QUAN HỆ HOA KỲ, HÀN QUỐC, NĂM 1991 ĐẾN 2005
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS NGÔ MINH OANH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
THƯ
VIỆN
Trang 2Lời Cảm Ơn
Để có thể hoàn thành được luận văn với đề tài “Quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc từ năm 1991 đến 2005”, tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô trong Khoa Lịch sử - Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh cũng như các Giảng viên ngoài trường đã truyền thụ kiến thức và có những gợi ý quý báu cho tôi trong quá trình học tập, đặc biệt xin chân thành cảm ơn PGS TS Ngô Minh Oanh đã trực tiếp hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành luận văn này
Chân thành cảm ơn các Cán bộ thư viện trong và ngoài trường, Phòng Sau đại học - Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh, đơn vị công tác và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành nhiệm vụ của mình
Trang 3
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
ABM : Anti-ballistic missile Chống tên lửa đạn đạo
APEC : Asia-Pacific Economic Co-operation Diễn đàn Hợp tác kinh tế
Châu Á – Thái Bình Dương ARF : ASEAN Regional Forum Diễn đàn khu vực ASEAN
ASEAN : Association of South-East Asian Nation Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEM : Asia-Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á – Âu
CHDCND : Democratic People's Republic Cộng hòa Dân chủ nhân dân
DMZ : Demilitarized zone Khu phi quân sự
FDI : Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA : Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
GDP : Gross domestic product Tổng sản phẩm trong nước
IAEA : International Atomic Energy Agency Cơ quan năng lượng
nguyên tử quốc tế IMF : International Monetary Fund Quỹ tiền tệ Quốc tế
KIST : The Korea Institute of Science Viện Khoa học và Công
and Technology nghệ Hàn Quốc
MOST : Ministry of Science and Technology Bộ Khoa học và Công nghệ
NATO : North Atlantic Treaty Organization Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương NICs : Newly Industrialized Countries Các nước mới công nghiệp hóa
NMD : National Missile Defence system Hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia ODA : Official Development Assistance Viện trợ phát triển chính thức
OECD : Oganization for Economic
Cooperation and Development Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế SALT : Strategic Arms Limitation Treaty Hiệp định hạn chế vũ khí chiến lược SEATO : South-East Asia Treaty Organization Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á
TMD : Theather Missile Defense Hệ thống phòng thủ tên lửa
trên chiến trường
USFK : US Forces Korea Lực lượng Hoa Kỳ tại Hàn Quốc WMD : Weapons of mass destruction Vũ khí hủy diệt hàng loạt
Trang 4MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, khi vấn đề hội nhập, hợp tác giữa các nước và khu vực, những vấn đề quốc tế hóa, toàn cầu hóa đã và đang trở thành xu thế áp đảo trong quan hệ quốc tế, thì sự phát triển của một nước, một khu vực lại không thể không có sự hợp tác, quan hệ giao lưu, trao đổi với các nước bên ngoài Toàn cầu hóa hiện nay là một xu thế tất yếu, vì vậy, đòi hỏi các nước phải hợp tác với nhau chặt chẽ hơn để cùng phát triển
Hoa Kỳ là một siêu cường trên thế giới và là một chủ thể rất quan trọng trong quan hệ quốc
tế, chi phối hầu hết các mối quan hệ của các nước và khu vực Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đến nay, Hoa Kỳ là một nước thắng trận và đã bành trướng thế lực của mình ra khắp thế giới, trong đó điển hình là khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Hàn Quốc là một quốc gia được thành lập vào năm 1948, sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc, Hàn Quốc bị tàn phá nặng nề, bên cạnh đó lại là một nước nghèo về tài nguyên thiên nhiên, thiếu vốn, kỹ thuật… nên nền kinh tế Hàn Quốc phát triển rất thấp kém Nhưng, đến những năm 60 của thế kỷ XIX, Hàn Quốc đã ổn định đất nước và phát triển nhanh chóng qua các giai đoạn về sau
Để đạt được thành tựu rực rỡ đó, Hoa Kỳ đã đóng một vai trò quan trọng Chính vì vậy, từ trong lịch sử cho đến nay, mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc là một mối quan hệ quốc tế khá đặc thù, đó là mối quan hệ đồng minh thân thiết, mối quan hệ của một nước lớn đứng đầu thế giới tự do với một dân tộc có tính tự cường, tự chủ cao; Vì thế, Hàn Quốc không hoàn toàn phụ thuộc vào Hoa Kỳ mà
đã khôn khéo trong chính sách đối ngoại của mình
Trong thời kỳ đầu, Hoa Kỳ đã tăng cường viện trợ kinh tế, quân sự nhằm biến Hàn Quốc thành một căn cứ quân sự để thực hiện chiến lược toàn cầu của mình Đến những thập kỷ cuối thế
kỷ XX, Hàn Quốc đã trở thành một nước công nghiệp phát triển năng động ở khu vực và trên thế giới với tốc độ tăng trưởng cao, và một trong những nhân tố quan trọng đưa đến sự phát triển nhanh chóng của Hàn Quốc đó là chính sách thương mại và đầu tư của Hoa Kỳ Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất trên thế giới nên để khẳng định vị trí số một và bảo vệ lợi ích toàn cầu của mình, Hoa Kỳ ngày càng củng cố và tăng cường quan hệ với các đồng minh chiến lược của mình, đặc biệt là với Hàn Quốc
Quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc là một trong những mối quan hệ quan trọng của Hoa Kỳ trong chiến lược Châu Á – Thái Bình Dương Hàn Quốc là một nước công nghiệp phát triển mạnh, là một
“con rồng” kinh tế của Châu Á Cho nên trong quan hệ quốc tế, quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc là một
nhân tố có ý nghĩa quan trọng đối với cục diện chính trị khu vực và trên thế giới, trong đó có Việt Nam Bên cạnh đó, quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc còn có ảnh hưởng to lớn đối với sự thành công của
Trang 5hai nước; Đặc biệt là trên lĩnh vực an ninh – kinh tế, Hoa Kỳ là nước cung cấp vốn, kỹ thuật, đào
tạo nguồn nhân lực, là thị trường rộng lớn cho Hàn Quốc Ngược lại Hàn Quốc lại là chiếc “ô hạt
nhân” để Hoa Kỳ thực hiện những chính sách an ninh – quân sự của mình Do vậy, nghiên cứu về
mối quan hệ Hoa Kỳ với Hàn Quốc có một ý nghĩa hết sức to lớn trong việc nhận định tình hình khu vực và thế giới
Đối với Việt Nam, nghiên cứu về mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc càng có ý nghĩa quan trọng Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), Việt Nam đã chịu tác động tiêu cực từ mối quan hệ này, mối quan hệ giữa một cường quốc đế quốc với một đồng minh chư hầu Còn hiện nay, trước sự thay đổi của tình hình quốc tế, khi Việt Nam đang thực hiện chính sách đổi mới đất nước, đề ra đường lối đối ngoại mới, mở rộng quan hệ đa dạng và đa phương với các nước
và khu vực khác nhau trên thế giới với phương châm Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước, thì việc nghiên cứu mối quan hệ này càng mang tính cấp thiết Ngày nay, Hoa Kỳ và Hàn Quốc đều là những đối tác chiến lược hàng đầu của Việt Nam Năm 1995, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã được bình thường hóa; Đến năm 2001, Quốc hội hai nước chính thức thông qua Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, sự kiện này đánh dấu một bước tiến lớn trong mối quan hệ của hai nước Đối với quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc, hai nước đã có một mối quan hệ tốt đẹp và được xem là năng động và đầy triển vọng trong khu vực và trên thế giới Như vậy, với yêu cầu quan hệ hợp tác mới, việc nghiên cứu mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc sẽ có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn để góp phần hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, nhằm đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế
Như vậy, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, hầu như tất cả các quốc gia, dân tộc đều cần phải giao lưu và hợp tác với nhau để phát triển Do đó, đây là một xu hướng tất yếu của tất cả các nước, các khu vực và Hoa Kỳ - Hàn Quốc đang đi theo xu hướng đó Với những suy nghĩ như
trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài luận văn cho mình là “Quan hệ Hoa Kỳ – Hàn Quốc từ năm 1991
đến 2005”, nhằm tiếp cận và có cách nhìn tổng quát về mối quan hệ này, với hy vọng sẽ làm rõ
được thực trạng, vai trò và ý nghĩa của mối quan hệ này đối với khu vực và thế giới
II LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Nghiên cứu về mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc từ trước tới nay đã được nhiều nhà khoa học
ở trong và ngoài nước quan tâm, tìm hiểu Hiện nay, ở nước ta tác giả chưa tìm được một công trình nào nói về quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc từ năm 1991 đến 2005 Những bài viết liên quan đến vấn đề này hiện có thường được trình bày ở thể loại các bài viết ngắn, các đoạn trích được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, các sách, báo và trên Internet Đặc điểm chung của các bài viết này là đi sâu phân tích mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc trên một số lĩnh vực nhất định như kinh tế, khoa học kỹ thuật, quân sự trong một số giai đoạn cụ thể mà chưa đi sâu nghiên cứu mối quan hệ của hai nước
Trang 6một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực Bên cạnh đó còn có một số tác phẩm ngoại văn và tác phẩm trong nước có liên quan đến quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc, nhưng chỉ đề cập tới vấn đề ở khía cạnh nào đó mà không đi sâu vào mối quan hệ toàn diện của hai nước
Tiêu biểu cho loại thứ nhất là những bài viết:“Vài nét về quan hệ kinh tế Hàn Quốc – Mỹ
(1948 – 1979)” của hai tác giả Hoàng Văn Hiển – Dương Quang Hiệp trên tập chí Nghiên cứu Nhật
Bản số 2 (2001); Tiếp đến là bài viết của tác giả PTS Vũ Đăng Hinh được đăng tải trên tạp chí
Châu Mỹ ngày nay số 6 (1997) mang tựa đề: “Quan hệ kinh tế Mỹ - Hàn Quốc từ những năm 1950
đến những năm 1970” Đặc biệt là các bài viết của hai tác giả Lê Văn Anh – Bùi Thị Kim Huệ
được đăng tải trên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, chẳng hạn như “Liên minh an
ninh chính trị giữa Hàn Quốc và Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh” (2005), “Quan hệ viện trợ, đầu tư phát triển giữa Mỹ và Hàn Quốc giai đoạn 1948 – 1979” (2007), “Tổng quan về quan hệ Hàn – Mỹ” (2007)
Trong những bài viết này, các tác giả đã làm rõ được bối cảnh ra đời của mối quan hệ hai nước, các giai đoạn phát triển, những nét đặc trưng và đưa ra một số nhận xét bước đầu về mối quan
hệ kinh tế, an ninh – chính trị Mỹ - Hàn Quốc, nhưng chủ yếu là giai đoạn trước năm 1991, còn giai đoạn từ năm 1991 đến 2005 thì còn ít tài liệu đề cập đến Bên cạnh đó một số sách cũng đề cập đến mối quan hệ kinh tế - thương mại hai nước Hoa Kỳ - Hàn Quốc, đặc biệt là tác phẩm của Bộ Ngoại giao Việt Nam có đề cập phần nào đến mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc trong vấn đề thống nhất
bán đảo Triều Tiên; Có thể kể tới những tác phẩm như: “Sự năng động của nền kinh tế Hàn Quốc”
của tác giả Cho Soon do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh ấn hành năm 2001;
“Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy” của Byung Nak Song do Nhà xuất bản Thống kê ấn hành năm
2002; “Hàn Quốc trên đường phát triển” do tác giả Ngô Xuân Bình và Phạm Quý Long đồng chủ biên; Tác phẩm“Vấn đề thống nhất Bán đảo Triều Tiên” của Bộ Ngoại giao Việt Nam (1999).v.v
Trên lĩnh vực khoa học – công nghệ, điển hình là bài viết có đề cập đến hợp tác khoa học và công
nghệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc mang tựa đề “Tìm hiểu hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của
Hàn Quốc” của ThS Lưu Thanh Mai (Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ) trong tạp chí Nghiên cứu
Nhật Bản và Đông Bắc Á số 6 (2002) Trên lĩnh vực quân sự có bài viết “An ninh trên Bán đảo
Triều Tiên và Chiến lược quốc phòng mới của Hàn Quốc” của Đại tá Trần Bá Khoa (Viện nghiên
cứu chiến lược Bộ Quốc Phòng) trên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á số 2 (2004); Trong bài viết này tác giả đã đề cập đến quan hệ liên minh Mỹ - Hàn Quốc và việc Mỹ điều chỉnh lại lực lượng quân sự của Mỹ tại Hàn Quốc
Ở loại thứ hai, hiện có nhiều nguồn tư liệu được đăng tải trên các sách báo và mạng
internet, tiêu biểu là các tác phẩm: “South Korea under U.S occupation”, của Nhà xuất bản Foreign Languages Pulishing House Pyongyang (1958); “The United States and Korea” của Shanon
Trang 7McCune (1962); Hoặc trên mạng internet có các tác phẩm như: South Korea - U.S Economic
Relations: Cooperation, Friction, and Future Prospects (2004) của Mark E Manyin, được đăng tải
trên www.fas.org “South Korea – U.S Relations” của Katharine Moon (2004), trên tạp chí nghiên cứu Asian Perspective, Vol 28, No 4, pp 39-61; Hay tác phẩm “Do the ties still bind?: The U.S –
ROK Security Relationship After 9/11” của Norman D Levin đăng tải trên www.rand.org.v.v
Nhìn chung, trong các tác phẩm ở loại thứ hai đã nói mối quan hệ của hai nước qua các
giai đoạn khác nhau trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, thương mại, đầu tư… Như tác phẩm “South
Korea under U.S occupation” đã nói lên quá trình Hoa Kỳ đưa quân vào cai quản miền Nam Triều
Tiên kể từ năm 1945, bên cạnh đó là sự du nhập văn hóa, nền giáo dục phương Tây vào đây Trong chương 5 có đề cập đến phong trào đấu tranh của người dân Triều Tiên chống lại chính sách cai trị
của Mỹ Tác phẩm South Korea - U.S Economic Relations: Cooperation, Friction, and Future
Prospects, đã nói lên tổng quan về mối quan hệ kinh tế của hai nước trong những năm cuối thế kỷ
XX đầu thế kỷ XXI, sự phụ thuộc lẫn nhau của nền kinh tế hai nước, vai trò quan trọng của thị trường Hoa Kỳ đối với hàng hóa Hàn Quốc và ngược lại, Hàn Quốc cũng là một nhân tố quan trọng trong sự phát triển thương mại Hoa Kỳ Tác phẩm này đã làm rõ được vấn đề trong lĩnh vực thương mại - đầu tư, Hoa Kỳ đã đóng vai trò quan trọng và là nhân tố đưa Hàn Quốc trở thành một nước
công nghiệp phát triển Tác phẩm “South Korea – U.S Relations” nói về mối quan hệ chính trị –
quân sự của hai nước, như việc Hàn Quốc gửi quân sang Iraq, phong trào chống Mỹ trong những năm đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là ý thức chính trị tăng lên trong giới trẻ; Quá trình cải tổ quân đội Hoa Kỳ tại Hàn Quốc và những cố gắng của Tổng thống Roh Moo-hyun trong việc tạo nên mối
quan hệ độc lập, bình đẳng với Hoa Kỳ cũng được đề cập tới… Trong tác phẩm Do the ties still
bind?: The U.S – ROK Security Relationship After 9/11 gồm có 5 chương, phản ánh mối quan hệ
của hai nước sau sự kiện 11/9 Trong chương 1, tác giả nêu lên những định hướng chung trong quan
hệ liên minh Hoa Kỳ – Hàn Quốc Chương 2 xem xét những cơ sở của hợp tác an ninh của hai nước; Chương 3 đề cập đến mối quan hệ hiện tại và những thành tựu mà Hàn Quốc đã đạt được Trong chương 4 mô tả mục tiêu, chính sách của Hoa Kỳ và đánh giá vai trò hợp tác an ninh lâu dài với Hàn Quốc Cuối cùng là chương 5, tác giả rút ra một số kết luận và đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng cường hợp tác an ninh của hai nước trong thời gian tới… Tóm lại, qua các tác phẩm này đều đề cập đến mối quan hệ Hoa Kỳ – Hàn Quốc, nhưng nhìn chung chỉ đề cập đến một số vấn đề
cụ thể nhất định mà chưa bao quát được những thành tựu, những hạn chế cũng như tương lai của mối quan hệ hai nước
Ngoài ra, liên quan đến mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc còn có nhiều bài khác đăng trên các báo, tạp chí Tiêu biểu là Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á; Châu Mỹ ngày nay; Tài
Trang 8liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam… Những bài viết này có tính cách thông tin báo chí và phần lớn chỉ đề cập đến một phương diện nào đó
Như vậy, tuy đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc, song chỉ dừng lại ở dạng đi sâu vào một vấn đề nào đó mà chưa trình bày một cách toàn diện của mối quan hệ hai nước, đặc biệt giai đoạn về sau thì còn ít tài liệu đề cập tới
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã kế thừa ít nhiều các công trình trên Do đó, thuận lợi của tác giả là có nguồn tại liệu phong phú để thực hiện đề tài, nhưng bên cạnh đó còn có cái khó trong việc phân tích, khái quát vấn đề để bài viết thể hiện được cái riêng của mình
III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc từ 1991 đến 2005, nhằm làm sáng tỏ về: Các giai đoạn phát triển, nội dung và thành tựu hợp tác trên các lĩnh vực, triển vọng phát triển quan
hệ Hoa Kỳ – Hàn Quốc trong tương lai; Thông qua đó để hiểu rõ hơn những chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với khu vực Đông Bắc Á nói chung, Hàn Quốc nói riêng
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về quan hệ giữa Hoa Kỳ và Hàn Quốc từ năm 1991 đến
2005
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Giới hạn từ năm 1991 đến 2005; Mở đầu là năm 1991, là năm trật tự hai cực Ianta tan rã, thế giới bước sang một trang sử mới và kết thúc là năm 2005, là năm quan
hệ hai nước đã có nhiều sự kiện quan trọng
- Phạm vi không gian: Giới hạn quan hệ giữa hai nước Hoa Kỳ và Hàn Quốc
- Nội dung: Tập trung nghiên cứu quan hệ giữa Hoa Kỳ và Hàn Quốc giai đoạn từ 1991 đến 2005; Bối cảnh quốc tế và khu vực tác động đến quan hệ này, nội dung hợp tác về lĩnh vực
về chính trị, an ninh – quân sự, kinh tế, khoa học công nghệ, vấn đề hạt nhân của bán đảo Triều Tiên
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp lịch sử: Nhằm xem xét bối cảnh quốc tế, những tác động của quan hệ quốc tế và khu vực ảnh hưởng đến mối quan hai nước Phương pháp logic: Đi sâu vào bản chất của mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc trên các lĩnh vực qua các giai đoạn, bên cạnh đó còn có phương pháp so sánh, phương pháp định lượng…
- Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp liên ngành như: Phương pháp nghiên cứu của Quan
hệ Quốc tế: Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, dự báo khoa học trong Quan hệ Quốc tế
Trang 9VI NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Quan hệ Hoa Kỳ và Hàn Quốc từ năm 1991 đến 2005 là một đề tài mang ý nghĩa khoa học
và thực tiễn sâu sắc
Thứ nhất; Đây là một đề tài còn ít được các nhà khoa học trong nước nghiên cứu một cách
đầy đủ Vì vậy, nó đã mở ra một hướng nghiên cứu mới cho học viên; Thông qua kết quả nghiên cứu nhằm thể hiện được vai trò của mối quan hệ này đối với hai bên Đồng thời, hy vọng sẽ góp phần về mặt tư liệu cho những ai quan tâm, tìm hiểu
Thứ hai; Phục dựng lại mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc từ năm 1991 đến 2005 trên các lĩnh
vực chủ yếu: Kinh tế, chính trị, an ninh, quân sự, vấn đề Triều Tiên Từ đó xem xét những nhân tố trong khu vực có tác động đến quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc
Thứ ba; Tác động của mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc đối với khu vực và thế giới
Thứ tư; Hoa Kỳ và Hàn Quốc đều có mối quan hệ ngoại giao ngày càng được mở rộng với
Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu về mối quan hệ Hoa Kỳ – Hàn Quốc nhằm góp phần rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc hoạch định chính sách ngoại giao của nước ta, để qua đó tìm ra đường lối đối ngoại phù hợp trong quan hệ đối tác chiến lược với hai nước này
VII BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được chia làm các phần sau:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung: Gồm 3 chương:
+ Chương 1: Tổng quan về Hoa Kỳ, Hàn Quốc và mối quan hệ
Hoa Kỳ - Hàn Quốc trước năm 1991
+ Chương 2: Quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc từ năm 1991 đến 2005
+ Chương 3: Những nhận định, đánh giá bước đầu về mối quan hệ Hoa Kỳ và Hàn Quốc
- Phần kết luận
- Tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 10NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOA KỲ, HÀN QUỐC VÀ MỐI QUAN HỆ HOA KỲ
– HÀN QUỐC TRƯỚC NĂM 1991
1 1 Khái quát về Hoa Kỳ
1 1 1 Điều kiện tự nhiên, lịch sử
Hoa Kỳ là một quốc gia rộng lớn, tổng diện tích khoảng 9,4 triệu km2 với dân số 297 883
322 (năm 2006) Hoa Kỳ nằm ở Bắc Mỹ, phía Đông là Bắc Đại Tây Dương, phía Tây là Bắc Thái Bình Dương, phía Bắc tiếp giáp với Canađa, phía Nam tiếp giáp với Mêxicô Hoa Kỳ có 50 tiểu bang, nằm gần như hoàn toàn trong Tây bán cầu: 48 tiểu bang lục địa và Thủ đô Washington nằm giữa Bắc Mỹ Tiểu bang Alaska nằm trong vùng Tây Bắc của lục địa Bắc Mỹ, giáp với Canađa ở phía Đông, tiểu bang Hawai nằm giữa Thái Bình Dương Khi mới thành lập, Hoa Kỳ chỉ có 13 bang, hiện nay, Hoa Kỳ có 50 bang và 5 khu hành chính trực thuộc Quốc kỳ của Hoa Kỳ có 50 ngôi sao đại diện cho 50 bang và 13 vạch trắng và đỏ tượng trưng cho 13 thuộc địa Anh đã tuyên bố độc lập
Lãnh thổ Hoa Kỳ về địa hình tương đối đơn giản, miền Đông có nhiều cao nguyên rộng lớn với nhiều khoáng sản, đất đai màu mỡ, có các đồng bằng ven biển, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Có sông Missisipi bồi đắp một lượng phù sa màu mỡ Hoa Kỳ là một trong những nước có nhiều khoáng sản nhất trên thế giới Thành phần dân cư Hoa Kỳ tương đối phức tạp, là một trong những quốc gia đa dạng chủng tộc nhất trên thế giới, do kết quả của những cuộc di dân đến từ nhiều quốc gia khác trên thế giới
Năm 1776, 13 thuộc địa tách ra khỏi khối thuộc địa Anh và đưa ra Bản Tuyên ngôn Độc lập, thành lập Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ Được công nhận là một quốc gia độc lập sau khi Anh và Hoa Kỳ ký Hiệp ước Paris năm 1783 Năm 1787, Hoa Kỳ ban hành Hiến pháp, với việc thông qua bản Hiến pháp đã biến
các thuộc địa Anh thành một nước cộng hòa duy nhất Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ Hoa Kỳ là một nước
Cộng hoà liên bang thực hiện chế độ chính trị theo thể chế Tam quyền Phân lập Hiến pháp Hoa Kỳ quy định quyền Lập pháp thuộc về Quốc hội, quyền Hành pháp thuộc về Tổng thống và quyền Tư pháp thuộc
về Toà án Tối cao Mỗi bang có hệ thống hiến pháp và pháp luật riêng nhưng không được trái với Hiến pháp của Liên bang Hiến pháp Hoa Kỳ có nhiều điều tiến bộ nhưng cũng có nhiều vấn đề còn hạn chế như không đảm bảo được cho người nghèo và da màu về các quyền tự do dân chủ Hệ thống chính trị Hoa
Kỳ chủ yếu do Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa kiểm soát Đảng Dân chủ quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề an sinh xã hội, y tế, giáo dục, công ăn việc làm cho nguời nghèo, do vậy được đông đảo người nghèo và giới công đoàn ủng hộ Trong đối ngoại, Đảng Cộng hòa thường chủ trương tăng cường sức mạnh quân sự và cứng rắn hơn trong việc giải quyết các xung đột quốc tế
Trang 11Nội chiến (1861 – 1865) kết thúc chế độ nô lệ và Hoa Kỳ được thống nhất, chiến tranh Tây Ban Nha - Mỹ và Chiến tranh Thế giới thứ nhất (1914 – 1918) đã xác định vị thế siêu cường quân
sự của Hoa Kỳ Năm 1945, Hoa Kỳ trở thành quốc gia đầu tiên có vũ khí hạt nhân và là một thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc Là siêu cường duy nhất còn lại sau thời Chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ được nhiều quốc gia nhìn nhận như là một nước có thế lực quân sự, văn hoá, kinh tế có ảnh hưởng lớn trên thế giới
1 1 2 Vai trò, vị trí của Hoa Kỳ đối với thế giới
Lịch sử Hoa Kỳ từ khi lập quốc đến nay đã trải qua hơn hai trăm năm, được hình thành và phát triển khi xóa bỏ chế độ thuộc địa của thực dân Anh, trải qua nội chiến Nam – Bắc (1961-1965)
đã xóa bỏ chế độ nô lệ, tiến lên quá trình công nghiệp hóa đất nước Kết quả là Hoa Kỳ có một nền kinh tế phát triển nhanh chóng, trở thành một nước công nghiệp lớn nhất
Từ lâu Hoa Kỳ được biết như một siêu cường trên thế giới, với những thế mạnh của mình, Hoa Kỳ đã có vai trò lớn đối với thế giới trong nhiều thập kỷ qua, là nước đứng đầu thế giới về nghiên cứu khoa học cơ bản và sáng chế công nghệ, có nhiều nhà bác học nổi tiếng thế giới, xuất hiện nhiều nhà văn lớn; Ngành điện ảnh Hoa Kỳ cũng đứng đầu thế giới về sản xuất phim và công nghiệp điện ảnh, là nước đứng đầu thế giới về nghiên cứu và đào tạo y học
Chiến tranh Thế giới Thứ hai kết thúc đã mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ quốc tế hiện đại, dẫn đến những chuyển biến sâu sắc trong đời sống chính trị thế giới Trong phe Đồng minh chống phát xít, Hoa Kỳ là nước duy nhất không bị chiến tranh tàn phá mà lại lợi dụng cuộc chiến tranh để thu được nhiều lợi nhuận Sức mạnh kinh tế kết hợp với sức mạnh quân sự, đặc biệt là sự độc quyền về vũ khí hạt nhân, Hoa Kỳ trở thành nước tư bản lớn mạnh nhất; Đó là nhân tố thúc đẩy tham vọng bá chủ toàn cầu của mình, điều này được thể hiện trong bài diễn văn của Tổng thống Truman đọc ngày 6 tháng 4 năm 1946: “Ngày nay Hoa Kỳ là một quốc gia mạnh, không có quốc gia nào mạnh hơn”[43, 15]
Hoa Kỳ vừa trải qua một chu kì tăng trưởng dài nhất trong lịch sử nước này (1992 - 2001), với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (từ 3 đến 4%), chỉ số thất nghiệp và mức lạm phát thấp Với số dân chỉ bằng 4,7% dân số thế giới, nhưng Hoa Kỳ chiếm khoảng 30% GDP toàn cầu, với khoảng 10.000 tỷ USD hàng năm, bằng GDP của tất cả các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) cộng lại Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, sức mạnh tổng hợp của Hoa Kỳ gồm 7 lĩnh vực: kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, chính trị, xã hội, ảnh hưởng trên trường quốc
tế (lớn hơn hai lần Nhật Bản và hơn bốn lần Trung Quốc) Với sự giải thể Liên bang Xô viết, Hoa
Kỳ không còn đối thủ cạnh tranh và có mưu đồ thiết lập trật tự thế giới một cực Nhằm đạt được mục tiêu chiến lược ngăn chặn không cho cường quốc nào, dù là đồng minh hay đối thủ vươn lên thách thức vai trò siêu cường của mình, Hoa Kỳ thực hiện chính sách đối ngoại đơn phương, chà
Trang 12đạp lên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, coi thường các tổ chức quốc tế, kể cả Liên Hợp Quốc
và chỉ lợi dụng các tổ chức này khi cần thiết vì lợi ích của mình Hoa Kỳ cho triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa chống tên lửa (NMD), rút ra khỏi hiệp ước ABM, từ chối không phê chuẩn Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân… Chiến lược xây dựng một thế giới đơn cực do Hoa Kỳ chi phối được bắt đầu ngay sau khi chiến tranh lạnh kết thúc và được thể hiện bằng những biện pháp cứng rắn, công khai hơn trong thời kì cầm quyền của Tổng thống G Bush (con) kể từ năm 2001
Như vậy, Hoa Kỳ là một trong những quốc gia trẻ nhất trên thế giới nhưng lại có sự lớn mạnh vượt bậc trên các lĩnh vực Sự bành trướng mở rộng lãnh thổ đã đem lại lại cho Hoa Kỳ một lãnh thổ rộng lớn, là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, liên tục trên thế giới Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Hoa Kỳ là cường quốc lớn mạnh về tiềm lực kinh tế và quân sự, trong những năm đầu thế kỷ XIX, mặc dầu có những giảm sút nhưng Hoa Kỳ vẫn là một cường quốc lớn mạnh số một Sau năm 1945, Hoa Kỳ là trung tâm của chủ nghĩa tư bản với tư cách là siêu cường của thế giới, Nhìn chung, Hoa Kỳ là nước có vai trò đầu tàu của nền kinh tế thế giới hiện nay
1 2 Khái quát về Hàn Quốc
1 2 1 Đất nước - con người và lịch sử Hàn Quốc
1 2 1 1 Điều kiện tự nhiên và con người Hàn Quốc
Hàn Quốc là quốc gia thuộc khu vực Đông Bắc Á, còn gọi là Nam Triều Tiên hay Đại Hàn Dân Quốc, thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất là Seoul, nằm ở phía Tây Bắc Phía Bắc giáp với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Triều Tiên qua giới tuyến quân sự chạy dọc theo vĩ tuyến 38° Bắc Phía Đông giáp với biển Nhật Bản, phía Tây là giáp biển Hoàng Hải; Hàn Quốc nằm ở phần phía Nam bán đảo Triều Tiên, địa hình phân hoá thành hai vùng rõ rệt: Vùng rừng núi chiếm khoảng 70% diện tích nằm ở phía Đông; Vùng đồng bằng duyên hải ở phía Tây và Nam Tổng diện tích của bán đảo Triều Tiên là 222 154 km2 Không kể diện tích đất khai hoang, diện tích đất canh tác là 99.617 km2, chiếm 45% tổng diện tích Địa hình núi non chiếm khoảng hai phần ba diện tích lãnh thổ “Riêng Hàn Quốc có diện tích 98 480 km2 , với dân số khoảng hơn 48 triệu người” [5 ,12 ]
Khí hậu ở Hàn Quốc khá ôn hoà, những cơn mưa lớn tập trung vào một khoảng thời gian ngắn trong mùa hè Vào mùa đông nhiệt độ thường xuyên dưới 0°C Hàn Quốc chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa Đông Á, một năm có 4 mùa, khí hậu gió mùa đã đem đến cho Hàn Quốc một hệ thống động thực vật phong phú So với quy mô lãnh thổ, Hàn Quốc có số lượng sông suối tương đối lớn Hệ thống đường thủy này đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành lối sống của người Hàn Quốc và trong cả công cuộc công nghiệp hóa đất nước, đại dương đóng một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của người Hàn Quốc từ ngàn xưa và đã góp phần vào sự phát triển ngành công nghiệp đóng tàu và kỹ năng về hàng hải
Trang 13Trong thành phần dân cư Hàn Quốc thì người Triều Tiên chiếm đại đa số Dân tộc thiểu số duy nhất là một bộ phận nhỏ người gốc Hoa Người Hàn là một dân tộc duy nhất nói một ngôn ngữ Với những đặc tính riêng về thể chất, “người Hàn được coi là con cháu của một vài bộ lạc Mông Cổ
từ vùng Trung Á di cư đến bán đảo Triều Tiên”[14, 12] Sự đồng nhất như vậy đã làm cho người Hàn hầu như không bị vướng vào những vấn đề dân tộc và duy trì được tình đoàn kết vững chắc
1 2 1 2 Đôi nét về lịch sử Hàn Quốc
Triều Tiên trải qua thời kỳ tiền sử, đây là thời kỳ lâu dài nhất, tiếp đến là thời kỳ Gojeon (2333-108 TCN) Thời kỳ ba vương quốc từ năm 57 TCN đến năm 676 SCN Vào thế kỷ thứ VII, rất nhiều quốc gia của bán đảo lần đầu tiên đã được thống nhất dưới thời vương quốc Silla ( 57 TCN - 935 SCN ) Triều đại Goryeo (918-1392) là thời kỳ ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo, đến nửa sau thế kỷ XIV triều đại này suy thoái Thời kỳ từ 1392 đến 1910 là thời gian trị vì của triều đại Joseon, thời kỳ này Khổng giáo trở thành tư tưởng chủ đạo của đất nước Thời Nhật Bản thống trị Triều Tiên từ năm 1910 đến 1945 chấm dứt cùng với Chiến tranh thế giới thứ hai
Năm 1945, Triều Tiên bị chia cắt thành hai miền, Liên bang Xô Viết chiếm đóng miền Bắc cho đến vĩ tuyến 38 và Hoa Kỳ chiếm đóng từ vĩ tuyến 38 về Nam Vào tháng 11 năm 1947, Liên Hợp Quốc đã đề ra một giải pháp tiến hành Tổng bầu cử tại Hàn Quốc dưới sự hỗ trợ của một Ủy ban Liên Hợp Quốc Nhưng Liên bang Xô Viết đã khước từ việc tuân theo giải pháp này và từ chối những ảnh hưởng của Ủy ban Liên Hợp Quốc đối với nửa phía Nam của bán đảo Hội đồng Liên Hợp Quốc sau đó đã đưa ra một giải pháp khác kêu gọi bầu cử tại các địa phương với sự giúp đỡ của Ủy ban Liên Hợp Quốc Những cuộc bầu cử đầu tiên được tiến hành vào tháng 5 năm 1948 ở những tỉnh nằm ở phía Nam vĩ tuyến 38 Điều này dẫn tới việc thành lập hai chính phủ riêng biệt ở miền Nam và miền Bắc, Cộng hoà Triều Tiên (Hàn Quốc) ở phía Nam và sau đó CHDCND Triều Tiên ở phía Bắc mỗi bên đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp của toàn bộ lãnh thổ Triều Tiên Căng thẳng tăng lên giữa hai chính phủ ở miền Bắc và miền Nam cuối cùng dẫn tới Chiến tranh Triều Tiên, Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc hậu thuẫn miền Nam, còn đứng sau miền Bắc là Liên Xô và Trung Quốc Cuộc chiến kéo dài tới ngày 27 tháng 7 năm 1953 mới kết thúc, khi lực lượng Liên Hiệp Quốc và Quân đội Nhân dân Triều Tiên cùng Quân tình nguyện Nhân dân Trung Quốc ký kết Thoả thuận đình chiến Chiến tranh Triều Tiên đã làm cho bán đảo Triều Tiên bị chia cắt thành hai quốc gia cho đến ngày nay CHDCND Triều Tiên tiếp tục theo đuổi sự nghiệp thống nhất đất nước trên cơ sở lập luận một quốc gia Triều Tiên, không công nhận chính phủ ở miền Nam và chọn con đường thống nhất đất nước bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa, còn Hàn Quốc coi chính phủ của mình là thực thể hợp pháp trên bán đảo Triều Tiên và sự thống nhất là sự mở rộng chủ quyền quốc gia
Những quan điểm cứng nhắc, không nhân nhượng của hai miền khiến cho quá trình hòa giải giữa hai bên không thể thực hiện được cho đến tận thập niên 1960 Đến thập niên 1970 quan hệ hai
Trang 14bên dần được cải thiện, hai bên công nhận chính phủ của nhau, Hàn Quốc đã đầu tư kinh tế và là nước chủ yếu viện trợ lương thực giúp Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên vượt qua nạn đói thập niên 1990 thông qua chương trình lương thực Thế giới của Liên Hiệp Quốc Hiện nay Triều Tiên là dân tộc còn lại duy nhất trên thế giới có đất nước bị chia cắt , Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đã cùng gia nhập tổ chức Liên Hiệp Quốc vào tháng 9 năm 1991 Nhờ thành công của chính sách ngoại giao, nền tảng cho vấn đề cùng tồn tại hòa bình giữa hai miền Triều Tiên đã được thiết
lập tháng 12 năm 1991 khi hai bên ký Hiệp định Hòa giải, Không xâm lược, Giao lưu và Hợp tác ;
Tuyên bố chung về phi hạt nhân hóa trên Bán đảo Triều Tiên Những văn kiện mang tính lịch sử
này đã đặt nền tảng cho hòa bình trên bán đảo Triều Tiên cũng như khu vực Đông Bắc Á, đồng thời thể hiện một bước tiến quan trọng đầu tiên để tiến tới việc thống nhất trong hòa bình của hai miền Triều Tiên
Sau chiến tranh lạnh, Hàn Quốc đã trải qua nhiều Tổng thống và kèm theo nó là sự thay đổi chính quyền Đó là các Tổng thống: Tổng thống Roh Tae Woo (1988 – 1993); Tổng thống Kim Young Sam (1993 – 1998); Tổng thống Kim Dae Jung (1998- 2003); Tổng thống Roh Moo-hyun (2003 – 2008) và hiện nay đang là thời kỳ nắm quyền của Tổng thống Lee Myung-bak Từ năm
1948 đến 1988, Hàn Quốc nằm dưới chế độ độc tài, nền dân chủ bị bóp méo Từ 1988 đến nay, Hàn Quốc đã chuyển sang một xã hội dân chủ, hội nhập với thế giới
1 2 2 Vị trí, vai trò của Hàn Quốc đối với khu vực và thế giới
1 2 2 1 Đối với khu vực
Hàn Quốc là một quốc gia với diện tích không rộng lớn và bị chiến tranh tàn phá nặng nề sau chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953), từ đống tro tàn do chiến tranh để lại, Hàn Quốc đã đi lên và
xây dựng đất nước mình thành một con rồng của Châu Á
Từ trước thập niên 60 của thế kỷ XX, Hàn Quốc là một nước chưa phát triển Chủ yếu là dựa vào viện trợ từ bên ngoài và trọng nhất là Hoa Kỳ Kể từ năm 1962, Hàn Quốc đã áp dụng chính sách phát triển kinh tế theo định hướng xuất khẩu và tích cực tham gia vào thương mại quốc tế Kinh tế Hàn Quốc đã bắt đầu phát triển nhanh chóng, đến giữa thập niên 80 của thế kỷ XX, Hàn Quốc đã trở thành một trong những nước công nghiệp mới (NICs) Từ ba thập niên cuối thế kỷ XX
trở lại đây, Hàn Quốc đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, được thế giới biết đến với Kỳ tích
sông Hàn “Trong suốt 30 năm, từ 1962 đến 1992, Hàn Quốc đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình
quân hàng năm là 9 % Năm 1996, GDP tính theo đầu người của Hàn Quốc đạt 11 385 USD, Hàn Quốc trở thành nước thứ hai ở Châu Á gia nhập tổ chức OECD”[ 23, 51]
Ngày nay, Hàn Quốc là nước công nghiệp phát triển và có vị thế cao trong khu vực Cùng với các nước lớn, Hàn Quốc có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề căng thẳng trên
bán đảo Triều Tiên, đặc biệt là Chính sách Ánh dương được thế giới biết đến của Tổng thống Kim
Trang 15Dae Jung Bên cạnh đó, do có những thuận lợi về mặt địa lý đã đưa lại cho Hàn Quốc một vai trò quan trọng trong việc hợp tác kinh tế với các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN…
1 2 2 2 Đối với thế giới
Năm 1945, Hàn Quốc được xem là quốc gia kém phát triển, nhưng sau Chiến tranh Triều Tiên, kinh tế Hàn Quốc phát triển với tốc độ nhanh chóng, đến giữa thập niên 1980 đã trở thành một
trong những nước công nghiệp hóa mới (NICs) và đến năm 1996 trở thành quốc gia có nền công
nghiệp lớn trên thế giới “Năm 1996, GDP của Hàn Quốc là 468 tỷ USD, Hàn Quốc là nước đứng thứ 11 trong số các quốc gia hoạt động thương mại lớn nhất thế giới”[53, 36], sự thành công trong
phát triển kinh tế của Hàn Quốc đã tạo ra Kỳ tích sông Hàn Là nền kinh tế lớn thứ 11 thế giới,
trong năm 2005, giá trị thương mại Hàn Quốc đạt tới 545 tỷ USD, đứng 12 trên thế giới Hàn Quốc cũng có nguồn dữ trữ ngoại tệ lớn thứ tư thế giới, sự tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc gồm những ngành công nghiệp then chốt và đã được thế giới thừa nhận Là quốc gia đóng tàu lớn nhất thế giới, đứng thứ 3 thế giới đối với chất bán dẫn, đứng thứ 4 về hàng điện tử, may mặc, sắt thép và các sản phẩm hóa dầu của Hàn Quốc đứng thứ 5, ô tô đứng hàng thứ 6
Hàn Quốc đặc biệt quan tâm đến tăng cường quan hệ kinh tế không chỉ với các quốc gia công nghiệp phát triển, mà với cả các quốc gia đang phát triển, với Việt Nam là một trường hợp điển hình Là một trong bốn con rồng Châu Á, Hàn Quốc đã phát triển mạnh mẽ trên các lĩnh vực: Công nghiệp, thương mại, khoa học kỹ thuật, văn hóa – giáo dục… Vì vậy, nền kinh tế Hàn Quốc đã trổi dậy nhanh chóng trong vòng gần bốn thập kỷ qua
Về chính trị, Hàn Quốc vẫn là nước có vị trí chính trị và tiếng nói quan trọng trên trường quốc tế Trong cuộc chiến tranh lạnh, vì sự đối đầu Đông – Tây sâu sắc, nên Hàn Quốc được xem là là thành viên của khối phương Tây Hàn Quốc đã tăng cường quan hệ với các đồng minh truyền thống và các nước thuộc thế giới thứ ba Năm 1991, Hàn Quốc gia nhập Liên Hợp Quốc, đến năm 2002, Hàn Quốc đóng vào ngân sách Liên Hợp Quốc là 21 triệu USD, xếp thứ 10 trong các nước thành viên Là quốc gia tích cực mở rộng các mối quan hệ và hoạt động ngoại giao đa phương tương xứng với vị trí trong cộng đồng quốc tế Hàn Quốc đã hoạt động tích cực trong các cơ quan chuyên ngành của các tổ chức như Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD), Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO), các tổ chức, diễn đàn quốc tế khác như APEC, ARF, ASEM, WTO… và hiện nay Vị Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki Moon lại là người Hàn Quốc, điều đó làm cho nước này càng có tiếng nói quan trọng hơn trong các vấn đề quốc tế Hàn Quốc đã góp phần vào phát động chương trình Đại sứ thiện chí, tích cực tham gia các vấn đề lớn do Liên Hợp Quốc tổ chức Tính đến năm 2005, Hàn Quốc đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 186 quốc gia, có 95 Đại sứ quán, 31 Lãnh sự quán trên toàn thế giới
1 2 2 3 Vị trí của Hàn Quốc trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ
Trang 16Sau chiến tranh lạnh, do bị ảnh hưởng của Chiến tranh Việt Nam và việc rút quân ở Đài Loan, Philippin nên sự chi phối của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á bị suy giảm, điều này càng làm nổi bật giá trị chiến lược của khu vực Đông Bắc Á Từ đó Hoa Kỳ đã lấy Đông Bắc Á làm điểm tựa chiến lược kiểm soát toàn bộ khu vực Đông Á Mục tiêu hàng đầu mà Hoa Kỳ đưa ra là bảo vệ lợi ích kinh tế và mở rộng lợi ích chính trị tại khu vực này
Bán đảo Triều Tiên là một khâu rất quan trọng trong chiến lược Đông Bắc Á của Hoa Kỳ, tầm quan trọng của bán đảo Triều Tiên không chỉ đơn giản ở chỗ nó là lô cốt đầu cầu kiểm soát khu vực Đông Á, mà điều quan trọng hơn là bán đảo Triều Tiên có thể là lý do để Hoa Kỳ tham gia vào công việc của khu vực Đông Bắc Á và trở thành lá chắn bảo vệ đồng minh chiến lược Nhật Bản Do đó đã hình thành khuôn khổ cơ bản trong chính sách của Hoa Kỳ đối với bán đảo Triều Tiên, đó là Hoa Kỳ hy vọng bán đảo Triều Tiên ở trạng thái không ổn định với mức độ nhất định nằm trong sự kiểm soát của mình, vì Hoa Kỳ hiểu rằng nếu bán đảo Triều Tiên thống nhất ở bất kỳ hình thức nào sẽ đều khiến Hoa
Kỳ đứng trước nguy cơ mất đi cơ sở chiến lược ở Đông Bắc Á Nhìn từ góc độ lịch sử văn hóa và địa - chính trị, một bán đảo Triều Tiên thống nhất không có lý do gì để đồng hành cùng với chiến lược của Hoa Kỳ hoặc có thể thoát ly khỏi quỹ đạo chiến lược Đông Bắc Á của Hoa Kỳ
So với các nước khác ở khu vực Đông Á, Hàn Quốc nằm ở vị trí khá quan trọng, nằm gần với các nước lớn như Trung Quốc, Liên Bang Nga, Nhật Bản và Hoa Kỳ Từ Hàn Quốc, có thể khống chế được toàn bộ vùng Đông Bắc Á, tiến lên Liên Bang Nga, xuống Đông Nam Á Hàn Quốc
có ý nghĩa lớn về mặt chiến lược quân sự, giao thông, thương mại… là lá chắn che chở Nhật Bản
trước sự ảnh hưởng trực tiếp từ các cường quốc xung quanh Vì vậy, đây là một trong những địa điểm được Hoa Kỳ rất quan tâm để trở thành tiền đồn quan trọng trong việc thực hiện chiến lược toàn cầu của mình
Hoa Kỳ quan tâm đến bán đảo Triều Tiên từ rất sớm, đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới thứ hai Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Hàn Quốc là một đồng minh thân cận, là một địa bàn có ý nghĩa chiến lược trên các mặt chính trị, quân sự, kinh tế của Hoa Kỳ Sau Chiến tranh lạnh, Hàn Quốc vẫn là một đồng minh truyền thống; Vì thế, việc xác định vị trí chiến lược của Hàn Quốc là nhân tố có tính quyết định đối với mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc trong hiện tại cũng như trong tương lai
1 3 Quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc trước năm 1991
1 3 1 Bối cảnh quốc tế và khu vực thời kỳ sau Chiến tranh thế giới
thứ hai
1 3 1 1 Bối cảnh quốc tế
Vào giai đoạn cuối của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, phe Phát xít đang đứng trước thất bại, các nước trong phe đồng minh xuất hiện mâu thuẫn gay gắt về các vấn đề như kết thúc chiến tranh ở Châu Âu, Châu Á – Thái Bình Dương, vấn đề tổ chức lại trật tự thế giới sau khi chiến tranh kết thúc, vấn đề phân chia khu vực đóng quân theo chế độ quân quản ở các nước phát xít bại trận và
Trang 17phân chia phạm vi thế lực giữa các nước tham chiến Để giải quyết các vấn đề trên, lãnh đạo ba cường quốc là Hoa Kỳ, Anh và Liên Xô đã tổ chức họp tại Ianta vào tháng 2 - 1945 Hội nghị đã đi đến các thỏa thuận sau: Tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và Nhật, nhanh chóng kết thúc chiến tranh ở Châu Âu, sau đó Liên Xô sẽ tham gia chiến tranh chống Nhật ở Châu Á – Thái Bình Dương Thành lập tổ chức Liên Hợp Quốc để giữ gìn hòa bình, an ninh và trật tự thế giới Hội nghị còn quy định việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp quân đội phát xít và phân chia phạm vi ảnh hưởng ở Châu Âu Những điều kiện để Liên Xô tham gia chiến tranh chống Nhật như công nhận nền độc lập của Mông Cổ, trả lại Liên Xô những quyền lợi của đế quốc Nga ở Viễn Đông, Liên Xô chiếm bốn đảo Curin, miền Bắc Triều Tiên, Hoa Kỳ chiếm đóng Nhật Bản và Nam Triều Tiên… Những quyết định tại Hội nghị Ianta trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới, được gọi
là trật tự Ianta
Sau khi chiến tranh kết thúc lại nổi lên vấn đề Đức và vấn đề kết thúc chiến tranh ở Nhật Bản Do đó, lãnh đạo ba nước Hoa Kỳ, Anh và Liên Xô lại gặp nhau ở Pôtxđam (Đức) và đã đi đến các quyết định tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức, chủ quyền của Nhật Bản được trở lại đất Nhật Bản chính thống
Như vậy, sau chiến tranh thế giới thứ hai, một trật tự thế giới được hình thành trên cơ sở những thỏa thuận của ba cường quốc, chủ yếu là hai cường quốc Liên Xô và Mỹ chi phối, từ đó hình thành trật tự hai cực Xô – Mỹ Cuộc đối đầu căng thẳng giữa hai hệ thống tư bản chủ nghĩa và
xã hội chủ nghĩa mà đứng đầu là Liên Xô và Mỹ là nhân tố quan trọng nhất chi phối các quan hệ quốc tế, đồng thời là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chính sách đối ngoại của các nước sau này
Trật tự hai cực Xô – Mỹ chịu ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc Chiến tranh lạnh do Mỹ và các nước đế quốc đứng đầu gây ra Trật tự này thường xuyên đặt trong tình trạng căng thẳng của sự đối đầu Đông – Tây, sự đối đầu của hai hệ thống xã hội đối lập nhau về mục tiêu đấu tranh, biểu hiện rõ nhất là cuộc chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô, những cuộc chiến tranh cục bộ diễn ra nhiều nơi như ở Trung Đông, Đông Nam Á Các khối quân sự của hai phe được hình thành, tiêu biểu là khối quân sự NATO và VACSAVA, hai khối tăng cường chạy đua vũ trang, làm cho thế giới trở nên căng thẳng, phức tạp Đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX, quan hệ Xô – Mỹ có bước cải thiện đáng kể Tháng 5 năm 1972, Tổng thống Mỹ R Nich xơn đến thăm Liên Xô, hai bên bước đầu đã ký các văn kiện quan trọng, như Hiệp ước hạn chế phòng thủ chống tên lửa (ABM), Hiệp định hạn chế vũ khí tiến công chiến lược (SALT-1) Đến năm 1974, hai nước bổ sung Hiệp ước ABM, tiếp tục ký SATL-2 Điều này tạo nên thế cân bằng chiến lược về lực lượng hạt nhân của hai siêu cường, tránh được cuộc chiến tranh hạt nhân và hạn chế việc chạy đua vũ trang Đến năm 1981, quan hệ Xô – Mỹ lại trở nên căng thẳng do Tổng thống Mỹ R Rigân đề ra học thuyết quân sự
“Phản ứng linh hoạt mới” nhằm chạy đua vũ trang, khôi phục vị trí đứng đầu thế giới Năm 1985,
hai cường quốc Xô – Mỹ chuyển sang đối thoại, các cuộc gặp cấp cao được diễn ra, đặc biệt là cuộc
Trang 18gặp lịch sử tháng 12 năm 1989 giữa M Goocbachop và G Bush (cha) tại đảo Manta (Địa Trung Hải) Lãnh đạo hai nước đã tuyên bố tăng cường hợp tác để giải quyết các vấn đề quốc tế, không coi nhau là kẻ thù… Đây là cuộc gặp quan trọng, thu hút được sự chú ý đặc biệt của dư luận thế giới và được coi là thời điểm kết thúc chiến tranh lạnh
1 3 1 2 Tình hình khu vực
Tại Châu Á, hội nghị Ianta đã giải quyết các vấn đề về Nhật Bản, quyền lợi của Liên Xô ở Châu Á Vấn đề phân chia bán đảo Triều Tiên Về phía Trung Quốc tiến tới thành lập chính phủ liên hiệp; Mỹ và Liên Xô cùng có quyền lợi tại Trung Quốc, các vùng còn lại vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước Phương Tây
Sự thỏa thuận của các nước lớn đã xâm phạm tới chủ quyền, lãnh thổ của nhiều nước Tại Châu Á, Mỹ đã khống chế được Nhật Bản, phía Nam bán đảo Triều Tiên Nhật Bản trở thành nước
lệ thuộc Mỹ và trở thành căn cứ quân sự chính yếu của Mỹ Tháng 9 năm 1951, Mỹ và Nhật ký Hiệp ước hòa bình San Phranxitcô, tiếp đến là ký Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật đã cho phép Mỹ đem lực lượng vũ trang vào Nhật Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật nhằm duy trì hòa bình thế giới và an ninh Viễn Đông, nhưng thực chất đã chính thức hóa việc thiết lập các căn cứ quân sự của Mỹ tại Nhật Bản, nhằm để sử dụng Nhật khống chế Liên Xô Ngoài ra Mỹ còn thiết lập liên minh quân sự với các nước khác như Mỹ - Hàn Quốc, Mỹ - Philippin, Mỹ - Đài Loan, đặc biệt là lập ra khối SEATO ngày 8 - 9 - 1954
Sau thắng lợi của Liên Xô trong cuộc chiến chống phát xít đã tạo điều kiện cho Trung Quốc, Việt Nam, miền Bắc Triều Tiên… đấu tranh giành độc lập và dẫn đến sự thành lập các nhà nước dân chủ nhân dân Sự đối đầu Đông – Tây diễn ra gay gắt, phức tạp, khu vực bán đảo Triều Tiên là một địa bàn chiến lược quan trọng đối các cường quốc như Mỹ - Nhật, Xô – Trung nên cũng nằm trong guồng quay phức tạp đó
Từ lâu Triều Tiên là thuộc địa của Nhật Bản, vào năm 1919, phong trào đấu tranh giành độc lập của người Triều Tiên bắt đầu Đến khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Triều Tiên được giải phóng khỏi ách thống trị của Nhật, ngày 15 – 08 – 1945, quân đội Liên Xô cùng với nhân dân Triều Tiên đã tiêu diệt đội quân Quan Đông, giải phóng miền Bắc Triều Tiên Trong các tháng 8, 9 năm
1945, nhân dân hai miền Nam, Bắc Triều Tiên đã nổi dậy lật đổ thế lực phản động, thành lập các Ủy ban nhân dân Theo sự thỏa thuận tại Hội nghị Ianta, Triều Tiên bị chia cắt thành hai miền lấy ranh giới theo vĩ tuyến 380 Miền Bắc thuộc quyền quân quản của Liên Xô, còn miền Nam thuộc về Mỹ Cũng tại khu vực Đông Á là nơi có Trung Quốc và Việt Nam theo con đường Chủ nghĩa Xã hội, sau
năm 1947, để thực hiện học thuyết Đôminô Hoa Kỳ đã xây dựng Hàn Quốc và Nhật Bản để trở
thành đồng minh thân cận của mình
1 3 1 3 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Trang 19Trước năm 1945, Hoa Kỳ lấy danh hiệu dân chủ và chống thực dân để thi hành chính sách
đối ngoại, từ năm 1889 đến 1941 xu hướng can thiệp đã nổi trội trong giới lãnh đạo Hoa Kỳ, đến
sau Chiến tranh thế giới thứ hai, xu hướng đó tiếp tục được thi hành Chính sách đối ngoại toàn cầu của Hoa Kỳ sau năm 1945 dựa trên thế mạnh kinh tế và quân sự, Hoa Kỳ xác lập được quyền bá chủ
không tranh cãi đối với Phương Tây, nhiệm vụ “Sen đầm quốc tế” của Hoa Kỳ là tìm mọi cách
khuất phục các nước xã hội chủ nghĩa và tăng cường ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với phần còn lại của thế giới
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Thủ tướng Anh cùng Tổng thống Mỹ Truman đã chính thức phát
động cuộc chiến tranh lạnh chống các nước xã hội chủ nghĩa, khống chế các nước phương Tây và thực
hiện tham vọng bá chủ toàn cầu, đây là đường lối đối ngoại nhất quán của Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ hai Tháng 3 năm 1947 tại Quốc hội Mỹ, Tổng thống Truman chính thức phát động Chiến tranh lạnh
chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, đàn áp cách mạng thế giới Mỹ đưa ra học thuyết “Ngăn
chặn chủ nghĩa cộng sản”, đồng thời thực hiện “Kế hoạch Macsan” với mục đích khôi phục kinh tế Châu
Âu, thành lập khối quân sự NATO
Chính sách đối ngoại toàn cầu của Hoa Kỳ được thực hiện dựa trên sự lớn mạnh của một nước dân chủ và sứ mệnh mới của Hoa Kỳ là gánh vác cuộc đấu tranh chống lại chế độ độc tài trên thế giới Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ từng bước hình thành hệ thống liên minh từ Châu Âu – Đại Tây Dương đến Châu Á – Thái Bình Dương nhằm mục đích tiêu diệt Liên Xô, ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản Mỹ đã chi cho quân sự với khoản tài chính khổng lồ, viện trợ quân sự cho các nước
thành viên khối NATO, SEATO cùng các đồng minh khác Chiến lược toàn cầu “Ngăn chặn” của
Mỹ nhằm chống Liên Xô và Chủ nghĩa Cộng sản, đồng thời phát triển nước Mỹ lớn mạnh cả về kinh tế, chính trị và quân sự, để làm chổ dựa trở thành nước đứng đầu thế giới tư bản Chiến lược
“Ngăn chặn” của Hoa Kỳ đã qua nhiều lần điều chỉnh qua các đời Tổng thống khác nhau từ năm
1947 đến 1991 Nhưng mục tiêu xuyên suốt trong chính sách đối ngoại vẫn là thống trị thế giới và
tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản
Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ đã thực hiện hai chiến lược toàn cầu, đó là chiến
lược quân sự “Trả đũa ồ ạt” và “Phản ứng linh hoạt” cùng với học thuyết răn đe Trong giai đoạn
từ 1948 đến 1960, chiến lược trả đũa ồ ạt được thực hiện trong điều kiện Hoa Kỳ có tiềm lực lớn về kinh tế và quân sự, đặc biệt là vũ khí nguyên tử Chiến lược ngăn chặn của Hoa Kỳ được thực hiện
trên tất cả các lĩnh vực và quan trọng nhất là về quân sự và tư tưởng, để triển khai chiến lược đó, Hoa Kỳ xây dựng các liên minh và căn cứ quân sự khắp toàn cầu, thường xuyên cấm vận, bao vây, xâm lược các nước xã hội chủ nghĩa
1 3 2 Quan hệ Hoa Kỳ - Triều Tiên từ 1945 đến 1948
Năm 1948, Nhà nước Hàn Quốc ra đời và mối quan hệ quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc chính thức được thành lập Nhưng trước năm 1948, Hoa Kỳ đã có mối quan hệ với bán đảo Triều Tiên,
Trang 20lịch sử mối quan hệ đó đã có từ khá lâu và sự kiện được xem là mở đầu là vào ngày 22/05/1882, hai
nước đã ký Hiệp ước Hòa bình, Hữu nghị, Thương mại và Hàng hải, đây là hiệp ước xuất phát từ
lợi ích của cả hai nước và là hiệp ước đầu tiên của Triều Tiên ký với một nước phương Tây Ngay
từ những năm 1830, Hoa Kỳ đã có mong muốn quan hệ với Triều Tiên, đồng thời Triều Tiên cũng muốn có mối quan hệ với các cường quốc bên ngoài, trong đó có Hoa Kỳ Vào những năm cuối TK XIX, mối quan hệ Hoa Kỳ - Triều Tiên diễn ra tốt đẹp Từ năm 1882 đến 1895, nhiều nhà kinh doanh Hoa Kỳ đến Triều Tiên để đầu tư, buôn bán Hoa Kỳ là nước dẫn đầu về các ngành kinh tế đang phát triển ở Triều Tiên như ngành điện, khai mỏ… Chẳng hạn, người Mỹ đã quản lý và khai thác mỏ vàng tại Unsan, bên cạnh đó nhà máy điện đầu tiên cũng được xây dựng bởi công ty Edison Electric của Mỹ vào năm 1885 Việc buôn bán giữa hai nước đã có bước phát triển “Từ tháng 5 năm 1883 đến tháng 5 năm 1884, các công ty Mỹ đã nhập khẩu vào Triều Tiên hàng hóa như vũ khí, trang trí nội thất với trị giá đạt 170 000 USD Năm 1893, một dự án điện chiếu sáng ở Hoàng cung cũng được lắp đặt với trị giá là 47 000 USD Tổng giá trị mà Triều Tiên nhập từ Mỹ là khoảng 10 %, trong đó dầu lửa là mặt hàng lớn nhất Ngoài ra, Triều Tiên cũng xuất khẩu sang Mỹ một số mặt hàng nhưng chiếm tỷ lệ thấp” [41, 11]
Trong chiến lược đối ngoại của Hoa Kỳ rất coi trọng Philippin Vì vậy, ngày 27/07/1905, Hoa Kỳ và Nhật Bản đã ký thỏa thuận về Philippin, Viễn Đông và Triều Tiên Thỏa thuận này đã có
sự hoán đổi, Hoa Kỳ thừa nhận quyền ảnh hưởng của Nhật Bản tại Triều Tiên, thay vào đó Nhật Bản đồng ý để Hoa Kỳ tự do hoạt động tại Philippin Sau sự kiện này, đa số các thương nhân Hoa
Kỳ đã rút khỏi Triều Tiên
Trong giai đoạn Nhật Bản thống trị Triều Tiên từ 1910 đến 1945, quan hệ Hoa Kỳ - Triều Tiên vẫn tiếp tục diễn ra nhưng chủ yếu trên lĩnh vực thương mại Các hoạt động thương mại của Hoa Kỳ thời kỳ này chủ yếu diễn ra qua trung gian là Nhật Bản
Bảng 1 1: Quan hệ buôn bán giữa Triều Tiên với Mỹ từ năm 1910 – 1936
Trang 21Nguồn: Dẫn theo [ 41, 13]
Nhìn chung, việc buôn bán giữa hai nước chiếm tỷ lệ còn thấp (bảng 1.1) Chẳng hạn, năm
1910, Triều Tiên xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 305 triệu USD (chiếm 1,7 %), nhập khẩu đạt 3.024 triệu USD (chiếm 7,6 %) Đến năm 1936, Triều Tiên xuất đạt 993 triệu USD (chiếm 0,17%), nhập đạt 9.151 triệu USD (chiếm 1,2%) Cán cân buôn bán giữa hai nước không cân đối, Triều Tiên chủ yếu là nhập siêu, còn giá trị hàng hóa xuất khẩu sang Hoa Kỳ còn rất ít
Quan hệ Hoa Kỳ - Triều Tiên trước năm 1945, nhìn chung còn mang đặc điểm của sự khởi đầu một mối quan hệ lâu dài Trên lĩnh vực chính trị - văn hóa chưa có gì ấn tượng, chủ yếu trên lĩnh vực kinh tế thông qua việc buôn bán giữa hai nước
Từ năm 1945 đến 1948, khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các cường quốc đã bàn về vấn đề Triều Tiên Kể từ sự kiện Trân Châu cảng tháng 12 năm 1941, Hoa Kỳ chú trọng ngày càng nhiều đối với bán đảo Triều Tiên Ngay trong thời gian của cuộc chiến tranh thế giới, tại Hội nghị Cairô – Ai Cập tháng 11/1943, Hoa Kỳ đã cam kết về tương lai của bán đảo Triều Tiên Anh, Hoa
Kỳ và Trung Quốc đã tuyên bố rằng “trong thời gian thích hợp” Triều Tiên sẽ được tự do và độc
lập Tại Hội nghị Ianta tháng 2 năm 1945, Hoa Kỳ đã thuyết phục Liên Xô chấp nhận chế độ quản thác tạm thời và trì hoãn quá trình độc lập của Triều Tiên Vì Hoa Kỳ sợ rằng, khi Nhật Bản bại trận Liên Xô sẽ lợi dụng cơ hội đó để gây ảnh hưởng tại khu vực Đông Bắc Á Thỏa thuận Maxcơva được ký kết năm 1945 đã xác lập chế độ quản thác trên bán đảo Triều Tiên, theo đó, Hoa Kỳ tiếp quản phía Nam bán đảo Triều Tiên theo vĩ tuyến 380 Vì vậy, Hoa Kỳ đã có điều kiện thuận lợi để chi phối tình hình trên bán đảo Triều Tiên
Trong chiến lược toàn cầu, để thực hiện được mục đích đề ra, từ năm 1945, Hoa Kỳ đã thực hiện các chương trình viện trợ kinh tế và quân sự cho phía Nam bán đảo Triều Tiên Cụ thể, sau chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phía Nam bán đảo Triều Tiên nằm dưới sự quản thác của Mỹ, bên cạnh quân đội đóng quân, các công ty Mỹ đã đến và mở văn phòng chi nhánh tại đây để tìm cơ hội đầu tư, buôn bán Chẳng hạn như “Công ty thương mại J Morse đã mở văn phòng tại Seoul và Pusan vào năm 1948 Nhiều nhà doanh nghiệp khác đã hùn vốn thành lập công ty Chusun Gold Mine Company năm 1946”[33, 7] Tuy vậy, khi cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, các công ty Hoa Kỳ đã rút khỏi bán đảo này
Năm 1948, khi nhà nước Đại Hàn Dân Quốc ra đời, mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Hàn Quốc mới được thiết lập
1 3 3 Quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc từ năm 1948 đến trước năm 1991
1 3 3 1 Lĩnh vực an ninh - quân sự
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất trên thế giới Nhưng đối trọng với Hoa Kỳ là Liên Xô đang không ngừng lớn mạnh Tháng 3 năm 1947, Hoa Kỳ chính thức
Trang 22phát động cuộc chiến tranh lạnh chống Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa Trong bối cảnh của cuộc chiến trạnh lạnh, bán đảo Triều Tiên là một địa bàn chiến lược của các cường quốc, phía Nam chịu Hoa Kỳ chi phối, phía Bắc do Liên Xô kiểm soát Vì vậy, bán đảo Triều Tiên chịu tác động mạnh mẽ của sự đối đầu hai cực Xô – Mỹ
Trong khu vực Đông Bắc Á, Hàn Quốc là nước nằm ở vị trí khá trung tâm, tiếp giáp với nhiều nước lớn như Liên Xô (nay là Nga), Trung Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ Sự tồn tại nhiều quốc gia lớn như vậy sẽ đem lại cho Hàn Quốc cảm giác thiếu an toàn, vì vậy, Hàn Quốc đã lựa chọn Hoa
Kỳ là đồng minh thân cận của mình Vì sao Hàn Quốc lại trở thành đồng minh thân cận của Hoa Kỳ? Về cơ bản, chúng ta có thể thấy, trước hết, Hoa Kỳ là nước lớn, đứng đầu chủ nghĩa tư bản lúc bấy giờ và có khả năng đảm bảo an ninh cho đất nước Hàn Quốc khi phải đối mặt với những sức ép
từ các nước lớn xung quanh, đặc biệt là cuộc tấn công từ phía Bắc Triều Tiên Thứ hai là sau chiến tranh Triều Tiên, Hàn Quốc là một nước phải đối mặt với nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội Do đó, Hàn Quốc dựa vào Hoa Kỳ để có điều kiện thuận lợi khôi phục và phát triển kinh tế đất nước Tiếp đến, về phía Hoa Kỳ cũng muốn Hàn Quốc là đồng minh thân cận của mình cùng với Nhật Bản tại khu vực Đông Bắc Á Mục đích của Hoa Kỳ là xây dựng Hàn Quốc trở thành một căn cứ quân sự quan trọng để khống chế Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, nhằm bảo vệ lợi ích và đạt được mục đích chiến lược toàn cầu của mình đặt ra là nhằm thống trị khu vực và thế giới
Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ được thực hiện rõ trên bán đảo Triều Tiên, Hoa Kỳ coi Hàn Quốc là một vùng đệm tại khu vực Đông Bắc Á, là nơi có vai trò quan trọng để củng cố quyền lực của mình Vì vậy, tháng 8 năm 1948, dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc, Hoa Kỳ đã tích cực ủng hộ thành lập chính phủ thân Hoa Kỳ do Lý Thừa Vãn (Shyman Rhy) đứng đầu, đến đây mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc thực sự được xác lập Còn ở phía Bắc quốc gia CHDCND Triều Tiên cũng ra đời và được sự bảo trợ của Liên Xô và Trung Quốc Do đó, bán đảo Triều Tiên là nơi đấu đầu căng thẳng của hai cực Xô – Mỹ, hai khối Đông – Tây
Hàn Quốc là một trong những nơi giữ một vị trí quan trọng hàng đầu trong chính sách ngăn chặn và kiềm chế Chủ nghĩa Cộng sản tại khu vực Do vậy, bằng mọi giá, Hoa Kỳ đã đem quân đội vào Hàn Quốc Để đảm bảo an ninh cho quân đội, buộc Hoa Kỳ phải tăng cường viện trợ cho Hàn Quốc trên tất cả các mặt kinh tế, quân sự nhằm thoát ra khỏi những bất ổn do chiến tranh để lại Sau khi Lý Thừa Vãn lên làm Tổng thống Hàn Quốc, ông đã cùng với người đứng đầu chính quyền quân
sự Mỹ tại Hàn Quốc là Lt Gen John R Hodge đã ký bản thỏa thuận về việc chuyển giao quyền lực cho chính phủ mới Theo bản thỏa thuận, cả hai bên sẽ cùng quan tâm đến việc duy trì an ninh tại Hàn Quốc Về phía Hoa Kỳ sẽ tiếp tục tổ chức huấn luyện và trang bị cho lực lượng an ninh Hàn Quốc cho tới khi hoàn thành việc rút quân của mình Đến tháng 6 năm 1949, Hoa Kỳ tuyên bố, ngoại trừ việc rút quân của mình, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ và trang bị cảnh sát để duy trì nền an
Trang 23ninh và sự ổn định của Hàn Quốc Qua sự kiện này, nhìn chung quan hệ an ninh – chính trị của hai nước bước đầu đã được định hình
Trong thời gian từ 1945 đến 1948, Hoa Kỳ thấy được vị trí quan trọng của Hàn Quốc nhưng vẫn chưa coi trọng vị trí của Hàn Quốc đối với an ninh quốc gia và việc bảo vệ Nhật Bản Về sau, Hoa Kỳ mới xem đây là vị trí chủ chốt trong tuyến phòng thủ của mình Từ năm 1948 đến năm
1950, số lượng viện trợ của Hoa Kỳ cho Hàn Quốc chỉ ở một số lượng hạn chế nhất định Trong thời gian này, theo sự thỏa thuận cùng với Liên Xô, Hoa Kỳ và Liên Xô sẽ rút quân trong thời hạn 3 năm tính từ ngày chiếm đóng Như vậy, trong lúc quân đội Hàn Quốc còn yếu thì Hoa Kỳ buộc phải thực hiện việc rút quân Xuất phát từ nhận định tình hình khu vực ảnh hưởng đến bán đảo Triều Tiên lúc này là: Đối với Trung Quốc do vừa bị sự tàn phá của phát xít Nhật nên khó có thể đem quân đánh Hàn Quốc cùng với miền Bắc, còn đối với Liên Xô thì do vướng bận vào việc khôi phục kinh tế do chiến tranh tàn phá Vì vậy, tháng 4 năm 1948, Mỹ đã thông qua quyết định rút tất cả 14.000 quân còn lại ở Hàn Quốc, Để thực hiện quyết định này, Bộ Quốc phòng Mỹ đã trực tiếp chỉ huy và lực lượng quân sự Mỹ tại Hàn Quốc đã chuẩn bị cho việc rút quân “Đến tháng 6 năm 1949,
Mỹ đã hoàn thành việc rút quân ra khỏi Hàn Quốc và chỉ để lại một phái đoàn quân sự gồm 500 người”[3, 65]
Với những nhận định tình hình của Mỹ đã không như dự đoán, trong thời gian cuối những năm 1940 đầu 1950, tình hình khu vực Đông Bắc Á không có lợi cho Hoa Kỳ Đó là sự thành công của cách mạng Trung Quốc năm 1949, liên minh Xô – Trung ra đời tháng 2 năm 1950 Năm 1949, Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử đã làm phá vỡ thế độc quyền về bom nguyên tử của Mỹ
Với sự lớn mạnh của Liên Xô và Trung Quốc, Mỹ đã đề ra mục tiêu ngăn chặn Chủ nghĩa Cộng sản
và Phong trào Giải phóng Dân tộc ở Châu Á Tiếp đến là cuộc chiến tranh Triều Tiên đã làm cho
quan hệ an ninh quân sự Hoa Kỳ - Hàn Quốc thay đổi theo hướng ngày càng mật thiết hơn
Chiến tranh Triều Tiên không phải là cuộc nội chiến thông thường mà đây là cuộc chiến tranh có sự tham gia của các nước lớn, là sự đối đầu giữa hai cực Xô – Mỹ, hai khối Đông – Tây, hai phe Tư bản Chủ nghĩa và Xã hội Chủ nghĩa Trong suốt cuộc chiến tranh, Hoa Kỳ là đồng minh lớn nhất, hậu thuẫn chính và đề ra mọi chiến lược cho Hàn Quốc Chiến tranh Triều Tiên là sự kiện nằm ngoài dự tính của Mỹ, vì điều này đã được thể hiện trong nội dung bức điện của Đại sứ quán
Mỹ tại Hàn Quốc gửi về Washington “Liên Xô không có khả năng ủng hộ Bắc Triều Tiên tiến hành cuộc tiến công đối với miền Nam”[3, 66]
Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Hoa Kỳ đã tăng cường viện trợ quân sự cho Hàn Quốc về việc tăng số lượng quân đội, vũ khí, đạn dược, thiết bị chiến tranh khác, ngoài ra thông qua Liên Hiệp Quốc kêu gọi các nước gửi quân tham chiến tại Hàn Quốc chống lại quân đội miền Bắc (khoảng 360 000 người) Hoa Kỳ lo sợ rằng nếu mình thua trong cuộc chiến này thì sẽ mất hết quyền lợi của mình trên
Trang 24bán đảo Triều Tiên Vì vậy, mục tiêu của Hoa Kỳ là thống nhất bán đảo dưới quyền của miền Nam, đẩy lùi ảnh hưởng của Liên Xô và Trung Quốc, tiếp đến là gây sự ảnh hưởng của mình thông qua viện trợ quân sự cho miền Nam Nhưng, khi quân tình nguyện Trung Quốc tham chiến, dự tính của Hoa Kỳ đã không trở thành hiện thực Cuối cùng, cuộc chiến đã phải ngưng lại khi hai bên ký Hiệp định đình chiến vào ngày 27/07/1953 Hiệp định đình chiến đã đáp ứng những ý đồ của Hoa Kỳ là bảo vệ lợi ích an ninh của mình trên bán đảo Triều Tiên và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Sau cuộc Chiến tranh Triều Tiên, Hoa Kỳ đã bị tổn thất khá nặng nề, “trên 33 000 ngàn người bị giết chết và hơn 100 000 ngàn người bị thương” [101, 4] Mặc dầu vậy, vì lợi ích của mình, Hoa Kỳ đã tăng cường mối quan hệ an ninh – quân sự với Hàn Quốc Hai bên đã tiến hành bàn về
nội dung Hiệp định phòng thủ chung Đến ngày 1/10/1953, Hiệp định phòng thủ chung Hoa Kỳ -
Hàn Quốc được ký kết tại Washington Đây là Hiệp định ràng buộc mối quan hệ an ninh - quân sự
chặt chẽ của hai nước, và Hoa Kỳ sẽ bảo vệ Hàn Quốc khi bị nước ngoài tấn công Sau hiệp định này, hai bên tiếp tục ký thỏa thuận về hợp tác kinh tế và quân sự giữa hai nước Đây là những căn
cứ pháp lý để Hoa Kỳ tiến hành viện trợ quân sự cho Hàn Quốc “Từ năm 1955 đến 1960, viện trợ quân sự của Mỹ cho Hàn Quốc chiếm tới 60 % trong tổng ngân sách chi tiêu quân sự của Hàn Quốc, vào thời điểm viện trợ cao nhất của Hoa Kỳ lên đến 527,8 triệu USD ”[3, 66]
Hàn Quốc là một quốc gia có vị trí trọng yếu ở khu vực Đông Bắc Á, là căn cứ quan trọng của Hoa Kỳ trong việc ngăn chặn sự bành trướng của Chủ nghĩa Cộng sản Do đó, trong tổng số viện trợ của Hoa Kỳ cho khu vực Đông Bắc Á, Hàn Quốc chiếm tỷ lệ khá kớn, ví như năm 1958 là 331,1 triệu USD Từ năm 1948 đến 1950, lĩnh vực phòng thủ và an ninh được hai nước quan tâm nhất
Bước sang thập niên 1960, Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu lớn, đặc biệt là về quân sự, phong trào giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ khắp các châu lục Hoa Kỳ đã thất bại trong chiến
lược “Trả đũa ồ ạt” và buộc phải chuyển đổi chiến lược toàn cầu của mình sang chiến lược “Phản
ứng linh hoạt” Ngoài ra, Hoa Kỳ còn bổ sung thêm chiến lược hòa bình, tiến hành chiến lược “Cây gậy và Củ cà rốt” đối với Liên Xô, Hoa Kỳ đã dùng vũ khí hạt nhân làm thế cân bằng với Liên Xô
Căn cứ vào tình hình và thực lực của mình, Hoa Kỳ đã chủ trương giảm vai trò quân sự ở Châu Á Đối với Hàn Quốc, thời gian đầu của thập niên 1960, quan hệ an ninh – chính trị Hoa Kỳ - Hàn Quốc không giảm xuống, điều này được khẳng định trong cuộc gặp giữa Park Chung Hee và Tổng thống Hoa Kỳ J Kennedy vào cuối năm 1961 Thông qua cuộc gặp này, Hoa Kỳ cam kết nhanh chóng viện trợ cho Hàn Quốc theo những điều khoản được ký kết trong Hiệp ước phòng thủ chung
Để đổi lại hành động này, Hàn Quốc đã cam kết gửi quân sang tham chiến tại Việt Nam Cuộc chiến tranh Việt Nam chịu tác động của mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc Trong cuộc kháng
Trang 25chiến chống Mỹ, miền Nam Việt Nam bị Mỹ thao túng Mục đích của Mỹ là để chống Cộng sản, ngăn chặn Chủ nghĩa Cộng sản mở rộng ở châu Á, thực hiện quyền bá chủ thế giới Miền Nam Việt Nam và Hàn Quốc là nơi thực thi chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ Sau khi chính quyền của Ngô Đình Diệm và Lý Thừa Vãn sụp đổ đã được thay thế bởi sự cầm quyền của chế độ độc tài quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu và Park Chung Hee ở hai nước Khi Mỹ quốc tế hóa chiến tranh ở Việt Nam, tăng cường viện trợ, nhưng cuộc chiến của Mỹ ngày càng bị sa lầy và đứng trước nguy cơ thất
bại Năm 1963, Tổng thống J Kennedy bị ám sát, Tổng thống Jonhson lên thay đã chuyển từ Chiến
tranh Đặc biệt sang Chiến tranh Cục bộ, đưa quân viễn chinh Mỹ, các nước Chư hầu và Đồng
minh của Mỹ vào tham chiến tại chiến trường miền Nam Việt Nam
Lúc đó, Park Chung Hee đã đề nghị gửi quân sang Việt Nam nhằm mục đích là để phô trương thanh thế, lấy được sự ủng hộ, viện trợ của Mỹ Từ tháng 9- 1964, Hàn Quốc bắt đầu gửi
quân và kéo dài cho đến tận tháng 3 – 1973 Trong thời gian này, bên cạnh Hàn Quốc bình thường
hóa quan hệ với Nhật Bản, sự việc Hàn Quốc gửi quân tham chiến sang tham chiến cùng với quân
Mỹ tại miền Nam Việt Nam là một sự kiện tiêu biểu trong lĩnh vực ngoại giao của nước này Trong
số quân đội các nước Chư hầu của Mỹ tham chiến như Thái Lan, Philippin, Australia… thì quân đội Hàn Quốc chiếm số đông nhất và cũng dã man nhiều nhất “Tổng thống Park Chung Hee đã đáp ứng yêu cầu của Mỹ, đã đưa 5 sư đoàn quân Nam Triều Tiên với khoảng 40 vạn lượt người tham chiến ở Nam Việt Nam”[10, 70] Tổng thống Park cho rằng, hành động gửi quân sang tham chiến ở Việt Nam là để đền đáp công ơn của Mỹ đã giúp Hàn Quốc trong cuộc chiến năm 1950-1953, đồng thời làm cho mối quan hệ hai nước trở nên thân thiết hơn Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam,
Mỹ muốn tìm những nhà thầu cho các công trình xây dựng tại Việt Nam, các công ty Hàn Quốc lúc
đó vốn đã có kinh nghiệm làm ăn với công ty Mỹ là những công ty trúng thầu nhiều nhất và thu được nhiều lợi nhuận Cuộc chiến tranh Việt Nam đã đem lại hậu quả tiêu cực cho Hàn Quốc như con em mình phải đổ máu phi nghĩa, nhưng bên cạnh đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, giải quyết vấn đề xã hội của Hàn Quốc Đây là lần đầu tiên Hàn Quốc tham chiến ở nước ngoài , vì vậy nó trở thành vấn đề nổi bật trong lịch sử hiện đại Hàn Quốc Trong quá khứ, Việt Nam và Hàn Quốc vốn có quan hệ tốt đẹp, thế nhưng Chính quyền Park Chung Hee đã đi ngược lại truyền thống đó Nhưng nguyên nhân là do Hoa Kỳ chi phối, lôi kéo Hàn Quốc để thực hiện âm mưu xâm lược trong chiến lược toàn cầu của mình Sau ngày Miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, Hoa Kỳ đã thực hiện chính sách bao vây, cấm vận kinh tế để trả đũa, Hàn Quốc là đồng minh thân cận nên đã chịu ảnh hưởng của những chính sách đó, vì vậy, mối quan hệ giữa Việt Nam – Hàn Quốc, Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn sau đó bị tạm thời gián đoạn một thời gian
Trang 26Thực ra, Hàn Quốc đem quân tham chiến tại Việt Nam cùng với Hoa Kỳ là vì đồng minh thân cận của Hoa Kỳ, thông qua hành động này, Hàn Quốc muốn thể hiện sự cam kết an ninh của
mình với Hoa Kỳ Điều này chứng tỏ rằng, Hàn Quốc quan tâm nhiều đến chiến lược “ngăn chặn”
Chủ nghĩa Cộng sản cũng như thắng lợi của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á Bên cạnh đó, một nguyên nhân sâu xa để Hàn Quốc gửi quân tham chiến tại Việt Nam chính là Hàn Quốc không muốn Hoa
Kỳ cắt giảm cam kết an ninh đối với mình, tiếp đến là những khó khăn của Hàn Quốc ở trong nước
đã thúc đẩy Hàn Quốc tiến hành gửi quân sang Việt Nam Dưới thời Tổng thống Park Chung Hee đã khẳng định: Trong đời sống con người, những vấn đề kinh tế đi trước những vấn đề chính trị hay văn hóa; Vì vậy, vấn đề Hàn Quốc gửi quân sang Việt Nam để Hoa Kỳ viện trợ cho mình là điều dễ hiểu Vấn đề cơ bản của Hàn Quốc là phải biết sử dụng sự viện trợ quân sự của Hoa Kỳ, phải biết tận dụng và khai thác triệt để sự bảo trợ quân sự của Hoa Kỳ, hạn chế chi tiêu quốc phòng để dành nguồn tích lũy cho sự phát triển kinh tế
Đỉnh cao của sự viện trợ quân sự của Hoa Kỳ tới Hàn Quốc là vào những năm đầu thập niên
1960 Nhưng kể từ cuối thập niên 1960, tiếp đến là bước sang những năm 1970, sự viện trợ của Hoa
Kỳ cho Hàn Quốc ngày càng giảm xuống Điều này được thể hiện thông qua bảng 1 2:
Bảng 1 2: Viện trợ quân sự Hoa Kỳ trong tổng chi tiêu quân sự
của Hàn Quốc từ 1955 đến 1973
Đơn vị: %
Năm Từ nguồn nội tệ Viện trợ quân sự
gián tiếp của Mỹ
Viện trợ quân sự trực tiếp của Mỹ
Trang 27Nhìn vào bảng số liệu trên, chúng ta thấy viện trợ quân sự của Hoa Kỳ tới Hàn Quốc năm
1961 đạt 99 % trong tổng ngân sách chi tiêu cho quân sự (bao gồm viện trợ trực tiếp và gián tiếp) Đến năm 1970, con số này giảm xuống còn 43,2%, năm 1973 còn 27,6%
Học thuyết Ních xơn ra đời đã làm cho quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc thay đổi khác trước Sự viện trợ cho Hàn Quốc đã đến thời hạn cuối, Hoa Kỳ đã tìm cách giảm bớt gánh nặng quân sự của mình tại Châu Á, đặc biệt là tại Nhật Bản và Hàn Quốc Với Hàn Quốc, Hoa Kỳ đòi hỏi nước này phải chia sẻ gánh nặng quân sự chứ không chỉ một mình Hoa Kỳ đảm nhận Bước vào thập niên
1970, vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới bị giảm sút, do nhiều nguyên nhân nhưng quan trọng nhất là Hoa Kỳ bị sa lầy tại cuộc chiến tranh Việt Nam và cuộc khủng hoảng dầu lửa, tiếp đến là bị Nhật Bản và Tây Âu cạnh tranh gay gắt, bên cạnh đó Liên Xô ngày càng lớn mạnh và cân bằng được với Hoa Kỳ về hạt nhân chiến lược Trước bối cảnh đó, Hoa Kỳ đã thực hiện chính sách hòa dịu với Liên Xô để giải quyết vấn đề nội bộ của mình Cũng thời gian này, Hoa Kỳ đã lợi dụng mối mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc để thúc đẩy mối quan hệ với Trung Quốc nhằm chống lại Liên
Xô, gây ra mối mâu thuẫn trong nội bộ các nước Xã hội Chủ nghĩa
Quan hệ an ninh – chính trị Hoa Kỳ - Hàn Quốc những năm 1970 có nhiều thay đổi, đó là Hoa Kỳ đã chủ trương giảm cam kết an ninh và có kế hoạch rút bớt quân đang đóng trên lãnh thổ Hàn Quốc Để thực hiện chủ trương đó, tháng 6 năm 1971, Hoa Kỳ đã rút 20 000 quân ra khỏi Hàn Quốc Kế hoạch rút toàn bộ quân được Hoa Kỳ dự tính trong khoảng thời gian 4 đến 5 năm, nhưng trước sự lớn mạnh của Bắc Triều Tiên đã làm cho Hoa Kỳ lo ngại, vì vậy, kế hoạch rút toàn bộ quân Hoa Kỳ ra khỏi Hàn Quốc được tạm ngừng vào năm 1981 Đến năm 1974, viện trợ quân sự gián tiếp của Hoa Kỳ cho Hàn Quốc chấm dứt, nhưng viện trợ quân sự trực tiếp vẫn được tiến hành nhằm nâng cấp các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại đây Việc Hoa Kỳ rút quân, chấm dứt viện trợ cho Hàn Quốc không phải là chấm dứt luôn mối quan hệ an ninh - chính trị của hai nước mà nó vẫn tiếp tục duy trì Hàn Quốc vẫn là một địa bàn chiến lược, các cuộc gặp của lãnh đạo hai nước vẫn được tiến hành, chẳng hạn như cuộc gặp giữa Tổng thống Park Chung Hee và Tổng thống Ford năm
1974, Tổng thống J Carter vào năm 1979 Trong các cuộc gặp này, Hoa Kỳ đã khẳng định cam kết của mình là trong trường hợp Hàn Quốc bị tấn công bởi các thế lực bên ngoài thì Hoa Kỳ sẽ nhanh chóng viện trợ quân sự và giúp đỡ
Bước sang thập niên 1980, khi Tổng thống Reagan lên nắm quyền, chiến lược toàn cầu đã
được chuyển thành chiến lược đối đầu trực tiếp Hoa Kỳ đã dùng những biện pháp cứng rắn với
Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa khác, tăng viện trợ quân sự cho các đồng minh Năm 1981, lãnh đạo hai nước đã gặp nhau để bàn về việc tăng cường hợp tác, trong cuộc gặp này, Tổng thống
Trang 28Reagan đã cam kết với Tổng thống Chun rằng: Hoa Kỳ sẽ không rút hết số quân còn lại ra khỏi Hàn Quốc, khẳng định hơn nữa quyết tâm hợp tác chặt chẽ của Hoa Kỳ đối với Hàn Quốc nhằm ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô và lập trường cứng rắn đối với CHDCND Triều Tiên Rõ ràng, đó
là những tính toán của Hoa Kỳ, nhằm đưa Hàn Quốc thành một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ của mình ở Châu Á – Thái Bình Dương Đến giữa thập niên 1980, cuộc chạy đua vũ trang đã gây nhiều tốn kém cho hai khối Xô – Mỹ Hoa Kỳ đã chuyển sang đối thoại với Liên Xô, nhằm thực hiện giải trừ quân bị, làm cho hai cực của thế giới bước vào một thời kỳ hòa hoãn Ngay
cả bản thân Hoa Kỳ cũng mềm dẻo hơn trong chính sách thù địch với Bắc Triều Tiên, ngoài ra còn thuyết phục Hàn Quốc thực hiện chủ trương này, nhằm bớt căng thẳng giữa hai miền Triều Tiên
1 3 3 2 Lĩnh vực kinh tế
Quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Hàn Quốc được bắt đầu trong một bối cảnh khá đặc biệt sau chiến tranh thế giới thứ hai, mối quan hệ kinh tế được khởi đầu là do yếu tố chính trị của hai nước mà không phải do yếu tố kinh tế, vấn đề này được thể hiện qua hành động của hai nước qua bối cảnh chính trị trên bán đảo Triều Tiên lúc đó Hàn Quốc là một địa bàn chiến lược, có vị trí địa chính trị quan trọng, là nơi ngăn cản sự bành trướng của Liên Xô, ngăn chặn Trung Quốc tấn công miền Nam Khi Hoa Kỳ đưa quân vào đóng tại Hàn Quốc, để phát huy hết khả năng quân đội mình, vấn
đề đặt ra là phải ổn định về kinh tế, chính trị - xã hội Và để xây dựng một đồng minh lớn mạnh, Hoa Kỳ đã xây dựng nhiều chương trình viện trợ kinh tế cho Hàn Quốc, đồng thời kêu gọi các nước khác thông qua Liên Hợp Quốc để viện trợ kinh tế cho Hàn Quốc “Trong giai đoạn từ 1948 đến
1960, viện trợ nước ngoài là 2,6 tỷ USD, trong đó Hoa Kỳ chiếm 60%”[53, 153] Bằng các khoản viện trợ to lớn, nền kinh tế Hàn Quốc được khôi phục dần, tiếp đến các điều kiện mở rộng quan hệ với Hoa Kỳ được hình thành
Sau khi Hiệp định đình chiến được ký kết năm 1953, cuộc chiến Nam – Bắc Triều Tiên kết thúc Đất nước Hàn Quốc lúc này bị tàn phá nặng nề, các nhà máy, làng mạc… bị phá hủy, nạn thất nghiệp, đói kém thường xảy ra Trước tình cảnh đất nước gặp khó khăn về kinh tế, chính trị như vậy, các công ty Hoa Kỳ thấy nhiều khó khăn, việc đầu tư, buôn bán sẽ không lợi nhuận cao, cho nên họ đã trì hoãn việc đầu tư vào Hàn Quốc Từ năm 1953 đến 1961 không có một trường hợp đầu
tư trực tiếp nào của các công ty Hoa Kỳ vào Hàn Quốc Còn bản thân Hàn Quốc lại khác, Hàn Quốc rất cần những mặt hàng thiết yếu từ Hoa Kỳ, là nơi cung cấp hàng hóa, dịch vụ như máy móc, nhiên liệu, lương thực, thuốc men… nhằm làm cho xã hội ổn định, khôi phục lại sản xuất Để đáp ứng nhu cầu của Hàn Quốc, đó là một thử thách lớn đối với Hoa Kỳ Vì Hàn Quốc bị Nhật cai trị, nên công nghiệp chủ yếu là công nghiệp nhẹ, phụ thuộc vào Nhật Khi đất nước được giải phóng, nền di sản
Trang 29của Nhật để lại là một nền kinh tế lạc hậu, các ngành công nghiệp nặng chủ yếu ở miền Bắc Bên cạnh đó, cuộc chiến tranh tàn phá càng làm cho Hàn Quốc bị phá hoại nặng nề hơn Vì vậy, để đáp ứng nguồn vốn, kỹ thuật… Hàn Quốc cần phải quan hệ kinh tế với Hoa Kỳ, nó trở thành một nhu cầu cấp thiết, lâu dài, nhưng trong bối cảnh này điều kiện để mở rộng mối quan hệ này lại bị hạn chế
Trong bối cảnh như trên, do tác nhân chính trị nên mối quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Hàn Quốc cũng được hình thành và phát triển Xét về nguyên nhân sâu xa, chúng ta có thể thấy, Hoa Kỳ muốn Hàn Quốc đủ mạnh để trở thành đồng minh thân cận của mình Điều này Hoa Kỳ có khả năng thực hiện, đây
là một yếu tố quyết định nhất cho mối quan hệ kinh tế của Hàn Quốc đối với Hoa Kỳ cũng như đối với các nước khác Thực tế, sau chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kỳ không bị chiến tranh tàn phá, có tiềm lực kinh tế lớn chiếm tới hơn 40 % tổng sản phẩm của thế giới Cùng với sự phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc, những nhân tố kinh tế trong mối quan hệ hai nước ngày càng lớn mạnh và quyết định chiều hướng phát triển mối quan hệ kinh tế của hai nước Riêng Hoa Kỳ, quan hệ kinh tế với Hàn Quốc lúc đầu xuất phát từ nhân tố chính trị, nhưng sau này lại bị yếu tố kinh tế chi phối
Quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Hàn Quốc giai đoạn 1948 đến 1991 trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Và căn cứ vào quá trình phát triển của mối quan hệ hai nước, chúng ta có thể chia theo các giai đoạn sau: Giai đoạn từ 1948 đến 1961, giai đoạn 1961 đến 1979 và cuối cùng là từ 1979 đến
1991
Giai đoạn 1948 đến 1961, trong khoảng thời gian này, viện trợ của Hoa Kỳ giữ vai trò chủ
đạo trong mối quan hệ kinh tế của hai nước Điều này đã được bắt đầu từ sau năm 1945 và được thực hiện thông qua các Quỹ, tổ chức trong mỗi giai đoạn khác nhau, ví dụ như, từ 1945 đến 1949
là quỹ FUGAROA (Funds Under Govement Appropriations for Relief Occupied Areas), từ 1949 đến 1950 là tổ chức ECA (The Economic Cooperation Adiministration) Số viện trợ của Hoa Kỳ tới Hàn Quốc ngày càng tăng lên, “từ năm 1954 đến 1961 số viện trợ kinh tế Mỹ cho Hàn Quốc lên tới
3 115 340 USD, chiếm 68% trong tổng số viện trợ từ 1954 – 1971, so với hơn 600 triệu USD từ
1945 – 1950”[32, 51]
Tháng 12 năm 1953, Ủy ban hợp tác kinh tế Hoa Kỳ - Hàn Quốc được thành lập, đa số hàng hóa nhập khẩu là từ Hoa Kỳ thông qua con đường viện trợ, “tính đến đầu những năm 1960, viện trợ của Hoa Kỳ cho Hàn Quốc lên đến 6 tỷ USD, trong đó 80% hàng nhập khẩu ”[53, 52], Nhìn chung, các khoản viện trợ trong giai đoạn này nhằm các mục tiêu khác nhau Từ năm 1945 đến 1949, nhằm giảm nhẹ khó khăn cho vùng chiếm đóng, từ năm 1949 đến 1950, cung cấp cho Hàn Quốc những mặt hàng cần thiết như lương thực, thực phẩm, quần áo, khí đốt Hoa Kỳ còn hậu thuẫn cho chính
Trang 30phủ Lý Thừa Vãn thực hiện chương trình phân phối đất đai, quản lý các ngành công nghiệp do người Nhật quản lý thời kỳ thuộc địa Trong thời gian của cuộc chiến tranh Nam – Bắc Triều Tiên, Hoa Kỳ tiếp tục tăng cường viện trợ cho Hàn Quốc về lương thực, thuốc men Sau khi chiến tranh kết thúc, kế hoạch viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ đã phục vụ trực tiếp cho quá trình thực hiện chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu của chính quyền Lý Thừa Vãn nhằm xây dựng mô hình kinh tế hướng nội Các khoản viện trợ này chủ yếu dành cho phát triển các ngành công nghiệp, khai thác, nông nghiệp Số còn lại dành cho mục tiêu phát triển xã hội, giao thông, giáo dục, y tế Thời gian này, hình thức viện trợ của Hoa Kỳ chủ yếu là viện trợ không hoàn lại Sau chiến tranh, do đất nước bị tàn phá, nên từ 1953 – 1961, không có công ty nào của Hoa Kỳ đầu tư trực tiếp vào Hàn Quốc
Trên lĩnh vực buôn bán giữa hai nước nhìn chung còn ở mức độ thấp, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu luôn nhỏ hơn tổng viện trợ quân sự, chẳng hạn như năm 1957, kim ngạch xuất nhập khẩu của hai nước chỉ có 113 680 nghìn USD, trong khi đó viện trợ quân sự lên tới 527,8 triệu USD Cán cân xuất nhập khẩu lại không cân đối, Hàn Quốc chủ yếu là nhập siêu và cán cân thương mại bị thâm hụt ngày càng lớn (bảng 1 3) Thực chất của mối quan hệ thương mại giữa hai nước giai đoạn này là cho và nhận, đây là một mối quan hệ khá phổ biến không chỉ Hoa Kỳ - Hàn Quốc mà còn diễn ra với nhiều nước khác nữa với Hoa Kỳ
Bảng 1 3: Quan hệ buôn bán của Hàn Quốc – Hoa Kỳ từ 1948 -1961
Đơn vị: Nghìn đô la
Năm Xuất khẩu vào Mỹ - A Nhập khẩu từ Mỹ - B
Cán cân thương mại A-
Trang 31Như vậy, đặc trưng cơ bản nhất của nền kinh tế Hàn Quốc trong giai đoạn này là sự lệ thuộc vào
sự viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ Trước chiến tranh Triều Tiên, các mặt hàng viện trợ chủ yếu là hàng cứu trợ, thực phẩm, sau chiến tranh, các mặt hàng viện trợ gồm cả tư liệu sản xuất công nghiệp, nguyên liệu thô Viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ đạt tới đỉnh cao vào năm 1957- 1958, chiếm tới 80 % tổng giá trị nhập khẩu
Giai đoạn từ 1962 đến 1979: Trong khoảng thời gian này, trong quan hệ kinh tế của hai
nước, hoạt động buôn bán từng bước được thay thế hình thức viện trợ, viện trợ của Hoa Kỳ ngày càng giảm và được chấm dứt vào năm 1970 Về cơ bản, bước đầu xác lập được các hình thức quan
hệ kinh tế trên cơ sở hợp tác công bằng, bình đẳng, vừa cạnh tranh Đây là giai đoạn của Chính phủ Park Chung Hee cầm quyền, chính phủ này đã xây dựng mô hình kinh tế hướng ngoại với chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, dựa vào việc khai thác thị trường thế giới và liên kết quốc tế nhằm góp phần giải quyết những khó khăn mà đất nước đang gặp phải như thị trường tiêu thụ sản phẩm, vốn đầu tư, kỹ thuật công nghiệp mới, trong đó tiêu biểu nhất là chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài Vì thực tế, Hoa Kỳ không thể viện trợ để đáp ứng những nhu cầu to lớn cho sự phát triển của Hàn Quốc Ngoài ra, bản thân người Hàn Quốc có tính tự cường cao, họ muốn chính khả năng của mình để phát triển đất nước, tăng cường buôn bán để thay thế viện trợ, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài để tích lũy vốn ở trong nước, xa hơn nữa là thiết lập mối quan hệ kinh tế với các nước phát triển khác theo hướng có lợi cho mình Để thực hiện chiến lược đó, Hàn Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp để thực hiện như đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị kỹ thuật, tăng cường kinh doanh với bên ngoài…
Từ năm 1960 đến đầu những năm 1970, Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất của Hàn Quốc Chẳng hạn như, năm 1961, có 16,6% hàng xuất khẩu của Hàn Quốc được đưa vào Hoa Kỳ với tổng giá trị xuất khẩu là 6,9 triệu USD Đến năm 1971, tỷ lệ này lên đến 49,8% với tổng giá trị xuất khẩu là 531,8 triệu USD Nhưng, đến giữa những năm 1970 trở về sau thì tỷ lệ này lại giảm dần, điều này
Trang 32nói lên được sự đa dạng hóa thị trường xuất khẩu của Hàn Quốc nhiều hơn là sự giảm sút vị trí quan trọng của Hoa Kỳ với Hàn Quốc Còn số lượng hàng hóa nhập khẩu từ Hoa Kỳ đến Hàn Quốc cũng tăng lên
Trong thời gian này, cùng với Nhật Bản, Hoa Kỳ là nguồn đầu tư quan trọng của Hàn Quốc, thị trường Hàn Quốc ngày càng được công ty Hoa Kỳ chú trọng Ví dụ như, “công ty Chemtex Inc
là công ty đầu tiên đầu tư vào Hàn Quốc, công ty này còn liên doanh với Korea Nylon Company để sản xuất sợi nylon với số vốn liên doanh là 575 000 đô la Tới đầu năm 1965, các hợp đồng đầu tư lớn hơn vào nhà máy lọc dầu và sản xuất phân bón cũng được triển khai Trong giai đoạn 1962-
1966, tổng số đầu tư của Mỹ vào đây là 15,987 triệu đô la, chiếm 75,2% tổng đầu tư trực tiếp của nước ngoài, giai đoạn 1967 – 1971 tương ứng là 32,664 và chiếm 33,9%” [33, 14] Qua đó, chúng
ta có thấy trong thời gian từ 1962-1966 chiếm 75,2% (bảng 1.4), nhưng về sau Hoa Kỳ không còn là nước dẫn đầu trong lĩnh vực đầu tư tại Hàn Quốc
Bảng 1 4: Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Hàn Quốc từ 1962 đến 1979
tư vào Hoa Kỳ là do Hàn Quốc thực hiện chính sách nhằm ưu tiên cho sự phát triển ở trong nước
Trang 33Quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc trên các lĩnh vực như thương mại, chuyển giao công nghệ, tín dụng… cũng được phát triển lên một bước Ví dụ như trong lĩnh vực tín dụng, “từ 1972 – 1979, vốn vay của Hàn Quốc từ ngân quỹ Nhà nước Mỹ lên tới 1,333 tỷ USD, giai đoạn từ 1962 – 1971 chỉ
có 560 triệu USD” [32, 53] Trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, Hàn Quốc đã đẩy mạnh áp dụng
kỹ thuật tiên tiến của Hoa Kỳ nhằm cải tiến kỹ thuật ở trong nước phát triển lên mức cao hơn Ngoài
ra, Hàn Quốc còn khuyến khích khả năng sáng tạo của bản thân người Hàn để chiếm lĩnh các kỹ
thuật cao cấp về sau Những chính sách này làm cho nền kinh tế Hàn Quốc phát triển nhanh chóng hơn, trở thành một nước công nghiệp mới của Châu Á
Như vậy, đến những năm 1970, mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc đã chuyển sang mối quan
hệ bình đẳng, cùng có lợi; Chấm dứt mối quan hệ theo kiểu chi phối – phụ thuộc của hai nước, đây
là một sự nỗ lực của Hàn Quốc trong mối quan hệ với Hoa Kỳ
Giai đoạn từ 1980 đến trước năm 1991: Bước vào thập niên 1980, quan hệ kinh tế Hoa Kỳ -
Hàn Quốc có bước tiến mới, vào thời điểm này, Hàn Quốc đã trở thành một nước phát triển, và mối quan hệ cùng có lợi, bình đẳng ngày càng được khẳng định Hàn Quốc ngày càng được thế giới biết đến, là một trong năm nước xuất siêu trên thế giới vào năm 1988, đặc biệt là sang thị trường Hoa Kỳ So với những năm 1970, năm 1980, thị trường của Hoa Kỳ trong tổng xuất khẩu và nhập khẩu của Hàn Quốc đã liên tục giảm xuống; Chẳng hạn như năm 1972, xuất khẩu của Hàn Quốc vào Hoa Kỳ chiếm 46,7% tổng hàng xuất khẩu của Hàn Quốc thì tới 1980, tỷ lệ này chỉ còn là 26,3%, trong lĩnh vực nhập khẩu cũng diễn ra tương tự Nhưng, điều đó không làm giảm sút vị trí quan trọng của thị trường Hoa Kỳ đối với Hàn Quốc mà chủ yếu là do Hàn Quốc đa dạng hóa thị trường của mình Điều này được thể hiện qua việc thị trường Hoa Kỳ vẫn giữ một tỷ lệ lớn hàng hóa Hàn Quốc và kim ngạch buôn bán với Hoa
Kỳ tăng lên nhanh chóng “Năm 1972, Hàn Quốc xuất khẩu vào Hoa Kỳ đạt 750 triệu đô la thì tới năm
1980 đã lên tới 4,606 tỷ đô la, còn nhập khẩu cũng trong những năm này tăng từ 647,2 triệu đô la lên 4,890 tỷ đô la”[33, 15 – 16] Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất và cũng là đối tác thương mại lớn nhất, chiếm hầu hết cán cân thương mại của Hàn Quốc Quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Hàn Quốc ngày càng phụ thuộc vào cán cân thương mại kể từ năm 1986, các nhà kinh tế nhận định rằng, nếu xu
hướng này tồn tại thì mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ sẽ bị đảo ngược lại Cụ thể như “Năm 1985,
xuất siêu của Hàn Quốc sang Mỹ đạt 4,3 tỷ đô la, đến năm 1987 tăng lên 9,6 tỷ đô la” [1, 313] Về phía Hoa Kỳ đã kêu gọi Hàn Quốc tự do hóa mậu dịch, nâng giá đồng won để nhằm giảm thâm hụt thương mại cho Hoa Kỳ Và thị trường Hàn Quốc ngày càng quan trọng đối với hàng hóa Hoa Kỳ, một số ngành hàng nhập khẩu từ Hàn Quốc chiếm tỷ lệ tương đối lớn trong tổng số hàng hóa nhập khẩu của Hoa Kỳ, ví dụ như vi mạch điện tử chiếm 17%, quần áo 17% Nhưng, Hàn Quốc lại cho rằng, nếu Hàn Quốc mở cửa thị trường với Hoa Kỳ sẽ ảnh hưởng xấu đến nhiều ngành công nghiệp trong nước, và bản thân Hoa Kỳ lại có tiềm lực lớn hơn nhiều so với Hàn Quốc
Trang 34Trong lĩnh vực đầu tư, đến năm 1980, đầu tư của Hàn Quốc ra nước ngoài tăng mạnh, trong
đó có thị trường Hoa Kỳ, tính đến cuối năm 1980, đầu tư của Hàn Quốc vào Hoa Kỳ đạt khoảng 29,3 triệu USD, chiếm 31,5% trong tổng số đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc Tuy số lượng chưa lớn, nhưng đây là sự khởi đầu có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển quan hệ đầu tư của hai nước giai đoạn về sau
1 3 3 3 Quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc trong vấn đề thống nhất bán đảo Triều Tiên
Vấn đề thống nhất bán đảo Triều Tiên là một vấn đề mang tính thời sự đối với nhân dân hai miền Nam – Bắc Triều Tiên cũng như các cường quốc có liên quan đến lợi ích của mình trên bán đảo này Cho đến năm 1945, bán đảo Triều Tiên vẫn được thống nhất, mặc dầu bị Nhật Bản cai trị Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, đến năm 1948, hai miền Triều Tiên đã hình thành hai quốc gia; Miền Bắc là CHDCND Triều Tiên, miền Nam là Đại Hàn Dân Quốc (Hàn Quốc), hai miền bị chia cắt đã trở thành một thực tế và tồn tại cho đến tận ngày nay Ngày 26/5/1950, cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc Triều Tiên bùng nổ và có sự can thiệp của các nước lớn Đến khi Hiệp định Đình chiến được ký kết vào ngày 27/07/1953, vĩ tuyến 380 được lấy làm ranh giới phân chia hai miền Từ 1953 đến nay, hai miền Triều Tiên không xảy ra xung đột vũ trang nào lớn nhưng tình hình trên bán đảo luôn căng thẳng, đụng độ vũ trang nhỏ giữa hai miền xung quanh khu phi quân sự thường xảy ra và nhiều lúc có khả năng nguy cơ nổ ra chiến tranh giữa hai miền
Sự chia cắt bán đảo Triều Tiên kéo dài hơn nửa thế kỷ nay, cho đến cuối thế kỷ XX, chưa có một giải pháp nào hứa hẹn thống nhất bán đảo Tuy vậy, trong những năm đầu thế kỷ XXI, đã có nhiều cố gắng từ hai miền và các nước lớn về một tương lai hòa bình của bán đảo Triều Tiên Một câu hỏi lớn đặt ra là hai miền Triều Tiên có thống nhất được không? Nếu được thì nhân tố nào tạo nên sự thống nhất đó và vai trò của Hoa Kỳ và Hàn Quốc trong vấn đề thống nhất như thế nào? Cục diện chính trị bán đảo Triều Tiên tồn tại là do ý đồ của các nước lớn, do di sản của chiến tranh lạnh để lại, ngay bản thân người Triều Tiên cũng thừa nhận một phần trách nhiệm về vấn đề này, đó là nếu họ biết đoàn kết đứng lên đấu tranh để thống nhất vào cuối năm 1945, khi mối quan hệ Xô – Mỹ chưa xấu như ở giai đoạn sau đó Miền Bắc xem Hoa Kỳ là trở ngại lớn nhất cho việc thống nhất đất nước, đặc biệt là lực lượng quân Hoa Kỳ đóng tại Miền Nam và để tạo ra bước đột phá trong việc phá thế bao vây, cấm vận là lập quan hệ với Hoa Kỳ Miền Bắc đặt mục tiêu là đòi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Miền Nam, ly gián Hoa Kỳ và Hàn Quốc, nhưng điều đó thực tế đã không thực hiện được Còn đối với Hoa Kỳ do muốn ảnh hưởng trên bán đảo nên đã thận trọng lựa chọn chính sách cải thiện và lôi kéo Miền Bắc theo quỹ đạo của mình Hai miền không đủ khả năng
để vượt qua những trở ngại, giải quyết mâu thuẫn đối đầu chính trị giữa hai miền để thống nhất, hai bên đã nhận thức được rằng không thể thống nhất bằng vũ lực, đặc biệt là qua cuộc chiến 1950 -
1953 và Chiến tranh Việt Nam Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, mặc dầu không thống nhất được
Trang 35nhưng hai bên đã đạt được một số bước tiến trong việc hòa giải, giảm bớt căng thẳng ở trên bán đảo
và khu vực
Hoa Kỳ và Hàn Quốc là một liên minh quân sự chặt chẽ ở khu vực Đông Bắc Á, Hàn Quốc
là một đồng minh thân cận đi theo chiến lược quân sự của Hoa Kỳ ở khu vực Trong mối quan hệ của hai nước về vấn đề thống nhất bán đảo Triều Tiên, quan điểm của Hoa Kỳ và Hàn Quốc có nhiều điểm khác nhau nhưng vì là nước phụ thuộc nên phải theo ý đồ của Hoa Kỳ, theo mục đích chiến lược mà Hoa Kỳ vạch ra Hoa Kỳ không muốn duy trì một bán đảo Triều Tiên quá căng thẳng hay quá tốt đẹp mà muốn duy trì dưới một tình hình mà Hoa Kỳ có thể kiểm soát được Nhưng, thực chất trên bán đảo bị chi phối của các nước lớn, trong đó hai nước chi phối lớn nhất là Hoa Kỳ và Trung Quốc Hoa Kỳ muốn lật đổ Nhà nước CHDCND Triều Tiên, thống nhất Triều Tiên trên cơ sở Hàn Quốc, còn Trung Quốc lại muốn duy trì Nhà nước CHDCND Triều Tiên Trung Quốc có thể nhượng bộ Hoa Kỳ về vấn đề CHDCND Triều Tiên, đổi lại Hoa Kỳ nhượng bộ Trung Quốc vấn đề Đài Loan, nhưng Hoa Kỳ đã không chịu điều kiện đó Các cuộc gặp cấp cao giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đều gặp nhau ở điểm chung là giữ nguyên trạng lâu dài, đảm bảo hòa bình, ổn định lâu dài, vấn đề Triều Tiên phải được giải quyết bằng phương pháp hòa bình Thực tế đã cho thấy, thống nhất bằng bạo lực thất bại, không thực hiện được Và việc hai miền chia cắt lâu dài với hai chế độ chính trị đối lập nhau nên khả năng bằng chính trị khó thực hiện được Vì vậy, phải giao lưu, thống nhất
về kinh tế, văn hóa xã hội sau đó mới thực hiện thống nhất về chính trị
Thời kỳ chiến tranh lạnh, việc thống nhất bán đảo Triều Tiên không thực hiện được là do những yếu tố bên trong và bên ngoài rất phức tạp Sự chia cắt hai miền dẫn đến sự phát triển của hai miền quá cách biệt nhau Về quan hệ đồng minh, Miền Bắc có quan hệ đồng minh với Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội chủ nghĩa khác, còn Miền Nam lại thân Mỹ và Phương Tây Điều này phản ánh được lập trường của mỗi bên qua việc thống nhất đất nước Hai miền hai chế độ đối lập nhau, thù địch với nhau, với hai nền kinh tế khác nhau Miền Nam là đồng minh chặt chẽ của
Mỹ, đồng thời quan hệ thân cận với Nhật, cho nên nó tạo ra sự ngăn cách lớn trong vấn đề hòa hợp hai miền Hoa Kỳ là một trở ngại lớn cho sự thống nhất Triều Tiên, quân Mỹ đóng tại Hàn Quốc với
số lượng lớn làm cho sự thống nhất khó thực hiện được Miền Bắc đấu tranh đấu tranh đòi Hoa Kỳ rút khỏi Hàn Quốc và li tán Hoa Kỳ với Hàn Quốc Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, Hoa Kỳ tiếp tục tăng cường quan hệ với Hàn Quốc, đồng thời lôi kéo với Bắc Triều Tiên để cạnh tranh với Trung Quốc Ngày 1/7/1979, Tổng thống Mỹ J Carter đã ra tuyên bố chung với Tổng thống Hàn Quốc rằng đề nghị đàm phán 3 bên giữa Hoa Kỳ và Nam, Bắc Triều Tiên Bắc Triều Tiên đã bác bỏ
đề nghị trên và cho rằng trước hết là đàm phán giữa Bắc Triều Tiên và Mỹ bàn về việc rút quân và
Trang 36Hiệp định Hòa bình, sau đó mới đồng ý để cho Nam Triều Tiên tham gia Về thái độ của Trung Quốc vào lúc đầu phản đối, về sau lại đồng ý
Những năm 1980, sau khi Tổng thống Reagan lên cầm quyền đã chú trọng hơn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Hoa Kỳ không giảm mà còn tăng cường sự có mặt quân sự ở Hàn Quốc, thậm chí tăng thêm quân khi cần thiết Thực chất ý đồ của Hoa Kỳ là không phải tạo ra tình hình căng thẳng, đối đầu mà nhằm giữ nguyên trạng và ổn định lâu dài trên bán đảo Triều Tiên, không muốn bán đảo Triều Tiên thống nhất vào thời điểm này Về vấn đề này, như sự nhận định của H Kissinger, Hoa Kỳ không có lý do gì để ngăn cản sự thống nhất của hai miền Triều Tiên; Nhưng trong cuộc hội đàm giữa Tổng thống G Bush với Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae Jung ngày 7 tháng 3 năm 2001, Tổng thống Bush tuyên bố “không vội vã tiếp tục các bước đi tiến tới hòa giải Bắc Triều Tiên”[67, 267] Điều này thấy được việc giữ nguyên hiện trạng bán đảo Triều Tiên vẫn là ưu tiên số một của Hoa Kỳ Nhưng chúng ta có thể thấy được, việc thống nhất bán đảo là tất yếu Đối với Hoa Kỳ, sự thống nhất đó phải phù hợp với lợi ích của mình, tức là phải xóa bỏ được chế độ ở Miền Bắc, nhưng Trung Quốc lại phản đối vấn đề này Qua nhận định trên, chúng ta có thể thấy được, quan điểm của Hoa Kỳ, một mặt tuyên bố ủng hộ thống nhất bán đảo Triều Tiên, nhưng mặt khác lại thừa nhận sự tồn tại chia cắt hai miền, bên cạnh đó lại củng cố hơn nữa mối quan hệ đồng minh với Hàn Quốc, khống chế Bắc Triều Tiên, ngăn chặn sự ảnh hưởng của Trung Quốc trên toàn bán đảo
Trong quá trình thực hiện chiến lược toàn cầu, Hoa Kỳ đã thi hành chính sách của mình qua mỗi giai đoạn khác nhau tùy thuộc vào tình hình khu vực và quốc tế qua mỗi giai đoạn Trong mối quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc, trước mắt hai bên đều theo đuổi mục đích và lợi ích lâu dài trên bán đảo Triều Tiên Nhằm ngăn ngừa một cuộc chiến tranh mới nổ ra, kiềm chế và ngăn chặn Bắc Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân, tên lửa Tiếp tục củng cố mối quan hệ đồng minh, tăng cường hợp tác kinh tế, cải thiện quan hệ với miền Bắc
Đối với Hoa Kỳ, trụ cột lớn trong chính sách ngoại giao của mình ở Châu Á – Thái Bình Dương là an ninh, phát triển kinh tế và thúc đẩy dân chủ và chính sách đối với bán đảo Triều Tiên
là nhằm phục vụ chiến lược đó Nhìn chung, các nước lớn có liên quan nhiều và trực tiếp trên bán đảo Triều Tiên như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản và Nga đều điều chỉnh chiến lược theo hướng tích cực phối hợp, giải quyết bất đồng ngăn chặn không cho chiến tranh khu vực nổ ra Trong việc giải quyết vấn đề thống nhất đã hình thành một cơ cấu an ninh nhiều tầng, nhưng cặp quan hệ chủ đạo nhất là giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc Hoa Kỳ và Hàn Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập hòa bình trên bán đảo Triều Tiên, tạo thuận lợi để thống nhất đất nước trong hòa bình Với Hàn Quốc sẽ tiếp tục đảm nhiệm vai trò tiên phong kiến tạo hòa bình và thống nhất trên bán đảo Triều Tiên, trong khi đó Hoa Kỳ và các quốc gia liên quan vẫn tiếp tục giữ vai trò hỗ trợ tích cực
Sự thống nhất bán đảo Triều Tiên trong mối quan hệ của Hoa Kỳ - Hàn Quốc là một nhân tố quan
Trang 37trọng trong mối quan hệ hai nước, tuy nhiên, ý đồ của mỗi nước lại khác nhau quá lớn Sự phát triển phức tạp trong quan hệ hai miền Triều Tiên luôn gắn liền với những lợi ích và chính sách của 4 nước lớn là Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Nhật bán đảo Triều Tiên thống nhất khi nào và bằng cách nào cũng liên quan nhiều với chiến lược của bốn nước lớn này, vấn đề này được thể hiện rõ trong thời kỳ chiến tranh lạnh Do có lợi ích và mục tiêu khác nhau, nên các cường quốc liên quan vào bán đảo Triều Tiên đều có một cách nhìn thống nhất về vấn đề hai miền Triều Tiên; Các nước này đều lo sợ một nước Triều Tiên thống nhất rơi vào vòng ảnh hưởng của các nước khác, ngoài ra còn lợi dụng sự chia cắt của bán đảo này đề mặc cả với nhau Cho nên, bốn nước lớn đều chủ trương duy trì sự chia cắt ở bán đảo Triều Tiên Mỗi nước lớn theo cách phù hợp với lợi ích quốc gia của mình đều có xu hướng thi hành một chính sách thực dụng đối với cả hai miền Triều Tiên Nhưng, chính người Triều Tiên mới có vai trò quyết định trong vấn đề thống nhất và nó phù hợp với nguyên tắc dân tộc tự quyết Thống nhất Triều Tiên còn phụ thuộc vào cách thức giải quyết sự thù địch, đối đầu của hai miền Nam – Bắc Quan điểm chung của các nước lớn là nếu hai chính phủ Hàn Quốc
và CHDCND Triều Tiên tự thoả thuận được với nhau về vấn đề thống nhất bằng biện pháp dân chủ
và hoà bình, thì họ sẽ không chống lại hay bỏ phiếu phủ quyết
Hiện nay nước Đức đã được thống nhất, chiến tranh lạnh đã đi vào quá khứ nhưng ở bán đảo
Triều Tiên nó vẫn hiện diện, một bức màn sắt đang che chắn giữa hai miền và nhiều bất ổn có thể
xảy ra Mặc dầu bị các nước lớn chi phối, đặc biệt là Hoa Kỳ và Trung Quốc, nhưng vấn đề thống nhất lại phụ thuộc vào dân tộc Hàn Quốc như trường hợp nước Đức, trước mắt là hòa bình vẫn được duy trì ở hai miền Sự thống nhất Triều Tiên là vấn đề tiên quyết của dân tộc hai miền Triều Tiên, nhưng bài học từ nước Đức cho thấy được gánh nặng kinh tế là rất lớn, sự hòa bình và quyền lợi của các nước lớn tùy thuộc vào sự thống nhất này Nhiều nhà nghiên cứu cho thấy, việc xúc tiến các giải pháp hòa giải, hợp tác với CHDCND Triều Tiên để thống nhất quốc gia khi thời cơ cho phép (cho đến khi đã đã có sự giảm chênh lệch giữa hai miền) là con đường ngắn nhất và rẻ nhất cho đất nước phát triển trong tương lai Để tạo cơ sở cho chính sách thống nhất lành mạnh, Hàn Quốc đóng vai trò quan trọng, nước này phải có nền kinh tế lớn mạnh, ngoài ra còn đòi hỏi sự thông minh và dũng cảm của người Hàn Quốc
* Tiểu kết chương 1
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, bán đảo Triều Tiên được chia làm hai miền với hai chế độ chính trị xã hội đối lập nhau, từ đây bán đảo Triều Tiên trở thành điểm nóng xung đột dẫn đến cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1950 – 1953 Chiến tranh kết thúc, Hoa Kỳ thực hiện chính sách thù địch với CHDCND Triều Tiên Năm 1953, Hoa Kỳ và Hàn Quốc ký Hiệp ước an ninh chung dẫn đến mối quan hệ ràng buộc về an ninh quân sự giữa hai nước Hoa Kỳ đã viện trợ quân sự và đóng quân tại Hàn Quốc nhằm quyết tâm bảo vệ đất nước này khỏi sự đe dọa tấn công từ miền Bắc
Trang 38Quan hệ Hoa Kỳ - Hàn Quốc từ 1948 đến trước năm 1991 được diễn ra trong một bối cảnh
khá đặc biệt, hai nước có mối kết duyên tự nguyện với nhau Trong giai đoạn từ lúc thành lập nước
đến những năm 1970, Hàn Quốc chịu sự thao túng của Hoa Kỳ Trong lĩnh vực kinh tế từ 1948 đến
1950, hoàn toàn lệ thuộc vào viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ, nguồn viện trợ chiếm đến 30 % đến 40 % nguồn thu của Hàn Quốc; “Từ 1945 đến năm 1971, Hoa Kỳ đã viện trợ kinh tế cho Hàn Quốc tổng cộng 3,8 tỷ đô la”[98, 4] Nhờ nguồn viện trợ của Hoa Kỳ, đến những năm 1960, Hàn Quốc đã xây dựng thành công nền kinh tế xuất khẩu, hướng ngoại thay cho nền kinh tế hướng nội, nhập khẩu trước đó Trước cuộc chiến tranh 1950 - 1953, Hoa Kỳ viện trợ phần lớn hàng thực phẩm và hàng cứu trợ, vào cuối thập niên 1950 viện trợ Hoa Kỳ chiếm 80% giá trị nhập khẩu
Sự kiện quan trọng của mối quan hệ an ninh – quân sự Hoa Kỳ - Hàn Quốc trong thời gian này là hai nước ký Hiệp ước phòng thủ Mỹ - Hàn vào năm 1953, chính sự kiện này đã đưa Hàn Quốc trở thành mắt xích quan trọng trong chiến lược an ninh của Hoa Kỳ tại khu vực Đông Á Từ
đó đã làm cho Hàn Quốc trở thành địa bàn có vai trò địa – chính trị quan trọng trong trận tuyến chống cộng sản tại khu vực Trong thời kỳ Hoa Kỳ leo thang chiến tranh ở Việt Nam ở mức cao nhất, Hoa Kỳ đưa lục quân vào tham chiến ở Việt Nam, các nước đồng minh của Hoa Kỳ trong đó
có Hàn Quốc gửi quân sang tham chiến ở Việt Nam Để tăng cường cho khối liên minh của mình, Hoa Kỳ còn thúc đẩy Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với Nhật Bản vào năm 1965, đây là cách thức để Hoa Kỳ thuận lợi điều hành hai nước đồng minh thân cận này
Từ những năm 1980 trở đi, tính chất của mối quan hệ thay đổi, Hàn Quốc trở thành thị trường quan trọng của Hoa Kỳ và không lệ thuộc vào Hoa Kỳ như thời kỳ trước Tỷ trọng xuất khẩu của Hàn Quốc với Hoa Kỳ giảm dần, nhờ Hàn Quốc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu Hai nước từ chỗ quan hệ đồng minh lệ thuộc một chiều đã được chuyển theo hướng nâng cao vị thế của Hàn Quốc Trong thời gian này, Hàn Quốc đã phát triển chiến lược đối ngoại ngày càng độc lập và tự chủ nhằm giảm sự lệ thuộc vào Hoa Kỳ, tiến tới là đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ ngoại giao của mình Thậm chí Hàn Quốc còn muốn tự chủ về quốc phòng, chủ động điều động quân đội, điều này được thể hiện dưới chính quyền Tổng thống Park Chung Hee và việc Hoa Kỳ đóng quân trên đất nước mình còn làm tổn hại đến chủ quyền quốc gia và lòng tự tôn dân tộc mình Trong mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có hòa dịu nên Hàn Quốc cũng đã cải thiện quan hệ với Bắc Triều Tiên
Vào thập kỷ 80, Hàn Quốc đã trở thành một nước công nghiệp phát triển, có nền kinh tế phát triển năng động, nền ngoại thương được mở rộng và trở thành đối tác thương mại quan trọng của Hoa Kỳ, cuối những năm 1980, Hàn Quốc đã xuất siêu sang thị trường Hoa Kỳ Điều này càng mở rộng cho Hàn Quốc thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ với Hoa Kỳ và khu vực Đông Á, đặc biệt là tăng cường hợp tác với Nhật Bản, phát triển quan hệ với các nước Đông Nam Á Trong vấn đề thống nhất bán đảo Triều Tiên, Hàn Quốc có chủ trương hòa giải dân tộc và thống nhất dân
Trang 39chủ Sự thống nhất chủ yếu phụ thuộc vào dân tộc hai miền Nam – Bắc Triều Tiên, giống như trường hợp nước Đức, kinh nghiệm của nước Đức đã để lại cho Hàn Quốc nhiều bài học, nhưng gánh nặng về kinh tế mà Hàn Quốc phải gánh chịu là rất lớn Vấn đề thống nhất là tiên quyết và được đặt lên hàng đầu cho mỗi bên, vì hòa bình và thịnh vượng của khu vực, để làm được điều này đòi hỏi sự nỗ lực của hai miền Triều Tiên, sự can thiệp tích cực của các nước lớn, đứng đầu là Hoa
Kỳ và Trung Quốc
Trang 40CHƯƠNG 2 QUAN HỆ HOA KỲ – HÀN QUỐC
TỪ 1991 ĐẾN 2005
2 1 Bối cảnh quốc tế, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và
Hàn Quốc sau chiến tranh lạnh
2 1 1 Bối cảnh quốc tế sau chiến tranh lạnh
Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình thế giới diễn biến phức tạp, Liên Xô và các nước Chủ nghĩa Xã hội ở Đông Âu sụp đổ làm cho cục diện thế giới và mối quan hệ quốc tế thay đổi căn bản So sánh lực lượng trên bình diện thế giới từ chỗ cân bằng giữa hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập được chuyển sang trạng thái mất cân bằng theo xu hướng có lợi cho Hoa Kỳ và các nước Tây Âu Nhưng, thế giới không phát triển theo hướng hòa bình mà xuất hiện nhiều mâu thuẫn mới, như mâu thuẫn giữa các nước lớn với nhau, các nước phát triển và đang phát triển, mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo Chính sự vận động các mâu thuẫn này đã quyết định xu hướng phát triển của mối quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh
Trật tự thế giới thời kỳ sau chiến tranh lạnh được các nhà nghiên cứu gọi là một siêu đa
cường Hoa Kỳ là siêu cường mạnh nhất so với các cường quốc khác, với ưu thế vượt trội trên tất cả
các lĩnh vực chủ yếu Cùng với những thắng lợi quân sự nhanh chóng tại Afghanistan và Iraq, Hoa
Kỳ có chủ trương xây dựng một trật tự thế giới đơn cực do mình chi phối Nhưng, để thực hiện ý đồ này Hoa Kỳ lại bị cạnh tranh mạnh mẽ bởi các cường quốc khác như Nhật Bản, Tây Âu, Nga, Trung Quốc đòi thiết lập thế giới đa cực
Nhìn chung, xu thế phát triển của trật tự thế giới mới trong tương lai là tiến tới một hệ thống
đa cực, vì nếu Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất cũng không có khả năng kiểm soát thực tế toàn bộ các lĩnh vực của đời sống quốc tế Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong kỷ nguyên toàn cầu hoá làm cho Hoa Kỳ không thể thiết lập một trật tự đơn cực mà phải dựa vào các cường quốc khác
và các tổ chức quốc tế, trong đó quan trọng nhất là Liên Hợp Quốc, việc tái thiết Iraq sau chiến tranh đã cho thấy thực tế đó Quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước đã tạo ra tình thế buộc các nước phải vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, kiềm chế lẫn nhau nhưng tránh đối đầu, xung đột và chiến tranh
Với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ, vấn đề cấp bách hàng đầu là phải ra sức tận dụng mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài để phát triển kinh tế của mỗi nước Vấn đề an ninh, quốc phòng và kinh tế về cơ bản đã khác so với thời kỳ chiến tranh lạnh Sức mạnh tổng hợp của quốc gia không còn tuỳ thuộc vào sức mạnh quân sự, chính trị mà sức mạnh kinh tế nổi lên hàng đầu và trở thành trọng điểm Do đó, nhân tố kinh tế trở thành quyết định trong sức mạnh tổng hợp của các quốc gia và trở thành động lực chính của xu thế khu vực