1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

195 Hoàn thiện cơ chế cho vay hộ gia đình sản xuất nông - lâm - ngư - diêm nghiệp ở Việt Nam

96 560 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện cơ chế cho vay hộ gia đình sản xuất nông - lâm - ngư - diêm nghiệp ở Việt Nam
Tác giả TS. Bùi Thiện Nhiên, Cử Nhân Nguyễn Hồng Phúc, Cử Nhân Trần Đình Định, Cử Nhân Phạm Thanh, Th.s Nguyễn Văn Bắc, Th.s Nguyễn Quốc Hùng
Trường học Đại Học Ngân Hàng TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Năm xuất bản 2001
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

195 Hoàn thiện cơ chế cho vay hộ gia đình sản xuất nông - lâm - ngư - diêm nghiệp ở Việt Nam

Trang 1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NGÂN HÀNG

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHIOA HỌC HOAN THIEN CO CHE CHO VAY HO GIA BINH SAN XUAT NONG- LAM- NGU- DIEM NGHIEP ử VIỆT NAM

Ma sé: KNH 2000 - Dé tai cap ngành

Chủ nhiệm đề tài: TS Bùi Thiện Nhiên - NHNo&PTNT Việt Nam

Thư ký dé tai: Cứ nhân Nguyễn Hồng Phúc- NHNo& PTNT Việt Nam

Các thành viên: — 75 Nguyễn Duệ - Học viện Ngân hàng

Cử nhân Trần Đình Định — - NHNo&PTNT Việt Nam

Cứ nhân Phạm Thanh - NHNo&PTNT Việt Nam

†h.s Nguyễn Văn Bắc - NHNo&PTNT Việt Nam

†Th.s Nguyễn Quốc Hùng — - NHNo&PTNT Ha Nội

ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG

TP HO CHI MINH THU VIEN

Trang 2

MUC LUC

Phần mở đầu

Chương I: KINH TE HO GIA BINH VA DAC DIEM CUA TIN DUNG NAN HÀNG

TRONG PHAT TRIEN KINH TE HO GIA BINH SAN XUAT NONG- LAM-

NGU- DIEM NGHIEP 6 VIET NAM 1- HO GIA DINH SAN XUAT NONG- LAM- NGU- DIEM NGHIỆP ONUUC TA

1.1- Khái niệm về hộ gia đình sản xuất

12- Vai trò hộ gia đình sản xuất trong sự nghiệp phát triển nông

nghiệp, nông thôn nước fa

1.3- Chức năng của hộ gin đình sản xuất

1.4- Đặc điểm hộ gia đình sản xuất ở nông thôn Việt Nam — Nhân tố

ảnh hưởng tới cơ chế tín dụng hộ gia đình sản xuất nông nghiệp

1.41- Về đất đại

1.4.2- Về lao động

1.4.3- Về nguồn vốn sản xuát kính doanh

L44- Về cơ sở hạ tầng trong nông thôn hệ thống công cụ Jaa, dong trong

nong nghiép

1.4.5- Về điều kiện tự nhiên

1.46 Về tổ chức sản xuất và quản lý trong nông nghiệp, nông thon

1.4.7- Về môi trường kinh doanh

1.48- Về tâm lý của người sản xuất trong nông nghiệp

1.4.9- Thu nhập của hộ gia dình sản xuất ~ Mối quan hệ giữa thu nhẬp của

bộ gia đình sản xuất với lãi suất và các chỉ phí khác vay vốn tổ chức

tín dụng

2- ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ

HO GIA DINH SAN XUAT NONG- LAM- NGU- DIEM NGHIỆP Ở NƯỚC TA

22

Trang 3

HIỆN NAY

Chương iI: THUG TRANG CHO VAY HO GIA DINH SAN XUAT NONG- LAM- NGU-

DIEM NGHIEP ONUUC TA TRONG THI GIAN QUA ( 1990 — 2001 ) 1- QUÁ TRÌNH CHO VAY HO GIA DINH SAN XUẤT NÔNG NGHIỆP

1.1- Giai đoạn trước năm 1993

1.2- Giai đoạn từ 1993 đến 1999

1.2.1- Nội dung cơ bản của Nghị định 14CP của Chính phủ Thông tư số

01/TT-NHI của Thống đốc NHNN và Quy định số 499A/TDNT của

Chủ tịch HĐQT NHNo Việt Nam

1.2.2- Kết quả cho vay hộ sẵn xuấ† nông- lâm- ngư- diêm nghiệp trong giai

doạn thực hiện Nghị định 14/CP của Chính phủ của NHNo@&PTNT

1.3.2- Kết quả thực hiện Quyết định 67/T1g

2- NHỮNG HẠN CHẾ VÀ VƯỚNG MẮC VE CO CHE CHO VAY HỘ GIA ĐÌNH

SÁN XUẤT NÔNG- LÂM- NGƯ- DIÊM NGHIỆP

2.1- Thủ tục cho vay

2.1.1- Cho vay với mức vay không phải thế chấp tài sản, hộ gia đình không

tham gia tổ vay vốn

2.1.1.1- Giấy đề nghị vay vốn

2.1.1.2- Số vay vốn

2.1.2- Cho vay đối với mức vay không phải thế chấp tài sản, hộ gia đình

tham gia tổ vay vốn

2.1.3- Cho vay đối với mức vay phải có tài sản thế chấp

2.2- Phương thức cho vay, vốn tự có, thời hạn cho vay, gia hạn nợ

24

30

30 3]

Trang 4

2.3 Vẻ thu nợ, thu lãi

2.4- Về các biện pháp thực hiện bảo đảm tiền vay, đăng ký giao dịch

bao dam va xử lý tài sản bảo đảm tiển vay để thu hồi nợ

2.41- Về biện pháp thực hiện bdo dam tién vay

2.4.2- Về đăng ký giao dịch bảo dâm

24.3- Về xử lý tài sắn bảo đảm tiên vay để thu hỏi nợ

Chương if; MỘT SỐ SIẢI PHÁP VÀ RIẾN NGHỊ ĐỂ GOP PHAN HOAN THIEN CO

CHE CHO VAY HO GIA BINH SAN XUAT NONG- LAM- NGU- DIEM

NGHIỆP Ứ VIỆT NAM

1- BỘ HỒ SƠ VÀ QUY TRÌNH CHO VAY

1.1- Thay đổi một số nội dung ghỉ trong quyển số vay vốn

1.2- Thay đổi một số nội dung của giấy đề nghị vay vốn

1.3- Hồ sơ cho vay hộ nông đân có mức vay phải thế chấp tài sản

1.4- Quy trình vay và giải quyết cho vay

L4.1- Đối với hộ gia đình nông dân vay vốn

1.4.2- Đối với ngân hàng cho vay

2- GIẢI PHÁP VỀ PHƯƠNG THỨC CHO VAY, MỨC CHO VAY, THỜI HẠN

CHO VAY, GIA HAN NO

2.1- Giải pháp về phương thức cho vay

2.2- Mức cho vay và thời hạn cho vay

2.3- Gia hạn nợ

3- CÁC GIẢI PHÁP VE THU NO, THU LAI

4- CAC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN BẢO ĐẢM TIỀN VAY, DANG KY GIAO DICH

BẢO ĐẢM VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIEN VAY DE THU HỒI NỢ

4.1- Thực hiện bảo đảm tiền vay

4.2- Đăng ký giao dịch bảo đảm

4.3- Xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ

Trang 5

Biểu số I: Dư nợ hệ thống ngàn hàng và quý tín dụng nhân dân đối

với nông nghiệp, nông thôn

Biểu số 2: Cơ cấu các loại cho vay nông nghiệp, nông thôn

Biểu số 3: Dân số cả nước và phân theo thành thị nông thôn

Biểu số 4: Nhân khẩu lao động bình quân 1 hộ phân theo thành thị,

nông thôn

Biển số Ÿ: Thu nhập bình quân một người một tháng

Biểu số 6: Tỷ lệ nghèo (rong dân cư

Biểu số 7: Giá tri đầu tư tích luỹ nhà ở và tài sản cố định trong năm -

bình quân 1 hộ

Biểu số 8: Tỷ lệ chỉ ăn uống, hút trong chỉ đời sống của hộ

Biểu số 9: Mức chỉ tiêu một số khoản ngoài ăn uống bình quân đầu

người Í năm

Biểu số I0: Dư nợ NHNo&PTNT phân theo thành phần kinh tế

Biểu số 11: Cho vay hộ sản xuất nông nghiệp & kinh tế nông thôn

Biểu số 12: Cơ cấu cho vay phát triển nông nghiệp & kinh tế nông

thôn Biểu số 3: Tổng hợp tình hình cho vay, dư nợ hộ nông dan từ 1991

đến 6/2001

Mẫu số I: Mẫu giấy đề nghị vay vốn

Mẫu số 2: Mẫu điều chỉnh trang 1 số vay vốn

Mẫu số 3: Mẫu hợp đồng tín dụng

MỘT SỐ VĂN BẢN ĐANG CÒN HIỆU LUC THI HÀNH

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

69

69

70

70 7}

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1- Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Từ khi thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, trong suốt 10 năm qua sản

xuất nông nghiệp ngày càng phát triển, tốc độ tăng trưởng bình quan dat 5,6%/

năm Từ một nước thiếu lương thực đã trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới, các sản phẩm nông, lâm, hải sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu Có nhiều yếu tố đóng góp vào thành công đó, trong đó tín dụng ngân hàng có một đóng góp hết sức to lớn Đầu tư vốn cho nông nghiệp nông thôn qua

kênh tín dựng ngân hàng tăng 30 - 40% năm Một trong những thay đổi cơ bản

trong tín dụng ngân hàng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn là chuyển hướng cho vay hộ gia đình nông dân Vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho hộ gia đình chiếm tới 60 -70% tổng dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn Cơ chế cho vay đối tượng này ngày càng được hoàn thiện Chính sách của Đảng, Chính phủ ngày càng cởi mở và sát với thực tiễn, được Ngân hàng Nhà nước cụ thể hoá bằng các

cơ chế và NHNo Việt Nam ( nay là NHNo&PTNT Việt Nam ) hướng dẫn trong các quy định cho vay Có thể nói các cơ chế, quy định cho vay hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp( gọi tắt là hộ gia đình nông dân ) liên tục được

nghiên cứu, hoàn thiện đã giúp cho hàng triệu hộ gia đình nông dân được tiếp cận

với tín dụng ngân hàng

Tuy nhiên, trong quá trình vận động, phát triển của nên kinh tế thị trường, các cơ chế, quy định đó cũng có bộc lộ những khiếm khuyết, tuy không cơ bản nhưng cũng gây khó khăn, vướng mắc nhất định cho ngân hàng noi cho vay va

cho các hộ gia đình vay vốn Đề tài: "Hoàn thiện cơ chế cho vay hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư, điêm nghiệp ở Việt Nam”, nhằm góp phần tháo gỡ những vướng mắc đó - những vấn để mà không ft các cấp, các ngành, hàng triệu hộ gia

đình nông dan va hang van cán bộ ngân hàng đang quan tâm

Trang 7

2- Tình hình nghiên cứu dé tai:

Cơ chế cho vay hộ gia đình sản xuất nông, lâm ngư diêm nghiệp đã được nhiều nước trên thế giới và khu vực quan tâm, nghiên cứu nhằm có một cơ chế

- phù hợp với hoàn cảnh và đặc điểm nông dân, nông thôn của mỗi nước

Ở nước ta, cơ chế cho vay hộ gia đình nông dân không tách khỏi những nội dung cơ bản của cơ chế cho vay đối với khách hàng do Ngân hàng Nhà nước ban

hành Một tập thể cán bộ có nhiều kinh nghiệm của Ngân hàng Nhà nước luôn

nghiên cứu và hoàn thiện nó

NHNo&PTNT Việt Nam căn cứ vào cơ chế cho vay đối với khách hàng của Ngân hàng Nhà nước đã cụ thể hoá trong điều kiện nông nghiệp, nông thôn

và nông dân nước ta Ngay sau khi các văn bản hướng dẫn được đưa ra thực hiện

NHNo&PTNT Việt Nam vẫn liếp tục nghiên cứu hoàn thiện

Tuy nhiên, để tài nghiên cứu này vẫn có tính thời sự của nó đó là sự kết hợp giữa những cán hộ ở hội sở chính, cán bộ giảng day nghiên cứu lý luận và những cán bộ đang trực tiếp điều hành ở cơ sở Những vướng mac dang gap hàng ngày khi giải quyết việc cho vay, thu ng .va dang hang ngay nghe tiếng nói của hàng ngần hộ nông đân vay vốn Do đó để tài vừa có ý nghĩa lý luận ý nghĩa thực tiễn với tính thời sự của nó

3- Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài:

Mục tiêu của đề tài là đưa ra những kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước và đặc biệt, trực tiếp là NHNo&PTNT Việt Nam chỉnh sửa một số nội dung trong quy định cho vay đối với hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư, điêm nghiệp để vốn vay đến hộ nông dân được thuận lợi hơn, an toàn hơn, tiết giảm chỉ phí và công lao động cho cả khách hàng và ngân hàng cho vay

Trang 8

Đề đạt được mục tiêu trên, đề tài có nhiệm vụ:

- Phân tích những vấn để có tính lý luận về đặc điểm sản xuất nông nghiệp, đặc điểm khách hàng vay vốn là hộ gia đình nông dân - Đó là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến cơ chế cho vay

- Thông qua những việc làm hàng ngày của cán bộ tín đụng cho vay hộ gia

đình nông dân, thông qua việc giải quyết cho vay, thu nợ, thu lãi, gia hạn nợ xử

Jy tài sản bảo đảm tiền vay của Giám đốc cơ sở cho vay để thấy được những vướng mắc, những khó khăn cần tháo gỡ về cơ chế để quan hệ vay trả giữa ngân hàng và khách hàng được thuận lợi an toàn, tiết kiệm cho cả 2 phía

- Đề xuất những giải pháp cần hoàn thiện hoặc tháo gỡ để đạt mục tiêu

Trong các quy định cho vay hộ nông dân của NHNo&PTNT Việt Nam, để tài chỉ tập trung nghiên cứu cho vay thương mai( tin đụng thông thường), không nghiên cứu cho vay theo chỉ định của Chính phủ, cho vay uỷ thác đầu tư, cho vay

hộ nghèo

- Về thời gian chủ yếu nghiên cứu trong giai đoạn áp dụng cơ chế đang còn hiệu lực

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu:

Mác- Lê nin làm cơ sở lý luận

- Đùng phương pháp khảo cứu, điểu tra, phân tổ thống kê, và xử lý hệ thống

6- Dự kiến đóng góp mới:

Đề xuất, kiến nghị chỉnh sửa và bổ sung một số quy định trong cơ chế cho

vay hộ gia đình nông dân

7- Kết cấu đề tài:

Ngoài phần mở đầu và kết luận để tài gồm 3 chương:

- Chương I: Kinh tế hộ gia đình và đặc điểm của tín dụng ngân hàng trong phát triển kinh tế hộ gia đình sản xuất nông- lâm- ngư- diêm nghiệp ở Việt Nam

- Chương II: Thực trạng cho vay hộ gia đình sản xuất nông- lam- ngu- diém nghiệp ở nước ta trong thời gian qua (1990 - 2001)

- Chương IIL: Một số giải pháp và kiến nghị để góp phần hoàn thiện cơ chế

cho vay hộ gia đình sản xuất nông- lâm- ngư- điêm nghiệp ở Việt Nam.

Trang 10

LOI CAM DOAN

Nhóm nghiên cứu để tài “Hoàn thiện cơ chế cho vay hộ gia đình sản xuất nông- lâm- ngư- diêm nghiệp ở Việt Nam” xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng nhớm Các số liệu, kết quả nêu trong dé tai là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế nghiên cứu

THAY MẶT NHÓM ĐỀ TÀI CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

Trang 11

CITUONG I

KINH TE HO GIA DINH VA DAC DIEM CUA TIN DUNG NGAN

HANG TRONG PHAT TRIEN KINH TE HO GIA DINH SAN XUAT

NONG- LAM- NGU- DIEM NGHIỆP Ở VIỆT NAM

1- HO GIA DINH SAN XUẤT NÔNG- LÂM- NGƯ- DIEM NGHIỆP Ở NƯỚC TA

1.1- Khái niệm về hộ gia đình sản xuất:

Hộ gia đình sản xuất là một loại hình hộ chứa đựng các yếu tố và đặc trưng của hộ Do đó hộ gia đình sản xuất mang các đặc trưng, đặc điểm của hộ và khát

niệm hộ được nhìn nhận từ một số góc độ khác nhau:

Theo một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ Hộ

bao gầm những người cùng sống trong một mái nhà Nhóm người đố bao gồm

những người cùng huyết tộc và những người làm công

Về phương diện thống kê Liên hiệp quốc cho rằng: "Hộ là những người,

cùng sống chung dưới một mái nhà cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”

Theo giáo sư TG Megee(1989)- Giám đốc Viện nghiên cứu Châu Á thuộc

trường Đại học Tổng hợp British Columbia:" Ở các nước Châu Á hầu hết người ta quan niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có cung một ngân quỹ”

Các khái niệm trên đã nêu lên một số điểm khi phân định hộ cần lưu ý Hộ gia đình là một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc( như quan

hệ hôn nhân ) sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập, ăn chung và sản xuất chung

Trang 12

Hộ gia đình sản xuất là đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất

kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh doanh

Trong lĩnh vực sản xuất nông- lâm- ngư- diém nghiệp, tuỳ trình độ phát

triển kinh tế, có các hộ gia đình:

đình, các chủ doanh nghiệp nhỏ Mô hình hộ - trước hết đó là mô hình tổ chức

lao động, là sự duy trì và phát triển nguồn lao động cho bản thân và cho xã hội

Hộ còn là các đơn vị vệ tỉnh cho các xí nghiệp, công ty Theo một số nhà xã hội học thì hộ và nên kinh tế phát triển tự nhiên của nó chứa đựng những tiém năng

nông thôn sản xuất hàng hoá , cho dù làng( bản ) có kết cấu nội tại ít khả năng phân hoá sâu sắc và mạnh mẽ như ở một số dân tộc châu Á Năng lực tự quyết định quá trình sản xuất của các hộ trong nền kinh tế tự cung tự cấp là mầm mống của những chiều hướng phát triển sản xuất khác nhau Chính nó sẽ tự phá vỡ các quan hệ kinh tế khép kín của hộ dẫn đến quá trình tự phá vỡ kết cấu kinh tế công

xã nông thôn Đó là một quá trình lâu đài cần có sự tác động của công nghiệp và

đô thị

Trang 13

Về phương điện thực tế của các nước trong những năm gần đây trong các

cuộc cải cách kinh tế đã chú ý đến vai trò của hộ trong nền kinh tế quốc dân

Ở Trưng quốc, các chuyên gia kinh tế đánh giá cao về thành tựu phát triển kinh tế nông thôn trong những năm 80 trở lại đây Các hộ nông dân đã được quyền ” tự chiệu trách nhiệm" trong quá trình sản xuất Mô hình : “hộ tự chiệu -

trách nhiệm" là đơn vị sắn xuất cơ bản trong nông thôn Từ những năm 80 của

thế kỷ 20 đến nay Trung quốc đã thu được nhiều kết quả vượt bậc trong nông

Vào thời điểm những năm 80 ở Đông Âu và ở nước ta trong những năm của phong trào "hợp tác hoá” kinh tế hộ vẫn được coi là "kinh tế phụ cá nhân” hay "kinh tế phụ gia đình” nhưng thực tế kinh tế phụ gia đình đã đóng góp một tỷ trọng giá trị nông sản to lớn và có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Kinh tế phụ của hộ chiếm tới 50 - 60% thu nhập của các

thành viên hợp tác xã nông nghiệp của đồng bằng sông Hồng bắc khu Bốn cũ

vào những năm 70 - 80 của thế ký 20

Từ khi "khoán sản phẩm cuối cùng" đến người lao động đến nay, kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta có bước tiến bộ rõ rệt Sức sản xuất được giải

phóng, lao động tự giác và năng động sáng tạo của các hộ nông dân đã khẳng định bằng thực tiễn vai trò của kinh tế hộ, cụ thể:

- Hộ gia đình là đơn vị tự chủ, trước hết bảo đảm duy trì và phát triển nguồn lao động, công cụ lao động, tài sản, tiền vốn Đây là những yếu tố quyết

định cho quá trình sản xuất ra của cải, tăng nguồn thư nhập cho xã hội, trước hết

đó là những tư liệu tiêu dùng thiết yếu cho con người như lượng thực, thực phẩm, nguyên liệu

- Với một khối lượng hộ gia đình sản xuất lớn trên một địa bàn rộng( 12 triệu hộ nông dân / l6 triệu hộ cả nước ), hộ gia đình sản xuất là nơi tiêu thụ

Trang 14

nhiều sản phẩm của ngành công nghiệp như tư liệu sản xuất, vật tư, các sản phẩm

tiêu dùng góp phần thúc đẩy các ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển Hộ

sản xuất góp phần bảo vệ môi trường sinh thái Ngoài ra, hộ sản xuất còn tạo ra

các sản phẩm để xuất khẩu, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như nước

ta

1.3- Chức năng của hộ gia đình sản xuất:

Hộ gia đình sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, đo đó hộ gia đình sản xuất thực hiện chức năng sản xuất ra sản phẩm và tái tạo sức lao động, xây đựng quỹ "phúc lợi gia đình”; cùng xã hội bảo đảm mọi điều kiện trưởng thành của nguồn lao động trẻ

Khi bàn về chức năng của hộ gia đình sản xuất, người ta đặc biệt quan tâm

tới các quan hệ kinh tế làm nền tảng cho hộ sản xuất thực hiện các chức năng xã

hội Hộ sản xuất thực hiện chức năng nuôi dưỡng, dạy đỗ, tạo nguồn lao động đối với những thành viên của huyết tộc Quá trình lao động sản xuất kinh doanh là quá trình tổ chức kết hợp giữa các nguồn lực của hộ sản xuất một cách có kết quả

nhất trên cơ sở phân tích những thông tin về môi trường kinh doanh của mỗi chủ

hộ

Hộ gia đình sản xuất thực hiện chức năng kinh tế không thể tách rời việc thực hiện tổ chức lao động, đẩy mạnh giáo dục trong gia đình Mặt khác, yếu tố truyền thống, yếu tố giáo dục ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng các nguồn lực của nông thôn Mối quan hệ giữa thực hiện chức năng kinh tế - giáo dục nguồn lao động, phúc lợi gia đình, tổ chức tiêu dùng của hộ sản xuất cần được xem xét

trong khung cảnh của nền kinh tế và truyền thống văn hoá toàn xã hội

1.4- Đặc điểm hộ gia đình sản xuất ở nông thôn Việt Nam - Nhân tố ảnh

hướng tới cơ chế tín dụng hộ gia đình sản xuất nông nghiệp

Trang 15

Hộ gia đình sản xuất ở nông thôn Việt Nam hiện nay có hoàn cảnh kinh tế

ở mức độ khác nhau Có hộ thiếu ăn hoặc đủ ăn nhưng chỉ đủ tái sản xuất giản đơn, nói chung dây là những hộ nghèo Có hộ gia đình sản xuất hàng hoá, tái sản

xuất mở rộng có tích luỹ Xét một cách tổng thể thì hộ sản xuất trong nông

nghiệp nông thôn phát triển ở trình độ thấp, bị động về vốn, thị trường và chịu sự

chi phối to lớn của thiên nhiên ( Điển số 5, số ố )

Hộ gia đình sản xuất ở nông thôn tiến hành sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông - lâm - ngư - diêm nghiệp là chủ yếu, với gần 80% dân số nguồn sống chính dựa vào nông nghiệp và chịu ảnh hưởng, bị chỉ phối mạnh bởi các quy luật

và điều kiện tự nhiên ở từng: vùng, từng khu vực trorig một không gian rộng lớn, lao động đông nhưng thiếu kỹ thuật Diện tích đất dùng cho sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người thấp nhất so với các nước trong khu vực( gần 0,1 ha) Sản

phẩm nông nghiệp chủ yếu là lúa nước Việc chuyển đổi từ nền nông nghiệp sản

xuất nhỏ lạc hậu phân tán, vốn ít lại chưa có công nghiệp phát triển ( trong đó

có công nghiệp chế biến ) sang nên sản xuất lớn, sản xuất hàng hoá ở nước ta gap không ít khó khăn Mặt khác trình độ tổ chức quản lý sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn còn bất cập Việc phân vùng, quy hoạch, xác định chiến lược

sản phẩm tìm thị trường hẻn vững và ổn định chưa làm được Tích tụ vốn, tư liệu

sản xuất để chuyển từ sản xuất nhỏ sang mô hình kinh tế trang trại rất chậm chap ( Biểu số 7 ) Các hợp tác xã được thành lập theo mô hình kinh tế tập trung trước đây về cơ bản đã bị tan rã Các hợp tác xã kiểu mới chậm được hình thành Nếu

có được thành lập thì rất nhỏ bé, thiếu vốn, trình độ quản lý thấp, hiệu quả kinh doanh kém

Bù lại những khó khăn và yếu kém trên, hộ gia đình sản xuất.trong nông nghiệp, nông thôn có mặt mạnh riêng Đó là tính cần cù lao động, lòng yêu nước

có tính truyền thống của người nông dân Việt Nam Việt Nam có điều kiện phát triển một nên nông nghiệp toàn diện, tập trung, chuyên canh và sản xuất hàng

Trang 16

hoá lớn Thực tế những năm gần đây, một số vùng chuyên canh lớn đã hình thành

và phát triển: vùng sản xuất lúa, vùng cây công nghiệp dài ngày, vùng cây ăn

quả

Các yếu tố sản xuất kinh doanh chi phối mạnh đến đặc điểm hộ sản xuất

trong nông nghiệp, cụ thể như sau:

nhiều nơi đã chia nhỏ ruộng đất khi "giao khoán" theo nguyên tắc "có tốt có xấu,

có gần, có xa" Nhiều hộ sản xuất chỉ có 0.3 la nhưng được chia ở nhiều cánh đồng nhiều khu vực sản xuất Có hộ có tới 7 - L0 mảnh ruộng Chỉ cần di đọc

quốc lộ I từ Hà Nội về Ninh Binh, chúng ta cũng thấy các cánh đồng bị "băm”

nhỏ đến mức nào? Gần đây, khi thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ nông dân, một số địa phương đã vận động nông dân tự đổi ruộng để mỗi hộ chỉ còn | - 2 mảnh ruộng, nhưng việc làm này thu được kết quả rất thấp

Quy mô ruộng đất nhỏ bé lại phân tán, manh mún làm ảnh hưởng tới việc

áp dụng kỹ thuật canh tác tiến hộ và làm giảm đáng kể năng suất lao động Số hộ ˆ

có diện tích canh tác trên 3 ha chỉ chiếm 0,09% số hộ sản xuất ở nông thôn và

cũng chỉ tập trung chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa, vùng mới khai phá như Tây nguyên, Đồng Tháp mười, U Minh

Trang 17

Quy mô dất đai không tương quan với số nhân khẩu và lao động cao của

hộ, 4 - 5 nhân khẩu và 2 - 3 lao động ( Biểu số 4 ) Do đó bình quân đất dai cho | khẩu, 1 lao động rất thấp Trong khi đó sự phân bố lại lao động trong xã hội diễn

ra chậm, nhu cầu tách hộ nông nghiệp ngày càng tăng Nhu cầu đất ở, đất chuyên

ding phi nông nghiệp, đất bị đô thị hoá ngày càng cao, điện tích đất bình quân

cho 1 lao động nông nghiệp ngày càng giảm

Đây là nguyên nhân chủ yếu quyết định mức vay, nhu cầu vay vốn cao hay thấp của mỗi hộ gia đình sản xuất ở nông thôn

Về ruộng đất, một vấn dé đáng quan tâm hiện nay là: Theo luật đất đai

người dân chỉ có quyền sử dụng đất mà không có quyền sở hữu đất Không có

quyền sở hữu đất nhưng lại có quyền thừa kế, chuyển nhượng, thế chấp, trao đổi Do dé sự ràng huộc của người dân với đất đai còn có sự lỏng lẻo thờ ơ nhất định, người dân quan tâm đến đất ở hơn là đất sản xuất do chính sách đến bù và các chính sách khác Việc thế chấp khi vay vốn bằng đất đai còn gặp khó khăn

vì việc cấp giấy "chứng nhận quyền sử dụng đất” nhiều nơi thực hiện rất chậm, với nhiều lý do khác nhau

1.4.2- Về lao động:

Hộ gia đình sản xuất, trước hết là một đơn vị tổ chức lao động Để hoàn

thành công việc hàng ngày của hộ chủ yếu dựa vào lao động trong gia đình Về quy mô, hộ thường có từ 4 đến 5 khẩu với 2 đến 3 lao động, tuỳ ở mỗi vùng có

Cơ cấu lao động của hộ khá da đạng: khác nhau về tuổi tác, giới tính, nghề

nghiệp và địa vị trong gia đình; nhưng điểm nổi bật là có mục đích lao động và

ngân sách chung Cơ cấu lao động đa dạng cho phép hộ sử dụng nguồn nhân lực rất linh hoạt theo nhiều chiêu một cách có hiệu quả Đội ngũ lao động nông thôn

Trang 18

trẻ, nhóm tuổi từ 15 - 24 chiếm 38,43%; tuổi từ 15 - 34 chiếm 68,89%: tuổi lao

động dưới 44 chiếm tới 85, 6%

Một lao động của hộ sản xuất phải nuôi 2 - 3 khẩu Đây là một khó khăn của hộ sản xuất trong kinh doanh, đặc biệt là trong điều kiện lao động thủ công, năng suất lao động thấp trong nông nghiệp hiện nay Lao động nông nghiệp chủ yếu tự đào tạo và truyền nghề, trình độ kỹ thuật còn hạn chế, hầu hết sức lao động của gia đình không được xem là lao động dưới hình thức hàng hoá Lao động này là tự phục vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của gia đình Đa số các hộ sản xuất nông nghiệp hiện nay có mục dích sản xuất trước hết phục vụ nhu cầu gia

đình Ở những vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá như vùng trông cây công

nghiệp, vùng nguyên liệu nuôi trồng thuỷ sản có mục đích sản xuất hàng hoá và

có nhụ cầu lao động làm thuê nhưng cũng ở quy mô rất nhỏ bé Mô hình kinh tế trang trại bắt đầu hình thành và phát triển nhưng lao động của bản thân chủ trang trại vẫn là chính lao động thuê mướn còn ở vai trè phục vụ và có tính chất thời

vụ

Vào những năm mất mùa( do thiên tai là chính ) thì nhu cầu để duy tri

cuộc sống bằng cách hạn chế tiêu đùng, gắng sức tìm nguồn sống cho gia đình với chỉ phí lao động lớn nhất và đặc điểm này đã hạn chế người nông dân hước vào kinh tế thị trường và họ thường bị thua thiệt trên thương trường.( Biểu số 8)

Nhìn chung việc sử dụng thời gian lao động của hộ sản xuất trong nông thôn ở mức độ rất thấp, việc tìm kiếm việc làm ở nông thôn rất khó khăn Nhiều vùng nông thôn, nhất là khu vực Đồng bằng sông Hồng đất ít, người đông là nguyên nhân nạn thất nghiệp và bán thất nghiệp hiện nay Từ đó thu nhập của lao

nguyên nhân dẫn đến dòng người nông thôn ra thành thị thường xuyên hoặc theo

mùa vụ

Trang 19

Ở nhiều vùng có lao động nhưng thiếu đối tượng sẵn xuất đã hạn chế mức vay vốn của hộ sản xuất ở nông thôn Ngay ở huyện Thanh Trì một số xã như

Thanh Liệt, Hoàng Liệt Yên Mỹ đã tổ chức họp dân nhiều lần để phổ biến cho

vay vốn để dân phát triển sản xuất nhưng vẫn không cho vay được Ở những nơi này có câu trả lời chung là: vay vốn về không biết để làm gì mà còn phải trả nợ gốc và lãi ngân hàng

Lực lượng lao động đồi dào trẻ tuổi nhưng không được đào tạo, chủ yếu

là lao động thủ công và có tới 90% sản xuất trong lính vực trồng trọt trong trồng

trọt cũng chủ yếu là sản xuất lương thực( lúa nước)

Lao động tiểu thủ công nghiệp ở các làng nghề chiếm tỷ trọng không đáng

kể và bản thân các nghề thủ công truyền thống cũng bị thu hẹp do thị trường, da

nguyên liệu thiếu

Với đặc điểm trên lao động nông thôn bị hạn chế rất nhiều về khả năng vay vốn sử dụng vốn và kha nang tra nợ đối với vốn vay

1.4.3- Về nguồn von sản xuất kinh daanh:

Lao động thủ công, năng suất lao động thấp là nguyễn nhân làm cho quá

trình tích tụ và tập trung vốn trong nông thôn khó khăn ( Biểu số 6 số 7 } Để tái

sản xuất mở rộng nhanh chóng ở nhiều vùng nông thôn nhất là các vùng mới khai phá như Tây nam bộ, Tây nguyên hộ gia đình sản xuất luôn luôn gặp khó khăn về nguồn vốn Mặt khác, chu kỳ sản xuất trong nông nghiệp nói chung là đài, lại luôn chịu sự tác động của thiên nhiên do đó nguồn vốn bị luân chuyển chậm, đôi khi bị mất trắng cả nguồn vốn đã tích luỹ bao năm chỉ sau một trận thiên tai Nhìn chung tích luỹ của nông dân không phải dựa trên một miền nông nghiép thang du ma sự tích luỹ này còn do sự chất bóp dành dụm của nông dân, thậm chí tiêu dùng ở mức tối thiểu để phục vụ cho sản xuất (Biểu số 8)

Trang 20

Ngay ở những hộ giàu( như các trang trại ) cũng bị thiếu vốn Bởi lẽ, số

vốn của họ đành cho đầu tư ban đầu là chủ yếu, như đầu tư cho đất đai, kiến thiết

cơ bản đến khi chăm sóc chế biến và phục vụ tiêu thụ sản phẩm lại không còn vốn Đối với người nghèo thiếu vốn để tái sản xuất mở rộng là chính

Việc tích tu và tập trung vốn trong nông nghiệp hiện nay điển ra rất chậm

chạp do năng suất lao động thấp, do đó để tái sản xuất mở rộng hình thành các hộ

sản xuất quy mô lớn phải dua vào vốn vay, vốn tự có chiếm ty trong nhỏ Trong khi rủi ro trong sản xuất nông nghiệp ( bao gồm cả nông - lâm - thuỷ sản) lại quá lớn sản xuất bấp bênh vì thiên tai rình rập, giá cả thất thường, thị trường không

ồn định Khi vốn vay ngân hàng nếu gặp mưa thuận gió hoà tiêu thự được sản phẩm thì có tiền trả ngân hàng( cả gốc và lãi ): ngược lại nếu gặp rủi ro thì hộ sản xuất không còn khả năng trả nợ ngân hàng, thậm chí mất trắng Nhu cầu vốn lớn nhưng độ rủi ro cao là mâu thuẫn cơ bản trong đầu tư tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn hiện nay Đặc diểm này chỉ phối rất lớn đến cơ chế cho vay hộ sản xuất nông nghiệp, từ phương thức cho vay, tỷ lệ vốn tự có, phương thức gia hạn nợ, giãn nợ, xử lý rủi ro

1.4.-4- Về cơ sở hạ tầng trong nông thôn, hệ thống công cụ lao động trong

nông nghiệp:

Trong những năm gần đây cơ sở vật chất kỹ thuật ở nông thôn nước ta đã

có tiến bộ lớn, đặc biệt là hệ thống giao thông nông thôn và hệ thống cấp điện Tuy nhiên xét trên diện rộng, nhất là ở khu vực miền núi và Đồng bằng sông Cửu

long hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, do địa hình phức tạp, chia cất Đâu tư cho sản xuất, tiêu thụ, chế biến sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở

vật chất kỹ thuật hạ tầng Đây là mối quan hệ hữu cơ khăng khít Vốn cho sản xuất do hộ sản xuất đầu tư, còn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng chủ yếu phải dựa vào Nhà nước và một phần đóng góp của đân Do đó hiệu qua tín dung đầu tư cho

hộ sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở vật chất kỹ thuật ở nông thôn Cơ sở

Trang 21

vật chất kỹ thuật kém thì hiệu quả vốn đầu tư cho hộ sản xuất không thể cao

và không thể phát huy hết tiểm năng

Vẻ công cụ sản xuất ở nông thôn hiện nay về cơ bản vẫn là lao động thủ công, công cụ sản xuất còn lạc hậu, tỷ lệ lao động cơ khí còn thấp Có tình

trạng

này là do quy mô sản xuất của các hộ còn nhỏ nhất là quy mô đất đai Theo tổng cục thống kê thì mức trang bị vốn cố định phục vụ sản xuất cho một hệ nông

dân

trung bình khoảng 2 triệu đồng

Mặc dù vốn đầu tư cho tài sản cố định và các phương tiện phục vụ sẵn xuất đã được tăng cường nhưng tốc độ còn thấp đặc biệt về mặt kỹ thuật thì công

trong đó có một nguyên nhận rất quan trọng là dân thiếu vốn để đổi mới kỹ thuật

và việc ngưng trệ trong việc phân công lao động ở nông thôn trong những năm qua

1.4.5- Về điều kiện thiên nhiên:

Theo báo cáo của tổ chức khí tượng Thế giới WMÔ ) trong năm 2000 các hiện tượng khí hậu diễn biến phức tạp như: bão, lốc, mưa lớn lũ lụt kéo đài,

Trang 22

Trong năm 2001 thời tiết diễn biến phức tạp Khô hạn ở các tỉnh phía Bắc vừa kết thúc thì xuất hiện ngay mưa to làm ngập úng hàng nghìn ha lúa xuân Mưa rào và giông xuất hiện sớm Trong hơn 4 tháng đầu năm đã xảy ra 30 trận

dương, Hải phòng, Quảng bình, Bà rịa- Vũng tàu làm nhiều người chết và bị thương, nhiều nhà cửa bị đổ, nhiều ha hoa màu, cây trái bị thiệt hại Giữa tháng 5/2001 mưa lũ tiểu mãn ở các tỉnh ven biển miền Trung trên các triển sông với mức báo động cấp Ï, If có sông lên cấp II làm úng ngập hơn 7000 ha lúa Đông xuân và hoa màu: trong khi đó, nắng nóng lại xuất hiện sớm và rất gay gất ở nhiều nơi

Đây là thí dụ điển hình và gần đây nhất về thời tiết khí hậu ở Việt Nam và lĩnh vực bị ảnh hưởng nhiều nhất người bị thiệt hại nhiều nhất là nêng thôn và nông dan Riti ro bất khả kháng có tính thường xuyên và to lớn này ảnh hưởng tới

cơ chế cho vay nông nghiệp nông thôn thế nào? Năm được mùa người dân có đủ khả năng trả nợ và còn để tích luỹ, nhưng năm mất mùa xử lý thế nào? Có lấy năm được bù năm mất hay không? Hay tách bạch từng năm xử lý từng năm? Và

xử lý thế nào?

1.46- Về tổ chức sẳn xuất và quản lý trong nông nghiệp, nông thôn:

Trước hết về cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn Nông dan vẫn đang đuy trì cơ cấu sản xuất canh tác theo phương thức đã hình thành từ xa xưa Nét nổi bật ở đây là cơ cấu sản xuất chậm được thay đổi; có vùng( nhất là vùng

- núi, vùng sâu, vùng xa ) người nông dân vẫn còn quen với tập quán sản xuất chủ

yếu để tiêu dùng cho gia đình

Trồng trọt vẫn là ngành sản xuất chủ yếu, trong trồng trọt sản xuất lương thực chiếm tỷ trọng cao và thu từ lúa nước chiếm tới 56% Với nguồn vốn ft di

Trang 23

các hộ sản xuất thường phải phân tấn vốn cho nhiều lĩnh vực sản xuất tiêu dùng

phục vụ đời sống Cơ cấu sản xuất của phần lớn các hộ là đa ngành nghề( kinh doanh tổng hợp ) Hơn 70% số vốn trong nông nghiệp( của hộ sản xuất ) được tập trung vào trồng trọt trong đó chủ yếu là lúa nước Ở những nơi thuần nông tỷ lệ này còn cao hơn

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp truyền thống vẫn được duy trì ở đại bộ phận các hộ sản xuất mà cây lúa và con lợn là hai đối tượng sản xuất chủ yếu Sự chuyến biến cơ cấu sản xuất chưa làm thay đổi căn bản cơ cấu sản xuất truyền

có tính chiến lược Ngay một số vùng được đầu tư lớn của Nhà nước để trồng lương thực, người dân cũng tự phát phá đê bao lấy nước mặn để nuôi trồng thuỷ hải sản Người dân tự phá rừng trồng cà nhê tiêu bất chấp việc cấm phá rừng

Ngay một số vùng được quy hoạch từ các cơ quan Nhà nước cũng bị thay đổi về

quy mô do tác động của giá cả và cách chỉ đạo tổ chức sản xuất của các ngành như các vùng mía đường, cây ăn quả, vùng cây công nghiệp khác Vùng sản xuất cơ cấu sản xuất ở nước ta bị tác dộng của rất nhiều vếu tố, như:

- Những yếu tố tự nhiên( đất đai thời tiết, khí hậu )

- Thị trường hàng hoá: giá cả, phương thức tiêu thụ

- Quy mô sản xuất

- Tap quan, thói quen và mục đích sẵn xuất của nông dan

ạt, khi lại thu hẹp nhanh chóng

Hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn vẫn chủ yếu là

hộ sản xuất - đơn vị kinh tế tự chủ, nhưng quy mô sản xuất đa số còn rất nhỏ bé,

manh mún, thiếu sự kết dính, hợp tác Các hợp tác xã được tổ chức trước những

Trang 24

năm 80 của thế kỷ 20 về cơ bản đã tự tan rã Một số khác được tổ chức lại cho phù hợp với cơ chế thị trường, một số hợp tác xã được lập mới nhưng nhìn chung hoạt động kém hiệu quả, vốn tự có ít, trình độ quản lý yếu, hiệu quả kinh doanh thấp Nhiều hợp tác xã đã vay vốn ngân hàng nhưng không có khả năng trả nợ (đến cuối năm 1999 có tới trên 30% vốn vay bị nợ quá hạn ) Từ đầu những nãm

90 của thế kỷ 20 đã hình thành các trang trại ở một số nơi kinh tế trang trại phát triển nhanh do có nhiều quỹ đất( như vùng Đồng Tháp mười, Tây nguyên, Đông Nam bộ ) hoặc vùng sản xuất cây công nghiệp tập trung( một số tỉnh phía Bắc Tay nguyên Đông Nam bộ } Hiệu quả kinh tế của loại hình sản xuất này hơn

trang trại ở Việt Nam trong thời gian qua kinh doanh có hiệu quả nhưng do tính

đang có nguy cơ phá sản da trồng cây ăn quả không có khách mua hoặc quá rẻ: nhiều trang trại ở miền Đông Nam hộ Tây nguyên cũng có tình trạng tương tự

Hàng tram trang trai đã vay vốn để kinh doanh Trong số đó đa số kinh doanh có hiệu quả và có khả năng trả nợ vốn vay sòng phẳng còn lại bị thua lỗ

quả là một thành công và xã hội có lợi, nhưng trên phương diện ngân hàng cho vay vốn, nếu chỉ 10% số trang trai không trả được nợ thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn

Phát triển kinh tế hợp tác và kinh tế trang trại là xu thế tất yếu của nền

phải được tích tụ và tập trung vốn của bản thân các chủ điển là chính vốn vay chỉ

Trang 25

có tính chất hỗ trợ thì vốn vay mới an toàn mới có khả năng thư nợ Đây là một vấn đề lớn chỉ phối cơ chế cho vay đối với hộ sản xuất nông nghiệp

1.4.7- Về môi trường kinh doanh:

Quy mô sản xuất của hộ gia đình sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào quy

mô đất đại, vốn, sức lao động , cơ sở vật chất kỹ thuật, công cụ máy móc, trình

độ công nghệ Ở nước ta hiện nay nhìn chung sản xuất trong điều kiện ruộng

đất hạn hẹp, manh mún lao động nhiều nhưng thiến kỹ thuật, chủ yếu là lao động thủ công Các thị trường vốn, tư liệu sản xuất, lao động của sản xuất nông nghiệp và các ngành khác chưa phát triển đầy đủ Trong tĩnh vực sân xuất nông

nghiệp, người nông dân đầu tư lao động sống cao hơn đầu tư lao động vật hoá Bên cạnh đó, hệ thống thuỷ lợi giao thông, thị trường tiêu thự nông sản chưa

đủ và vững chắc đã ảnh hưởng lớn tới việc đầu tư mở rộng sản xuất của nông dân Một số vùng nông thôn kinh tế kém phát triển nhưng người nông dan vay vốn không biết đầu tư vào đâu

Sản xuất nông nghiệp ở nước ta không chỉ phụ thuộc rất nhiều vào điểu kiện tự nhiên mà còn phụ thuộc đáng kể vào sự phát triển của các ngành, các lĩnh

yếu là dân cư nông nghiệp vẫn đuy trì trạng thái kinh tế tự nhiên mang nặng tính truyền thống của các thôn, làng, bản Cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng chưa phát triển, chưa đáp ứng nhu cầu cần thiết cho hộ sản xuất như khả năng chế biến, tiêu

thụ, giao lưu hàng hoá

Các thị trường vốn lao động tư liệu sản xuất chậm hình thành và kém phát -_ triển đã ảnh hưởng đến đầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiỆp

bộ dân vẫn là bước quá độ từ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường

Trang 26

Có thể nói, sản xuất nông nghiệp còn rất bị động, tự phát thiếu một chiến lược có tính chủ động, bị chỉ phối và phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên và sự phát triển của các ngành kinh tế khác và trong một môi trường pháp lý dang trong giai đoạn chuyển đổi từ bao cấp sang thị trường

1.4.8- Về tâm lý của người sắn xuất trong nông nghiệp:

Với học vấn không cao, không được đào tạo nghề nghiệp, lao động thủ công, sản xuất nông nghiệp có tính “cha truyền con nối ", sản xuất "tự cấp tự túc”

là chủ yếu nên số người có khát vọng làm giàu và quen tính toán trong cơ chế thị

trường bị hạn chế

Một số lớn hộ nông dân còn có tâm lý trông chờ vào Nhà nước tâm lý

"bao cấp" vẫn còn nặng nề Không ít hộ nông dan có tâm lý "chây ì” khi trả nợ

các tổ chức tín đụng nhất là các tổ chức tín dụng Nhà nước

Người nông dân gắn hó với đất dai làng han, "tinh lang nghĩa xóm” truyền

théng "dong ho” khá bền chặt Do đó nếu tổ chức tín dụng có phát mại tài sản thế chấp là nhà cửa, đất đai thì cũng khó hán Trước hết bởi tâm lý không muốn mua

của người " vỡ nợ"; mặt khác vì "tình làng nghĩa xóm”; vì hà con họ hàng nên không mua của nhau Người nơi khác đến mua cũng không muốn mang tiếng

"phụ cư" và cũng thật khó sinh sống ở đó vì " hàng xóm” không ủng hộ, tiếp nhận mình Khi phát mại nhà cửa, đất đai của hộ nông dân, ngay cấp chính quyền

cơ sở cũng không muốn thực hiện một cách tích cực, bởi tấm lý "sáng tối trông thấy nhau" không ai muốn “thu” nhà "thu" đất của nhau Ở một khía cạnh khác,

vì tính nhân đạo, quyền có nhà ở của dân nên các cấp chính quyền không "man

ma” gi với việc phát mại tài sản là nhà đất của hộ nông dân Không ít trường hợp, Toà án đã tuyên kê biên thu nhà đất của hộ nông dân nhưng chính quyển xã

không thực hiện, lý do đưa ra là: Gia đình người dân ở đâu?

Trang 27

Đây chính là những trở ngại không dễ khắc phục và cũng đặt ra cho các tổ

chức tín dụng cần có cơ chế cho vay phù hợp đối với hộ nông đân

1.4.9- Thu nhập của hộ gia đình sản xuất - Mốt quan hệ giữa thu nhập của hộ

gia đình sản xuất với lãi suất và các chỉ phí khác vay vốn tổ chức tín dụng:

Thu nhập của hộ gia đình sản xuất ở nông thôn chủ yếu dựa vào kết quả

thống chiếm tỷ trọng cao nhưng vẫn có thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi Mức thu nhập phản ánh trình độ- sản xuất, mức sống, khả năng tiêu đùng, tích luỹ và khả năng tái sản xuất

các nước trong khu vực mà còn thấp nhiều so với dân cư của các ngành khác đặc

biệt là các thành phố lớn và khu công nghiệp ( Biểu số ó ) Nhìn chưng mức sống

của hộ nông dân còn thấp, đại bộ phận chưa thoát khôi tự cung tự cấp ít có khả nãng tích tuỹ để tái sản xuất mở rộng Không những thế từng vùng kinh tế, cơ cấu kinh tế theo từng nhóm hộ lại có những khó khăn khác nhau trong thu nhập

Sự phân hoá trong nông thôn có xu hướng tăng lên bất đầu xuất hiện các tầng lớp tiểu chủ trong nông thôn, số lao động đi làm thuê thường xuyên hoặc theo thời vụ tăng dần

đồng trong cơ cấu sản xuất cũng như cơ cấu thu nhập của hộ sản xuất

Do mộng đất ít, người đông, lại bị ảnh hưởng lớn của thiên tai, giá cả nông

trong nông nghiệp rất thấp Lấy 2 sản phẩm chính trong nông nghiệp hiện nay là sản xuất lúa nước và chăn nuôi lợn, tỷ suất lợi nhuận chỉ đạt {0 - 20%( tuỳ từng vùng ) có vùng còn bị thua lỗ Người nông dân sản xuất theo phương châm "lấy

công làm lãi”

Trang 28

Nếu vay vốn các tổ chức tín đụng, nông dân phải trả lãi 12 - 15% mot nam thì thu nhập của họ còn lại chỉ đủ tái sản xuất giản đơn Do đó, muốn tiếp tục sản xuất người dân lại phải tiếp tục vay vốn Cái vòng vay trả không bao giờ dừng Nếu gặp thiên tai, mùa màng thất thu thì người đân không còn nguồn tích luỹ để trả vốn vay Nếu vì chưa trả nợ cũ, tổ chức tín dụng không cho vay thì nông dân

đành hó tay hoặc phải đi vay nặng lãi Đây là một đặc điểm mà khi xây dựng cơ chế cho vay hộ nông đân chúng ta không thể không chú ý đến

Các tổ chức tín dụng cho hộ nông dân vay vốn phải chịu các khoản chỉ phí rất lớn tính cho một đồng dư nợ vì số tiền một món vay ít, chỉ phí giấy tờ tiền

lương, công tác phí lại cao Một cán hộ tín dụng cho vay hộ sản xuất nếu làm việc tích cực không kể thứ 7 chủ nhật cũng chỉ quản lý được 300 - 1000 hộ nông

dân nhưng tổng dư nợ cũng chỉ đạt 5- 7 tỷ đồng Ngược lại người nêng đân vay vốn các tổ chức tín đựng nhất là của các ngân hàng thương mại, ngoài lãi suất phải trả theo quy định, còn phải chỉ phí nhiều khoản, như: tién đi lại( có nơi đi xa tới 30 - 40 km cá biệt như vùng sau vùng xa phải đi xa tới 70 - 100 km), chỉ phí

ăn trưa nước uống Đây là chỉ phí thật "lãi thất” mà người vay vốn phải bỏ ra

và họ phải tính toán khi vay vốn

Đây là một đặc điểm đòi hỏi khi cho vay phải tính đến sao cho người dân

đi lại ít nhất, cách xét duyệt vay vốn? cách thu lãi, phương thức thu lãi cho vay? sao cho người nông dân giảm được thấp nhất các khoản chi phí khi vay vốn các tổ chức tín dụng tính cho một đồng vốn vay, chứ không phải chỉ giảm lãi suất danh nghĩa

Kết luận:

- Kinh tế hộ gia đình sản xuất là hình thức tổ chức sản xuất cơ bản trong

nông nghiệp ở nước ta hiện nay Hộ gia đình sản xuất là một đơn vị kinh tế tự

chủ, là thể nhận quan hệ tin dung với các tổ chức tín dụng Tuy nhiên kinh tế hộ

Trang 29

gia đình sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam còn nhỏ bé, năng suất lao động thấp,

công cụ sản xuất thủ công là chính, ruộng đất bình quân đầu người thấp lại phân

tán và chưa được quy hoạch để sản xuất ổn định, lâu dai, còn phụ thuộc quá

nhiều vào điều kiện tự nhiên Trong khi đó, lũ lụt, hạn hán lại thường xuyên xẩy

ra làm cho sản xuất nông nghiệp hết sức bị động và kém hiệu quả

- Từ một nền sản xuất nhỏ đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá, kinh tế hộ

bị thiếu vốn nghiêm trọng Thiếu vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng thiếu vốn để hiện đại hoá công nghệ thiếu vốn để thay đổi cơ cấu sản xuất mở rộng sản xuất Lợi nhuận trong sản xuất nông nghiệp thường thấp hơn các ngành sản xuất khác do đó tích luỹ từ nông nghiệp vừa để tái sản xuất mở rộng vừa đảm bảo khả năng thanh toán trả nợ vốn vay( cả gốc và lãi) là rất khó khăn đối với nông

dân.Trả nợ món trước phải vay ngay món sau là điều dễ hiểu và tất yếu trong giai đoạn hiện nay đối với nông nghiệp

- Ngoài lãi suất danh nghĩa người dân phải trả khi vay vốn, nông dân còn

phải chỉ một khoản tiền hoặc công sức không nhỏ để vay vốn Đó là chỉ phí về

lao động sống khi phải đi một chặng đường xa tới trụ sở ngân hàng để vay vốn, trả lãi, trả gốc Chi phí ăn uống xăng xe trên chặng đường tới ngân hàng Do

đó "Tãi suất thật” mà người nông dân phải trả cao hơn lãi suất công hố của ngân hàng

Đó là tất cả những khó khăn cơ bản ảnh hưởng tới việc cho vay hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư, điêm nghiệp ở nước ta hiện nay

2- ĐẶC ĐIỂM CÚA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ

GIA BINH SAN XUẤT NÔNG- LÂM- NGƯ- DIÊM NGHIỆP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Với đặc trưng, đặc điểm của hộ sản xuất ở nông thôn, với một lượng khách hàng lớn là hộ sản xuất trên phạm vi rộng khắp các vùng trong cả nước, trong

Trang 30

điều kiện phương tiện đi lại, thông tin đến các vùng còn rất hạn chế, việc đáp ứng đây đủ vốn cho nông dân và bảo đảm an toàn vốn thực sự là một khó khăn lớn

đối với tổ chức tín đụng, đặc biệt các ngân hàng thương mại

Khách hàng đông, món vay nhỏ khả năng rủi ro cao, điều kiện đi lại khó

khăn làm cho người dân có nhu cầu vốn khó tiếp cận ngân hàng Ngược lại ngân hàng muốn tìm kiếm khách hàng để cho vay cũng khó khăn Đây là nguyên nhân làm cho khách hàng và ngân hàng xa nhau, ít có điều kiện tìm đến nhau như ở thành phố thị xã, khu dân cư tập trung Nếu cho vay các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp lớn mỗi món vay tới hàng tỷ đồng chục tỷ đồng thậm chí hang tram ty, trong khi đó hộ sản xuất chỉ vay 3 - 5 triệu, nhiều cũng chỉ l5 - 20 triệu, chỉ rất ít hộ có nhu cầu vay hàng trăm triệu Để cho vay được, cán hộ ngân

hàng phải đi xa hàng chục km để thẩm định tái thẩm định và cũng phải chỉ phí

giấy tờ giống như cho vay một khách hàng lớn Do đó như cầu cán bộ tín dụng Ở vùng nông thôn rất lớn về số lượng nhưng bình quân dư nợ ! cán bộ lại thấp, phí cho một đồng vốn vay lớn Tất cả các khoản chỉ phí này người vay vốn là hộ sản xuất phải gánh chịu( được tính vào lãi suất tiền vay) Ngân hàng nông nghiệp Thanh Trì có dư nợ bình quân gần I00 tỷ đồng, trong đó 36 tỷ cho vay hộ sản

xuất và trên 50 tỷ cho vay doanh nghiệp nhưng có 23 cán bộ tín dụng cho vay hộ

sản xuất( 36 tÿ/23 cán hộ tín đụng ) còn cho vay các doanh nghiệp chỉ có | cán

bộ tín đụng ( 50 tỷ/1 cần bộ tín dụng )

Nhằm tạo điều kiện khuyến khích những hộ sản xuất thiếu vốn kinh doanh được vay vốn ngân liàng, ngân hàng phải tổ chức cho vay, thu nợ, thu lãi thuận

lợi nhất, giảm chi phi của người vay đồng thời cũng giảm chi phí cho ngân hàng

Phương pháp tiếp cận khách hàng là hộ sản xuất nông nghiệp luôn luôn được

quan tâm nghiên cứu và cải tiến, nhằm mục đích vừa nắm bắt được thông tin

chính xác, nhanh chóng kịp thời, vừa có chỉ phí cho cả 2 phía thấp nhất Ngoài ra

Trang 31

các thủ tục vay vốn vừa phải đảm bảo tính pháp lý, vừa đỡ phiển hà cho dân - khi trình độ dân trí nhiều vùng còn rất thấp

Về nguyên tắc hộ sản xuất phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam

kết và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những sai trất trong việc sử dụng vốn

vay Người nông dân không chỉ có như cầu vốn cho sản xuất kinh doanh mà còn

có nhu cầu vốn cho tiêu dùng như làm nhà, mua sắm phương tiện sinh hoạt, đi lại, học hành chữa bệnh Do đó việc kiểm soát vốn vay đúng mục đích trên

phạm vị rộng, phân tán đi lại khó khăn là một thách thức đối với tổ chức tín dụng Khi phát hiện vốn vay bị sử dụng sai mục đích tổ chức tín dụng ít có cơ

hội thu hồi lại vốn đã cho vay vì vốn vav đã được sử dựng vào tiêu dùng như sửa nhà mua xe đóng học

chân chính, chất phát nhưng cũng có một số bộ phận không nhỏ có tư tưởng chây

ỳ, dựa dẫm thậm chí có một số thuộc diện tỆ nạn, lưu manh hoá Số này tìm cách vay được vốn sau đó chây ì không trả Việc lựa chọn khách hàng tránh được những rủi ro đạo đức người vay được đặt ra cho tổ chức tín dụng khi quyết định

không phải thế thấp

Do trình độ thấp, hộ sản xuất trồng cây gì? nuôi con gì? thường theo

"phong trào” trong khi Nhà nước đang thiếu quy hoạch, đo đó việc đánh giá hiệu quả của các dự án, phương án sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất đang là khó

khăn rất lớn cho các tổ chức tín dụng

Việc lựa chọn những hộ sản xuất sử dụng vốn vay đúng mục đích, có phương án dự ấn sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có "chữ tín" với ngân hàng đời hỏi trình độ cán bộ tín dụng không ngừng được nâng cao, phải đi sâu, đi sát

Trang 32

tới khách hàng và cán bộ cơ sở Yêu cầu này làm cho đội ngũ cán bộ tín dụng tăng thêm, đồng thời tầng thêm chỉ phí ngân hàng trong khi người dân lại muốn vay vốn lãi suất thấp

Ở nước ta I0 năm cho vay hộ sản xuất nông- lâm- ngư- điệm nghiệp quan

hệ giữa nông dân và ngân hàng được cải thiện, hiểu biết, thông cảm nhau hơn Nông dân từ chỗ xử sự với ngân hàng như thượng dé thi nay trở thành "thượng đế" của ngân hàng Có ngân hàng thương mại quốc doanh mà cụ thể là NHNo&PTNTVN phục vụ nông dân như một đối tượng chủ yếu tín dụng ngân

hàng đã có sự thay đổi căn bản: Tư tưởng của thời kỳ bao cấp( han phát cửa quyền và độc quyền ) không còn nữa: sớm hoà nhập với kinh tế hàng hoá, vận

hành theo cơ chế thị trường NHNo&PTNT.VN đã tiếp cận và ngày càng mở rộng thị trường nông thôn, tự huy động vốn để đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho đân Các

mức vay ngày càng được tăng thêm từ 200 ngàn 500 ngàn đồng/ hộ nay đã tăng

lên 10 triệu- 20 triệu đồng/hộ không phải thế chấp tài sản Thủ tục cho vav ngày càng giảm bớt, hạn chế nhiều phiền hà

có niềm tin một cách trách nhiệm Ngân hàng và nông dân tồn tại trong xã hội và

Ngân hàng lo ngại cho nông dân vay vốn, dễ mất vốn dẫn đến phá sản Còn nông

ngân hàng vừa phải tìm cách huy động vốn để đủ nguồn cho vay, vừa phải cho vay số vốn đã huy động không để tồn đọng và phải đồi được nợ từ người vay, làm nghĩa vụ với Nhà nước và giải quyết việc làm, trả lương cho bộ máy cán bộ ngân hàng, do đó phải có cơ chế quản lý nghiêm ngặt không thể lơi lỏng Vì không

hàng phải đáp ứng như cầu đôi khi hoàn toàn cá nhân, chỉ có lợi cho mình, như đồi hỏi lãi suất ưu đãi, lãi suất thấp, trong khi ngân hàng cho vay món nho đi lại

Trang 33

nhiều địa bàn quản lý rộng phải mất nhiều người tham gia chỉ phí quản lý cao Hoặc đòi hỏi vay đài hạn, vay món lớn thủ tục gọn trong khi các chính sách

của Nhà nước chưa đủ, chưa đồng bô Nông dân có nhiều mac cảm vì chưa hiểu

thời bao cấp Không phải chỉ nông dân chưa hiểu và cảm thông hết với tín dụng ngân hàng phục vụ nông nghiệp, nông thôn mà một số cán hộ các cấp, các ngành

cũng chưa hiểu đứng và hiểu hết về tín dựng nông thôn hiện nay

Đối với cán bộ tín dụng cho vay nông dân cũng có những đặc điểm riêng cần phải nghiên cứu khi xây dựng cơ chế cho vay Trước hết cán bộ tín dụng

nông thôn hành động có tính độc lập khá cao Họ quan hệ với nhiều khách hàng thẩm định và để xuất cho vav Nhiều nơi, người dân chỉ biết cán bộ tín dụng chứ không biết ai khác ở ngân hang Ho tìm cách tiếp cận cán hộ tín dụng để được

vay vốn Do đó, cán bộ tín dụng nông thôn đòi hỏi phải có 3 phẩm chất cơ bản:

- Đạo đức nghề nghiệp: Nếu không có đạo đức nghề nghiệp, cán hộ tín dung dé sat phạm gây khó dễ với dân, thậm chí tiêu cực, móc nối với khách hàng

để vay ké và nhiều sai nhạm khác

- Phải hiểu nông nghiệp, nông thôn nắm vững được nghiệp vụ cho vay

nông dân Tính toán không phải phức tạp như cho vây doanh nghiện nhưng đòi

hỏi cán bộ tín dụng phải hiểu vật nuôi, cây trồng, và những phong tục tap quán của dân

- Phải cần cù, chịu khó đi sâu đi sát dân, tìm đến dân để cho vay, đôn đốc

nợ, quan hệ tốt với chính quyền cơ sở, có nang luc van động quần chúng

Do đó, cho vay hộ sản xuất ở nông thôn không đồi hỏi trình độ cán bộ tín dụng có bằng cấp cao nhưng đòi hỏi cao ở đạo đức, và tính cần cù chịu khó

Đây là những đặc trưng cho vay hộ sản xuất nông nghiệp, nông thôn mà khi xay dựng cơ chế cho vay phải xem xét đến

Trang 34

Kết luận:

- Đối với sản xuất nông nghiệp ngân hàng trực tiếp cho vay đến hộ sản xuất là chủ yếu nên nghiệp vụ cho vay hộ sản xuất phải được cải tiến nhằm tạo diêu kiện thuận lợi và sự tín nhiệm lẫn nhau giữa hộ sản xuất với ngân hàng trên

cơ sở hiệu quả và khả năng trả nợ, mặt khác giữ được mối quan hệ đối với hộ sản xuất lâu đài tạo điều kiện cho những món vay tương lai có thể giảm bớt chỉ phí về

giám sát, kiểm tra tìm hiểu các thông tin về hộ sản xuất vay vốn

- Quy trình nghiệp vụ và cơ chế cho vay phải đơn giản, dễ hiểu Điều quan trọng hàng đầu đối với cho vay hộ nông dân là: Cán bộ ngân hàng phải sat dan

làm cho dân hiểu ngân hàng dân thông cảm và thương cần hộ ngân hàng Ngược

lại cán bộ ngân hàng phải thương dân, hiểu đân thì mới cho vay và đồi được nợ

Nếu cán bộ ngân hàng làm việc theo kiểu công chức hành chính quan liêu xa

dân, gây khó khăn cho dân khi vay vốn thâm chí lấy "lệ phí” của dân thì rất khó khăn trong việc cho vay và đòi nợ

Trang 35

CHUONG U

THUC TRANG CHO VAY HO GIA DINH SAN XUAT NONG- LAM

NGƯ- DIÊM NGHIỆP Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA

(1990 - 2001)

1- QUÁ TRÌNH CHO VAY HỘ GIÁ ĐÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

1.1- Giai đoạn trước năm 1993 (rước khí có nghị định 14/CP ngày 2⁄1 1991

của Chính nhủ ban hành quy định về chính sách cho hộ sản xuất vay von dé phat triển nông- lAm- ngư- diêm nghiép va kink té néng then )

- Từ năm 1990 trở về trước cho vay vốn phái triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn ở nước ta chủ yếu thông qua cho vay các hợp tác xã nông nghiệp Khi

có Nghị quyết 10 của Bộ chính trị về đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp đã khẳng định hộ gia đình là don vi kinh tế tư chủ và xác định việc cưng cap tin dụng cho hộ gia đình để phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn là nhân tố

cực kỳ quan trọng Ngày 26/8/1991 Hội đồng Bộ trưởng( nay là Chính phủ ) đã

có Chỉ thị số 202/CT nêu rõ "việc cho vay của Ngân hàng để phát triển sản xuất

nông- lâm- ngư- diêm nghiệp cần được chuyển sang cho vay trực tiếp đến hộ sản -

xuất, tạo điều kiện cho các hộ sản xuất thuộc các ngành này thực sự trở thành

đơn vị kinh tế tự chủ”

- Sau khi có Chỉ thị số 202/CT dư nợ cho vay hộ sản xuất của NHNo đã tăng lên rõ rệt, năm 1990 có mức dư nợ cho vay hộ sản xuất là 144 tỷ, chiếm tỷ trọng rất nhỏ là 8,86% trong tổng dư nợ, nhưng đến cuối nam 1992 dư nợ đã tăng lên 1.431 tỷ( chiếm tỷ trọng 40,74% trong tổng dư nợ) Với số lượt hệ vay là 546

nghìn hộ vào năm 1991, đã tăng lên 2.142 nghìn lượt hộ vào năm 1992 và mức

vay bình quân của I hộ năm 199[ là 1.2 tiệu đồng, năm 1992 là 1,68 triệu đồng

Trang 36

12- Giai đoạn từ 1993 đến 1999 ( (rước khí có Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg

ngày 30/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ về "một số chính sách tín dụng ngân

hang phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thon" )

- Trên cơ sở kết quả và kinh nghiệm sau hơn một năm "làm thử” việc chuyển sang cho vay trực tiép đến hộ sản xuất( từ khi có Chỉ thị số 202/CT ) ngày 2/3/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 14/CP vẻ "Chính sách cho hộ

nông thôn" Đây là một bước tiến mới vì Chỉ thị 202/CT chủ yếu chỉ dé cập việc

chuyển hướng tín dụng ngân hàng sang cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất và triển khai thực hiện như một chương trình thử nghiệm Còn Nghị dịnh 14/CP đã khẳng định việc cho hộ sản xuất vay vốn là một chính sách kinh tế quan trọng

nông- lâm- ngư- điêm nghiệp được thực hiện theo Nghị định số 14/CP ngày

2/3/1903 của Chính phủ và các văn bản: Thông tư số 01/T T-NHI ngày 26/3/1993 của Thống đốc NHNN và Quy định số 499A/TDNT của Chủ tịch HĐQT NHNG Việt Nam ngày 2/9/1993

1.2.1- Nội dung cơ bản của Nghị định L4ICP của Chính phú, Thông tr số 0HIT T-NHI ngày 2613/1993 của Thống đấc NHNN và Quy định số 409A/TDNT của Chủ tịch HĐQT NHNo Việt Nam ngày 2/9/1993, được thể hiện là:

- NHNo&PTNT được giao nhiệm vụ chủ yếu trong cho vay phát triển nông

nghiệp, nông thôn

- Hộ sản xuất nông- lâm- ngư- diêm nghiệp được vay vốn trực tiếp tại các ngân hàng

- Khái niệm hộ sản xuất được mở rộng, bao gồm cả hộ gia đình, cá nhân và doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh đoanh trong lĩnh vực nông- lâm- ngư-

điêm nghiệp ở nông thôn

Trang 37

- Cho vay vốn bổ sung chủ yếu là ngắn hạn, đồng thời căn cứ vào tính chất

và khả năng nguồn vốn, dành một tỷ lệ thích hợp để cho vay vốn cố định thời

hạn đài hơn

- Thực hiện áp dụng lãi suất không bao cấp, theo cung cầu thị trường

- Cơ chế bảo đảm tiền vay đã được tháo gỡ phù hợp trong thời kỳ này đó là: đối với hộ sản xuất không có điều kiện thực hiện các quy định vẻ thế chấp hoặc bảo lãnh thì có thể áp đụng hình thức tín chấp của UBND xã phường hoặc

các tổ chức kinh tế - xã hội với các món vay nhỏ

1.2.2- Két quả cho tay hộ sản xuất nông- lâm- ngư- diêm nghiệp trong giai đoạn thực hiện Nghị định 14/CP của Chính phủ của NHNo&PTNT

- Để đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nhu cầu vốn cho phát triển nông

nghiệp, nông thôn: NHNo&PTNT VN dã tích cực chủ động huy động các nguồn

vốn trong nước và các Tổ chức tài chính Quốc tế Đến 31/12/1998 nguồn vốn đạt 31.781 tỷ, tăng 5 lần so với 31/12/1995

- Trong cho vay hộ sản xuất nông nghiệp và nông thôn từ dư nợ 3.559 tỷ cuối năm 1993, đến cuối năm 1998 đã tăng lên 16.731 tỷ (tăng gấp 4,7 lần) với tốc độ tăng dư nợ bình quân của hộ sản xuất trong giai đoạn này là 41,33% năm

Số hộ dư nợ vay từ 2.182 nghìn hộ cuối năm 1993 tăng lên 3.664 nghìn hộ vào

cuối năm 1998, bình quân tăng 29,1% năm (Biểu số 73) Số hộ và dư nợ vốn vay

của hộ sản xuất trong giai đoạn này tăng liên tục đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sẵn xuất nông- lâm- ngư- diêm nghiệp phát triển: tăng nhanh sản xuất lương thực, đảm bảo được lương thực cho tiêu dùng trong nước và dành một phần cho xuất khẩu, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Đồng thời còn giúp các hộ sản xuất phát triển chăn nuôi, nuôi trồng và đánh bãi thuỷ hải sản, trồng

cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày cho vay hộ gia đình làm kinh tế tiểu thủ

Trang 38

công nghiệp đã có điều kiện tạo việc làm tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho dân cư ở nông thôn

- Cùng với tốc độ tăng cao của dư nợ cho vay hộ sản xuất, cơ cấu cho vay phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn cũng được thay đổi theo hướng nâng dần tỷ trọng vốn vay trung, dài hạn trong tổng dư nợ Cuối năm 1993 dư nợ cho vay trung, đài hạn chỉ chiếm 12.4% tổng dư nợ: nhưng đến cuối năm 1998 dự nợ cho vay trưng, dài hạn đã tăng lên chiếm tỷ trọng 37,6% tổng dư nợ (Biểu số 12) Như vậy, việc nâng dần tỷ trọng vốn đầu tư trung, đài hạn đã phục vụ tốt cho nhụ cầu đầu tư chiều sâu, tăng năng lực sản xuất, mua sắm máy móc thiết bị và áp đụng khoa học kỹ thuật trong trồng trọt chăn nuôi tạo điều kiện tiền thuận lợi để giữ vững nhịp độ phái triển nông nghiệp và nông thôn ở mức cao trong những năm tiếp theo

1.3- Giai đoạn từ 1999 đến 2001 ( Sư kñi có Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg

ngày 30/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ: ” Về một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp tà nông thôn ”)

1.3.1- Nội dung cơ hẳn của Quyết định 67/TTg

1.3.1.1- Về công tác nguồn von:

Theo Quyết định 67/TTg, nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp và nông thôn được hình thành từ 3 nguồn:

- Vốn của ngân hàng huy động

- Vốn ngân sách Nhà nước

- Vốn vay của các tổ chức tài chính quốc tế và nước ngoài

1.3.1.2- Về cơ chế cho vay

- Cho vay ưu đãi lãi suất: Thực hiện theo quyết định riêng của Thủ tướng Chính phủ và luật khuyến khích đầu tư trong nước

Trang 39

- Đối với loại tín dụng thực hiện theo chính sách của Nhà nước, như: Cho vay các hộ nghèo; cho vay khắc phục hậu quả bão lụt, thiên tai

Các loại cho vay thực hiện theo chính sách của Nhà nước, người vay không phải thực hiện quy định về bảo đảm tiền vay; trong trường hợp có rủi ro, ngân hàng báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét cụ thể

- Cho vay thông thường: Cho phép hộ nông dân vay đến 10 triệu đồng

không phải thế chấp tài sản mà chỉ nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc

xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường là đất đang sử đụng không có tranh chấp

1.3.1.3- Về xử lý rủi ro:

Nếu hi rủi ro khách quan bất khả kháng Nhà nước có chính sách xử lý thiệt hại cho người vay và ngân hàng cho vay ( Xoá miễn khoanh, đãn nợ tuỳ

theo mức độ thiệt hạt )

1.3.2- Kết quả thực liên Quyết định 67/TTg

- Về nguồn vốn: Các tổ chức tín dụng, trước hết là NHNo&PTNT VN đã tự huy động dủ vốn đáp ứng cho nhu cầu vay vốn của hộ gia đình sản xuất nông- lâm- ngư- diêm nghiệp; bên cạnh đó có sự hỗ trợ nguồn vốn từ ADB WB là 150 triệu USD

- Về đối tượng vay vốn: Nhìn chưng các đối tượng cho vay quy định tại

Quyết định 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999 và các văn bản khác tiếp theo của Chính phủ, của ngân hàng Nhà nước ( cho vay trang trại, cho vay sản xuất giống

thuỷ sản, cho vay phát triển tiểu thủ công nghiệp .) đã được các tổ chức tín

dụng quan tâm đầu tư Một số đối tượng mở rộng đầu tư có hiệu quả, như: đầu tư chỉ phí cho trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ hải sản: tiêu thụ, chế biến và

xuất khẩu nông- lâm- thuỷ hải sản; phát triển tiểu công nghiệp, tiểu thủ công

Trang 40

nghiệp, ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn: kiên cố hoá hệ thống kênh mương nội đồng, cơ sở hạ tầng nông thôn, cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường

Việc chỉ rõ các đối tượng đầu tư cụ thể là một yếu tố pháp lý quan trọng và là

một động lực mạnh mẽ nhằm khai thông tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn, đặc biệt nó giúp cho cán bộ tín dụng có cơ sở pháp lý và yên tâm khi cho vay

- Về bảo đảm tiền vay: Việc áp dụng mức cho vay đến 10 triệu đồng đối với các hộ gia đình không phải thế chấp tài sản( hiện nay đã nâng lên 20 triệu

đồng đối với hộ nông dân, chủ trang trại sản xuất nông nghiệp lâm nghiệp nuôi

trồng thuỷ sản mang tính sản xuất hàng hoá ) và đối với hộ sản xuất giống thuỷ sản vay dưới 50 triệu đồng không phải thế chấp tài sản Đây là biện pháp hao đâm tiền vay thông thoáng, tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận vốn tín dụng để

đầu tư sản xuất

Hơn hai năm thực hiện Quyết định 67/TTTg, NHNo&PTNT Việt Nam đã có

dư nợ cho vay hệ sản xuất nông nghiệp nông thôn tăng xâp xỈ 2 lần so với đầu

năm 1999, dư nợ cho vay hộ sản xuất đến cuối tháng 6/2001 da dat 32.116 ty đồng, với số hộ dư nợ là 5.204 ngàn hộ tỷ trọng cho vay trung, dài hạn cũng tiếp tục tăng lên, đạt 44.6% tổng dư nợ mức cho vay trung bình đã đạt 8.3 triệu đồng

hộ tăng gần 3 triệu đồng/ hộ so với thời điểm Quyết định 67/TTg ra đời ( Biêu số

11, số 12, số I3 )

Kết luận:

Mười năm thực hiện việc cho vay đối với hộ sản xuất nông- lâm- ngư- diém nghiệp đã có bước chuyển biến quan trọng vì cơ chế cho vay và bảo đảm

tiên vay luôn được điều chỉnh kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc: vốn ngân

hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng sản xuất nông nghiệp, cải thiện đáng kể bộ mặt nông thôn nước ta

Ngày đăng: 30/03/2013, 16:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10- Văn kiên Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ [X- NXBCT Quấc gia- Hà Nội- 2001IỊ- Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NXBCT QG- Hà Nội- |998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Tác giả: Văn kiên
Nhà XB: NXBCT QG
Năm: 2001
26- Các thành phần kinh tế Việt Nam thực trạng xu thế và giải nháp. NX%B thống kê, Hà Nội năm 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thành phần kinh tế Việt Nam thực trạng xu thế và giải nháp
Nhà XB: NXB thống kê
Năm: 1992
2- I Lênin: Toàn tập. tập 36, NXB Tiến bộ Matxcơva năm 1981 Khác
3- David Begg Stanley Fischer Rudiger Dornbusch: Kinh tế học tap 1, tap 2. NXB gido duc nam 1992 Khác
4- Phát triển kinh tế xã hội Việt Nam chiến lược cho những năm Ì990, Per Ronal orjansjoberg, NXB chính trị quốc gia năm 1996 Khác
5- PulA.SamulSon & William DnorDHaus: Kinh tế học tập 1. tập 2. Viện quan hệ quốc tế năm 19981 Khác
6- Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ fV- NXBST- Hà Nội- 198 Khác
7- Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V- NXBST- Hà Noi- 1982 Khác
8- Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI- NXBST- Hà Nội- 1991 Khác
9- Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIIT- NXBCT Quốc gia- Hà Nội- 1996 Khác
12- Luat tổ chức tín dụng- NXBCT QG- Hà Nội- 1998 Khác
13- Lãi suất của Ngân hàng Nhà nước qua các năm Khác
14- Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ- NXBCT QG- Hà Nội- 1990 Khác
15- Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính- công bố theo Lệnh số 37 và 38/LCT HĐNN8 của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Nước cộng hoà XHCNVN ngày 24/5/1990 Khác
16- Những vấn đề đổi mới chính sách tài chính tiền tệ kiểm soát lạm phát ở Việt Nam, NXB chính trị quốc gia, 1995 Khác
17- Báo cáo 31/10/1996: Việt Nam Phân cấp ngân sách và phân phối dịch vụ cho nông thôn của Ngan hàng thế giới Khác
18- Báo cáo kinh tế của Ngân hàng thế giới 7/8/1998: Việt Nam vượt lên thử thách Khác
19- Báo cáo của nhóm công tác các chuyên gia Chính phủ ~ nhà tài trợ tổ chức phi Chính phủ 15/12/1999: Việt Nam tấn công vào đói nghèo Khác
20- Đáo cáo của Ngân hàng Nhà nước qua các năm Khác
21- Báo cáo số 168/BC TTr 8 của Ngân hàng Nhà nước 3/2000 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w