1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình tranh giành ảnh hưởng giữa Nga và Mỹ ở các nước thuộc SNS thời kỳ sau chiến tranh lạnh

122 912 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá trình tranh giành ảnh hưởng giữa Nga và Mỹ ở các nước thuộc SNG thời kỳ sau chiến tranh lạnh
Tác giả Đinh Thị Huê
Người hướng dẫn PGS - TS. Nguyễn Cảnh Huệ
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử thế giới
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình tranh giành ảnh hưởng , Nga và Mỹ, các nước thuộc SNS thời kỳ , chiến tranh lạnh

Trang 1

Đinh Thị Huê

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009

Trang 3

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử, Phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học thuộc trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy, đóng góp những ý kiến quý báu trong suốt quá trình tôi hoàn thiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô và bạn

bè đồng nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai cùng gia đình đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học và hoàn thành luận văn này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 10 năm 2009

Đinh Thị Huê

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1:CÁC NƯỚC THUỘC SNG TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NGA VÀ MỸ 9

1.1 Khái quát về các nước thuộc SNG 9

1.1.1 Vị trí địa – chính trị 9

1.1.2 Tiềm năng kinh tế 12

1.2.Các nước thuộc SNG trong chính sách đối ngoại của Nga và Mỹ 14

1.2.1.Các nước thuộc SNG trong chính sách đối ngoại của Nga 14

1.2.2.Các nước thuộc SNG trong chính sách đối ngoại của Mỹ 22

Chương 2: QUÁ TRÌNH TRANH GIÀNH ẢNH HƯỞNG GIỮA NGA VÀ MỸ Ở CÁC NƯỚC THUỘC SNG SAU CHIẾN TRANH LẠNH 28

2.1 Vấn đề dầu mỏ, khí đốt 28

2.2 Cách mạng màu sắc 39

2.3 Vấn đề mở rộng NATO sang phía Đông 53

2.4 Vấn đề Chesnhia 61

2.5 Vấn đề Nam Osettia 68

Chương 3: NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH TRANH GIÀNH ẢNH HƯỞNG GIỮA NGA VÀ MỸ Ở CÁC NƯỚC THUỘC SNG VÀ TRIỂN VỌNG CỦA VẤN ĐỀ 79

3.1 Nhận xét về quá trình tranh giành ảnh hưởng giữa Nga và Mỹ ở các nước thuộc SNG 79

3.2 Triển vọng của vấn đề 86

KẾT LUẬN 95

PHỤ LỤC 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

EPP (Easternt Partnership Program): Chương trình đối tác phương Đông

EU (Europe Union): Liên minh châu Âu

G8 (Group 8): Tổ chức các nước phát triển

IAEA (International Atomic Energy Agency): Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế

NATO (North Atlantic Treaty Organization): Hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây Dương

NGOs (Non – Government Organization): Tổ chức phi chính phủ

OPEC (Organization Petrol Export Country): Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ

OSCE (Organization Security Cooperation Europe): Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu

PACE (Europen Parliament Subcommitee): Uỷ ban Nghị viện châu Âu SCO (Shanghai Convention Organization): Tổ chức Hiệp ước Thượng Hải SNG/CIS (Commonwealth of Independent States): Cộng đồng các quốc gia độc lập

TBCN: Tư bản chủ nghĩa

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ cổ đại đến hiện đại, mối quan hệ giữa các nước lớn luôn là mối quan hệ chi phối cục diện thế giới, ảnh hưởng đến tình hình chính trị quốc tế Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh (1947-1991), trật

tự thế giới hai cực Xô-Mỹ luôn đặt thế giới trong tình trạng chiến tranh Cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, Chiến tranh lạnh kết thúc, tiếp theo đó là sự tan

vỡ của Liên Xô – thành trì của Chủ nghĩa xã hội trên thế giới – đã đưa đến sự thay đổi lớn lao trong cục diện thế giới Trật tự thế giới theo thể chế hai cực Yalta không còn tồn tại nữa, nhường chỗ cho một trật tự thế giới mới đang dần được hình thành Trật tự thế giới trong tương lai được dự đoán sẽ phát triển theo xu hướng đa cực hóa, cùng tồn tại và phát triển, song cũng có những mâu thuẫn hết sức gay gắt, quyết liệt giữa các nước, các khu vực với nhau Mỗi dân tộc đều vì lợi ích của dân tộc mình cạnh tranh gay gắt với nhau

để đạt được một địa vị thích hợp trong cục diện thế giới tương lai Là hai nước lớn trên thế giới, Nga và Mỹ cũng không nằm ngoài xu thế phát triển đó

Mỹ – siêu cường số một thế giới, ngày càng tìm cách mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình tới mọi khu vực trên thế giới nhằm khẳng định hơn nữa vai trò của mình đối với thế giới Trong những khu vực Mỹ hướng tới, vùng lãnh thổ thuộc Cộng đồng các Quốc gia độc lập (SNG) là nơi Mỹ đặt ưu tiên khá lớn nhằm tranh giành ảnh hưởng với Nga

Nước Nga – tuy nằm trong hoàn cảnh bất ổn về kinh tế và chính trị từ sau sự sụp đổ của Liên Xô, song vẫn là một cường quốc về quân sự và có tiềm lực mạnh về kinh tế Với tham vọng khôi phục lại địa vị trên trường quốc

tế của Liên Xô trước đây, Nga cũng tăng cường mở rộng phạm vi ảnh hưởng

ra các khu vực trên thế giới, thiết lập các mối quan hệ rộng rãi, có lợi cho mình trong quan hệ quốc tế

Trang 7

Trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh, quan hệ giữa hai cường quốc Liên

Xô và Mỹ là quan hệ đối đầu căng thẳng với liên tiếp những cuộc chạy đua vũ trang Cũng trong thời kỳ này, vùng ảnh hưởng của mỗi nước được phân chia

rõ ràng và là vùng “bất khả xâm phạm” của đối phương Liên Xô tạo ảnh hưởng mạnh mẽ đối với Đông Âu, các nước XHCN và đặc biệt ở các nước Cộng hòa thuộc Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ngược lại,

Mỹ có ảnh hưởng tại Tây Âu và các nước TBCN khác

Sau khi Liên Xô tan rã, các nước Cộng hòa trong Liên bang Cộng hòa

Xã hội chủ nghĩa Xô viết lần lượt tách ra khỏi Liên Xô và tuyên bố độc lập Mười hai trong số mười lăm nước tập hợp lại trong Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG), trừ ba nước Baltic Mặc dù tuyên bố độc lập nhưng tình hình

ở các nước này luôn bất ổn về chính trị, yếu kém về kinh tế Trong hoàn cảnh nước Nga chưa thoát khỏi khủng hoảng, vùng này trở thành một “khoảng trống quyền lực” Mỹ muốn tạo ảnh hưởng của mình lên khu vực này để kiềm chế Nga, tiến sát biên giới Nga Do đó, Mỹ muốn giữ được địa vị cũ cần có sự điều chỉnh đường lối đối ngoại, tăng cường chính sách ngoại giao với các nước, tăng cường ảnh hưởng của mình đối với các khu vực trên thế giới Nước Nga không từ bỏ tham vọng trở thành một trong những cực quan trọng của cục diện thế giới tương lai, điều này càng được biểu hiện rõ rệt dưới thời Tổng thống V.Putin

Khu vực thuộc lãnh thổ các nước SNG (bao gồm mười hai nước Cộng hòa thuộc Liên Xô cũ) hiện nay đang phải đối mặt với nhiều vấn đề như xung đột sắc tộc, bất ổn về chính trị, sự lạc hậu về kinh tế, đặc biệt là thiếu nguồn vốn để khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên vô cùng giàu có Để giải quyết được những vấn đề trên, bên cạnh nội lực bản thân, các nước này cần dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài Lợi dụng tình hình đó, các nước lớn không ngừng can thiệp để tìm kiếm lợi ích trên tất cả các mặt

Trang 8

Tranh giành ảnh hưởng Nga - Mỹ ở khu vực thuộc lãnh thổ các nước SNG thời kỳ sau Chiến tranh lạnh là một vấn đề mang tính thời sự, có tính thực tiễn cao Đây là một nội dung mới trong lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại, chưa được đề cập nhiều trong các giáo trình, tài liệu chuyên khảo

Tìm hiểu quá trình tranh giành ảnh hưởng Nga – Mỹ ở vùng lãnh thổ thuộc các nước SNG thời kỳ sau Chiến tranh lạnh góp phần bổ sung nguồn kiến thức về quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ quốc tế hiện đại nói riêng, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và công tác giảng dạy

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Quá trình tranh giành ảnh hưởng giữa Nga và Mỹ ở các nước thuộc SNG thời kỳ sau Chiến tranh lạnh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học Trong khuôn khổ có hạn của luận văn

và giới hạn nhận thức chủ quan, chúng tôi chỉ mong muốn bước đầu tìm hiểu một cách có hệ thống cuộc tranh chấp giữa hai nước lớn Nga và Mỹ ở vùng lãnh thổ thuộc các nước SNG thời kỳ từ sau Chiến tranh lạnh đến nay

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

“Quá trình tranh giành ảnh hưởng giữa Nga và Mỹ ở các nước thuộc SNG thời kỳ sau Chiến tranh lạnh” là vấn đề mang tính thời sự, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách trọn vẹn vấn đề này Trong các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành và trong các cuốn sách về chính sách đối ngoại, quan hệ quốc tế của Nga và Mỹ có phân tích về quá trình tranh chấp ảnh hưởng giữa hai nước ở khu vực này Hầu hết những tác phẩm và bài viết chủ yếu tìm hiểu từng mảng thời gian hoặc không gian cụ thể, hay phân tích chính sách của Nga và Mỹ đối với tùng khu vực hoặc trong một khoảng thời gian nhất định

Một nhóm tác giả thuộc Viện nghiên cứu Châu Âu trong cuốn “Cộng đồng các Quốc gia độc lập – quá trình hình thành và phát triển” do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 2007 (Nguyễn Quang Thuấn chủ biên) đã

Trang 9

phân tích bối cảnh ra đời, quá trình phát triển và triển vọng của các nước SNG Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu mang tính toàn diện về sự phát triển của Cộng đồng các Quốc gia độc lập Các tác giả nhấn mạnh vai trò của Nga đối với tổ chức này Ngược lại, các nước SNG cũng là ưu tiên số một trong chính sách đối ngoại của Nga bởi vị trí địa – chính trị và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú ở một số nước thuộc Cộng đồng Trong cuốn sách có đề cập cuộc tranh giành ảnh hưởng Nga – Mỹ ở các nước này tuy chưa tập trung Tuy nhiên, vấn đề này mới được đề cập rải rác trong từng chương, từng mục của cuốn sách

“Bàn cờ lớn” là công trình nổi tiếng của học giả, chính trị gia Zbigniew Brzezinski Cuốn sách tập trung phân tích, đánh giá tình hình thế giới sau khi Liên Xô sụp đổ, về sự phân bố địa bàn chính trị thế giới, đặc biệt là “bàn cờ

Âu – Á”, đồng thời đề cao vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ ở hiện tại và cả trong tương lai Tác giả khẳng định: “Sự sụp đổ của đế quốc Nga đã tạo ra một khoảng trống về quyền lực ngay ở trung tâm lục địa Âu – Á”, “lục địa Âu – Á là một bàn cờ lớn, ở đấy ván cờ đấu tranh giành vị thế đứng đầu toàn cầu vẫn tiếp tục được chơi” Tuy nhiên, là một người có tư tưởng chống cộng khét tiếng, Z.Brzezinski không thể tránh khỏi cái nhìn phiến diện khi nhìn nhận nhiều vấn đề Chính trị gia nổi tiếng này cố tình không nhìn thấy xu thế phát triển của thế giới là đa cực hóa Mọi cuộc tranh chấp ảnh hưởng của các nước lớn ở các khu vực, trong đó có tranh giành ảnh hưởng Nga – Mỹ ở vùng lãnh thổ thuộc các nước SNG đều chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, do đó Mỹ không dễ dàng đạt được mục đích

Tác giả Đỗ Thanh Hải trên tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 7-8/2005 có bài viết “Cạnh tranh ảnh hưởng Nga – Mỹ ở Trung Á và Cápcadơ sau sự kiện 11/9” Bài viết tập trung phân tích những điều chỉnh chính sách của Nga và

Mỹ đối với Trung Á và Cápcadơ sau sự kiện 11/9, trên cơ sở đó đánh giá và

Trang 10

dự báo về quá trình cạnh tranh ảnh hưởng giữa hai nước ở khu vực này Do khuôn khổ hạn hẹp của một bài báo nên các sự kiện trước 11/9 và những khu vực khác thuộc không gian hậu Xô viết (Baltic) chưa được phân tích sâu sắc

Trong các công trình nghiên cứu về mối quan hệ Nga – Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh đến nay phải kể đến công trình “Quan hệ Nga – Mỹ sau Chiến tranh lạnh” của tác giả Hà Mỹ Hương Sau khi khái quát lại quan hệ Xô – Mỹ trong Chiến tranh lạnh và những tiền đề của quan hệ hợp tác Nga – Mỹ sau Chiến tranh lạnh, tác giả phân tích sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của mỗi nước sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc Đường lối đối ngoại của nước Nga dưới thời Tổng thống B.Yeltsin lấy “định hướng Đại Tây Dương” và sau

đó là “định hướng Á – Âu” làm trọng tâm Bước sang thời kỳ V.Putin, lợi ích dân tộc được đặt lên hàng đầu, các nước thuộc Liên Xô cũ là ưu tiên số một trong chính sách đối ngoại Nước Mỹ trong gian đoạn đầu sau Chiến tranh lạnh, Tổng thống B.Clinton thực hiện chính sách “Cam kết và mở rộng” (Engagement and Enlargement) nhằm mở rộng mô hình Mỹ ra toàn thế giới Bước sang giai đoạn G Bush, trước những thay đổi mau lẹ của tình hình thế giới và trong lòng nước Mỹ sau sự kiện 11/9, vị Tổng thống của phái Diều hâu đưa ra chiến lược “đánh đòn phủ đầu”, tấn công vào những nơi mà Mỹ cho là có thể tấn công hoặc đe dọa nước Mỹ

Trên cơ sở phân tích sự điều chỉnh đường lối đối ngoại của hai nước sau Chiến tranh lạnh, tác giả tìm hiểu quan hệ Nga – Mỹ trên các lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế - thương mại, khoa học – công nghệ Trong lĩnh vực chính trị - an ninh, hai nước đã có sự hợp tác để giải quyết nhiều vấn đề quốc tế: vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, vấn đề hòa giải ở Trung Đông… Bên cạnh sự hợp tác kể trên, Nga và Mỹ vẫn có những bất đồng chưa thể giải quyết được, trong số đó có khu vực thuộc các nước Liên Xô cũ

Ở đây, hai nước không thể dung hòa lợi ích của nhau Mỹ lo sợ Nga sẽ nắm

Trang 11

lấy khu vực này làm đối trọng với mình; trong khi Nga coi đây là vùng ảnh hưởng truyền thống của Nga Mặc dù có đề cập đến vấn đề các nước SNG và Baltic trong quan hệ Nga – Mỹ, cuốn sách chưa dẫn ra nhiều sự kiện chứng minh một cách thuyết phục cho sự tranh chấp của Nga và Mỹ ở khu vực này

Dù vậy, công trình này là sự gợi ý cho chúng tôi trong khi tìm hiểu vấn đề và

là một tài liệu tham khảo quan trọng

Năm 2001, sự kiện nước Mỹ bị tấn công làm bàng hoàng nhân dân Mỹ

và thế giới Tổng thống V.Putin là nguyên thủ quốc gia nước ngoài đầu tiên gọi điện chia sẻ với Tổng thống và nhân dân Mỹ Hàng loạt các báo lớn trên thế giới không bỏ lỡ cơ hội, nhanh chóng có những bài viết phân tích mối quan hệ Nga – Mỹ trong hoàn cảnh mới Tác giả Nguyễn Đình Lập đã tổng hợp những bài viết đó trong cuốn “Quan hệ Nga – Mỹ: vừa là đối tác, vừa là đối thủ” Cuốn sách phân tích mối quan hệ Nga – Mỹ trên cơ sở lợi ích và toan tính chiến lược riêng của mỗi quốc gia Trong cuốn sách có dành một phần nói về tranh giành ảnh hưởng Nga – Mỹ ở Trung Á và Cápcadơ Do tập trung vào những biến cố từ sự kiện 11/9 trở về sau nên thập kỷ 90 của thế kỷ

XX chưa được tác giả đề cập tới và các khu vực khác của không gian hậu Xô viết cũng bị bỏ ngõ

3 Giới hạn đề tài

Chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu tất cả mọi cuộc tranh chấp ảnh hưởng Nga – Mỹ ở tất cả các khu vực trên thế giới Tên gọi của đề tài chứa đựng giới hạn của vấn đề chúng tôi cần giải quyết

Về thời gian, đề tài chỉ giới hạn trong những sự kiện xảy ra từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc đến nay Những sự kiện trước thập niên 90 của thế

kỷ XX được xem là dẫn nhập của vấn đề

Về không gian, đề tài giới hạn trong “vùng lãnh thổ thuộc các nước SNG” – những nước thuộc Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết

Trang 12

Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết bao gồm mười lăm nước, trong

số đó, mười hai quốc gia đã tập hợp lại trong Cộng đồng các Quốc gia độc lập (SNG), còn lại ba nước Baltic (Latvia, Litva, Estonia) Nga cũng là một thành phần trong SNG Tuy nhiên, trong luận văn chúng tôi coi Nga là một chủ thể của cuộc tranh giành ảnh hưởng, do đó SNG chỉ giới hạn trong mười một nước còn lại

4 Phương pháp nghiên cứu

Về mặt phương pháp luận, trong suốt quá trình nghiên cứu, chúng tôi đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để phân tích, nhìn nhận và đánh giá vấn đề

Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp được chúng tôi sử dụng chủ yếu trong suốt quá trình thực hiện luận văn Phương pháp lịch sử được sử dụng nhằm tái hiện lại bức tranh sinh động của quá trình tranh giành ảnh hưởng giữa Nga và Mỹ ở khu vực thuộc các nước Liên Xô cũ sau Chiến tranh lạnh Tranh chấp giữa hai nước diễn ra trên các lĩnh vực kinh

tế, an ninh – chính trị, quân sự

Trên cở sở bức tranh sinh động ấy, chúng tôi sử dụng phương pháp logic để rút ra bản chất của vấn đề Thực chất của tranh chấp Nga – Mỹ ở khu vực này là tranh giành bá quyền ở “khoảng trống quyền lực”, là muốn tìm kiếm lợi ích của mỗi nước, quyền lợi của mười một nước còn lại hầu như không được tôn trọng

Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế nhằm làm rõ những nhân tố quốc tế chi phối đến quá trình tranh giành ảnh hưởng của Nga và Mỹ trên địa bàn SNG

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần dựng lại quá trình tranh giành ảnh hưởng giữa Nga

và Mỹ ở vùng lãnh thổ thuộc các nước SNG thời kỳ sau Chiến tranh lạnh

Trang 13

Trên cơ sở đó, chúng tôi rút ra một số nhận xét về quá trình này và những vấn

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm

Chương III: Nhận xét về quá trình tranh giành ảnh hưởng giữa Nga và

Mỹ ở các nước thuộc SNG và triển vọng của vấn đề

Trang 14

Chương 1 CÁC NƯỚC THUỘC SNG TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI

NGOẠI CỦA NGA VÀ MỸ 1.1 Khái quát về các nước thuộc SNG

1.1.1 Vị trí địa – chính trị

Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG/CIS) là sản phẩm trực tiếp từ sự sụp đổ của Liên Xô Đây là tổ chức hợp tác của 12 trong số 15 nước Cộng hoà thuộc Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết

Cộng đồng các quốc gia độc lập ra đời trong bối cảnh quốc tế hết sức đặc biệt, đó là sự sụp đổ của các nước XHCN ở Liên Xô, Đông Âu Vào những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, nhân loại chứng kiến một sự kiện “làm rung chuyển thế giới” - sự sụp đổ của hệ thống XHCN Vào thời gian này, do sự khủng hoảng kinh tế, chính trị sâu sắc, Liên

Xô tiến hành công cuộc cải tổ nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng nhưng trên thực tế tình hình không được giải quyết, ngược lại khủng hoảng còn trầm trọng hơn Năm 1991, những mâu thuẫn kinh tế và chính trị lên đến đỉnh cao và cuối cùng chế độ Xô viết hoàn toàn sụp đổ sau cuộc đảo chính ngày 19 – 8 – 1991

Ngày 8 – 12 – 1991, Tổng thống ba nước Nga, Ucraina, Belarus ra tuyên bố chung, trong đó nêu rõ Liên bang Xô viết không còn tồn tại nữa và quyết định thành lập một hình thức liên minh mới gọi là Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) Hiệp ước đã xác nhận: “Liên bang Xô viết như một chủ thể pháp lý và địa chính trị quốc tế đã hoàn toàn kết thúc sự tồn tại của mình” [10, tr12] Tám nước còn lại tuyên bố tham gia SNG Ngày 21 – 12 – 1991, tại thủ đô Alma Ata (Kazakhstan), 11 nước Cộng hoà ký kết Hiệp định về giải tán Liên bang Xô viết, chính thức thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập

Toàn bộ lãnh thổ của các quốc gia thuộc SNG nằm gọn trong diện tích Liên bang Xô viết trước kia Về vị trí địa lý, hầu hết các nước này đều nằm ở

Trang 15

phía Tây và có đường biên giới chung với nước Nga, tạo thành một hành lang bảo vệ biên giới phía Tây cho nước Nga Diện tích của 11 nước trong SNG (không bao gồm Nga) khoảng 5.025.500 km2 với dân số khoảng 300 triệu người Các nước SNG có vị trí ở phía đông châu Âu và phía Tây Nam châu

Á Có thể chia các nước SNG thành các tiểu khu vực: Trung Á (bao gồm các nước Uzbekistan, Cazakhstan, Kyrgyzstan, Turmenistan, Tagikistan), ngoại Kavkaz (gồm Grudia, Azecbaizan, Armenia) và các nước phía Tây (Ucraina, Belarus, Moldova) Địa hình của khu vực thuộc các nước SNG nhìn chung rất

đa dạng, nhưng kiểu địa hình chủ yếu là đồi núi

Do vị trí tiếp giáp với cả hai châu lục nên đây là khu vực gây được sự chú ý của các nước lớn

SNG là con đường thông ra phía Tây của nước Nga để sang châu Âu Các nước SNG còn là hành lang bảo vệ an ninh cho Nga khi NATO đang bành trướng về phía Đông Từ các nước SNG, Nga có thể kiểm soát được con đường tiến xuống Nam Á, xuống vùng Ấn Độ Dương, ngăn chặn các thế lực tôn giáo cực đoan tiến vào nước Nga Do từ thời Liên Xô, đặc biệt là dưới thời Stalin đã thực hiện chiến lược di dân, đưa người Nga đến các khu vực này định cư, do đó hiện nay ở các nước này vẫn còn rất nhiều người gốc Nga sinh sống nên chính quyền Nga cần bảo vệ quyền lợi của người Nga SNG là khu vực ảnh hưởng truyền thống của Nga, do đó bảo vệ ảnh hưởng ở khu vực cũng chính là bảo vệ uy tín, chủ quyền và thể diện nước Nga trên trường quốc

tế Tổng thống Nga V.Putin từng tuyên bố ưu tiên số một trong chính sách đối ngoại của Nga là bảo vệ người Nga và quyền lợi nước Nga

Trong số các nước SNG, Ucraina là nước lớn thứ hai sau Nga về địa vị chiến lược và tiềm năng kinh tế, có tầm quan trọng bậc nhất đối với Nga Vào giữa thế kỷ XVII, Ucraina tự nguyện gia nhập vào nước Nga Sa hoàng, nhờ

đó thế lực của nước Nga lớn mạnh lên đáng kể Sự kiện Ucraina tuyên bố tách

Trang 16

khỏi Liên bang Xô viết là một đòn giáng nặng nề đối với Liên Xô và là sự kiện góp phần quan trọng vào sự sụp đổ của thể chế XHCN Hiện nay, trên lãnh thổ Ucraina còn lại rất nhiều vũ khí hạt nhân từ thời Liên Xô Phần lớn chúng đều đã hết hạn bảo quản và Ucraina không có kinh phí để duy trì Nếu những kho vũ khí này rơi vào tay bọn khủng bố thì an ninh của thế giới nói chung, của Ucraina và các nước SNG bị đe dọa nghiêm trọng Bên cạnh đó,

về mặt chính trị, Ucraina không muốn duy trì tổ chức SNG trong khi Nga thì ngược lại Ucraina coi SNG là công cụ để Nga áp đặt ảnh hưởng đối với các nước Cộng hòa thuộc Liên Xô trước đây

Với những ý nghĩa trên, SNG là khu vực “bất khả xâm phạm” của Nga Đối với Mỹ, mục tiêu lâu dài và xuyên suốt của các nhiệm kỳ Tổng thống Mỹ kể từ sau Chiến tranh thế giới đến nay là thiết lập trật tự thế giới do

Mỹ lãnh đạo, kiềm chế sự nổi lên của các cường quốc khác đe dọa vị thế của

Mỹ Xét về địa – chiến lược, châu Âu án ngữ vị trí trọng yếu trên thế giới Nằm cạnh dòng hải lưu Bắc Đại Tây Dương, châu Âu có lợi thế trong việc sử dụng và kiểm soát các tuyến giao thông huyết mạch trên Đại Tây Dương để sang Bắc và Nam Mỹ Sau đó, qua kênh đào Sue, các nước châu Âu có thể đến được vùng vịnh Persique, Nam Á và Đông Nam Á trên những tuyến đường biển ngắn nhất Đồng thời, từ châu Âu cũng có thể đến vùng Kavkaz, Trung Á, Viễn Đông bằng đường bộ Do mối quan hệ chặt chẽ giữa châu Âu với Mỹ nên mọi biến cố quan trọng ở châu Âu trên tất cả các lĩnh vực luôn có ảnh hưởng nhất định đối với Hoa Kỳ Đối với nước Nga, các chính quyền kế tiếp nhau của Mỹ nhận thấy đây là một “thế lực” có nhiều khả năng đe dọa thế lực của Mỹ trong tương lai Để kiềm chế Nga, một trong những biện pháp

có tính khả quan là thu hẹp ảnh hưởng của nước này ở những khu vực truyền thống, SNG là một khu vực như vậy Nếu SNG có ý nghĩa sống còn với Nga thì với Mỹ, khu vực này cũng có tầm quan trọng đáng phải quan tâm

Trang 17

Z.Brzezinski – nguyên trợ lý an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ đã gọi khu vực “hậu Xô viết” này là “Balkan Âu – Á”, là bàn cờ lớn trong ván cờ địa – chính trị của Mỹ ở đại lục địa Á – Âu Nếu kiểm soát được khu vực này, Mỹ không những sẽ có điều kiện để khống chế hai lục địa Á – Âu, kiềm chế Nga

ở phía tây và phía bắc, mà còn kiểm soát được Ấn Độ ở phía nam, kiểm soát được Trung Quốc ở phía đông và kiểm soát được châu Âu ở phía tây Bên cạnh đó, nếu tiếp cận được khu vực này, Mỹ coi như đã đặt chân được vào

“sân sau” của Nga, từ đó có những can thiệp vào Nga khi cần thiết

1.1.2 Tiềm năng kinh tế

SNG là một trong những khu vực giàu tài nguyên vào loại bậc nhất của thế giới Không chỉ có tài nguyên trên mặt đất, trong lòng đất của các nước thuộc khu vực này cũng rất phong phú tài nguyên Có thể kể đến một số loại tài nguyên như than đá, vàng, đồng, kẽm, nhôm…, trong đó dầu mỏ, khí đốt

là nguồn tài nguyên chiếm vị trí số một Tuy nhiên, do những bất ổn về chính trị và sự yếu kém về kinh tế nên những loại tài nguyên này chưa được khai thác đúng tiềm năng Các nước lớn rất muốn tham gia vào quá trình thăm dò, khai thác các nguồn tài nguyên của khu vực này

Không chỉ giàu có về tài nguyên, các nước SNG còn là thị trường nhiều tiềm năng Hầu hết các nước này đều mới tuyên bố giành độc lập, đang trong thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, vì vậy họ rất cần những nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài để một mặt tạo đà cho phát triển kinh tế, mặt khác ngày càng bớt phụ thuộc vào Nga hơn Hiện nay, trong nội bộ các nước SNG đang diễn ra quá trình tái liên kết kinh tế giữa các nước thành viên nhằm khôi phục những quan hệ kinh tế và thương mại, củng cố quan hệ hữu nghị anh em giữa các nước thành viên Tuy nhiên, quá trình này diễn ra không dễ dàng như mong đợi của các nước SNG Có thể kể đến một số nguyên nhân của nó như chưa có cơ cấu liên kết mang tính chính trị hiệu quả, chất lượng của các sản

Trang 18

phẩm xuất khẩu rất thấp dẫn đến khả năng cạnh tranh kém do công nghiệp lạc hậu và thiết bị máy móc cũ kỹ… Vì vậy, bên cạnh sự giúp đỡ lẫn nhau của các nước trong khu vực, SNG rất cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài, đặc biệt là từ các nền kinh tế mạnh Đây là một cơ hội lớn cho Mỹ đặt chân vào khu vực SNG trong lĩnh vực kinh tế

Đối với Nga, mậu dịch giữa Nga và SNG luôn chiếm tỉ trọng cao trong cán cân ngoại thương giữa hai bên Trong kim ngạch ngoại thương của Nga, các nước SNG chiếm 23% Nga chiếm tới 70% xuất nhập khẩu của SNG Trong năm 1998, tổng giá trị trao đổi thương mại của các nước SNG xuất khẩu vào Nga là 51,7% còn nhập khẩu từ Nga là 38,8% Mặt khác, đối với một số nước SNG, thị trường Liên bang Nga không chỉ hấp dẫn mà đôi khi là duy nhất cho việc xuất nhập khẩu các sản phảm công nông nghiệp, nguyên liệu thô và vật liệu Số liệu ngoại thương của các nước cho thấy, tỉ trọng của Nga đối với xuất khẩu của Belarus năm 1998 là 64,9%, còn đối với tổng xuất khẩu của các nước SNG là 89,2%, những chỉ số này của Moldova tương ứng

là 53,3% và 78,5%, Kazakhstan là 28,9% và 73,5%, với Ucraina là 23,1% và 69,2% (13, tr34)

Một tài nguyên mà thiên nhiên ban tặng cho khu vực này là “vàng đen” Khu vực Trung Á được đánh giá có trữ lượng dầu khí lớn hơn cả Cowet, vùng vịnh Mehico và Biển Bắc Nước Nga cũng là nước có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt lớn vào loại bậc nhất trên thế giới Tuy nhiên, để khí đốt Nga đến được với thị trường thế giới, các hệ thống đường ống dẫn dầu của Nga đều phải đi qua các nước SNG để tới cảng Novorosik trên biển Đen trước khi xuất khẩu trên thị trường châu Âu và thế giới là con đường ngắn nhất

Mỹ hiện nay chiếm 1/4 nhu cầu tiêu thụ dầu thô trên thế giới, do đó Mỹ không thể bỏ qua khu vực giàu tài nguyên dầu mỏ này Nền kinh tế Mỹ phát triển nhanh nhưng phụ thuộc quá nhiều vào nguồn năng lượng từ bên ngoài

Trang 19

Trong tương lai gần, khi các nguồn năng lượng thay thế dầu mỏ chưa được đưa vào sử dụng rộng rãi, chưa đóng vai trò chủ đạo đối với nền kinh tế Mỹ thì khu vực SNG vẫn còn là một trong những mục tiêu chủ đạo mà chính sách đối ngoại của Mỹ không thể không chú ý tới

1.2 Các nước thuộc SNG trong chính sách đối ngoại của Nga và Mỹ 1.2.1 Các nước thuộc SNG trong chính sách đối ngoại của Nga

Liên bang Xô viết tan rã, nước Nga được quốc tế công nhận kế tục vai trò của Liên Xô trên trường quốc tế, được thừa hưởng một thực lực quân sự to lớn Tuy nhiên điều này cũng không giúp Nga thoát khỏi khủng hoảng toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội… Trong khi đó, nước Nga phải “thừa kế” một khoản nợ lớn do Liên Xô trước đây để lại (khoảng 103 tỉ USD) Nền kinh

tế trong nước suy sụp, nợ nước ngoài thúc ép, Nga không còn cách nào khác

là trông chờ vào sự giúp đỡ to lớn về kinh tế ở bên ngoài với hi vọng đưa đất nước thoát khỏi tình trạng trên Mỹ và các nước phương Tây được Nga coi là chỗ dựa của mình trong việc đưa nền kinh tế Nga thoát khỏi khủng hoảng Do

đó, trên lĩnh vực tư tưởng, nước Nga tuyên bố hoàn toàn đoạn tuyệt với Liên

Xô, lựa chọn bạn đồng minh trên cơ sở cùng có lợi Giới lãnh đạo Nga cho rằng các nước dân chủ phương Tây có nền kinh tế thị trường là những “đồng minh” của Nga Một đường lối đối ngoại do Bộ trưởng Ngoại giao Nga lúc đó

là Kozyrev vạch ra và được Tổng thống Yeltsin chấp nhận “tự nguyện ngả theo phương Tây” Mục tiêu hàng đầu của đường lối đối ngoại mới là Nga phải được tham gia khu vực thịnh vượng chung Tây Âu, chuyển từ nền chính trị XHCN sang nền chính trị dân chủ theo kiểu Tây Âu và khôi phục lại nền kinh tế Hai mục tiêu trên chi phối toàn bộ chính sách đối ngoại của Nga trong những năm 1991 – 1993 Trong chính sách đối ngoại mới, nước Nga tự coi mình là một thành viên của Tây Âu và mong muốn hoàn toàn đứng vào thế giới của các nước phương Tây Do đó những chính sách của Nga hoàn toàn lệ

Trang 20

thuộc vào Mỹ với hi vọng điều này sẽ giúp Nga gia nhập vào xã hội phương Tây và các cơ cấu kinh tế thế giới

Nga đặt toàn bộ hi vọng vào liên minh chiến lược với Mỹ (sau này được thay đổi bằng sự hợp tác chiến lược) Nga tự nguyện phụ thuộc vào Mỹ

và các nước phương Tây để đổi lấy sự trợ giúp kinh tế, đầu tư và hiện đại hóa công nghệ cho Nga Chính sách đối ngoại của Nga ở thời kỳ này nêu ra rằng, Nga cần phải đi theo con đường Đức, Nhật – tạm thời phụ thuộc vào Mỹ và các nước phương Tây để khôi phục lại nền kinh tế, tạm thời từ bỏ chính sách đối ngoại độc lập để hòa nhập với Mỹ và thế giới phương Tây Do vậy, Nga cho rằng việc Nga gia nhập NATO và khối thị trường chung châu Âu là hoàn toàn phù hợp Ngày 20 – 12 – 1992, Tổng thống Nga B.Yeltsin đã đưa ra vấn

đề Nga muốn gia nhập NATO như là một “mục tiêu chính trị lâu dài” Nhằm thúc đẩy Nga có thể nhanh chóng hòa nhập vào thế giới Tư bản chủ nghĩa, Bộ trưởng bộ Ngoại giao Nga kêu gọi cần phải thay đổi thái độ với thế giới này, cần phải công nhận Mỹ đóng một vai trò tích cực trong thế giới hiện tại và việc duy trì sự có mặt quân sự của Mỹ ở các nước thuộc thế giới thứ ba có thể

là một nhân tố cân bằng

Để nhận được sự giúp đỡ về kinh tế của Mỹ và phương Tây, Nga đã phải đơn phương thực hiện nhiều đòi hỏi, yêu cầu của các nước này, trong đó

có nhiều yêu cầu không phù hợp với tình hình nước Nga Nga phải chấp nhận

từ bỏ quyền lợi của mình ở các nước thuộc Liên Xô cũ, Đông Âu Trong khi

đó, Nga không đòi hỏi một sự cam kết nào từ Mỹ và phương Tây Điều này

có nghĩa là Nga chấp nhận một sự nhượng bộ vô điều kiện chỉ để đổi lấy sự ủng hộ của những nước này Đối với các nước thuộc Liên Xô cũ, Nga thực hiện chính sách “thoát li”, nghĩa là không can dự trước mọi vấn đề xảy ra ở các nước này, thả nổi quyền lợi chính trị ở đây cho Mỹ và các nước Tây Âu Điều này đúng với mong muốn của Mỹ đang tìm cách lôi kéo các nước này

Trang 21

hội nhập với thế giới phương Tây để cô lập và uy hiếp Nga, ngăn chặn sự thành lập liên minh giữa Nga và các nước này

Liên Xô tan rã, Nga xuất hiện với tư cách một quốc gia độc lập song sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự đã yếu đi nhiều so với Liên Xô trước đây

Vì thế Nga buộc phải từ bỏ hoặc tham gia rất hạn chế vào nền chính trị thế giới Mặt khác, thời kỳ này do các nhà lãnh đạo Nga quá chú trọng vào quan

hệ với phương Tây nên chưa có những chính sách tích cực với những khu vực khác trên thế giới như châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh, đặc biệt là lãnh thổ thuộc các nước SNG

Sự thay đổi định hướng tư tưởng – chính trị của Nga được Mỹ và các nước phương Tây ủng hộ Tuy nhiên những quan điểm trên đây hoàn toàn không phù hợp với Nga – một dân tộc luôn tự hào mình là cường quốc cho dù tạm thời suy yếu Trước hết, việc các nhà lãnh đạo hướng nước Nga đi theo con đường Đức – Nhật là hoàn toàn không phù hợp bởi sự thua trận của Đức, Nhật trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và sự thua trận của Nga trong chiến tranh Lạnh không giống nhau Nga hoàn toàn không bị tước đi chính sách đối ngoại của riêng mình, mà chính Nga tự nguyện từ bỏ quyền ngoại giao độc lập để phụ thuộc vào Mỹ và phương Tây để hi vọng nhận được một

sự trợ giúp to lớn về kinh tế

Mặt khác, để sớm cải thiện quan hệ với Mỹ và đồng minh của Mỹ, Nga phải tiến hành cải cách nóng vội, thiếu các tiền đề vất chất cũng như tư tưởng cần thiết Điều này ngày càng đẩy Nga vào cuộc khủng hoảng trầm trọng hơn như nạn thất nghiệp, lạm phát tăng nhanh, cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa các phe phái chính trị…khiến cho người dân Nga bất bình Một làn sóng phản đối chính sách thân phương Tây dấy lên Hoa Kỳ sau một thời gian chờ đợi sự ổn định và phục hồi của nền kinh tế Nga cũng dần dần mất hi vọng bởi

sự khủng hoảng ngày càng tăng trong lĩnh vực kinh tế, xã hội Các yếu tố đó

Trang 22

đã khiến cho sự “thân mật” ban đầu giữa Mỹ với Nga giảm dần Bên cạnh đó, đường lối đối ngoại của giới lãnh đạo Nga cũng không tạo được sự đồng tình trong nước Nhà nước Nga đang dần được phục hồi, giới chính trị Nga muốn nhìn thấy Nga là một cường quốc, được tôn trọng trong các vấn đề quốc tế chứ không phải là một nước Nga chỉ biết gật đầu theo Mỹ và phương Tây

Bắt đầu từ năm 1994, chính sách đối ngoại của Nga không chỉ tập trung vào phương Tây và có những biện pháp tích cực nhằm khôi phục lại ảnh hưởng của Liên Xô trước đây, đặc biệt ở các nước SNG Nga tăng cường quan hệ với các nước này để khôi phục lại ảnh hưởng của mình ở đó Đồng thời, quan hệ này giúp Nga khắc phục được sự lệ thuộc quá lớn vào phương Tây, giúp Nga đảm bảo an ninh quốc gia và vị trí trên trường quốc tế Chính sách này được thể hiện trong tuyên bố của Tổng thống Nga: “đã đến lúc sửa đổi sự thái quá trong quan hệ với phương Tây, cần nghĩ về đối tác chiến lược trong tương lai” (64, tr 15) Lúc này, sự thống nhất của Nhà nước Liên bang Nga được giữ vững nên Nga nhận thấy lợi ích của các nước thuộc Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (SNG) không thể tách rời khỏi lợi ích của Nga Việc

Mỹ tranh thủ sự xa rời của Nga đối với các nước này trong thời kỳ đầu để tìm cách lôi kéo họ đi theo Mỹ hòng cô lập Nga đã uy hiếp nghiêm trọng đến an ninh quốc gia của Nga Do vậy, Nga nhận thấy cần phải xác lập lại vị trí của mình trong phạm vi những biên giới mới, thiết lập quan hệ với các nước trước đây hầu như là bộ phận cấu thành và xác định những lợi ích quốc gia mới của mình Trong đường lối đối ngoại, Nga đã thay đổi thái độ thoát li khỏi các nước SNG trong thời kỳ đầu sau khi Liên Xô tan rã bằng tuyên bố: “Nga có trách nhiệm đặc biệt đối với khu vực thuộc Liên Xô trước đây và có lợi ích đặc biệt ở Đông Âu Lực lượng vũ trang của Nga có thể lập căn cứ quân sự ở khu vực thuộc Liên Xô cũ, chịu trách nhiệm bảo vệ an ninh toàn khu vực”(84, tr3) Như vậy, sau một thời kỳ tạm rút lui, Nga đã bắt đầu lên tiếng khẳng

Trang 23

định vị trí của mình Tháng 2 – 1995, Tổng thống B.Yeltsin đã nêu lên một cách toàn diện các mục tiêu chiến lược đối ngoại của Nga và chỉ rõ mục tiêu hàng đầu là tăng cường nhất thể hóa về kinh tế, chính trị, quân sự với các nước SNG; còn với Mỹ và các nước phương Tây chỉ còn là quan hệ bạn bè bình đẳng Tổng thống Yeltsin cũng yêu cầu Mỹ công nhận vị trí đặc biệt của Nga trong khu vực Liên Xô trước đây, phản đối Mỹ đơn phương can thiệp vào việc duy trì hòa bình trên phần lãnh thổ Liên Xô cũ

Từ chính sách thân và tuyệt đối nghe theo phương Tây, chính sách đối ngoại của Nga chuyển sang mục tiêu “đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu”, đặc biệt từ khi E.Primacov lên làm Ngoại trưởng, đường lối đối ngoại của Nga ngày càng cứng rắn hơn Primacov đã nói về một số nhiệm vụ ưu tiên trong chính sách đối ngoại của nước Nga (3, tr 46): thứ nhất, tạo những điều kiện đối ngoại tốt nhất, thuận lợi nhất cho việc củng cố toàn vẹn lãnh thổ Nga; thứ hai, củng cố các xu thế hướng tâm, liên kết trên lãnh thổ Liên Xô cũ, loại trừ khả năng để bất cứ thế lực bên ngoài nào chia rẽ Nga và các nước SNG vì mục đích trên; thứ ba, phát triển các mối quan hệ có hiệu quả giữa các quốc gia, ngăn chặn sự hình thành các lò lửa căng thẳng mới Primacov gọi đó là chính sách “ngoại giao đa phương”, “ngoại giao tích cực”

Chính sách đối ngoại của Nga tiếp tục được thể hiện trong “Học thuyết

an ninh quốc gia của Liên bang Nga” tháng 12 – 1997 Học thuyết nêu rõ, để bảo vệ quyền lợi dân tộc trên trường quốc tế, Nga sẽ tiến hành đường lối đối ngoại tích cực, củng cố vị trí cường quốc của mình, tăng cường liên kết với các nước SNG…

Trong chính sách đối ngoại của Nga, các nước SNG luôn ở vị trí ưu tiên hàng đầu Đối với Nga, quan trọng trước hết là những gì đang diễn ra trong SNG sát biên giới Nga Một trong những nguyên nhân chính mà Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Liên bang Nga A.Kozyrev bị cách chức là do

Trang 24

ông ta không chú ý đúng mức đến việc giữ gìn và củng cố quan hệ với các nước láng giềng của Nga, trước hết là SNG Khi E.Primacov lên làm Bộ trưởng Ngoại giao (1995), công việc đó được đẩy lên nhưng sự chuyển biến

về chất không đáng kể Có nhiều lý do, song một trong những lý do quan trọng là Tổng thống B.Yeltsin ít thực hiện các chuyến viếng thăm lẫn nhau giữa nguyên thủ quốc gia Nga và các nước lân cận để bàn bạc, tìm cách giải quyết kịp thời những vấn đề lớn trong quan hệ song phương giữa Nga với từng quốc gia SNG cũng như quan hệ đa phương trong khuôn khổ SNG

Sau khi lên làm Tổng thống, V.Putin đã xác định lại đường lối đối ngoại của Nga Đó là đường lối đối ngoại thực dụng, đặt quyền lợi nước Nga

và dân tộc Nga lên vị trí hàng đầu, mọi chính sách đối ngoại đều phục vụ cho mục tiêu này Phương hướng địa – chính trị trong chính sách đối ngoại của Nga là không gian SNG Quan hệ với các nước SNG vẫn là hướng ưu tiên chính của Nga bởi đây là khu vực “cận ngoại biên” có tầm quan trọng chiến lược đối với Nga Nga quan tâm tới mục tiêu quanh đường biên giới của mình

là các quốc gia hữu nghị, ổn định, dân chủ và phồn thịnh Nga cho rằng các nước SNG tự mình quyết định tiến trình chuyển đổi mô hình phát triển dân chủ thị trường Dựa trên những kinh nghiệm tích lũy được, Nga quan niệm tăng cường hợp tác kinh tế - thương mại với các nước SNG là điều kiện tiên quyết cho ổn định và phát triển trong khu vực, và vai trò của Nga là không thể thay thế được Mục tiêu mà Nga đặt ra là xây dựng một hệ thống kinh tế đảm bảo cho sự phát triển hiệu quả của các nước thành viên, Nga hướng tới không gian tự do hóa kinh tế cũng như đầu tư trong khu vực

Sau khi lên cầm quyền, khác với người tiền nhiệm, V.Putin đã thực hiện hàng loạt chuyến viếng thăm: Thăm Belarus ngày 14 – 4 – 2000, chỉ ba tuần sau khi trúng cử Tổng thống (26 – 3 – 2000); trong vòng một năm đã thăm Ucraina hai lần; thăm một loạt nước như Uzbekistan, Turmenistan,

Trang 25

Azerbaijan; gặp gỡ các nguyên thủ quốc gia SNG nhiều lần tại các hội nghị trong khuôn khổ tổ chức SNG

Lên làm chủ điện Kremli với một thuận lợi tuyệt vời là có sự hậu thuẫn toàn diện của người tiền nhiệm Putin, Tổng thống D Medvedev chắc chắn sẽ tiếp tục đưa nước Nga đi theo con đường mà ông Putin đã kiên trì thực hiện trong suốt hai nhiệm kỳ Ngày 31 – 8 – 2008, Tổng thống Medvedev đã vạch

ra 5 nguyên tắc mà chính sách ngoại giao tương lai của Moskva sẽ lấy đó làm căn cứ và cho biết nếu cần thiết, nó có thể mở đầu cho các biện pháp trừng phạt của Nga đối với các nước khác Thứ nhất, tôn trọng những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế Thứ hai, thế giới phải đa cực Nước Nga không công nhận một thế giới mà ở đó, tất cả các quyết định được ban hành bởi một phía, thậm chí đó là một quốc gia hùng mạnh như Mỹ Điều đó cũng giống như một thế giới đầy bất ổn và luôn bị đe dọa bởi xung đột Thứ ba, Nga không muốn đối đầu với bất kỳ nước nào và không có ý định để mình bị cô lập Thứ tư, Nga sẽ bảo vệ tính mạng của công dân nước mình, cho dù họ ở bất cứ nơi đâu Thứ năm, Nga cũng như những nước khác trên thế giới đều có những khu vực được ưu tiên và Nga sẽ phát triển quan hệ ở những khu vực thân thiện

Trong số các nước SNG, quan hệ Nga – Belarus được xem là mối quan

hệ mẫu mực do sự gắn kết về kịch sử, truyền thống gắn kết về dân tộc, tôn giáo Trước hết, mối quan hệ này được thể hiện trong việc xây dựng một nhà nước Liên minh với đồng Rup Nga dự kiến đưa vào sử dụng vào cuối năm

2006, nhưng trên thực tế chưa thực hiện được Hiện nay Nga là bạn hàng lớn nhất của Belarus, đồng thời Belarus cũng là bạn hàng lớn nhất của Nga trong

số các nước SNG Thương mại có một vị trí quan trọng trong quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia Tuy nhiên, vấn đề không phải chỉ ở lĩnh vực thương mại,

mà là sự liên kết chặt chẽ thông qua việc thành lập nhiều xí nghiệp liên doanh

Trang 26

giữa Nga và Belarus, loại bỏ những hạn chế về thuế quan, thông qua những biện pháp nhằm thống nhất các quy định điều tiết Ngày 3 – 2 – 2009, Nga và Belarus đã ký kết hiệp định hợp tác bảo vệ biên giới đường không và thành lập hệ thống phòng không chung giữa hai nước Hệ thống phòng không chung gồm năm đơn vị không quân, 10 đơn vị tên lửa đất đối không, năm đơn vị kỹ thuật vô tuyến và một đơn vị chống nhiễu

Như vậy, nếu xét về tình trạng kinh tế thì các nước SNG khó có gì để

hỗ trợ cho Nga; ngược lại đa số họ còn khó khăn nhiều hơn, nhất là trong lĩnh vực năng lượng, khí đốt (Belarus, Ucraina, Moldova hầu như nhập hoàn toàn năng lượng từ Nga) Tuy vậy, Nga rất cần đến các nước này và đặt họ vào ưu tiên số một bởi nhiều lý do về lịch sử, văn hóa gắn bó trước đây cũng như ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống giống nhau do 70 năm sống chung dưới thời Xô viết, và quan trọng nhất là ý nghĩa về vị trí địa – chiến lược của những nước này đối với Nga Nó biểu hiện ở chỗ mọi diễn biến lớn của những nước láng giềng này đều tác động tức thời đến tình hình nước Nga Nếu để cho những nước này (đặc biệt là Ucraina) rơi vào vòng ảnh hưởng của Mỹ thì

vị trí và an ninh của Nga ở khu vực chắc chắn sẽ bị tổn thương

Tóm lại, nếu xem xét tất cả các mặt, nhất là từ góc độ lợi ích an ninh của Nga thì việc Nga tuyên bố rằng các nước SNG thuộc hàng ưu tiên số một trong chính sách đối ngoại của mình là hoàn toàn chính xác, bởi nếu Nga củng cố tốt mối quan hệ với những nước này thì họ chính là vành đai an ninh

và khu đệm an toàn giữa Nga và Mỹ Tuy nhiên, dù Liên bang Nga coi hợp tác với các nước SNG là ưu tiên số một trong chính sách đối ngoại của mình, nhưng trên thực tế Nga chưa làm được như vậy Trong khi đó, các nước SNG khác lại luôn lo sợ Nga muốn gây áp lực chính trị, quân sự nhằm giữ lấy vai trò lãnh đạo trong SNG, vì vậy họ muốn tìm kiếm các đối tác khác ngoài khu vực để tránh sự phụ thuộc vào Nga Những mâu thuẫn giữa các nước trong

Trang 27

SNG, đặc biệt là giữa Nga – Grudia, Nga – Belarus, Nga – Ucraina cho thấy triển vọng phát triển Nga – các nước SNG còn lại còn hết sức phức tạp và nhiều khó khăn

1.2.2 Các nước thuộc SNG trong chính sách đối ngoại của Mỹ

Mục tiêu lâu dài và xuyên suốt của các đời Tổng thống Mỹ kế tiếp nhau

kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay là thiết lập trật tự do Mỹ lãnh đạo, kiềm chế sự nổi lên của các cường quốc khác đe dọa vị thế và lợi ích của

Mỹ

Vị Tổng thống đầu tiên của Mỹ đắc cử sau khi Liên Xô tan rã là B.Clinton Việc xây dựng một đường lối đối ngoại mới phù hợp hơn là điều cấp thiết Ngay khi bước vào Nhà Trắng, trong diễn văn nhậm chức ngày 20 –

1 – 1993, Tổng thống mới đã phác họa những nét lớn trong chính sách ngoại giao mới của Hoa Kỳ Ông nêu rõ: “Rõ ràng nước Mỹ phải tiếp tục lãnh đạo thế giới, đây là công việc mà trong quá khứ chúng ta đã nỗ lực rất nhiều mới làm được” Nói đến cơ hội và thách thức mới, B.Clinton nhấn mạnh: “để đổi mới được nước Mỹ, chúng ta phải đương đầu với những thách thức ở ngoài cũng như ở trong nước Không còn phân chia đâu là thách thức từ bên ngoài

và đâu là từ bên trong” (32, tr 177-178) Trong nhiệm kỳ đầu làm chủ Nhà Trắng, B.Clinton đã công bố “Chiến lược an ninh quốc gia cam kết và mở rộng” (Chiến lược hai chữ E: Engagement and Enlargament) Yêu cầu bao trùm của nó là mở rộng và tăng cường cộng đồng các nền dân chủ theo kinh

tế thị trường của thế giới Điều này có nghĩa Hoa Kỳ tìm cách củng cố và mở rộng quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản trên thế giới, từ đó thiết lập một trật tự quốc tế tư bản chủ nghĩa do Mỹ chỉ huy “Chiến lược an ninh quốc gia cam kết và mở rộng” (hay còn gọi là Học thuyết Clinton) vừa kế thừa những chính sách đối ngoại của những người tiền nhiệm, vừa có những điều chỉnh cho phù hợp với thực tế Mỹ và tình hình thế giới “hậu Xô viết” (4, tr 135)

Trang 28

Sau khi trở thành vị Tổng thống thứ 43 trong lịch sử Hoa Kỳ, G.Bush ngay lập tức thể hiện sự cứng rắn, hiếu chiến vốn là thuộc tính cố hữu của Đảng Cộng hòa Cũng với mục tiêu đối ngoại xuyên suốt, không thay đổi là củng cố vị thế siêu cường thế giới duy nhất và vai trò lãnh đạo thế giới theo trật tự đơn cực, chính quyền của Tổng thống Bush còn bộc lộ rõ hơn xu hướng đơn phương, cường quyền strong chính sách đối ngoại so với thời Clinton Người ta từng hi vọng rằng sự kiện 11 – 9 với hậu quả khủng khiếp

về nhiều mặt của nó có thể làm cho giới “diều hâu” trong chính quyền Mỹ vốn tự tin vào sức mạnh vô song của Mỹ bớt hung hãn, khi cả nước Mỹ bất ngờ hứng chịu một đòn tấn công vừa gây nhiều thiệt hại vừa mang tính cảnh báo đó Nhưng vẫn như trước đây, dựa vào ưu thế vượt trội của siêu cường thế giới, chính quyền Bush bắt thế giới phải tuân theo quy tắc hành xử, chuẩn mực giá trị Mỹ Ngân sách quốc phòng Mỹ trong những năm gần đây liên tục tăng cao, bằng khoảng 50% chi phí quốc phòng của cả thế giới cộng lại và trong những năm tới có thể lên đến 500 tỉ USD Đây là một con số cao kỷ lục

và chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ, gây lo ngại cho nhiều nước Và trên thực tế, bằng cách đó, Mỹ đã phát động một cuộc chạy đua vũ trang cực kỳ nguy hiểm

Kể từ sau sự kiện 11 – 9, Mỹ đã chuyển hướng chính sách ngoại giao sang “ngoại giao thời chiến”, theo đó Mỹ chú trọng lợi ích hợp tác trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu Phương châm ngoại giao của Mỹ là lấy chống khủng bố làm tiền đề, trong đó Mỹ sẽ căn cứ vào mục tiêu chống khủng bố cụ thể để tìm đồng minh có giá trị Với chính sách “ngoại giao thời chiến”, G.Bush đã thay đổi phương châm “tránh thương vong” của B.Clinton trước đây Tư duy ngoại giao của Mỹ hiện nay xuất phát từ giả thuyết: Tấn công là biện pháp tốt để phòng ngự Với thực lực quân sự mạnh nhất thế giới hiện nay, Mỹ từ chối bất kỳ một hiệp định quốc tế nào hạn chế hoạt động của Mỹ

Trang 29

Washington cho rằng cộng đồng quốc tế không nên gây khó khăn cho chính sách ngoại giao của Mỹ

Hiện nay, Mỹ cho rằng mối đe dọa toàn cầu mà Mỹ đang phải đối mặt

là chủ nghĩa khủng bố và các thế lực Hồi giáo cực đoan Thách thức đặt ra trước nước Mỹ là tiến công chủ nghĩa cực đoan, đồng thời tránh xung đột giữa các nền văn minh (71, tr 18) Học thuyết này chủ trương “đánh trước để phòng ngừa trong những trường hợp cần thiết phải tự vệ” Mỹ không ngần ngại tấn công trước dù ra quân một mình Quân đội Mỹ lúc nào cũng phải hùng mạnh để ứng phó với những nước nào có thể “đe dọa” Hoa Kỳ

Đối với Nga, ngay từ khi nước này mới ra đời, Clinton đã tuyên bố

“Mỹ sẽ tìm cách hợp tác với Nga để làm cho thế giới an toàn hơn, ủng hộ nền dân chủ và kinh tế thị trường” Vị Tổng thống này cho rằng Mỹ có ba lợi ích trong việc hợp tác với Nga: Một là làm cho thế giới an toàn hơn, tiếp tục giảm nguy cơ chiến tranh hạt nhân và không phổ biến vũ khí hạt nhân; hai là ủng

hộ sự phát triển dân chủ và tự do cho nhân dân Nga; ba là ủng hộ một nền kinh tế tự do (83, tr 35) Trong thời kỳ đầu sau khi Liên Xô tan rã, Nga được đặt lên tầm quan trọng hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Mỹ không chỉ

vì những lợi ích trên Nga từ “kẻ thù trực tiếp” trở thành “kẻ thù tiềm ẩn” của

Mỹ Do đó Mỹ thực hiện chính sách vừa giúp đỡ vừa kiềm chế Nga Tuy thực lực giảm sút song Nga vẫn là một cường quốc hạt nhân, là mối đe dọa lớn đối với an ninh Mỹ Vì vậy Mỹ một mặt ra sức giúp đỡ Nga về kinh tế và vận động các nước phương Tây, các đồng minh của mình giúp đỡ để Nga có thể cải cách kinh tế, đưa đất nước đi theo con đường dân chủ, kinh tế thị trường

tự do và chính trị đa đảng Mỹ làm như vậy nhằm ràng buộc Nga phải lệ thuộc vào Mỹ Mặt khác, Mỹ lại tìm cách cô lập, ngăn sự phục hồi của Nga bằng viện trợ, đầu tư “nhỏ giọt” và đi kèm những điều kiện bất lợi cho Nga Đồng thời Mỹ tìm cách mở rộng khối liên minh quân sự NATO sang phía

Trang 30

Đông để Nga rơi vào thế bị cô lập, bao vây lôi kéo các nước SNG nhằm thu hẹp ảnh hưởng của Nga đối với các nước này để dần tiến tới gạt bỏ ảnh hưởng của Nga

Mục tiêu của Mỹ ở khu vực SNG là “ngăn cản không cho nước nào kiểm soát không gian địa – chính trị này, đảm bảo tiếp cận tự do với khu vực

về mặt tài chính và kinh tế” (14, tr 3) Sau khi Liên Xô tan rã, Ngoại trưởng

Mỹ J.Baker đã đến thăm vùng này và Chính phủ Mỹ nhanh chóng công nhận nền độc lập của các nước trong khu vực Ngoại trưởng J.Baker đưa ra bốn tiêu chuẩn tiếp nhận các nước SNG vào cộng đồng các quốc gia dân chủ:

- Thừa nhận các giá trị dân chủ

- Đảm bảo nhân quyền và quyền của các dân tộc ít người

- Tôn trọng đường biên giới và các nguyên tắc thay đổi hòa bình

- Thực hiện các nghĩa vụ quốc tế (58, tr 9)

Tuy nhiên, trong suốt thập niên 90 của thế kỷ trước, chính quyền Mỹ hầu như chưa có một chiến lược tổng thể đối với khu vực Điều này xuất phát

từ hai nguyên nhân: thứ nhất, suốt thập kỷ 1990, Mỹ có nhiều ưu tiên khác cấp thiết hơn như Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên (1994), khủng hoảng eo biển Đài Loan (1995), chiến dịch Con Cáo sa mạc ở Iraq (1996), chiến tranh Kosovo (1998); thứ hai, Mỹ chưa có cớ để trực tiếp can thiệp vào khu vực Do đó, hoạt động triển khai đối ngoại của Mỹ liên quan đến khu vực chỉ là hệ quả của chính sách đối với Nga hoặc là phản ứng tình thế để đối phó với những chuyển biến của tình hình khu vực Quan hệ giữa Mỹ và các nước này chủ yếu tập trung vào việc hỗ trợ các nước xây dựng nền kinh tế độc lập nhằm giảm bớt sự lệ thuộc vào Nga, dỡ bỏ các kho vũ khí hạt nhân và ngăn chặn việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở khu vực (14, tr 7)

Sau sự kiện 11 – 9, Mỹ có cả điều kiện cần và đủ để gia tăng ảnh hưởng

Trang 31

ở khu vực Điều kiện cần là sự kiện 11 – 9 cung cấp cho Mỹ một lý do để can thiệp vào Afganistan, nơi được coi là lãnh địa của chủ nghĩa khủng bố Để hỗ trợ cho các hoạt động quân sự và nhân đạo ở Afganistan, Mỹ đã đóng quân ở Uzbekistan và Kyrgystan, sử dụng một số sân bay quân sự và cơ sở hạ tầng ở khu vực Điều kiện đủ là: thứ nhất, mười năm sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Mỹ vẫn duy trì được sức mạnh vượt trội so với các cường quốc khác; thứ hai, các nước trong khu vực muốn thắt chặt quan hệ với Mỹ để phát triển kinh tế, hạn chế ảnh hưởng của Nga Bước sang thế kỷ XXI, Mỹ không ngừng tìm cách “thẩm thấu” vào các quốc gia SNG bằng cách đẩy mạnh hợp tác, liên kết trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế, quân sự, tăng cường ảnh hưởng về tự do dân chủ của Mỹ Các nước thuộc Liên Xô cũ mất ổn định

sẽ làm cho Mỹ lo lắng bởi nó sẽ ảnh hưởng tới an ninh của toàn bộ lục địa Á – Âu Mục tiêu của Mỹ là phải xây dựng khu vực này ngày càng “dân chủ, ổn định và không bị chia cắt” Mỹ tiến hành trợ giúp, khuyến khích các nước Đông Âu cùng các nước SNG gia nhập NATO nhằm củng cố thêm sức mạnh quân sự, đồng thời cô lập và uy hiếp Nga Với mục tiêu “biến kẻ thù thành đồng minh”, Mỹ chủ trương hòa nhập các nước Cộng hòa thuộc Liên Xô cũ bằng cách cổ vũ các nước này hoàn toàn đoạn tuyệt với quá khứ, ra sức biến các nước này thành những quốc gia dân chủ, ổn định và có nền kinh tế thị trường Mỹ luôn nhấn mạnh phải đề phòng khả năng khôi phục đế quốc Nga Bất cứ lúc nào Mỹ cũng không chấp nhận những quyền lợi và ảnh hưởng của Nga đối với các nước láng giềng Mỹ cổ vũ cho xu hướng đa nguyên, xu hướng li tâm của các nước SNG đối với Nga; giúp đỡ các lực lượng thân phương Tây lật đổ chính quyền một cách bất hợp pháp thông qua các cuộc

“cách mạng màu sắc” như Nam Tư (2000), Grudia (2003), Ucraina (2004)

Tuy nhiên, ở đây Mỹ cũng thực hiện chính sách hai mặt: Một mặt, Mỹ khuyến khích, tìm cách giúp đỡ các cuộc cải cách chính trị thành công, xây

Trang 32

dựng một xã hội dân chủ Mặt khác, Mỹ thực hiện chính sách kìm hãm để không cho bất kỳ một nước Cộng hòa nào trở nên quá mạnh có thể đe dọa tới

vị trí siêu cường của Mỹ

Sau sự kiện 11 – 9 – 2001, Mỹ lấy cớ chống khủng bố đã không ngừng tăng cường sức mạnh quân sự tại khu vực này, đặc biệt là các nước Cộng hòa

ở Trung Á Tính đến đầu năm 2002, Mỹ đã xây dựng 13 căn cứ quân sự tại 9 nước xung quanh Afganistan làm tăng nhanh đáng kể sức mạnh quân sự của

Mỹ ở khu vực

Như vậy, việc Mỹ đặt chân được vào khu vực Trung Á và thành công của một số cuộc cách mạng màu sắc ở các nước SNG đã làm thay đổi cục diện chiến lược do Nga làm chủ trước đây, đồng thời thu hẹp không gian chiến lược và ảnh hưởng quốc tế của Nga tại khu vực này

Tiểu kết:

Cộng đồng các Quốc gia độc lập (SNG) ra đời là một yếu tố đặc biệt cả

về mặt lịch sử cũng như địa lý Trong giai đoạn hiện nay, nhất là sau khi Grudia tuyên bố rút khỏi SNG (8 – 2008), sự phát triển của khối này đã có những thay đổi đáng kể Tuy nhiên, dù tiếp tục tồn tại hay giải tán thì những yếu tố địa – chính trị và địa – kinh tế của khu vực này vẫn có sức hút rất lớn đối với các cường quốc trên thế giới

Nga và Mỹ là những cường quốc trên thế giới trong quá khứ cũng như hiện tại Để có được một cực trong xu thế đa cực của thế giới hiện nay, một trong những biện pháp của mỗi nước là giữ ưu thế của mình tại các khu vực ảnh hưởng truyền thống và không ngừng gia tăng ảnh hưởng tại các “sân sau” của đối phương Các nước SNG trước đây là khu vực ảnh hưởng truyền thống của Nga Tuy nhiên, nếu Nga không có những chính sách cụ thể thì rất có thể các nước này sẽ rơi vào vòng ảnh hưởng không chỉ của Mỹ, mà còn nhiều nước khác như Trung Quốc, các nước trong Liên minh châu Âu

Trang 33

Chương 2 QUÁ TRÌNH TRANH GIÀNH ẢNH HƯỞNG GIỮA NGA

VÀ MỸ Ở CÁC NƯỚC THUỘC SNG SAU CHIẾN TRANH LẠNH 2.1 Vấn đề dầu mỏ, khí đốt

Kể từ sau cuộc khủng hoảng năng lượng 1973 đến nay, loài người ngày càng nhận thấy tầm quan trọng của nguồn tài nguyên “vàng đen” đối với kinh

tế thế giới nói chung và đối với những nền kinh tế lớn nói riêng Hiện nay, trong hoàn cảnh nền sản xuất thế giới ngày càng phát triển, một số nguồn nguyên liệu đang dần cạn kiệt thì dầu mỏ vẫn là một nguồn năng lượng sống còn đối với các quốc gia trên thế giới Việc quan tâm tiếp cận và bảo vệ các nguồn cung cấp dầu mỏ, khí đốt luôn được ưu tiên hàng đầu trong chiến lược

an ninh của các quốc gia Khí đốt được đánh giá là năng lượng hóa thạch trong tương lai bởi lợi ích của nó không thể coi thường Về giá cả, khí đốt cho phép tiết kiệm rất lớn Một nhà máy điện chạy bằng khí sản sinh ra 1kw chỉ với giá 457 euro, trong khi nhà máy chạy bằng sức gió sẽ tiêu hao 1067 euro, còn với nhà máy năng lượng nguyên tử giá sẽ từ 1067 đến 1524 euro Theo IAEA, vào năm 2030 điện sản xuất bằng vàng xanh trên thế giới sẽ chiếm 35% tổng sản lượng điện, so với hiện nay là 15% Tất cả những tập đoàn điện lớn châu Âu như EDF và Suez của Pháp, E.ON-Ruhrgas và RWE của Đức, Enel của Ý và Endesa của Tây Ban Nha đều đầu tư mạnh vào các nhà máy điện chạy bằng khí Lợi điểm của loại nhà máy này là xây dựng nhanh và ít tốn kém hơn các loại nhà máy điện khác Xây nhà máy điện chạy bằng khí còn có ưu điểm lớn nhất là không bị dư luận phản đối dữ dội như xây nhà máy điện chạy bằng năng lượng hạt nhân

Trong lòng đất của nhiều nước thuộc SNG có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt rất lớn Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, trữ lượng của một số nước như sau: Azerbaijan có trữ lượng dầu khí vào khoảng 6 đến 10 tỉ tấn; Kazakhstan: trữ lượng dầu đã được phát hiện là 2,9 tỉ tấn, dự đoán con số này

Trang 34

có thể lên đến 6-12 tỉ tấn, trữ lượng khí đã được phát hiện là 3000 tỉ m3; Turmenistan đứng thứ tư thế giới về khai thác khí đốt (sau Mỹ, Canada và Nga) và đứng thứ hai về xuất khẩu khí đốt với trữ lượng khí đốt từ 3 đến

21000 tỉ m3, trữ lượng dầu lửa gần 6 tỉ tấn – bằng 20% tiềm năng của các nước A rập, gấp hai lần trữ lượng dầu khí của biển Bắc và gấp 5 lần trữ lượng dầu khí của vịnh Mehico Azerbaijan giữ vị trí địa – chính trị quan trọng, đó

là chiếc nút chai khổng lồ vùng lưu vực biển Caspien và Trung Á Hệ thống dẫn dầu và khí đốt Bacu qua Daghestan, Chesnhia tới cảng Novorosik của Nga trên biển Đen để đến châu Âu và thị trường thế giới Đây là huyết mạch quan trọng, giảm tối đa chi phí vận tải dầu khí và thuận tiện nhất mà các nước đều mong muốn làm chủ Daghestan với hơn 70% đường bờ biển của Nga với Caspien và với cảng biển Makhachkala – một cảng biển lý tưởng trong mọi thời tiết sẽ là con đường độc đạo vận chuyển tài nguyên thiên nhiên, dầu khí

từ các nước SNG ra thế giới (29, tr 18)

Sự tan rã của Liên Xô vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX đã dẫn tới việc thành lập của một số nhà nước cộng hòa độc lập ở các nước Cộng hòa thuộc Liên Xô cũ, một khu vực giàu năng lượng mà các nước phương Tây chưa thể tiếp cận Việc mở cửa thị trường cho những công ty năng lượng thế giới ở những nước giàu tài nguyên trong khu vực như Azerbaijan và Kazakhstan là

ưu tiên hàng đầu của chính quyền Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton Mỹ cũng nhận thấy rằng việc đưa các nước này vào quỹ đạo của phương Tây sẽ đem lại hai lợi ích chiến lược, gồm: đa dạng hoá các nguồn cung cấp năng lượng và hạn chế tầm ảnh hưởng của Nga ở đây Bộ Ngoại giao Mỹ đã coi khu vực này là một “Kuwait mới” Do đó Mỹ đã phớt lờ phản đối của Nga, tiếp tục theo đuổi chính sách ngoại giao tài nguyên ở những nước giàu tài nguyên vàng đen tại SNG và bắt đầu đi tìm các tuyến đường dẫn dầu mới nối khu vực này và các nước phương Tây không đi qua Nga Mục tiêu của chính

Trang 35

sách này nhằm đảm bảo Nga không phải là con đường duy nhất để các nước vùng Caspien xuất khẩu dầu khí ra thế giới bên ngoài

Nga là một trong số ít nước có trữ lượng tài nguyên phong phú nhất thế giới Dân số nước này chỉ chiếm 2,5% tổng dân số thế giới, nhưng Nga lại chiếm khoảng 45% trữ lượng khí đốt, 23% dầu mỏ, 14% urani, nghĩa là chiếm 30% trữ lượng năng lượng thiên nhiên của thế giới, tổng số năng lượng đã khai thác và gia công giai đoạn đầu khoảng 10% (73, tr 26) Đặc biệt trong vài năm gần đây, sau khi giá các loại năng lượng chủ yếu như dầu mỏ và khí đốt tăng lên vùn vụt, Nga – siêu cường về năng lượng có nguồn lực dồi dào đã kiếm được không ít lợi nhuận cả về kinh tế lẫn chính trị Năm 2004, Nga sản xuất được 459 triệu tấn dầu, xuất khẩu 230 triệu tấn; khai thác hơn 632 tỉ m3khí đốt, xuất khẩu hơn 180 tỉ m3 Năm 2005, sản lượng dầu mỏ đạt 470 triệu tấn, tăng 2,2%; khí đốt 636 tỉ m3, tăng 0,2 % so với năm 2004, xuất khẩu 225 triệu tấn dầu mỏ và 145 tỉ m3 khí đốt Khả năng sản xuất năng lượng cực lớn không chỉ giúp Nga có mức tăng trưởng tương đối cao khoảng 6,5% trong 5 năm trở lại đây, còn làm cho tình hình tài chính của nước này được cải thiện

rõ rệt, dự trữ ngoại tệ từ khoảng 50 tỉ USD năm 2000 tăng lên 180 tỉ USD năm 2005

Đối với Nga, sản xuất và xuất khẩu năng lượng có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển và nâng cao địa vị quốc tế của nước này Giá trị sản lượng công nghiệp năng lượng chiếm khoảng 40% tổng giá trị sản lượng công nghiệp của cả nước, thu nhập từ phần thu thuế năng lượng chiếm khoảng 55% thu ngân sách, thu nhập từ xuất khẩu năng lượng chiếm gần một nửa tổng giá trị xuất khẩu, toàn bộ ngành công nghiệp năng lượng đang chiếm gần 3% trong tỉ lệ tăng trưởng kinh tế Vì vậy, chính phủ Nga vô cùng coi trọng ngành này và tìm mọi cách để nâng cao sản lượng Căn cứ theo “Chiến lược phát triển năng lượng trước năm 2020” của Chính phủ Nga, năm 2020

Trang 36

sản lượng dầu mỏ của Nga sẽ từ 323 triệu tấn năm 2000 tăng lên 360 triệu tấn, khí đốt từ 584 tỉ m3 tăng lên 700 tỉ m3 Cùng với giá năng lượng trên thế giới liên tục tăng lên, được sự ủng hộ mạnh mẽ của chính phủ, ngành sản xuất năng lượng của Nga đã thực sự tăng tốc, đặc biệt là sản lượng dầu mỏ năm

2003 đã đạt tới mục tiêu năm 2020, năm 2004 sản lượng dầu mỏ đã vượt trên

400 triệu tấn, hiện tại Nga đang thẳng tiến tới mục tiêu 500 triệu tấn/năm Đối với Nga, sự mở rộng ảnh hưởng địa chính trị của Mỹ và các nước phương Tây

ở phía Nam trong khu vực từ các nước Baltic tới Đông Âu và ở phía Đông qua khu vực Trung Á chính là sự bao vây mang tính chiến lược đối với quốc gia này Cuộc chiến ngắn ngủi giữa Gruzia và Nga trong tháng 8/2008 không phải là một âm mưu của Nga nhằm chiếm Gruzia Song cuộc xung đột này cho thấy sự bất ổn trong tương lai đối với hành lang vận chuyển năng lượng của khu vực mà cả Nga và Mỹ đều giành ảnh hưởng

Song song với tăng sản lượng khai thác và xuất khẩu, Chính phủ Nga cũng cố gắng để chiếm được thị phần lớn trên thị trường năng lượng quốc tế, đồng thời việc xây dựng một cơ cấu nhu cầu hợp lý hơn, ổn định hơn và an toàn hơn đối với năng lượng, làm cho Nga trở thành một trong những “nhà lãnh đạo” chính trên thị trường năng lượng thế giới Hiện nay, sản lượng dầu

mỏ hàng năm của Nga chiếm 10%, khí đốt chiếm 30% tổng sản lượng thế giới Theo dự đoán của Chính phủ Nga, tới năm 2015, sản lượng dầu mỏ hàng năm của Nga sẽ tăng lên 530 triệu tấn, xuất khẩu 330 triệu tấn; khí đốt sẽ đạt 800-900 tỉ m3/năm, xuất khẩu từ 200 – 250 tỉ m3 Sản lượng dầu mỏ và khí đốt của Nga khi đó sẽ lần lượt chiếm 15% và 35% tổng sản lượng của thế giới

Đối với Liên Xô trước đây cũng như Liên bang Nga ngày nay, dầu mỏ

và khí đốt luôn là vấn đề sống còn Có tới 40% thu nhập ngoại tệ của Nga là

từ dầu mỏ, do đó Nga vẫn phải tiếp tục phát triển vấn đề năng lượng Nga

Trang 37

không chỉ quan tâm đến phát triển công nghiệp khai thác, chế biến dầu khí trên lãnh thổ của mình mà còn muốn vươn ra các nước SNG để có thể cạnh tranh được với Mỹ Công ty Gazprom – một công ty chuyên khai thác, vận chuyển, cung cấp khí đốt cho thế giới được Nhà nước Nga “bảo vệ” và sử dụng như một công cụ hữu ích để “trả đũa” những quốc gia phải phụ thuộc vào nguồn năng lượng này của Nga Nhiều quốc gia, trong đó có các nước EU luôn là nạn nhân mỗi khi Nga dùng đến “vũ khí” này

Việc giành giật và bảo vệ các nguồn cung cấp dầu mỏ cũng là chiến lược hàng đầu của Mỹ bởi Mỹ là nước tiêu thụ dầu mỏ lớn nhất thế giới Mỹ hiện chiếm 1/4 nhu cầu tiêu thụ dầu thô trên thế giới Mỗi khi sản lượng dự trữ dầu thô của Mỹ giảm xuống thì giá dầu trên thế giới lại có cơ hội tăng lên Những cuộc chiến tranh trong những năm gần đây do Mỹ phát động hay ủng

hộ như cuộc chiến tại Iraq, Afganistan, Trung Đông bên cạnh mục đích tiêu diệt chủ nghĩa khủng bố, còn một mục tiêu khác mà Mỹ không thừa nhận – vấn đề năng lượng Có thể dễ dàng nhận ra đây là những khu vực có trữ lượng dầu mỏ lớn Nếu có thể đặt chân được tại những khu vực này, Mỹ sẽ có được nguồn cung cấp dầu mỏ ổn định, từ đó có thể bình ổn nền sản xuất trong nước, chi phối đến kinh tế thế giới nhiều hơn Bên cạnh những khu vực trên,

Mỹ còn có tham vọng can thiệp vào lĩnh vực năng lượng của Nga ở SNG, bởi điều này sẽ giúp Mỹ tránh phải phụ thuộc quá nhiều vào các nước Trung Đông về năng lượng, gây tác động xấu đến kinh tế Mỹ Cho đến trước sự kiện

11 – 9, Mỹ theo đuổi cả hai mục đích mâu thuẫn nhau tại đây: khuyến khích Nga bảo vệ tốt hơn nữa các công ty của Mỹ đang đầu tư vào lĩnh vực năng lượng; mặt khác lại giúp đỡ các nước vùng biển Caspien phát triển xuất khẩu năng lượng mà không sử dụng đường ống dẫn dầu và dẫn khí của Nga

Năm 2005, Mỹ đã hoàn thành xây dựng đường ống dẫn dầu Bacu – Ceyhan, thúc đẩy dự án hai tuyến đường ống khác từ Kazakhstan và

Trang 38

Turmenistan nối vào đường ống này; một tuyến đường ống khác từ Turmenistan đi xuống phía Nam Các tuyến đường ống này đều có một điểm chung là không đi qua lãnh thổ của Nga, do đó Mỹ có thể mua dầu khí của các nước này mà Nga vẫn phải “ngậm bồ hòn làm ngọt” Đây sẽ là đối thủ cạnh tranh với mạng lưới lưu thông dầu khí của Nga ở khu vực Rõ ràng, Moskva đang đứng trước nguy cơ mất đi sự kiểm soát nguồn nguyên liệu ở khu vực khi tính độc quyền của mạng lưới đường ống dẫn dầu bị phá vỡ bởi các kế hoạch của Washington

Tuy nhiên, trước những hành động mang tính can thiệp rõ ràng của Mỹ, chính quyền Nga đã có những hành động đáp trả Nga đã có những bước đi nhằm vô hiệu hóa các kế hoạch khai thác và vận chuyển dầu khí của Mỹ Năm 2003, Nga ký một loạt Hiệp định với Kazakhstan nhằm đảm bảo tính độc quyền chuyển dầu từ nước này ra thế giới bên ngoài trong một thời gian dài Như vậy, dự án đường ống của Mỹ nối Kazakhstan với đường ống Bacu – Ceyhan đã bị thất bại Ngày 25 – 1 – 2006 tại Saint Petersburs, Uzbekistan

đã chính thức gia nhập Cộng đồng kinh tế Á – Âu do Nga, Belarus, Kazakhstan và Kyrgystan thành lập năm 2005 Sự tham gia của nước này càng thúc đẩy nhanh hơn việc thành lập một Cartel xuất khẩu khí đốt trong đó Nga là nước dẫn đầu Cũng vào thời điểm Uzbekistan gia nhập Cộng đồng kinh tế Á – Âu, Công ty Gazprom của Nga ký hai hiệp định trị giá khoảng 1,5

tỉ USD về việc cùng phát triển các khu vực khí đốt của Uzbekistan Trước đó, công ty dầu mỏ Lukoil của Nga cũng đã ký một thỏa thuận về chiết khấu dầu

Trang 39

ra cơ sở vững chắc cho Moskva thành lập một “Tổ chức OPEC về dầu mỏ” nhằm tạo ra một kênh chủ chốt về xuất khẩu khí đốt từ các nước trong khu vực sang châu Âu, mặt khác vô hiệu hóa các dự án xây dựng đường ống của

Mỹ Không những thế, với thỏa thuận này, trên thực tế, Gazprom đã mua hầu như toàn bộ khí đốt tự nhiên của đất nước sa mạc này để xuất khẩu Các nhà lãnh đạo Nga, Turmenistan và Kazakhstan đã đồng ý xây dựng một đường ống dẫn khí đốt mới dọc theo ven biển Caspien Thỏa thuận này được 3 nhà lãnh đạo của các nước thuộc Liên Xô cũ loan báo ngày 12 – 5 - 2007 tại hội nghị thượng đỉnh ở Turmenbashi Lâu nay, giới hữu trách Moskva đã ra sức vận động để chống lại một đề nghị của Mỹ nhằm xây đường ống dẫn khí đốt xuyên qua biển Caspien mà không đi ngang lãnh thổ Nga Nga, Turmenistan,

và Kazakhstan cũng đưa ra một thông cáo chung khẳng định kế hoạch hợp tác với Uzbekistan để xây lại các đường ống thời Liên Xô nhằm gia tăng lượng xuất khẩu khí đốt từ khu vực Trung Á Phía Mỹ đã bình luận về thỏa thuận 3 nước Nga, Kazakhstan và Turkmenistan xây dựng đường ống dẫn dầu qua biển Caspian là “dường như dập tắt hy vọng của Mỹ, châu Âu muốn giành quyền tiếp cận trực tiếp nguồn khí đốt của Turkmenistan, đồng thời cũng phản ánh chiều hướng giành giật quyền lực ngày càng quyết liệt giữa Nga với

Mỹ và phương Tây tại khu vực được coi là sân sau của Nga”

Nga còn có ý định thành lập một liên minh năng lượng hạt nhân với các đối tác thuộc Liên Xô trước đây Cũng trong Hội nghị Saint Petersburg của Cộng đồng kinh tế Á – Âu, Tổng thống Putin đã đề xuất mở rộng sự hợp tác

về năng lượng giữa các nước thành viên sang lĩnh vực hạt nhân với việc xem xét hoạt động xây dựng lại các khu liên hợp năng lượng hạt nhân của Liên Xô

cũ Kế hoạch của Tổng thống Putin đề nghị cùng khai thác tiềm năng công nghệ của Nga và Ucraina cùng với trữ lượng quặng urani to lớn của Kazakhstan và Uzbekistan để thành lập một trung tâm toàn cầu tại Nga về

Trang 40

dịch vụ quay vòng nhiên liệu hạt nhân cho các nước khác, kể cả làm giàu và tái chế năng lượng hạt nhân đã cạn kiệt trong khuôn khổ kiểm soát của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA)

Trong những năm gần đây, Nga còn sử dụng dầu khí để gia tăng ảnh hưởng của mình và “trừng phạt” những nước trong khu vực có ý muốn ngả về phía phương Tây Các nhà chính trị cho rằng Nga “chơi trò dầu khí để giải quyết các vấn đề địa – chính trị” (71, tr 8) Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, một trong những người chạy đua vào Nhà Trắng trong năm 2008, ông McCain đã nói:

"Với người Nga, dầu mỏ và khí đốt đồng nghĩa với quyền lực và phương thức

mở rộng ảnh hưởng” Ucaraina là một trường hợp điển hình

Hiện nay Nga chiếm giữ 23% trữ lượng dầu mỏ - đứng thứ ba thế giới,

là nhà cung cấp dầu mỏ lớn thứ hai thế giới sau Arap Xeut, nắm 1/3 trữ lượng khí đốt được xác minh trên thế giới với khoảng 150 triệu tỉ m3 Nếu trữ lượng dầu khí được xác minh trên thế giới có thể tiêu thụ trong 40 năm thì khí đốt cho khả năng tiêu thụ 60 năm nữa Hiện nay, Nga đã sản xuất 11% dầu thô và 45% khí đốt của toàn thế giới Năm 2002: Sản xuất 10,4% sản lượng dầu của thế giới, 10% sản lượng năng lượng của thế giới, xuất khẩu khoảng 5 triệu thùng/ngày, là nền kinh tế có khả năng tự cung ứng cao nhất OPEC với 290% dầu mỏ và 170% năng lượng Năm 2004: Sản lượng khai thác dầu đạt 9,2 triệu thùng/ngày

Trong số các nước SNG, nếu một số nước có nguồn tài nguyên dầu khí

và khí đốt khổng lồ thì một số nước khác lại phụ thuộc hoàn toàn vào Nga về loại năng lượng này như Ucraina, Grudia, Belarus Trong những năm trước

2006, Ucraina mua khí đốt của Nga với giá ưu đãi 50 USD/1000m3, trong khi

ở châu Âu giá phải trả là 160 USD Bên cạnh đó, nước này còn được trích 15% lượng khí đốt nhập từ Nga để xuất sang châu Âu Từ ngày 1 – 1 – 2006, công ty Gazprom của Nga đã nâng giá khí đốt đối với Ucraina lên 220 – 230

Ngày đăng: 31/03/2013, 10:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Z.Brzezinski (1999), Bàn cờ lớn, Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn cờ lớn
Tác giả: Z.Brzezinski
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
3. Hồ Châu (1999), “Chiến lược toàn cầu hướng tới thế kỷ XXI của Mỹ”, Châu Mỹ ngày nay, (2), tr.32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược toàn cầu hướng tới thế kỷ XXI của Mỹ”, "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: Hồ Châu
Năm: 1999
4. Hồ Châu (2002), “Tam giác Mỹ – Nga – Trung đầu thế kỷ XXI”, Châu Mỹ ngày nay, (2), tr.48-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tam giác Mỹ – Nga – Trung đầu thế kỷ XXI”, "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: Hồ Châu
Năm: 2002
5. Hồ Châu (2001), “Chiến lược đối ngoại của Nga dưới thời Tổng thống Putin”, Nghiên cứu châu Âu, (23), tr.17-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược đối ngoại của Nga dưới thời Tổng thống Putin”, "Nghiên cứu châu Âu
Tác giả: Hồ Châu
Năm: 2001
6. Hồ Châu (1996), “Con đường sang phía Đông của NATO”, Nghiên cứu châu Âu,(12), tr.9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường sang phía Đông của NATO”, "Nghiên cứu châu Âu
Tác giả: Hồ Châu
Năm: 1996
7. Hồ Châu (2005), “Chiến lược Á-Âu của Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh-nhìn từ góc độ địa-chính trị”, Nghiên cứu châu Âu, (1), tr.19-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược Á-Âu của Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh-nhìn từ góc độ địa-chính trị”, "Nghiên cứu châu Âu
Tác giả: Hồ Châu
Năm: 2005
8. Trần Mai Chi (1998), “Mỹ và cuộc chiến dầu lửa ở Kaspien”, Châu Mỹ ngày nay, (4), tr.55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ và cuộc chiến dầu lửa ở Kaspien”, "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: Trần Mai Chi
Năm: 1998
9. “Chiến lược vũ khí hạt nhân mới trong chính sách ngoại giao đơn phương của Hoa Kỳ” (2002), Châu Mỹ ngày nay, (4), tr.65-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược vũ khí hạt nhân mới trong chính sách ngoại giao đơn phương của Hoa Kỳ” (2002), "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: “Chiến lược vũ khí hạt nhân mới trong chính sách ngoại giao đơn phương của Hoa Kỳ”
Năm: 2002
10. Lý Thực Cốc (1996), Mỹ thay đổi lớn chiến lược toàn cầu, Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thay đổi lớn chiến lược toàn cầu
Tác giả: Lý Thực Cốc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
11. David G Victor và Nadejda M,Victor (2003), “Trục dầu mỏ?”, Châu Mỹ ngày nay, (5), tr.44-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trục dầu mỏ?”, "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: David G Victor và Nadejda M,Victor
Năm: 2003
12. Liễu Xuân Đài (2006), “Triển vọng kinh tế và ngân sách Mỹ trong thời gian 2006-2016”, Châu Mỹ ngày nay, (7), tr.14-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng kinh tế và ngân sách Mỹ trong thời gian 2006-2016”, "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: Liễu Xuân Đài
Năm: 2006
13. Nguyễn An Hà (2001), “Quá trình tái liên kết kinh tế của các nước SNG- triển vọng của một khu vực thương mại tự do”, Nghiên cứu châu Âu, (1), tr.29-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình tái liên kết kinh tế của các nước SNG-triển vọng của một khu vực thương mại tự do”, "Nghiên cứu châu Âu
Tác giả: Nguyễn An Hà
Năm: 2001
14. Đỗ Thanh Hải (2005), “Cạnh tranh ảnh hưởng Mỹ – Nga ở Trung Á và Kavkaz sau sự kiện 11/9”, Châu Mỹ ngày nay, (7), tr.29-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cạnh tranh ảnh hưởng Mỹ – Nga ở Trung Á và Kavkaz sau sự kiện 11/9”, "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: Đỗ Thanh Hải
Năm: 2005
15. Học viện Quan hệ quốc tế (2003), Quan hệ của Mỹ với các nước lớn trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ của Mỹ với các nước lớn trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Tác giả: Học viện Quan hệ quốc tế
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
16. Lê Phụng Hoàng (2005), Lịch sử quan hệ quốc tế ở châu Âu trong Chiến tranh lạnh (1949-1991), ĐHSP.TPHCM, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quan hệ quốc tế ở châu Âu trong Chiến tranh lạnh (1949-1991)
Tác giả: Lê Phụng Hoàng
Nhà XB: ĐHSP.TPHCM
Năm: 2005
17. Lê Phụng Hoàng (2007), Lịch sử quan hệ quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tập II, ĐHSP. TPHCM, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quan hệ quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Tác giả: Lê Phụng Hoàng
Năm: 2007
18. Hà Mỹ Hương (2003), Quan hệ Nga – Mỹ sau Chiến tranh lạnh, Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Nga – Mỹ sau Chiến tranh lạnh
Tác giả: Hà Mỹ Hương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
19. Hà Mỹ Hương (1996), “Nhìn lại quá trình liên kết giữa Liên bang Nga với các nước trong khối SNG”, Nghiên cứu châu Âu, (8), tr.34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại quá trình liên kết giữa Liên bang Nga với các nước trong khối SNG”," Nghiên cứu châu Âu
Tác giả: Hà Mỹ Hương
Năm: 1996
20. Hà Mỹ Hương (2001), “Nước Nga trong cuộc tìm kiếm đối tác tin cậy sau Chiến tranh lạnh”, Nghiên cứu châu Âu, (6), tr.51-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước Nga trong cuộc tìm kiếm đối tác tin cậy sau Chiến tranh lạnh”, "Nghiên cứu châu Âu
Tác giả: Hà Mỹ Hương
Năm: 2001
21. Hà Mỹ Hương, Nước Nga hậu Xô viết. Tạp chí Cộng sản điện tử, http//www.tapchicongsan.org.vn. (cập nhật: 8.00 ngày 22/8/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Cộng sản điện tử, http//www.tapchicongsan.org.vn

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w