1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

234 Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An Giang

48 580 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều Tra Nhu Cầu Nhân Lực Ngành Nghề Trong Nông Nghiệp Ở An Giang
Tác giả Tô Thiện Hiền
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Đề Tài NCKH Cấp Trường
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 435,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

234 Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An Giang

Trang 1

ĐIỀU TRA NHU CẦU NHÂN LỰC NGÀNH NGHỀ

TRONG NÔNG NGHIỆP Ở AN GIANG

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TÔ THIỆN HIỀN

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU Chúng ta đang sống trong thời đại tri thức và thông tin với đầy đủ cơ hội và thách thức Nền kinh tế tri thức lấy chất lượng của nguồn nhân lực làm yếu tố quyết định hàng đầu, chủ yếu là năng lực trí tuệ, năng lực xử lý thông tin; nhằm giải quyết sáng tạo các vấn đề đặt

ra Sự thành công của nền kinh tế đó chính là do đã phát triển được một nguồn nhân lực có chất lượng mới Vì thế chúng ta cần phải tiếp tục phát triển nguồn nhân lực con người

Cùng với kết quả mới nền kinh tế nói chung , nền nông nghiệp Việt nam; đặc biệt nông nghiệp An giang cũng đạt được những thành tựu đáng kể, nhất là mặt trận sản xuất lương thực Đã góp phần ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, tăng hàng hoá nông sản xuất khẩu Đó là kết quả tổng hợp các chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên , bên cạnh những thành tựu rất cơ bản đã đạt được, trong quản lý nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, cũng còn một số vần đề cần được tiếp tục giải quyết như vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vấn đề việc làm, vấn đề quản lý doanh nghiệp nhà nước trong nông nghiệp và hợp tác xã, một số cơ chế quản lý chưa đủ khuyến khích như nguồn nhân lực chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả

An giang là tỉnh phát triển mạnh về nông nghiệp; đặc biệt là cây lúa nước Nông nghiệp là ngành có vị trí - vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân; đảm bảo lương thực , thực phẩm góp phần quan trọng để ổn định kinh tế - xã hội và cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh sự phát triển kinh tế của tỉnh trong giai đoạn trước mắt là lâu dài Đề tài: “Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An giang” rất phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, cụ thể thực hiện chỉ thị

số 33/1998/CT.UB ngày 20/10/1998 của UBND tỉnh An giang về công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An giang thời kỳ đến năm 2010

Hiện nay nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp của tỉnh rất cần, nhất là người có trình độ cao để thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn Vì vậy, không thể không đào tạo mới mà còn đào tạo lại các thành phần lao động trong các đơn

vị thuộc ngành nông nghiệp và kể cả lao động trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp,…

Đề tài: “Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An giang” được tiến hành nghiên cứu với trình độ có hạn và thời gian có hạn Trong quá trình thực hiện đề tài

có sự giúp đỡ nhiệt tình của tập thể cán bộ Khoa kinh tế - QTKD, trường Đại học An giang;

Sở Nông nghiệp & PTNT và Liên minh HTX tỉnh An giang Đề tài chỉ giải quyết những vấn

đề hết sức cơ bản Hy vọng mức độ nào đó góp phần vào phát triển nông nghiệp và nông thôn của tỉnh

Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1 1.2- MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI: 1 1 3- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 2 1.4- PHẠM VI NGHIÊN CỨU: CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC 3

2.1- KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN NHÂN LỰC: 3 2.2-Vị TRÍ – VAI TRÒ CỦA NÔNG NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN VÀ TỈNH AN GIANG: 4

2.2.1- Vị trí và vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân: 4 2.2.2- Vị trí và vai trò nông nghiệp đối với tỉnh An giang 5 2.3-QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC: 6 CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM – TIỀM NĂNG – THỰC TRẠNG NHÂN LỰC NGÀNH NGHỀ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở AN GIANG 7

3.1- ĐẶC ĐIỂM 7 3.2- TIỀM NĂNG THIÊN NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CHO SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC TRONG NÔNG NGHIỆP 8 3.2.1- Tiềm năng thiên nhiên 8

3.2.1.1- Vị trí địa lý 8

3.2.1.2 - Khí hậu thuỷ văn 9

3.2.1.3 - Dân số và Lao động 10 3.2.2- Kinh tế - Xã hội 11 3.2.2.1- Kinh tế: 11 3.2.2.2- Xã hội 12 3.3-THỰC TRẠNG NHÂN LỰC NGÀNH NGHỀ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở AN GIANG 14

3.3.1- Sơ lược về nguồn nhân lực của tình An giang 14 3.3.2-Khảo sát thực tế nhân lực ở các đơn vị thuộc ngành nông nghiệp An giang vào tháng 8 năm 2003 15

3.3.2.1- Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn (Loại Quản lý nhà nước) 15

3.3.2.2- Chi cục Thú y: 16

3.3.2.3- Chi cục Bảo vệ thực vật: 16

3.3.2.4- Trung tâm Khuyến nông: 17

Trang 4

3.3.2.5- Trung tâm nước sinh hoạt nông thôn: 17

3.3.4-Khảo sát nhân lực của hộ sản sản xuất - kinh doanh

3.4.5- Một số kiến nghị từ khảo sát nhu cầu nhân lực ngành nghề

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC

NGÀNH NGHỀ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở AN GIANG 35

Trang 5

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU

1.1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trong nền kinh tế hiện đại, nguồn lực con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao vừa là động lực tăng năng suất lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ, của doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế, là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Bởi vì chỉ có nguồn nhân lực mới có khả năng tiếp thu và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, công nghệ cao, sử dụng hiệu quả các nguồn lực vật chất khác trong sản xuất xã hội, trở thành lực lượng xung kích, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập

An giang là tỉnh có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, thời gian qua, giá trị sản phẩm nông nghiệp là nhân tố quyết định trong tổng thể nền kinh tế của tỉnh Kinh tế nông nghiệp tỉnh An giang đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế của toàn tỉnh, bảo đảm an toàn lương thực, bảo đảm nhu cầu tiêu dùng cho nhân dân và tăng dần sản lượng lương thực xuất khẩu hàng năm Để đảm bảo ngày càng tốt hơn về phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh thì nhu cầu nhận lực ngành nghề trong nông nghiệp ngày càng cao Đây là lý do để tác giả chọn đề tài: “ Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An giang ” Hơn nữa đề tài nầy rất thực tế:

- Đề tài này rất phù hợp định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh An giang

- Đề tài này còn được dùng trong quá trình giảng dạy cho một số môn có liên quan đến khoa Kinh tế, khoa Nông nghiệp, … của trường Đại học An giang

- Làm cơ sở khoa học cho sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn nghiên cứu thực hiện Đồng thời cũng làm cơ sở cho trường Đại học An giang mở thêm ngành mới đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương An giang

1.2- MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI:

- Nhằm giúp cho trường Đại học An giang thiết kế những chương trình đào tạo xác thực để đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh và khu vực Đồng bằng sông Cửu long

Trang 6

- Xác định hiện trạng nguồn nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp hiện nay của tỉnh

- Đề xuất nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp của tỉnh An giang đến năm 2010

- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An giang đến năm 2010

1 3- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Khảo sát - thu thập thực tế nhu cầu nhân lực khoảng 100 hộ sản xuất- kinh doanh nông nghiệp ở các Huyện - Thị - TP trong tỉnh

- Khảo sát – thu thập thực tế nhu cầu nhân lực khoảng 120 hộ Xã viên HTXNN ở các Huyện -Thị - TP trong tỉnh

- Khảo sát - thu thập thực tế khoảng 50 HTXNN ở các Huyện - Thị - TP trong tỉnh

- Cùng làm việc với các đơn vị của ngành nông nghiệp ở cấp tỉnh và cấp Huyện - Thị - TP của tỉnh về nhu cầu nguồn nhân lực của toàn ngành đến năm 2010 Chủ yếu dùng phương pháp thống kê – phân tích số liệu đã thu thập

- Nghiên cứu các Quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế - Xã hội tỉnh An giang

1996 – 2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh An giang Năm 1996

- Nghiên cứu Quy hoạch phát triển ngành Nông nghiệp 2001- 2010 của sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An giang Tháng 3 năm 1999

- Nghiên cứu xác định những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp của tỉnh

- Nghiên cứu đề xuất về nhu cầu nhân lực và những giải pháp phát triển nhân lực trong ngành nghề nông nghiệp của tỉnh đến năm 2010

Trang 7

CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN V Ề NGUỒN NHÂN LỰC

2.1- KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN NHÂN LỰC:

Khái niệm nguồn nhân lực: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng ( khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ”

Nguồn nhân lực là một mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển con người Đứng về phương diện xã hội thì toàn bộ chiến lược phát triển con người cuối cùng phải thành nguồn nhân lực Ở đây con người xuất hiện với tư cách là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội: “ Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố

cơ bản chỉ đạo toàn bộ sự phát triển đất nước” ( Trích văn kiện Đại hội lần thứ VIII ) Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng (2001) lấy con người và nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước: “ Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực qua trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội; tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”

“ Nguồn lao động là tổng số nhân khẩu có khả năng lao động bao gồm nhân khẩu ở độ tuổi lao động và nhân khẩu ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động ”

“ Đội ngũ lao động bao gồm những người lao động, tức là nguồn nhân lực được

sử dụng vào công việc lao động nào đó ”

(“ ” Trích từ trang 269 Phạm Minh Hạc Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nhà xuất bản Chính trị quốc gia HN 2001)

Nước ta là một nước nông nghiệp có trình độ sản xuất thấp, lựợng lao động tay nghề chưa cao, lại phân tán không đồng đều giữa các vùng, các địa phương, giữa các

Trang 8

đơn vị Từ đó, muốn nâng cao năng suất và hiệu quả trong công tác tổ chức, quản lý, hoạt động trong tình hình mới của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và thông tin phát triển thì công tác đào tạo bồi dưỡng nhân lực càng phát triển và chất lượng cao phù hợp với thời đại khoa học tiên tiến Bởi vì, khi chúng ta nhập những công nghệ khoa học mới, những trang thiết bị, máy móc hiện đại,… mà khả năng sử dụng, trình

độ hiểu biết thấp kém về chúng thì sẽ ảnh hưởng xấu rất lớn cho sự phát triển nền kinh

tế quốc gia

2.2-Vị TRÍ – VAI TRÒ CỦA NÔNG NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN VÀ TỈNH AN GIANG:

2.2.1- Vị trí và vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân:

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất hình thành đầu tiên của xã hội loài người Nông nghiệp luôn là một ngành kinh tế lớn có một vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

Việt nam là một nước nông nghiệp; lao động nông nghiệp chiếm khoảng 80% lao động cả nước Vì vậy nông nghiệp Việt nam luôn giữ vị trí hàng đầu trong nền kinh tế

Vai trò của nông nghiệp đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc dân trên 4 khía cạnh:

- Đóng góp trên phương diện sản phẩm: cung ứng lương thực - thực phẩm, nguyên liệu Nông nghiệp là nguồn cung ứng lương thực - thực phẩm, nguyên liệu mà hầu như không ngành nào thay thế được

- Đóng góp trên phương diện cung ứng các yếu tố sản xuất cho phi nông nghiệp như: cung ứng lao động cho phi nông nghiệp, chuyển vốn từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp một cách dễ dàng theo cơ chế thị trường

- Đóng góp trên phương diện các yếu tố sản xuất nông nghiệp như: Lao động, vốn, nguyên liêu

- Đóng góp về phương diện ngoại tệ: xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp để thu ngoại tệ

Trang 9

2.2.2- Vị trí và vai trò nông nghiệp đối với tỉnh An giang

Đối với An giang là một tỉnh nông nghiệp, điện tích đất nông nghiệp chiếm 70% điện tích toàn tỉnh, lao động nông nghiệp chiếm 82% lao động toàn tỉnh, đất trồng lúa chiếm 95% tổng diện tích đất nông nghiệp, phát triển nông nghiệp gắn liền sự phát triển các ngành khác, nông nghiệp An giang góp phần vào ngân sách nhà nước khoảng 100 tỷ đồng/ năm

Trong giai đoạn 2001 –2010, Nông nghiệp An giang vẫn là khu vực quan trọng,

là lợi thế to lớn của tỉnh cần được tiếp tục phát triển toàn diện, đa dạng theo chiêu sâu, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo hướng đưa chăn nuôi thuỷ sản lên thành ngành sản xuất chính nhằm đạt mục tiêu chủ yếu như sau:

- Phấn đấu đạt 2,9 đến 3 triệu tấn vào năm 2010 đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh, góp phần bảo đảm an toàn lương thực cả nước và xuất khẩu

- Tạo ra những vùng chuyên canh nông sản, cây công nghiệp, phát triển mạnh chăn nuôi và thuỷ sản tạo nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến

- Thúc đẩy công nghiệp hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn

- Từng bước vươn lên một nền nông nghiệp sạch

Để có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đi vào thế

kỷ 21, chúng ta cần phải hướng tới nguồn nhân lực con người, bao gồm những con người như là một thực tế độc lập - tế bào của nguồn lực này, theo định hướng giá trị sau đây:

Trang 10

- Con người có bản lỉnh, lý tưởng, niềm tin và quyết tâm thực hiện sứ mệnh vẻ vang là công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Con người có sức khỏe cường tráng

- Con người có nhân cách đậm đà bản sắc dân tộc, kết hợp tiếp thu tinh hoa văn minh nhân loại, mang bản chất nhân văn, nhân đạo, nhân ái trong quan hệ con người với con người và với cộng đồng, sống có cuộc sống tình nghĩa

- Con người khoa học và công nghệ, có đủ trí tuệ, có đầu óc tư duy của thời đại

và kỹ năng lao động hành nghề, biết làm ăn có hiệu quả cho bản thân và xã hội,

có tác phong việt nam hoá công nghiệp

- Con người có tinh thần công dân; sống và làm việc theo pháp luật, kỷ cương của tập thể và cộng đồng, thực hiện đúng các nghĩa vụ và biết bảo vệ quyền lợi của mỗi người và toàn xã hội, của gia đình và đất nước, tổ quốc, sẵn sàng xả thân vì nền độc lập dân tộc

2.3-QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC:

Nói đến nguồn nhân lực là nói đến số lượng và chất lượng nguồn nhân lực Ngoài ra, còn phải nói đến quản lý nguồn nhân lực, tức là làm sao có nó, khi có phải dùng được nó và khi dùng lại phải tính đến chuyện hiệu quả và phát triển nó, làm cho nguồn nhân lực là bất tận, có thể phát triển không giới hạn, nhưng đó là tuỳ vào chủ nhân của nó và cả khi nó được truyền đạt sang người khác, thì chủ nhân của nó không nghèo đi, mà ngược lại nhiều khi được phong phú hơn

Tư tưởng chỉ đạo phát triển phát triển nguồn nhân lực có thể là:

- Lấy phát triển bền vững con người là tư tưởng trung tâm

- Đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ một cách hợp lý

- Mỗi con người là cá nhân độc lập làm chủ quá trình lao động của mình

- Lấy lợi ích của người lao động làm nguyên tắc cơ bản của quản lý lao động

Trang 11

- Bảo đảm môi trường dân chủ thuận lợi cho tiến hành giao lưu đồng thuận

- Có chính sách phát huy tiềm năng của người lao động, bảo đảm hiệu quả của công việc

- Phát triển nguồn nhân lực bám sát yêu cầu của thị trường lao động

Tổ chức quản lý vĩ mô nguồn nhân lực là một vấn đề cấp bách hiện nay Chính phủ đã thành lập viện nghiên cứu con người và nguồn nhân lực Hiện nay nhà nước có Hội đồng quốc gia giáo dục do Thủ tướng trực tiếp điều hành, nhằm phối hợp các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội phát triển giáo dục và điều khiển việc thực hiện chiến lược giáo dục

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt nam, Đảng ta luôn luôn chú trọng yếu tố con người, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Hiện nay, đất nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, …Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của đảng nhấn mạnh: “Đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”

CHƯƠNG 3 – ĐẶC ĐIỂM – TIỀM NĂNG – THỰC TRẠNG

NHÂN LỰC NGÀNH NGHỀ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở AN GIANG

3.1- ĐẶC ĐIỂM

Trong những năm qua, An giang là một trong những tỉnh năng động, sớm vận dụng đổi mới cơ chế chính sách phù hợp với quy luật từ những năm đầu 80; sau Đại hội VI tập trung khắc phục những lệch lạc trong cải tạo nông nghiệp và công thương nghiệp, tháo gỡ giải phóng sức sản xuất, tạo ra sức đột phá nhanh trên địa bàn quan trọng này của đồng bằng sông Cửu long

và cả nước, nhất là mặt trận nông nghiệp Dưới sự lãnh chỉ đạo của tỉnh Uỷ, UBND và HĐND tỉnh, nhất định nhân dân trong tỉnh sẽ phát huy được

Trang 12

thuận lợi, tận dụng được thời cơ mới đưa tỉnh nhà phát triển nhanh hơn, vững chắc hơn, phù hợp với sự phát triển chung của thời đại tiến bộ mới

- Con người An giang yêu nước, cần cù siêng năng, sáng tạo và nhanh nhạy với khoa học công nghệ và cơ chế thị trường là một lợi thế lớn Giải quyết đúng đắn các vấn đề nâng cao dân trí, dạy nghề, đào tạo sử dụng nhân tài, tăng cường công tác bảo vệ sức khoẻ, đồng thời tập sức tạo nguồn vốn

và sử dụng có hiệu quả vốn, góp phần nâng cao vị trí của lợi thế này

- Sự không đồng đều về trình độ phát triển sản xuất và quản lý, các điều kiện cơ sở vật chất - kỹ thuật giữa các vùng trong tỉnh

3.2- TIỀM NĂNG THIÊN NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CHO SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC TRONG NÔNG NGHIỆP

3.2.2- Tiềm năng thiên nhiên

3.2.1.2- Vị trí địa lý

Tỉnh An giang ở phía tây nam nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, giữa hai sông: sông Tiền và sông Hậu Phiá Đông giáp tỉnh Đồng tháp; phía Tây giáp tỉnh Kiên giang, Cần thơ và phiá Bắc giáp Campuchia với đường biên giới Việt nam – Campuchia dài gần 100 km

- Toạ độ địa lý: 10012’ – 10057’ vĩ độ bắc; 104046’ – 105035’ kinh độ đông

- Diện tích tự nhiên: 3.406,23 km2 Mật độ dân số 623 người/km2

- Đơn vị hành chính: 01 Thành phố, 01 thị xã, và 09 Huyện; 150 phường - xã - thị trấn ( 122 Xã, 13 phường, 15 thị trấn ) Thành phố Long xuyên là trung tâm của tỉnh

- Địa bàn tỉnh có đồng bằng cao trình thay đổi từ 1 đến 5m và đồi núi thấp và được chia thành 02 vùng kinh tế:

+ Vùng cù lao: diện tích 1.032 km2 chiếm 30% diện tích toàn tỉnh Gồm 4 huyện: Chợ mới, Phú tân, Tân châu và An phú Đây là vùng có tiềm năng phát triển nông nghiệp với năng suất cây trồng cao nhất tỉnh

Trang 13

+ Vũng bờ hữu sông Hậu: chiếm 70% diện tích toàn tỉnh Ngoài tiềm năng sản xuất nông nghiệp, còn có khả năng khai thác tài nguyên khoáng sản để phát triển công nghiệp và ưu thế phát triển du lịch

Vùng này chia thành hai tiểu vùng: Vùng đồng bằng và vùng nuí Vùng núi có nhiều khối nuí lớn, không thành dãy như các núi: nuí Cấm, nuí Dài, nuí Cô tô, núi cao nhất là nuí cấm 710 m Ngoài những tiềm năng về khoáng sản vật liệu xây dựng , nguồn nước ngầm,… vùng nuí An giang còn là nơi có có triển vọng phát triển mạnh về du lịch với nhiều danh lam thắng cảnh, di tích văn hoá lịch sử nổi tiếng

255.307 247.689 234.085 4.793

260.446 251.277 234.785 9.169

II- Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản

Tóm lại vị trí địa lý, địa hình của An giang rất thuận lợi cho tỉnh phát triển một nền kinh tế thị trường đa dạng, mở rộng giao lưu kinh tế với bên ngoài Tuy nhiên, lũ lụt vừa mang lại những lợi ích to lớn về phù sa cho đồng ruộng, về thuỷ sản,… cũng vừa gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đối với đời sống và sản xuất

3.2.1.4 Khí hậu thuỷ văn

Trang 14

An giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với hai mùa

rõ rệt:

+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 với gió Tây Nam

+ Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 với gió mùa Đông Bắc

- Nhiệt độ trung bình năm: 27,70C

- Lượng mưa bình quân năm: 1.418mm

- Lượng bốc hơi bình quân năm: 1.293mm

- Số gìơ nắng bình quân năm: 2.250 – 2.390 giờ

- Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 11, mực nước dâng cao, từ tháng 8 đến tháng 10 là giai đoạn cao điểm của con lũ Đối phó với lũ hàng năm ở An giang cũng như toàn vùng đồng bằng sông cửu long là vấn đề hết sức bức xúc, có liên quan đến sự phát triển các mặt đời sống kinh tế xã hội; đồng thời chống lũ, tránh lũ, né lũ hay sống cùng với lũ lại là việc làm vô cùng khó khăn, phức tạp, cần tính toán kỹ hệ quả trên mọi khía cạnh sinh thái Trước mắt, để thâm canh tăng năng suất các loại cây trồng vật nuôi nên bố trí hệ thống canh tác và các loại giống hợp lý tránh lũ, thích nghi với lũ

- Mùa kiệt từ tháng 12 đến tháng 5 mực nước hạ thấp dần, tháng 4 có mực nước thấp nhất

- Nước ngọt quanh năm

3.2.1.5 Dân số và Lao động

- Dân số An giang năm 2002 là 2.122.539 người

- Cơ cấu dân số: Nam: 1.041.238 người, chiếm 49% Nữ: 1.081.301 người, chiếm 51%

- Thành thị: 490.340 người, chiếm 23% Nông thôn: 1.632.199 người, chiếm 77%

- Lực lượng lao động:1.368.994 người ( Số người trong độ tuổi lao động: 1.256.562 người, chiếm 92% và số người ngoài tuổi lao động: 127.882 người,

Trang 15

chiếm 8%) Trong đó lao động nông nghiệp chiếm trên 82 %.( 1.222.575 người)

Mặc dù số lượng lao động lớn nhưng chất lượng nguồn lao động nhìn chung còn thấp Số đông lao động trong tỉnh là trẻ tuổi, cần cù siêng năng, nhạy bén trong tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật, dễ thích nghi cách làm ăn với nền kinh tế thị trường, nhưng trên 90% là lao động thủ công Tỷ trọng lao động kỹ thuật còn thấp, chiếm khoảng 4% lực lượng lao động

- Thành phần dân tộc: người Việt chiếm 97% còn lại là các dân tộc: Hoa, Chăm, Khơme

3.2.2-Kinh tế - Xã hội

3.2.2.1- Kinh tế:

- Ngành cơ khí, đến năm 1994 điện khí hóa toàn tỉnh An giang Có 100% phường – xã - Thị trấn đều có hệ thống điện nhà nước được sử dụng rộng rãi trong nhân dân phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất

Ngành cơ khí tập trung vào việc sơn, sửa chữa và sản xuất máy móc thiết bị phục vụ nông nghiệp, giao thông và các ngành khác

- Giao thông vận tải An giang cũng phát triển mạnh Thời điểm 31/12/2002 toàn tỉnh có 13.842 km đường bộ Đường sông dài 4.274 km

- Cuối năm 2002 đã có 131/142 phường – xã - Thị trấn đã có đường xe ô tô đến trung tâm phường – xã - thị trấn

Trang 16

- Thông tin liên lạc phát triển nhanh đến năm 1994 đã có 100% phường - xã - Thị trấn đều có điện thoại Hiện các phường – xã - thị trấn đều sử dụng máy vi tính

- Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành theo khu vực kinh tế: năm 2002

là 11.778.830 triệu đồng, tăng 16,98% so với năm 2001 (10.069.233 triệu đồng ) Trong đó:

+ Năm 2002 tổng sản phẩm Khu vực Nông – Lâm nghiệp và thuỷ sản: 4.695.797 triệu đồng, tăng 16,92% so với năm 2001 (4.016.145 triệu đồng) + Năm 2002 tổng sản phẩm Khu vực công nghiệp và xây dựng: 1.475.638 triệu đồng, tăng 19,9% so với năm 2001 (1.230.773 triệu đồng)

+ Năm 2002 tổng sản phẩm Khu vực dịch vụ: 5.607.395 triệu đồng, tăng 16,28% so với năm 2001 ( 4.822.315 triệu đồng)

- Tổng Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn An giang năm 2002: 1.756.903 triệu đồng, tăng 12,6% so với năm 2001 (Năm 2001 Thu NSNN: 1.560.765 triệu đồng )

- Tổng Chi ngân sách địa phương năm 2002: 1.463.469 triệu đồng Tăng 9,7 %

so với năm 2001 (Tổng chi NS địa phương năm 2001: 1.333.665 triệu đồng)

3.2.2.2- Xã hội

Nhờ phong trào tăng vụ khai hoang phục hoá và đổi mới chính sách trong nông nghiệp, phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và chương trình giúp vốn giải quyết việc làm ,… đã thu hút, giải quyết trên 300 ngàn người có công ăn việc làm ( năm 2002 ) Mức sống nhân dân được cải thiện nâng cao một bước, số

hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm xuống Những kết quả về xây dựng giao thông nông thôn, phủ lưới điện,… đã làm cho bộ mặt nông thôn An giang đang khởi sắc đổi mới, kể cả vùng sâu, vùng nuí, và vùng biên giới

- Y tế:

Trang 17

Đã có 100% xã - phường đều có trạm y tế Địa phương đã tổ chức phối hợp với các ngành các cấp đẩy mạnh công tác truyền thông dân số, tổ chức cung ứng dịch

vụ, hướng dẫn nhân dân về biện pháp kế họach hoá gia đình, phòng trừ các bệnh thông thường để người dân tự bảo vệ sức khỏe và từng bước phát huy rộng rãi

Có 2 bệnh viện đa khoa, các trung tâm y tề chuyên ngành cấp tỉnh và 100% huyện - thị - Tp đều có trung tâm y tế

Năm 2001 có số giường bệnh: 3.509 giường, số Y- bác sĩ: 1.816 người

Năm 2002 có số giường bệnh: 3.769 giường, số Y- bác sĩ: 1.852 người

Trang 18

Có 01 thư viện tỉnh và 11 thư viện Huyện - Thị - Tp Tổng số sách trong hệ thống thư viện năm 2002 là 395.278 bản, tăng 8% so với năm 2001 (năm 2001: 366.083 bản ) Tổng lượt người đọc trong năm 2002 là 722.010 người, tăng 27% so với năm 2001 ( năm 2001: 570.690 người )

3.3-THỰC TRẠNG NHÂN LỰC NGÀNH NGHỀ TRONG NÔNG NGHIỆP

Ở AN GIANG

3.3.1- Sơ lược về nguồn nhân lực của tình An giang

Các điều kiện tự nhiên của An giang rất phù hợp cho phát triển nền nông nghiệp hàng hoá tương đối toàn diện, đặc biệt là cây lúa nước và nuôi trồng thuỷ sản Đi đôi với xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, ổn định và lâu dài, cần được đầu tư chiều sâu trực tiếp cho các ngành nông nghiệp, thực hiện đầy đủ trách nhiệm trước đất nước Cần phát triển mạnh các ngành cơ khí, dịch vụ phục vụ nông, ngư nghiệp, các ngành công nghiệp chế biến, đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến ngư

Con người An giang cần cù siêng năng, sáng tạo và nhanh nhạy với khoa học công nghệ và cơ cấu thị trường là một lợi thế lớn Giải quyết đúng đắn các vấn đề nâng cao dân trí, dạy nghề, đào tạo sử dụng nhân tài, tăng cường công tác bảo vệ sức khoẻ, đồng thời tập trung sức tạo nguồn vốn và sử dụng có hiệu quả vốn sẽ góp phần nâng cao vị trí của lợi thế này

Trang 19

Năm 2002 dân số của tỉnh An giang là 2.122.539 người, đông nhất trong các tỉnh đồng bằng sông cửu long

- Cơ cấu dân số: Nam: 1.041.238 người, chiếm 49% Nữ: 1.081.301 người, chiếm 51%

- Thành thị: 490.340 người, chiếm 23% Nông thôn: 1.632.199 người, chiếm 77%

- Lực lượng lao động:1.368.994 người ( Số người trong độ tuổi lao động: 1.256.562 người, chiếm 92% và số người ngoài tuổi lao động: 127.882 người, chiếm 8%) Trong đó lao động nông nghiệp chiếm trên 82 %.( 1.122.575 người)

Mặc dù có số lượng lao động lớn nhưng chất lượng nguồn lao động nhìn chung còn thấp Số đông lao động trong tỉnh là trẻ tuổi, cần cù siêng năng, dễ thích nghi cách làm ăn của nền kinh tế thị trường, nhưng trên 90% là lao động thủ công, sử dụng năng lượng cơ bắp là chính Tỷ trọng lao động kỹ thuật còn thấp, mới chiếm khoảng 4% lực lượng lao động

3.3.2-Khảo sát thực tế nhân lực ở các đơn vị thuộc ngành nông nghiệp

An giang vào tháng 8 năm 2003

**- ( Kèm phụ lục 1)

*Giải thích phụ lục 1:

3.3.2.1- Loại quản lý nhà nước (sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn)

- Sở Nông nghiệp – Phát triển nông thôn là đơn vị quản lý nhà nước thực hiện chức năng quản lý ngành nông nghiệp địa phương bằng những chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước tạo điều kiện cho ngành nông nghiệp An giang phát triển bền vững đáp ứng nhu cầu phát triển chung của đất nước; đồng thời là đơn vị tham mưu cho UBND tỉnh và Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn có những chủ trương chính sách phù hợp cho sự phát triển của ngành và các ngành khác góp phần phát triển địa phương và đất nước

Trang 20

Theo số liệu khảo sát vào tháng 8 năm 2003 Sở nông nghiệp& phát triển nông thôn An giang, tổng nhân sự hiện có: 38 người đều có trình độ văn hoá lớp 12, về trình độ chuyên môn: có 4 người trung cấp, 32 người đại học và 2 người thạc sĩ

- Phòng nông nghiệp – phát triển nông thôn 11 Huyện - Thị - TP gồm có 53 người; trong đó có 2 người trình độ văn hoá lớp 10, có 1 người lớp 11 và 50 người có trình độ văn hoá lớp 12 Về trình độ chuyên môn có 15 người trung cấp, 33 người đại học và 5 người thạc sĩ

Nhìn chung nhân lực hiện có của đơn vị quản lý nhà nước về quản lý nông nghiệp cấp tỉnh và huyện ở An giang cũng đáp ứng được yêu cầu cơ bản của đơn vị; tuy nhiên còn phải vất vã nhiều với công việc được giao trong năm ở đơn vị, một người còn phải kiêm nhiều việc, công tác bồi dưỡng đào tạo chuyên môn cho cán bộ có tăng hơn trước nhưng sự chuyển biến thực về chất để đáp ứng ứng nhu cầu phát triển chung của thời đại mới còn nhiều hạn chế; còn tính chủ quan trong đổi mới, nguồn kinh phí nhà nước còn gặp khó khăn; chế độ chính sách tiền lương còn thấp, chưa kích thích cho người làm việc- năng suất lao động chưa cao…

Chính vì vậy nhà nước cũng cần quan tâm và đổi mới hơn, bằng những chính sách chế độ mới thích hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo; đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

3.3.2.2- Thú y:

- Chi cục thú y tỉnh: có 32 người đều có văn hóa lớp 12 Về chuyên môn có 1 người sơ cấp, 13 người trung cấp, 16 người đại học và 2 người thạc sĩ

- Trạm thú y 11 Huyện - Thị - TP gồm có 55 người đều có trình độ văn hoá lớp

12 Về trình độ chuyên môn có 24 người trung cấp và 31 người đại học

3.3.2.3- Bảo vệ thực vật:

Trang 21

- Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh có 23 người và đều có văn hoá lớp 12 Về trình độ chuyên môn: có 3 người trung cấp, 15 người đại học và 2 người thạc sĩ

- Trạm bảo vệ thực vật 11 Huyện - Thị - TP gồm có 55 người và đều có trình độ văn hoá lớp 12 Về trình độ chuyên môn có 24 người trung cấp và 31người đại học

3.3.2.5- Trung tâm nước sinh hoạt nông thôn:

Gồm có 40 người; trong đó 21 người lớp 9, 2 người lớp 10, 2 người lớp 11 và 5 người lớp 12 Về trình độ chuyên môn có 8 người sơ cấp, 12 người trung cấp và 9 người đại học

3.3.2.6- Trung tâm nghiên cứu sản xuất giống thuỷ sản:

Gồm có 17 người và đều có văn hoá lớp 12 về trình độ văn hoá có 7 người trung cấp và 10 người đại học

3.3.2.7- Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản:

Gồm có 23 người và đều có trình độ văn hoá lớp 12 Về trình độ chuyên môn có 5 người trung cấp và 18 người đại học

3.3.2.8- Chi cục thuỷ lợi:

Gồm có 11 người và đều có văn hoá lớp 12 Về trình độ chưyên môn có 4 người trung cấp và 7 người đại học

3.3.2.9- Chi cục kiểm lâm:

Trang 22

Gồm có 80 người; trong đó có 19 người lớp 9, 3 người lớp 10, 3 người lớp 11,và

55 người lớp 12 Về trình độ chuyên môn có 9 người sơ cấp, 16 người trung cấp,

22 người đại học và 1 người thạc sĩ

Tóm lại: Tổng số cán bộ công nhân viên đang công tác thuộc ngành nông nghiệp tỉnh An giang tại thời điểm tháng 8/2003 gồm có 756 người

- Sơ cấp 18 người (chiếm 2,38%)

- Trung cấp 358 người ( chiếm 47,35% )

Trong đó:

+ Ngành thú y: 56 người + Ngành nông học 83 người

+ Ngành trồng trọt 74 người

+ Ngành chăn nuôi 47 người

+ Ngành thuỷ sản 25 người

+ Ngành chế biến 2 người

Trang 23

+ Ngành lâm nghiệp 16 người + Ngành khác 26 người

- Thạc sĩ 13 người ( chiếm 1,72 % )

Trong đó:

+ Ngành thú y: 2 người + Ngành nông học 3 người

- Lao động phổ thông 53 người (chiếm 7,02 %)

3.3.3- Khảo sát về nhân lực của HTXNN vào 6/2002

Khảo sát thực tế 34 HTXNN thuộc các Huyện - Thị - TP trong tỉnh như:

TP Long xuyên, TX Châu đốc, huyện Chợ mới, Phú tân, Tân châu, An phú, Châu thành, Châu phú, Tri tôn, Tịnh biên và huyện Thoại sơn Bình quân mỗi HTX gồm có 5 cán bộ trong bộ máy quản lý HTXNN cụ thể như sau: 1 chủ nhiệm, 1 phó chủ nhiệm, 1 kế toán trưởng, 1 kiểm soát và 1 thủ quỹ Tổng số cán bộ của 34 HTXNN nêu trên gồm có 179 người

+ Về trình độ văn hoá:

- Có 42 người văn hoá dưới lớp 9 (chiếm 23,46%)

- Có 51 người văn hoá lớp 9.(chiếm 28,49%)

- Có 14 người văn hoá lớp 10 (chiếm 7,82%)

- Có 14 người văn hoá lớp 11 (chiếm 7,82%)

- Có 58 người văn hoá lớp 12 (chiếm 32,41%)

Trang 24

+ Về chuyên môn chủ yếu được tập huấn bồi dưỡng ngắn ngày về quản lý HTX tại địa phương An giang

- Có 4 người sơ cấp kế toán (chiếm 2.23%)

- Có 2 người trung cấp kinh tế (chiếm 1,12%)

Các chức danh chủ chốt của HTX như chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, kế toán trưởng, trưởng ban kiểm soát chưa được đào tạo chuyên môn có hệ thống từ trung cấp trở lên và cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng HTX hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả hoặc thua lỗ

- Năm thành lập HTX sớm nhất vào năm 1997 và gần đây nhất vào năm 2001

* Bảng 3.4 - Trình độ văn hoá – chuyên môn của cán bộ HTXNN

Trong 34 HTX được khảo sát thực tế:

+ Tại giai đoạn thành lập1997- 2001:

- Giá cổ phiếu thấp nhất 50.000 đồng và cao nhất 300.000 đồng tuỳ theo từng HTX

- Với tổng số cổ phiếu: 23.777 cổ phiếu, ứng với số tiền vốn cổ phần: 2.861.410.000 đồng

- Diện tích đất canh tác: 9.234,7 ha và 14 bè cá

+ Tại thời điểm khảo sát 6/2002:

Ngày đăng: 30/03/2013, 16:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w