Ngày nay, việc đi du lịch đã trở thành nhu cầu phổ biến của con người trong đời sống văn hóa – xã hội hiện đại. Do đó trên thế giới, du lịch đã và đang trở thành một ngành kinh tế, dịch vụ phát triển, nó được ví như “ con gà đẻ trứng vàng “ của nhiều quốc gia.Theo Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), trong vòng 30 năm qua, lượng khách du lịch quốc tế đã tăng xấp xỉ bốn lần. Du lịch nội địa cũng tăng trưởng ở hầu hết các nước và hoạt động du lịch đã trải vươn tới hầu như tất cả các quốc gia trên toàn cầu. Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia, cũng vì tốc độ phát triển quá nhanh của ngành du lịch nên đã dẫn đến tình trạng suy thoái tài nguyên, huỷ hoại môi trường và xói mòn các giá trị văn hoá truyền thống. Phát triển du lịch theo cách đó đã bộc lộ tính không bền vững, không chỉ về lĩnh vực môi trường tự nhiên mà còn bao trùm các lĩnh vực văn hoá, kinh tế, xã hội. Vấn đề phát triển du lịch bền vững đã và đang được ngành du lịch thế giới nói chung và từng quốc gia nói riêng quan tâm. Các quốc gia đang cố gắng tìm kiếm các giải pháp cho một cách thức phát triển tối ưu mà ở đó, lợi ích đến với toàn bộ các bên tham gia và đáp ứng các nhu cầu hiện tại nhưng không ảnh hưởng đến thế hệ tương lai.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÀ DU LỊCH BỀN VỮNG 4
1.1 Phát triển du lịch cộng đồng 4
1.1.1 Khái niệm du lịch cộng đồng 4
1.1.2 Các điều kiện để phát triển du lịch cộng đồng 4
1.1.3 Ý nghĩa của việc phát triển du lịch cộng đồng 5
1.2 Phát triển du lịch bền vững 6
1.2.1 Khái niệm du lịch bền vững 6
1.2.2 Mục tiêu của du lịch bền vững 7
1.2.3 Mối quan hệ giữa du lịch bền vững và du lịch cộng đồng 7
1.3.Kinh nghiệm bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của Malaysia 8
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI SA PA THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 11
2.1 Điều kiện và tiềm năng để phát triển du lịch gắn với cộng đồng dân tộc thiểu số của Sa Pa 11
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của huyện Sa Pa 11
2.1.2 Cơ sở hạ tầng 13
2.1.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 14
2.1.4 Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn 14
2.2 Thực trạng phát triển du lịch gắn với cộng đồng dân tộc thiểu số tại Sa Pa 16
Trang 2CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI SA PA THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG 20
3.1 Định hướng phát triển du lịch gắn với cộng đồng dân tộc thiểu số tại Sa Pa 20
3.1.1 Quan điểm phát triển du lịch tại Sa Pa 20
3.1.2 Định hướng phát triển sản phẩm du lịch huyện Sa Pa 21
3.1.3 Định hướng phát triển không gian du lịch huyện Sa Pa 21
3.2 Xác định các mục tiêu chủ yếu trong phát triển du lịch huyện Sa Pa 22
3.2.1 Số lượng khách du lịch 22
3.2.2 Độ dài ngày lưu trú 22
3.2.4 Doanh thu du lịch 22
3.2.5 Công suất buồng phòng 23
3.2.6 Nhu cầu lao động 23
3.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch gắn với cộng đồng dân tộc thiểu số theo hướng phát triển bền vững 23
3.3.1 Lựa chọn loại hình du lịch phù hợp định hướng phát triển du lịch gắn với cộng dồng dân tộc thiếu số theo hướng bền vững 23
3.3.2 Tăng cường năng lực cho cộng đồng dân tộc thiểu số trong các hoạt động du lịch 26
3.3.3 Nghiên cứu phát triển sản phẩm du lịch 29
3.3.4 Nghiên cứu phát triển thị trường 31
3.3.5 Chính sách phát triển nguồn nhân lực 31
KẾT LUẬN 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, việc đi du lịch đã trở thành nhu cầu phổ biến của conngười trong đời sống văn hóa – xã hội hiện đại Do đó trên thế giới, du lịch
đã và đang trở thành một ngành kinh tế, dịch vụ phát triển, nó được ví như
“ con gà đẻ trứng vàng “ của nhiều quốc gia
Theo Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), trong vòng 30 năm qua,lượng khách du lịch quốc tế đã tăng xấp xỉ bốn lần Du lịch nội địa cũngtăng trưởng ở hầu hết các nước và hoạt động du lịch đã trải vươn tới hầunhư tất cả các quốc gia trên toàn cầu Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia, cũng vìtốc độ phát triển quá nhanh của ngành du lịch nên đã dẫn đến tình trạng suythoái tài nguyên, huỷ hoại môi trường và xói mòn các giá trị văn hoá truyềnthống Phát triển du lịch theo cách đó đã bộc lộ tính không bền vững,không chỉ về lĩnh vực môi trường tự nhiên mà còn bao trùm các lĩnh vựcvăn hoá, kinh tế, xã hội
Vấn đề phát triển du lịch bền vững đã và đang được ngành du lịchthế giới nói chung và từng quốc gia nói riêng quan tâm Các quốc gia đang
cố gắng tìm kiếm các giải pháp cho một cách thức phát triển tối ưu mà ở
đó, lợi ích đến với toàn bộ các bên tham gia và đáp ứng các nhu cầu hiệntại nhưng không ảnh hưởng đến thế hệ tương lai
Trong những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam cũng đã và đangchú trọng đến phát triển du lịch cộng đồng và phát triển bền vững, đặc biệttại những địa phương có yếu tố cộng đồng đóng vai trò quan trọng trongphát triển du lịch bền vững lại thường là nơi có nhiều dân tộc thiểu số sinhsống như Mai Châu (Hoà Bình), Ba Bể (Bắc Kạn), Na Hang (TuyênQuang)…
Cách Hà Nội hơn 300 km về phía Tây Nam, Sa Pa là một điểm du
Trang 4hào có nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú để phát triển du lịch với nhiềuthắng cảnh đẹp và khí hậu tuyệt vời Bên cạnh đó, Sa Pa còn là địa bàn cưtrú của 6 nhóm dân tộc thiểu số bao gồm: H’mông, Dao Đỏ, Tày, Giáy, XaPhó và Hoa Với hơn 80% dân số là người dân tộc thiểu số (dân tộc Kinhchỉ chiếm khoảng 17%), phát triển du lịch Sa Pa một cách bền vững đòi hỏiphải gắn với lợi ích lâu dài của cộng đồng dân cư nói chung và cộng đồngdân tộc thiểu số nói riêng, đi liền với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên vàvăn hoá địa phương, đồng thời quan tâm đến quyền chủ động của cộngđồng trong quá trình quản lý các điểm đến
Trong những năm qua, du lịch Sa Pa phát triển nhanh cùng với pháttriển du lịch của cả nước, thậm chí vào mùa cao điểm, sức chứa của Sa Patrở nên “quá tải” Bên cạnh những tác động tích cực của du lịch lên cuộcsống của đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn còn những vấn đề bất cập đi ngượclại với nguyên tắc của phát triển bền vững như: tác động xấu của xu thếthương mại hoá, sự mai một các giá trị văn hóa truyền thống, sự bất bìnhđẳng trong chia sẻ lợi ích, các công trình hủy hoại môi trường và cảnhquan khiến cho vấn đề phát triển bền vững lại càng trở nên cấp thiết hơnbao giờ hết Hơn nữa, phát triển du lịch ở Sa Pa vẫn chưa được nghiên cứu
kỹ lưỡng để phát huy hết tiềm năng và lợi thế của mình sao cho vừa đadạng hoá sản phẩm vừa tạo cơ hội thu hút cộng đồng dân tộc thiểu số thamgia vào các hoạt động du lịch, tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộcsống của họ, tạo đà phát triển bền vững cho du lịch tại Sa Pa
Vì những lý do nêu trên, em đã chọn đề tài “Phát triển du lịch cộng
đồng ở Sa Pa theo hướng phát triển bền vững”
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp có thể vận dụng góp phần phát triển dulịch gắn với cộng đồng dân tộc thiểu số ở Sa Pa theo hướng phát triển bền
Trang 53.2 Nhiệm vụ của đề tài
- Tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng và du lịchbền vững; các điều kiện để phát triển du lịch bền vững gắn với cộng đồngdân tộc thiểu số, những bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế về pháttriển du lịch cộng đồng theo hướng phát triển bền vững;
- Phân tích, đánh giá những điều kiện phát triển du lịch của huyện Sa
Pa về tiềm năng, lợi thế sẵn có, những thuận lợi và khó khăn của Sa Patrong phát triển du lịch nói chung và du lịch gắn với cộng đồng dân tộcthiểu số nói riêng;
- Đề xuất một số giải pháp để giải quyết các tồn tại trong phát triển
du lịch gắn với cộng đồng dân tộc thiểu số tại Sa Pa theo hướng phát triểnbền vững
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nhóm đồng bào dân tộc thiểu số tại Sa Pabao gồm: H’mông, Dao Đỏ, Tày, Giáy, Xã Phó Do đó, thuật ngữ cộngđồng trong đề tài dùng để chỉ cộng đồng dân tộc thiểu số tại Sa Pa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu trên địa bàn huyện Sa Pa, tập trung vào các xã du lịchcủa huyện như: Bản Hồ, Tả Van, San Sả Hồ, Tả Phìn
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu: Luận văn sử dụng phương
pháp thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp từ các kết quả nghiên cứu, sách báotạp chí, các trang web điện tử, các tài liệu
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích mối quan hệ giữa du
lịch, cộng đồng và phát triển bền vững, từ đó đề xuất giải pháp thực hiện
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÀ DU LỊCH BỀN VỮNG
Trang 71.1 Phát triển du lịch cộng đồng
1.1.1 Khái niệm du lịch cộng đồng
Cộng đồng trong phát triển du lịch cộng đồng là nhóm người sinhsống, làm ăn bên trong hoặc liền kề các điểm tài nguyên du lịch, tham giavào quá trình hoạt động du lịch tại địa phương, có trách nhiệm nâng caochất lượng tài nguyên và môi trường du lịch cũng như giảm thiểu những tácđộng tiêu cực từ việc khai thác tài nguyên và hoạt động của khách du lịchgây ra
Thuật ngữ “du lịch cộng đồng” xuất phát từ hình thức du lịch làngbản khởi nguồn vào những năm 1970, lúc đó khách du lịch thường gọi làchuyến du lịch có sự hỗ trợ của người bản xứ Khái niệm này đầu tiên dokhách du lịch đưa ra khi du khách đi tham quan các làng bản, tìm hiểuphong tục tập quán, cuộc sống hoang dã, lễ hội, khám phá hệ sinh thái, núinon tại những vùng mang tính tự nhiên hoang dã, khi đó họ cần sự hỗ trợgiúp đỡ của người dân bản địa như dẫn đường, cung cấp đồ ăn thức uống…Đây là tiền đề cho phát triển du lịch cộng đồng
Du lịch cộng đồng là một quá trình tương tác giữa hai chủ thể gồmcộng đồng (người dân bản địa) và khách du lịch, trong đó, mối quan hệ nàyphải mang lại lợi ích cho người dân bản địa nhưng không gây tổn hại tớimôi trường
1.1.2 Các điều kiện để phát triển du lịch cộng đồng
Để phát triển du lịch dựa vào cộng đồng cần có các điều kiện cơ bảnsau:
Trang 8- Điều kiện về tài nguyên tự nhiên và nhân văn: đây là điều kiện có ýnghĩa quyết định đến phát triển du lịch dựa vào cộng đồng Tài nguyênthiên nhiên và nhân văn được xem xét phong phú về số lượng, chủng loại
và giá trị về chất lượng của từng loại, được đánh giá cả về mặt quý hiếm.Điều kiện tài nguyên cũng nói lên mức độ hấp dẫn thu hút khách du lịchđến tham quan hiện tại và tương lai
- Điều kiện về yếu tố cộng đồng dân cư: đây được xem xét đánh giátrên các yếu tố số lượng thành viên, bản sắc dân tộc, phong tục tập quán,trình độ học vấn và văn hóa, nhận thức trách nhiệm về tài nguyên và pháttriển du lịch
- Điều kiện có thị trường khách: bao gồm thị trường khách trongnước và quốc tế đến tham quan du lịch, nghiên cứu và nguồn khách trongtương lai
- Điều kiện về cơ chế, chính sách: Cơ quan quản lý nhà nước về dulịch ở các cấp cần phải có cơ chế, chính sách hợp lý, tối ưu nhằm tạo môitrường thuận lợi cho việc phát triển du lịch và sự tham gia của cộng đồng
- Điều kiện về sự hỗ trợ: bao gồm sự hỗ trợ về nhân lực, tài chính vàkinh nghiệm phát triển du lịch dựa vào cộng đồng và cũng như sự hỗ trợcủa các công ty lữ hành trong vấn đề tuyên truyền, quảng bá nhằm thu hútkhách du lịch đến tham quan
1.1.3 Ý nghĩa của việc phát triển du lịch cộng đồng
- Đối với công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn:
+ Nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn được quản lý, khai thácmột cách hợp lý;
+ Môi trường sinh thái cảnh quan được bảo vệ: Nhận thức của ngườidân về bảo vệ môi trường và giữ gìn hệ sinh thái được nâng cao, làm chocộng đồng địa phương nhận ra trách nhiệm của mình đối với nguồn tàinguyên môi trường và văn hoá địa phương nơi mình đang cư trú
Trang 9+ Môi trường văn hoá được bảo tồn: Du lịch cộng đồng chính là cáchthức tốt nhất để vừa làm du lịch vừa giữ gìn bản sắc văn hoá , chống tràolưu du nhập.
+ Du lịch cộng đồng mang lại cơ hội cho các thành viên của cộngđồng trong việc bảo tồn nguồn tài nguyên, môi trường tự nhiên và văn hoá.Cộng đồng địa phương sẽ phát triển ngành nghề, tạo ra công ăn việc làm vàtăng thu nhập
+ Phát triển du lịch cộng đồng giúp cộng đồng địa phương đượchưởng lợi từ phát triển cơ sở hạ tầng xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo
và làm thay đổi bộ mặt xã hội của địa phương;
+ Sự tham gia tích cực của cộng đồng sẽ trở thành mô hình khích lệcác cộng đồng khác
1.2 Phát triển du lịch bền vững
1.2.1 Khái niệm du lịch bền vững
Trang 10Ngay từ những năm 1980, khi các vấn đề về phát triển bền vững bắtđầu được đề cập thì nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện nhằm xácđịnh các khía cạnh tác động của hoạt động du lịch liên quan đến phát triểnbền vững, trong đó đặc biệt nghiên cứu sự cần thiết đảm bảo tính toàn vẹncủa môi trường sinh thái, các giá trị văn hoá trong khi tiến hành các hoạtđộng khai thác tài nguyên phục vụ du lịch Như vậy, phát triển du lịch bềnvững là quá trình đáp ứng các nhu cầu về du lịch ở hiện tại mà vẫn đảm bảonhững khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch cho các thế hệ tương lai
Theo tổ chức UNWTO thì: Du lịch bền vững là việc phát triển cáchoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch vàngười dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo cácnguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai
1.2.2 Mục tiêu của du lịch bền vững
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có định hướng tài nguyên rõrệt, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao Chính vì vậy, sự pháttriển du lịch bền vững đòi hỏi có sự nỗ lực chung và đồng bộ của toàn xãhội Phát triển du lịch bền vững cần hướng tới việc đảm bảo đạt được 3mục tiêu cơ bản sau:
- Đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế: nghĩa là đảm bảo sựtăng trưởng, phát triển ổn định lâu dài về mặt kinh tế của du lịch, góp phầntích cực vào phát triển kinh tế của quốc gia và của cộng đồng
- Đảm bảo sự bền vững về tài nguyên và môi trường thể hiện ở việc
sử dụng hợp lý các tiềm năng tài nguyên và điều kiện môi trường sao chokhông chỉ thoả mãn nhu cầu hiện tại mà cũng đảm bảo nhu cầu phát triển
du lịch qua nhiều thế hệ
- Đảm bảo sự bền vững về xã hội: sự phát triển du lịch có nhữngđóng góp cụ thể cho phát triển xã hội, đảm bảo sự công bằng trong pháttriển
Trang 111.2.3 Mối quan hệ giữa du lịch bền vững và du lịch cộng đồng
Du lịch bền vững là khái niệm bao trùm khái niệm du lịch cộngđồng Trong khi mục tiêu tổng quát của du lịch bền vững đòi hỏi lưu lạicho các thế hệ tương lai một nguồn tài nguyên du lịch không kém hơn sovới cái mà các thế hệ trước được hưởng, thì du lịch cộng đồng được xemnhư một giải pháp hữu hiệu nhất để đạt được mục tiêu đó Du lịch cộngđồng khuyến khích các hoạt động du lịch phát triển lâu dài, dựa trên việcbảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhânvăn, đem lại lợi ích thiết thực cho ngành du lịch và cho chính cộng đồng
Từ đó, du lịch lại tạo ra động lực mạnh mẽ khuyến khích cộng đồng thamgia bảo vệ môi trường và tài nguyên, giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống.Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của du lịch cộng đồng trong việcgóp phần hoàn thành những mục tiêu đó Do đó, du lịch bền vững và dulịch cộng đồng có mối quan hệ chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau, cùng hướng tớimục tiêu lớn lao nhất là vì lợi ích cộng đồng, lấy cộng đồng vừa làm trungtâm vừa làm chủ thể hành động trong các quá trình phát triển
Trang 121.3.Kinh nghiệm bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của Malaysia
Malaysia là đất nước giàu tiềm năng du lịch với nguồn tài nguyênthiên nhiên phong phú, các giá trị văn hóa dân tộc đặc sắc hấp dẫn Tất cảcác yếu tố trên tạo thành một điểm độc đáo trong các sản phẩm du lịch củaMalaysia
Trong những năm gần đây, Chính phủ Malaysia đã đầu tư rất nhiềucho việc bảo tồn các khu rừng nguyên sinh, các khu bảo tồn quốc gia nhằmduy trì một môi trường trong lành và tính hấp dẫn cho các sản phẩm du lịchsinh thái của đất nước mình Mặc dù vậy, bán đảo còn có một giá trị hấpdẫn khác đối với mỗi du khách đến thăm, đây là nơi quy tụ của hầu hết cácnền văn hóa nổi tiếng trên thế giới Lịch sử đất nước đã ghi nhận sự tồn tạicủa các nền văn hóa của các quốc gia đã từng xâm chiếm quốc gia này như
Bồ Đào Nha, Anh, Hà Lan, Chiêm Thành, Thái Lan, Nhật Bản và văn hóaMalay bản địa Tất cả các dân tộc trên đều đã lưu lại các dấu ấn văn hóa đểhình thành nên nền văn hóa của Malaysia ngày nay Các giá trị văn hóa bảnđịa kết hợp với các giá trị văn hóa để hình thành nên nền văn hóa ngoại lai
đã được nội địa hóa đã tạo thành một sản phẩm du lịch độc đáo khác củaMalaysia - du lịch văn hóa bản địa
Với những lợi thế nói trên, Bộ Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch củaMalaysia đã xác định mục tiêu phát triển chủ đạo của ngành du lịch làhướng tới mục tiêu phát triển bền vững trên cơ sở bảo tồn các nguồn genquý hiếm, duy trì đa dạng sinh học và phát huy bản sắc văn hóa Malaytruyền thống nhưng không phủ nhận sự pha trộn của các dòng văn hóangoại lai nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch bền vững độc đáo
Trang 13Người dân Malaysia có truyền thống mến khách, ưa thích giao du kếtbạn với mọi người và sẵn lòng mời bạn bè, du khách bốn phương về nghỉtại nhà của mình Bên cạnh đó, đối với du khách thì các khu nhà truyềnthống của thổ dân Malay luôn luôn là yếu tố thu thút, hấp dẫn họ Chính vìvậy, chương trình du lịch nghỉ tại nhà dân tại khu làng Desa Murni, ngoại ôKualar Lumpur được xây dựng như một phần trong hành trình du lịch trênđất nước Malaysia.
Bắt đầu từ năm 1988, chương trình du lịch này được Bộ Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch phê duyệt và tiến hành tại 5 làng: Desa MurniSanggang, Desa Murni Sonsang, Desa Murni Kerdau, Desa Murni Ketam
-và Desa Murni Perangap Chỉ với 90 phút đi ô tô từ trung tâm KualaLumpur là du khách có thể tiếp cận được với khu làng này Mục đích chínhcủa chương trình du lịch nghỉ tại nhà dân nhằm giúp cho du khách có điềukiện được tiếp xúc, trao đổi và trực tiếp tham gia vào đời sống sinh hoạtcủa cộng đồng người Malaysia bản địa và nhằm tạo điều kiện duy trì vàphát huy bản sắc văn hóa truyền thống của người dân Malaysia cũng nhưgóp phần nâng cao mức sống cho người dân địa phương
Trong năm đầu tiên, dự án nghỉ tại nhà dân tại 5 làng này chỉ thu hútđược 10 người khách, tuy nhiên chỉ 10 năm sau số lượng các gia đình trựctiếp tham gia đón khách đã tăng lên hơn 100 gia đình đón tiếp một nămkhoảng 3.000 đến 4.000 khách Ban đầu, cơ cấu khách đến khu vực nàychủ yếu là người Nhật - những người đã có thời gian dài đô hộ tại mảnh đấtnày, ngày nay số lượng du khách đến từ Châu Âu, Châu Úc, Châu Mỹ cũngbắt đầu tăng dần
Trang 14Khách du lịch tham gia vào chương trình du lịch nghỉ tại nhà dânđược người dân bản địa đón tiếp nồng hậu, được mọi người trong khu làngcoi như thành viên trong gia đình và trực tiếp tham gia vào các hoạt độngsinh hoạt hàng ngày của người dân Du khách có thể được tham gia trựctiếp vào lễ cưới cổ truyền của người bản xứ trong vai trò của người làmchứng hoặc chủ hôn, tham gia vào các chương trình dã ngoại ngoài trời nhưcâu cá, cắm trại của học sinh phổ thông, tham gia vào các trò chơi cổtruyền của người bản xứ, hoặc tham gia vào chế biến các món ăn cho cácthành viên trong gia đình.
Chương trình đón khách du lịch về nghỉ tại nhà dân tại khu làngDesa Murni được xây dựng đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn cácgiá trị văn hóa truyền thống của Malaysia phục vụ mục tiêu phát triển bềnvững Theo lời nhận xét của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Nghệ thuật và Du lịchMalaysia Dato’ Sabbaruddin Chik: “Sự thành công bước đầu của dự ánDesa Murni đã đem lại các cơ hội phát triển mới cho nền công nghiệp dulịch của Malaysia cũng như lợi ích cho cộng đồng địa phương, là nền tảngquan trọng cho việc xây dựng các mô hình tương tự tại các làng quê trêntoàn bộ lãnh thổ Malaysia”
Trang 15CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI SA PA THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 2.1 Điều kiện và tiềm năng để phát triển du lịch gắn với cộng đồng dân tộc thiểu số của Sa Pa
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của huyện Sa Pa
Về vị trí địa lý
Là một huyện vùng cao của tỉnh Lào Cai với tổng diện tích tự nhiên
là 68.329 ha, huyện Sa Pa nằm trên Quốc lộ 4D nối từ Lào Cai đi Lai Châu,phía đông giáp huyện Bảo Thắng, phía bắc giáp huyện Bát Xát, phía namgiáp huyện Văn Bàn, phía tây giáp huyện Than Uyên (tỉnh Lai Châu)
Trung tâm huyện lỵ thị trấn Sa Pa cách thành phố cửa khẩu quốc tếLào Cai - trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh khoảng 35 km về phía tâynam
Vị trí địa lý của Sa Pa được xác định là cửa ngõ của hai vùng Đôngbắc và Tây bắc, là một trong những tiền đề quan trọng để phát triển Sa Pathành đô thị du lịch của tỉnh trong tương lai, tạo điều kiện thuận lợi cho Sa
Pa kết nối hiệu quả với thành phố Lào Cai, với các huyện trong tỉnh và vớivùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Về địa hình
Toạ lạc trên độ cao trung bình khoảng 1.200m đến 1.800m so vớimực nước biển, huyện Sa Pa nằm trên sườn phía đông của dãy Hoàng LiênSơn hùng vĩ với đỉnh Phan Xi Phăng cao tới 3.143m được mệnh danh lànóc nhà của Đông Dương Địa hình của Sa Pa chia thành ba tiểu vùng đặctrưng như sau:
- Tiểu vùng núi cao: gồm 4 xã Tả Giàng Phình, Bản Khoang, TảPhìn và San Sả Hồ
Trang 16- Tiểu vùng Sa Pa - Sa Pả: gồm 6 xã Sa Pả, Trung Chải, Lao Chải,Hầu Thào, Tả Van, Sử Pán và thị trấn Sa Pa
Trang 17- Tiểu vùng núi phân cắt mạnh: gồm 7 xã Bản Phùng, Nậm Sài,Thanh Kim, Suối Thầu, Thanh Phú, Nậm Cang và Bản Hồ Đặc trưng củavùng là kiểu địa hình phún xuất núi cao, đỉnh nhọn, sườn dốc, thung lũnghẹp sâu.
Phần lớn địa hình bị chia cắt phức tạp, độ dốc lớn (trung bình 350
-400) và thung lũng hẹp sâu đã tạo cho Sa Pa những vẻ đẹp thiên nhiên kỳthú nguyên sơ với núi non trùng điệp, mây trời huyền ảo có sức lôi cuốnmạnh mẽ đối với du khách
Về khí hậu
Sa Pa có khí hậu ôn đới lạnh với các mùa điển hình: mùa hè mát mẻ,mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 (chiếm tới 80% lượng mưa cả năm), mùađông lạnh giá, ít mưa kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau.Nhiệt độ trung bình năm của Sa Pa là 15,40C, nhiệt độ trung bình vào mùa
hè chỉ là 190C, vào mùa đông là 110C, nhiệt độ thấp nhất vào khoảng tháng1- tháng 2 xuống đến 00C Sương mù và mây phủ thường xuất hiện phổbiến quanh năm, đặc biệt là vào mùa đông, do đó, Sa Pa còn được mệnhdanh là thành phố trong sương hay thành phố trên mây hết sức thơ mộng.Tháng 4 là tháng nhiều nắng nhất nên cũng có độ ẩm thấp nhất trong năm(khoảng 65-70%), ít nắng nhất là vào tháng 10, thế nhưng cái nắng Sa Pacũng rất nhẹ nhàng, dễ chịu
Hệ thống thủy văn
Trang 18Sa Pa có mạng lưới sông suối khá dày với mật độ khoảng 1,0km/km2 Hai hệ thống suối chính là hệ thống suối Đum (dài 50 km, tổngdiện tích lưu vực khoảng 156 km2) và hệ thống suối Bo (dài 80 km, tổngdiện tích lưu vực khoảng 578 km2) Địa hình núi non trùng điệp lại thấpthoáng những con suối quanh co bao bọc xen kẽ những ngôi nhà của đồngbào dân tộc thiểu số, vừa tạo nên phong cảnh hữu tình vừa là nguồn nướcphục vụ đời sống sinh hoạt của dân bản nơi đây Nhìn chung, nguồn nướctrên địa bàn huyện có chất lượng tương đối tốt, trữ lượng đủ đáp ứng chosản xuất và đời sống con người
2.1.2 Cơ sở hạ tầng
Hệ thống giao thông của huyện Sa Pa được đầu tư xây dựng tạo điềukiện thuận lợi cho việc đi lại, ô tô đã đến được trung tâm các xã, xe máyđến được tất cả các thôn bản, trong đó có 5 xã được rải nhựa, 11 xã cóđường cấp phối, 2 xã là đường đất Hệ thống cầu hiện có là 49 chiếc, trong
đó cầu ô tô 5 chiếc, cầu người đi 44 chiếc Tuyến quốc lộ 4D được coi nhưhuyết mạch của huyện từ thành phố Lào Cai chạy qua huyện Sa Pa vớichiều dài 36 km (qua Trung Chải 12 km, Sa Pả 4 km, thị trấn Sa Pa 14 km
và San Sả Hồ 6 km) đã được trải nhựa hạt mịn, những chỗ cua hẹp được
mở rộng và xây kè cẩn thận, đạt tiêu chuẩn đường cấp IV Đường du lịch
Sa Pa - Tả Phìn, đường du lịch suối Mường Hoa được đầu tư xây dựng
Trang 19Đặc biệt, Sa Pa có hệ thống giao thông huyết mạch nối từ trung tâmthủ đô Hà Nội lên Lào Cai khá thuận lợi cho phát triển du lịch Từ Hà Nội
đi Sa Pa rất thuận tiện, chỉ một đêm ở trên tàu là du khách đến thành phốLào Cai Đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai dài 264 km, được thiết kế vớivận tốc tối thiểu 80 - 100km/h với điểm cuối đấu nối với đường cao tốcCôn Minh - Hà Khẩu cũng đã được khởi công xây dựng với số vốn đầu tưlên tới 770 triệu đô la Hiện tại, từ thành phố Lào Cai đã hình thành tuyến
xe buýt lên thị trấn Sa Pa nhằm phục vụ nhu cầu của du khách Đến năm
2009, 100% số xã trong huyện đã có điện lưới quốc gia Hệ thống thuỷ lợi,kênh mương phục vụ tưới tiêu cho 2.610 ha lúa Tổng chiều dài các kênhmương chính được kiên cố chiếm trên 60% (khoảng 172,5km), còn gần40% là kênh đất
Hệ thống bưu chính viễn thông có bước phát triển mạnh, cơ bản đápứng được yêu cầu thông tin liên lạc Đã lắp đặt và đưa vào sử dụng hệthống cáp quang phục vụ truyền hình và truyền hình trực tiếp Hầu hết cáckhách du lịch đến với Sa Pa đều có ấn tượng tốt đẹp về một điểm du lịch cómôi trường trong lành, sạch sẽ Tuy nhiên, Sa Pa chưa có hệ thống xử lýnước thải tập trung, nước thải từ các cơ sở sản xuất, cơ sở y tế và các điểmdân cư trong khu vực chưa được qua xử lý trước khi thải vào môi trường,chất rắn được xử lý bằng phương pháp chôn lấp đơn giản, bãi rác chưađược quy hoạch Xói mòn đất vẫn đang là nguy cơ lớn cho ô nhiễm môitrường đất, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống nhân dân
2.1.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Dân số huyện Sa Pa theo kết quả Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm
2009 là 52.899 người (chiếm 8,4% dân số cả tỉnh) Tỉ lệ nam nữ trong dân
số rất đồng đều (dân số nam chiếm 49,82%, nữ chiếm 50,18%); tốc độ tăngtrưởng dân số cũng khá mạnh, giai đoạn 2005 - 2008 là 4,9% Tuy nhiên,
Trang 20Đến nay, Sa Pa đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở(THCS) Năm học 2008 - 2009, 18/18 xã, thị trấn của huyện có trườngTHCS Các lớp mầm non, tiểu học đã được mở ở 100% các thôn bản Nhìnchung, cơ sở vật chất còn rất thiếu thốn Số phòng học kiên cố mới đạt35,2%, phòng học tạm tuy có giảm nhưng vẫn chiếm 25,9% Tỷ lệ huyđộng trẻ đến lớp năm học 2008 - 2009 đạt 99,5%, nhưng tỉ lệ chuyên cầnchỉ đạt 67,9% Đặc biệt là ngày học cuối tuần và ngày học đầu tuần lànhững ngày có đông khách du lịch đến với Sa Pa, do đó, các em nghỉ họcnhiều để đi bán hàng rong phụ giúp gia đình
2.1.4 Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn
Sa Pa hội tụ khá đầy đủ các tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn
để phát triển hầu hết các loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch vănhoá, du lịch tham quan nghiên cứu, du lịch thể thao, du lịch nghỉ dưỡng, dulịch mạo hiểm…
Nét nổi bật về tài nguyên du lịch của huyện Sa Pa đó là sự phân bốtài nguyên một cách khá tập trung, sự kết hợp giữa tài nguyên du lịch tựnhiên và tài nguyên du lịch nhân văn có tính đan xen hoà quyện trong mộttổng thể không gian, từ đó tạo nên một đặc điểm thuận lợi cho việc khaithác phát triển du lịch của huyện
2.1.4.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Nằm ở độ cao trung bình từ 1.200 m - 1.800 m, Sa Pa có điều kiệnkhí hậu lý tưởng, gần như mát mẻ quanh năm với nhiệt độ trung bình năm
là 15,40C Điều kiện khí hậu lý tưởng này thực sự là một sản vật quý giá màthiên nhiên ưu đãi cho Sa Pa Thêm vào đó, tuyến đường sắt Hà Nội - LàoCai được quan tâm đầu tư cải tạo, nâng cấp, đáp ứng nhu cầu ngày càngcao của du khách
Hiện nay, 69% diện tích của Sa Pa là diện tích rừng tự nhiên, rừnggià, rừng thứ sinh bao bọc xung quanh làng bản với các hệ sinh thái đa
Trang 21dạng, các loài động thực vật phong phú, các con suối lớn và đẹp, thác nước,hang động tạo nên cảnh quan tự nhiên kỳ thú Phía Tây của huyện là khuBảo tồn Thiên nhiên Hoàng Liên Sơn được xây dựng từ năm 1994 nhằmgiữ gìn phần rừng còn lại trên triền núi Phan Xi Păng Nơi đây là khu dựtrữ tự nhiên lớn nhất của Việt Nam, hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu, nhàkhoa học, khách du lịch đến tham quan nghiên cứu Hệ động thực vật ở đâyphong phú với các cây bản địa như: pơ mu, thông tre, thông nàng, du sam,vàng tâm, gù hương, sa mộc, tống quá sủi, vối thuốc, mỡ; các loại động vậtquý hiếm với 380 loài thuộc 24 bộ và 83 họ, trong đó thú (56 loài), chim(217 loài), bò sát (73 loài) và ếch nhái (34 loài) Đặc biệt có 37 loài độngvật quý hiếm được ghi vào sách đỏ.
Đặc biệt, các thửa ruộng bậc thang tại Sa Pa là cảnh quan đặc sắcnhất của núi rừng Tây Bắc làm mê đắm lòng người Tạp chí Du lịch và Thưgiãn (Travel and Leisure) đã công bố kết quả bình chọn Sa Pa là một trongbảy thửa ruộng bậc thang đẹp, kỳ vĩ nhất Châu Á và thế giới
2.1.4.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Nói đến tài nguyên du lịch nhân văn của Sa Pa không thể không nhắcđến sự đa dạng văn hoá của các nhóm dân tộc thiểu số nơi đây Được hìnhthành trên miền đất cổ, huyện Sa Pa có 7 dân tộc gồm: H’mông, Dao, Tày,Kinh, Giáy, Xã Phó (Phù Lá) và Hoa Trong đó, người H’mông chiếm51,65%, người Dao 23,04%, người Kinh 17,91%, người Tày 4,74%, ngườiGiáy 1,36%, người Xã Phó 1,06%, còn lại dân tộc Hoa chiếm tỷ lệ rất nhỏvới 0,23% Mỗi dân tộc đều có các đặc điểm, phong tục, tập quán sinh sốngriêng với trang phục, kiến trúc nhà cửa, lễ hội, lối sống, cách dệt vải, làm
đồ thủ công, phương thức canh tác và sinh hoạt văn hoá dân gian khácnhau, tạo nên sự đa dạng và phong phú trong bức tranh văn hoá các dân tộccủa Sa Pa