

Đến thế kỷ XIX, vùng đồi núi An Giang còn rừng chiếm diện tích lớn nên chứa nhiều loại thú rừng như cọp, trâu rừng, heo rừng, nai, sấu, khỉ, nhím, chồn, sóc

Trang 40

Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức ghi, “ở núi Nam Vi hổ báo hươu

nai, nhởn nhơ ra vào ở nơi cỏ ngon, suối ngọt” [17, tr.51] hay “ở núi Sam có cây cối

sầm uất và thú rừng như heo rừng, khỉ,…[82, tr.16] Trải qua thời gian các động vật hiếm này dần dần biến mất

An Giang xưa còn có các loài cá lớn như cá sấu, cá mập, cá đao… tập trung chủ yếu ở sông Vàm Nao Người ta có thể bắt cá sấu về nuôi hoặc xẻ thịt bán Theo Trịnh Hoài Đức ghi lại “cá sấu nhỏ tầm thường thì người ta thường câu bắt được, ở dưới nước thì buộc vào bè, ở trên cạn thì nhốt vào cũi, đem bán cho hàng thịt, da nó có thể phơi khô, răng nó làm chuỗi dao” [17, tr.173]

Rắn thì có nhiều loại như rắn bông súng, rắn nước, rắn ri voi, rắn râu, rắn mối, rắn trun, rắn hổ, rắn lục, rắn mái gầm,… Ở An Giang còn có trăn Da trăn là mặt hàng xuất khẩu, còn mật trăn, xương trăn, mỡ trăn được dùng trong y dược Những năm gần đây nghề nuôi trăn ở An Giang khá phát triển

Ngoài ra còn có chuột, dơi, quạ, chim,… An Giang cũng là nơi quy tụ nhiều loài chim như chim sẻ, chim mào, chim chòe, chim sậu, cồng cọc, le le, vịt trời,…; các loại cò như cò trắng, cò ma,… và diệc, cuốc, trích Theo cuộc điều tra mới đây vào tháng 7 năm 1999, “ở rừng tràm Trà Sư (Tri Tôn) có 62 loài chim với hơn 5.000 cá thể

đã tụ tập về đây sinh sống” [79, tr.195]

Các động vật sinh sống ở dưới nước chủ yếu là các loài tôm, cá Theo

Monographie de la province de Chau Doc năm 1905 ghi nhận, ở Châu Đốc có ít nhất

82 loài tôm cá khác nhau như cá bông, cá rô, cá lóc, cá trê, cá dây tho, cá sặc diệp, cá sặc bướm, cá bả trâu, cá vược cá chẽm, cá sú, cá duồn, cá cóc, cá cáy, cá tra sóc, cá cháy, cá hô, cá ngựa, cá phèn, cá long tong dá, cá lòng tong bay, cá he, cá mè, cá dảnh,

cá ét, cá mại, cá lành canh, cá linh, cá trao trảo, cá rắm, cá thiểu, cá hồng vện, cá lìm kìm, cá mang giỗ, cá nhái, cá mè bột, cá trê dừa, cá trê trắng, cá bông lao, cá hột mít,

cá lòng tong mương, cá hường, cá rô phi, cá chạch lá tre, cá nóc, cá nanh heo, cá ong,

Ngày đăng: 31/03/2013, 10:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan An (2002), ‘‘Một vài nghề thủ công của người Khmer ở Bảy Núi, An Giang’’, Xóm nghề và nghề thủ công truyền thống Nam Bộ, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xóm nghề và nghề thủ công truyền thống Nam Bộ
Tác giả: Phan An
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2002
2. Nguyễn Thế Anh (1970), Kinh tế - xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, Nxb Lửa Thiêng, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế - xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: Nxb Lửa Thiêng
Năm: 1970
3. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang (2002), Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang 1927 - 1954, tập 1, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ An Giang xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang 1927 - 1954
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang
Năm: 2002
4. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang (2007), Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang 1954 - 1975, tập 2, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ An Giang xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang 1954 - 1975
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang
Năm: 2007
5. Ban Khoa giáo Tỉnh ủy An Giang (1982), ‘‘Đặc điểm về kinh tế và xã hội của tỉnh An Giang’’, Một số vấn đề khoa học xã hội về đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề khoa học xã hội về đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Ban Khoa giáo Tỉnh ủy An Giang
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1982
6. Trần Văn Bính (2004), Văn hoá các dân tộc Tây Nam Bộ thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá các dân tộc Tây Nam Bộ thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
7. Nguyễn Công Bình, Đỗ Thái Đồng, Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Qưới (1995), Đồng bằng sông Cửu Long- nghiên cứu phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng bằng sông Cửu Long- nghiên cứu phát triển
Tác giả: Nguyễn Công Bình, Đỗ Thái Đồng, Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Qưới
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
8. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2000), Niên giám thống kê tỉnh An Giang 1999, Cục Thống kê An Giang xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh An Giang 1999
Tác giả: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2000
9. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1991), Niên giám thống kê tỉnh An Giang 1986 - 1990, Cục Thống kê An Giang xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh An Giang 1986 - 1990
Tác giả: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1991
11. Di tích lịch sử - văn hoá An Giang (2001), Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh An Giang xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử - văn hoá An Giang
Tác giả: Di tích lịch sử - văn hoá An Giang
Năm: 2001
13. Đảng uỷ - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh An Giang (2001), Lực lượng vũ trang nhân dân An Giang 30 năm kháng chiến (1954 - 1975), tập 2, Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lực lượng vũ trang nhân dân An Giang 30 năm kháng chiến (1954 - 1975)
Tác giả: Đảng uỷ - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh An Giang
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2001
14. Nguyễn Đình Đầu (1995), Địa bạ triều Nguyễn : An Giang, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ triều Nguyễn : An Giang
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1995
15. Nguyễn Đình Đầu (1995), Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam kỳ lục tỉnh, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam kỳ lục tỉnh
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1995
16. Lê Quý Đôn (1994), Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ biên tạp lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
17. Trịnh Hoài Đức (1998), Gia Định thành thông chí, Đỗ Mậu Khương và Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định thành thông chí
Tác giả: Trịnh Hoài Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
18. Mạc Đường (1991), “Vấn đề dân cư và dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long”, Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân cư và dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long”, "Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Mạc Đường
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
19. Mạc Đường (1982), “Quá trình phát triển dân cư và dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (3), tr 34-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình phát triển dân cư và dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX”, "Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Mạc Đường
Năm: 1982
20. Đỗ Quang Giao (1974), Đất địa và nông nghiệp Việt Nam Cộng hoà, Nxb Trương Vĩnh Ký, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất địa và nông nghiệp Việt Nam Cộng hoà
Tác giả: Đỗ Quang Giao
Nhà XB: Nxb Trương Vĩnh Ký
Năm: 1974
21. Trần Văn Giàu (1982), “Mấy đặc tính của nông dân đồng bằng sông Cửu Long - Đồng Nai”, Một số vấn đề về khoa học xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 197-206 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy đặc tính của nông dân đồng bằng sông Cửu Long - Đồng Nai”, "Một số vấn đề về khoa học xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1982
23. Nguyễn Văn Hầu (1999), Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá vùng Hậu Giang, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá vùng Hậu Giang
Tác giả: Nguyễn Văn Hầu
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w