1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

164 Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp nhằm đáp ứng những yêu cầu của xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế

182 731 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Giải Pháp Phát Triển Nguồn Nhân Lực Trong Lĩnh Vực Quản Lý Doanh Nghiệp Nhằm Đáp Ứng Những Yêu Cầu Của Xu Hướng Hội Nhập Và Toàn Cầu Hóa Nền Kinh Tế
Trường học University of Economics
Chuyên ngành Business Management
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 13,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

164 Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp nhằm đáp ứng những yêu cầu của xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế

Trang 1

CAC GIAI PHAP PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC

TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP NHẰM ĐÁP ỨNG

NHUNG YEU CAU CUA XU HƯỚNG HỘI NHẬP VÀ

TOAN CAU HOA NEN KINH TE

Trang 2

MUC LUC

| NHUNG TU VIET TAT 3

¡ 1 | Tên để tài 4

7 | Phương pháp nghiên cứu chính 6 |

I | CO SG LY LUAN VA THUC TIEN NGUON NHAN LUC QUAN LY! 8 DOANH NGHIEP O VIET NAM

¡ 1,1 | Cơ sở lý luận về người quản lý doanh nghiệp _ 8

ị 1.2 ' Doanl nghiệp và các loại hình doanh nghiệp | 25

ị 4 | Hệ thống các tiêu chí năng lực của người quản lý doanh nghiệp 38

NGHIEP VA DAO TAO, BOI DUGNG NHAN LUC QUAN LY DOANH

NGHIỆP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1 | Vài nét về hiện trạng phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam 44

2.2 | Vài hét về sự phát triển đội ngũ quản lý doanh nghiệp ở Việt Nam 46 7

2 3 | Tổng quan về đào tạo, bồi dưỡng nhân lực quản lý doanh nghiệp 50

2.4 | Đào tạo nhân lực quản lý doanh nghiệp trong các trường đại học 60 ị

2.5 | Đào tạo, bồi dưỡng nhân hực quân lý doanh nghiệp trong các trường | 72 |

! quản lý hành chính ị

| 2.6 | Một số chương trình đào tạo bồi dưỡng nhân lực quản lý doanh 77

i i WI CAC GIẢI PHÁP VỀ ĐÀO TẠO, BỔI DƯỠNG NHÂN LUC QUAN LY | | 81 ị

ị DOANH NGHIỆP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP VÀ TOÀN CẦU HOÁ Ở '

Trang 3

NƯỚC TA HIỆN NAY

¡ 3.1 | Kết quả điều tra hiện trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhân luc | 81

ị quản lý doanh nghiệp

| 3.2 | Kết quả điều tra về công tác đào tạo, bởi dưỡng nhân lực quản lý tại, 94 '

3.3 | Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý | 100

doanh nghiệp

3.4 | Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 110

:¡ PHẦN BA: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 | Phụ lục I: Danh sách các trường đại học đào tạo chuyên ngành ị 118

quản trị doanh nghiệp và kinh tế ở Việt Nam

Phụ lục 2: Danh sách các trường đào tạo cán bộ quản lý thuộc các ; 120

Phụ lục 3: Mô tả điều tra khảo sát về đội ngũ cán bộ quản lý doanh | 122

nghiệp

Phụ lục 4: Mô tả điều tra khảo sát về công tác đào tạo, bồi dưỡng | 139

tại doanh nghiệp

Phụ lục 5: Mô tả điều tra khảo sát về tính cấp thiết và khả thi của | 154 các giải pháp về đào tạo bồi dưỡng nhân lực quản lý doanh nghiệp

Phụ lục 6: Đề cương, đề án đưa các nội dung kinh tế học vào những | 163

lớp cuối cấp học THPT và các trường Đại học, cao đẳng, chuyên

Trang 4

NHUNG TU VIET TAT

HVCTQG HCM: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

ị HVHCQG: Học viện Hành chính Quốc gia

.KHXH Khoa học xã hội

| NCPTGD Nghiên cứ phát triển giáo dục

TCN: Trước công nguyên

Trang 5

PHAN MOT: _ MỞ ĐẦU

1 Tên để tài: Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý doanh

nghiệp nhằm đáp ứng những yêu cầu của xu hướng hội nhập và toàn câu hoá nền kinh tế

Mã số: B2002- 52-TĐ-28

2 Thời gian thực hiện : Từ tháng 4 năm 2002 đến tháng 4 năm 2004

3 Lý do chọn đẻ tài và lịch sử vấn đề nghiên cứu

Hội nhập và toàn cầu hoá, là xu hướng tất yếu Bất cứ nước nào tham gia vào tiến trình đó đều phải tuân theo những chuẩn mực và "luật chơi" nhất định Hiện nay chúng

ta đã là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế, chúng ta đã ký Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và đang tiến hành những vòng dam phán gia nhập WTO Vì vậy, để có thể chủ động và thành công trong quá trình hội nhập, các cấp, các ngành đều phải có kế hoạch hành động cụ thể Nhưng một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất

đó là phát triển nguồn nhân lực mới, mà trong đó có nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản

lý doanh nghiệp đóng vai trò hàng đầu Nguồn nhân lực này, hoặc nói nôm na là đội ngũ những người quản lý doanh nghiệp không chỉ phải đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước mà còn phải phù hợp với những chuẩn mực của tiến trình hội nhập quốc tế

; Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có một số đề tài, để án có lên quan đến

vấn đề nghiên cứu các vấn đề đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý doanh nghiệp:

- Luận văn thạc sĩ: “Đánh giá nhu cầu đào tạo quản lý ở Việt Nam và đề xuất chính sách xâm nhập cho SEAMEO” của Nguyễn Thế Viễn, AIT, Bangkok, Thái Lan,

1996

- Dé tai: “ Thực trạng và giải pháp đào tạo-bồi dưỡng cán bộ quản lý doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hóa” (1998) của nhóm nghiên cứu

Viện NCPTGD do TS Phan Tùng Mậu làm chủ nhiệm

- Đề tài KHXH.03.0:9: ” Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ cán bộ quản lý kinh đoanh trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước” do TS Nguyễn Trọng Bảo làm chủ nhiệm, Nhà xuất bản giáo dục, Hà nội - 1998

- Đề tài: “” Nghiên cứu nội dung chương trình đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao

nang luc quan ly cho cdc nha quan trị doanh nghiệp ngành công nghiệp"? (2002) của

4

Trang 6

nhóm nghiên cứu của Viện chiến lược, chính sách công nghiệp do Thạc sỹ Phạm Văn Đạt làm chủ nhiệm

Mặc dù kết quả nghiên cứu của các công trình chính nêu trên đưa ra nhiều luận

điểm lý thuyết về các khái niệm đào tạo, bồi dưỡng về quản lý doanh nghiệp, yêu cầu và

tiêu chuẩn cơ bản của cán bộ quản lý doanh nghiệp ở các cấp cao, cấp trung và cấp thừa hành cũng như các kết quả khảo sát về thực trạng của độ ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp hiện nay, về các đánh giá về các khoá đào tạo quản lý doanh nghiệp hiện hành v.v song các công trình này chưa phân tích các nhược điểm hiện hành trong các chương trình đào tạo quản lý ở Việt nam hiện nay Hơn nữa điều cần tiếp tục nghiên cứu

ở đây là trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá, việc số lượng các doanh nghiệp Nhà nước đang giảm dần trong khi số lượng các doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài đang tăng nhanh với nhịp độ rất cao dẫn đến sự bất cập của các giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng vốn được được để ra trong bối cảnh các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo Việc này dẫn đến sự cần thiết phải xem xét lại các giải pháp về mục tiêu, dự báo

nhu cầu về số lượng, cũng như việc tiến hành các khoá đào tạo, bồi dưỡng dài hạn, nặng

né Khái niệm nghề giám đốc là “*nghề đào tạo" đang chịu nhiều thử thách lớn Đào tạo

theo năng lực được nhóm để tài coi như một cách tiếp cận mới để dung hoà các bất cập

đang xẩy ra Và cuối cùng cũng cần xem xét vấn để đào tạo về quản lý rộng hơn ở hệ

thống giáo dục quốc dân nhằm tạo tiền để đưa các môn học có liên quan vào các cấp học

phổ thông, dạy nghề, trung học chuyên nghiệp và đại học

Những lập luận trên tạo nên tính cấp thiết để lựa chọn việc tiến hành nghiên cứu

này

4 Mục tiêu nghiên cứu:

— Xác định hệ thống những tiêu chí về phẩm chất và năng lực của nhân lực

quản lý doanh nghiệp phù hợp lộ trình hội nhập quốc tế của Việt nam

— Xác định những giải pháp đào tạo, phát triển nguồn nhân lực quản lý doanh nghiệp nhằm đáp ứng những yêu cầu của tiến trình hội nhập quốc tế

5 Pham vi nghiên cứu:

Đào tạo và bồi dưỡng nhân lực quản lý doanh nghiệp

Trang 7

- Xây dựng cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế

- Xác định hiện trạng nguồn nhân lực khu vực quản lý doanh nghiệp của Việt

- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

quản lý doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập và toàn cầu

hoá nền kinh tế

7 Phương pháp nghiên cứu chính:

- Phân tích tổng hợp các tài liệu liên quan

- Điều tra khảo sát trực tiếp và gián tiếp

- Phương pháp thống kê

- Tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp chuyên gia, hội thảo khoa học

- Phương pháp so sánh

§ Kinh phí đề tài: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng)

9, Cán bộ tham gia đề tài:

Họ và tên Đơn vị công tác

! 1 TS Nguyễn Lộc Viện Nghiên cứu PTGD Chủ nhiệm dé tai

: 2 TS Phan Văn Nhân Viện Nghiên cứu PIGD Thu ky dé tai

| 3 PGS.TS Dang Bá Lãm Viện Nghiên cứu PTGD Thành viên

4 TS Trần Khánh Đức Viện Nghiên cứu PTIGD Thành viên

5 PGS TS Nguyễn Đức Trí Viện Nghiên cứu PTGD Thành viên

: 6 ThS Nguyễn Văn Tố Vinaconex Thành viên

Trang 8

7 TS Hoang Ngoc Vinh Vu THCN & DN Thanh vién

8 TS Võ Trí Thành Viện Quản lý Kinh tế TW — | Thành viên

9 TS Phan Lê Phương Viện Chiến lược Phát triển Thành viên

10 Th§ Trần Văn Thanh Bộ Công nghiệp Thanh viên

11 CN Nguyễn Bá Cần Bộ GD & ĐT Thành viên

| 12 Th§ Ninh Đức Nhận Bộ GD & ĐT Thành viên

10 Sản phẩm khoa học của đề tài:

e _ Báo cáo tổng kết để tài và báo cáo tóm tắt đề tài

e_ Tập kỷ yếu hội thảo kết quả khảo sát nguồn nhân lực quản lý doanh nghiệp của

Trang 9

PHAN HAI: KET QUA NGHIEN COU CUA DE TAI

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN NGUON NHAN LUC

QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

11 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến để tài:

a) Phát triển nguồn nhân lực

Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng

nguồn nhân lực thông qua giáo dục - đào tạo biểu hiện ở sự hình thành và hoàn thiện từng bước về thể lực, kiến thức kỹ năng, thái độ và nhân cách nghề nghiệp đáp ứng những nhu cầu hoạt động, lao động của cá nhân và sự phát triển xã hội

b) Quan ly doanh nghiệp

Quản lý doanh nghiệp là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra

công việc của các thành viên của tổ chức, sử dụng tất cả các nguồn lực sắn có của tổ

chức để đạt được các mục tiêu của tổ chức mà trong đó nguồn nhân lực quản lý đóng vai

trò quyết định

c) Hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế là một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia vào các định chế kinh tế tài chính quốc tế, thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đầu tư với những nội dung và hình thức riêng mang tính giai đoạn, bao gồm các khía cạnh vấn đề: thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và đầu tư

đ) Toàn cầu hoá nền kinh tế

Toàn cầu hoá là quá trình phổ biến hoá trên phạm vi toàn cầu những giá trị, hoạt

động, mô hình (kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học — kỹ thuật, công nghệ ) nhất định

Toàn cầu hoá bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế và cho đến nay, nội dung này bao hàm sự gia tăng nhanh chóng hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia, khu vực để vươn

8

Trang 10

tới quy mô toàn cầu Nói cách khác, toàn cầu hoá kinh tế là sự nhất thể hoá về thị

trường, vốn, sức lao động, dịch vụ, công nghệ và các quy định pháp chế kinh tế giữa các nước trên thế giới trên cơ sở hợp tác và phân công lao động quốc tế sâu rộng

1.1.2 Khái niệm về người quản lý

Định nghĩa của thuật ngữ quản lý có thể xét từ nhiều góc cạnh Mary Parker Follett định nghĩa quản lý là “nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác ” Một định nghĩa khác được nhiều người chấp nhận là “quá trình lập kế hoạch, tổ chức,

lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên của tổ chức, và sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được các mục tiêu của tổ chức” (Stoner, 1995)

Quản lý là một tập hợp các hoạt động (bao gồm lập kế hoạch, ra quyết định, tổ

chức, lãnh đạo và kiểm tra) nhằm vào các nguồn lực của tổ chức (con người, tài chính,

vật chất và thông tin), nhằm mục đích đạt được các mục tiêu của tổ chức hiệu quả nhất (Griffin, 1998)

Quản lý cũng có thể được mô tả như một chương trình các hoạt động mà một người quản lý thực hiện để đảm bảo đạt được các mục tiêu của tổ chức Tiến trình quản

lý liên quan đến sự phối hợp của:

tiến trình của việc quyết định các vấn đề sau đây:

Trang 11

+ Neudi nao duge phan bé nhiém vu nao

« _ Số tiền chỉ tiêu cho từng vấn để cụ thể là bao nhiêu

« _ Các hoạt động nào thực hiện trước và hoạt động nào thực hiện sau

« _ Thời gian cần thiết cho mỗi họat động

« _ Ai là khách hàng của tổ chức và những loại sản phẩm và dịch vụ nào mà họ cần

Do đó, chức năng của một nhà quản lý là đảm bảo các mục tiêu của tổ chức được

thực hiện thông qua làm việc với những người sử dụng các nguồn lực và biến đổi các

nguồn lực này thành hàng hoá và dịch vụ cho những người có nhu cầu sử dụng các sản

phẩm và dịch vụ được làm ra Chẳng hạn như trong một tổ chức giáo dục, các nhân viên

thực hiện các nhiệm vụ như giám sát tài chính, giảng dạy, giám sát quyền lợi của học sinh và quản lý cơ sở vật chất Họ cũng hợp tác với những người khác - những người sử

dụng các kỹ năng và kiến thức của mình để áp dụng các kỹ thuật khác nhau - để tiếp tục

đóng góp cho việc thực hiện các mục tiêu của toàn bộ tổ chức

Nhà quản lý có hiệu quả là người có thể phối hợp công việc với người khác và các nguồn nguyên liệu nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức Nhu cầu các nhà quản lý hiệu quả trong các tổ chức ngày càng cấp thiết hơn vì nghệ thuật quản lý ngày càng trở nên phức tạp hơn Nhà quản lý ngày nay cần có nhiều kỹ năng để trở nên hiệu quả

Nhà quản lý là bất cứ ai chịu trách nhiệm về những người thực hiện các họat động

sản xuất hàng hoá và dịch vụ Ví dụ: hiệu trưởng của một trường học là một nhà quản lý Hiệu trưởng với tư cách là nhà quản lý cấp cao, sẽ phải đảm bảo rằng các giáo viên phải lập kế hoạch cho công việc của họ, giảng dạy các môn do họ đảm trách và thực hiện các nhiệm vụ khác cho tốt, và trong khuôn khổ các luật và qui định của nhà trường Cần bộ quản lý văn phòng chịu trách nhiệm về các thư ký, nhân viên công nhật, tạp vụ và các thiết bị văn phòng, và phải đảm bảo tất cả nhân viên đưới quyền giám sát của mình làm việc theo đúng các hướng dẫn và qui định của tổ chức Họ cũng phải đảm bảo mọi thiết

bị phải dùng được và được sử dụng hợp lý

Các nhà quản lý phải đảm bảo sao cho nhân viên thực hiện tốt các nhiệm vụ của

họ để tổ chức có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức Những mục tiêu này có thể là tạo ra lợi nhuận, giáo dục một đứa trẻ, giúp đỡ người nghèo hay là chữa khỏi bệnh Các

nhà quản lý làm việc với các công nhân có các kỹ năng khác nhau nhằm làm cho tổ chức

có thể đạt được các mục tiêu được xác định (các mục tiêu đo tổ chức đẻ ra) Tuy nhiên, công việc của một nhà quản lý không đễ dàng giải thích hay định nghĩa, và đòi hỏi phải

có nhiều kỹ năng đặc biệt để đạt được khả năng quản lý tốt

10

Trang 12

1.1.3 Khía cạnh chức năng người quản lý

Các nhà quản lý thực hiện rất nhiều các hoạt động Các hoạt động này rất khác

nhau giữa một tổ chức này với một tổ chức khác, hoặc giữa cấp quản lý này với cấp quản

lý khác Tuy nhiên, có những trách nhiệm cơ bản nhất định chung cho các nhà quản lý trong tất cả các tổ chức Các chức năng chung này làm thành một ranh giới cho các nhà

quản lý kể từ khi lý thuyết quản lý hiện đại được giới thiệu lần đầu tiên Các nhà quản lý

có thể thực hiện rất nhiều chức năng khác nhau trong tổ chức của họ, nhưng có bốn chức năng cơ bản mà một nhà quản lý phải thực hiện để đạt được các mục tiêu của tổ chức,

được hầu hết các chuyên gia quản lý (Druck, 1993, Koontz, et al 1988 và khác) đồng ý

Lập kế họach nghĩa là suy nghĩ trước về một việc sẽ được làm, và chuẩn bị các

giải pháp thực hiện hoạt động mong muốn này Đó là việc xác định:

» _ Các hoạt động nào mà một người hoặc tổ chức muốn làm

« - Cách thức các họat động này được thực hiện

+ _ Khi nào các họat động này được thực hiện

» - Ai sẽ thực hiện các hoạt động này

+ Những nguồn lực nào (tiền bạc và thiết bị) cần có để cho phép con người thực hiện các hoạt động này

« - Các hoạt động này được thực hiện ở đâu

Việc lập kế họach sẽ kết nối khoảng trống giữa vị trí hiện tại của tổ chức với mục tiêu mà tổ chức mong muốn đạt đến Chức năng này được cho là chức năng cơ bản nhất của tất cả các chức năng quản lý Do công việc của nhà quản lý ngày càng phức tạp và các nguồn lực ngày càng khó khăn để có được (khan hiếm), việc lập kế hoạch ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với nhà quản lý và cả đối với tổ chức Nhà quản lý lập các kế

Trang 13

hoạch bao gồm cả việc tuyển chọn nhân viên, tổ chức các nguồn lực, và kiểm tra và phối

hợp con người và các hoạt động để đảm bảo đạt được các mục tiêu

Tổ chức

Tổ chức nghĩa là đảm bảo tất cả các hoạt động và các tiến trình được sắp xếp sao cho một tổ chức có thể đạt được các mục tiêu của mình Nội dung quan trọng nhất của tổ

chức là tìm được đúng người, xác định được trách nhiệm của họ, và thiết kế một tổ chức

và cơ cấu đảm bảo các nhân viên hiểu rõ họ làm việc ở đâu và họ làm việc với ai và báo

cáo cho ai Tổ chức cũng có nghĩa là sắp xếp mọi việc sao cho các các nhân có thể làm

việc với nhau và vì thế liên kết với nhau tích cực, đảm bảo một môi trường lành mạnh khuyến khích làm việc: hiệu quả

Nếu các tổ chức hay các doanh nghiệp muốn đạt được các mục tiêu để ra, công tác quản lý phải xây dựng cho tổ chức đó các chức năng như sau:

+ Xác định và phân quyền trách nhiệm và quyền lực của các nhà quản lý và các

nhân viên khác, bao gồm việc thành lập các mối quan hệ tốt đẹp giữa những người làm việc chặt chẽ cùng nhau Điều này có nghĩa là đảm bảo các nhà quản

lý và nhân viên hiểu rõ mức độ quyền lực của họ và các giới hạn quyền lực của họ

để đảm bảo công việc được thực hiện một cách đúng đắn

« _ Phân loại công việc và sắp xếp vào các hoạt động có thể quản lý được Việc này được gọi là sắp xếp lao động, và có nghĩa là mỗi người được giao một công việc riêng biệt nằm trong phạm vi mức độ khả năng của từng người

Do đó các nhà quản lý phải có khả năng phân bổ công việc cho các cá nhân với các kỹ năng khác nhau để làm cho họ có khả năng đóng góp vào việc đạt được các mục

tiêu của tổ chức

Tổ chức cũng có nghĩa là xác định và uỷ thác trách nhiệm và quyền lực để tránh

tình trạng hỗn loạn những nơi mà các công nhân làm những việc họ muốn làm do không

có các hướng dẫn về các chức năng của họ và cách để thực hiện các công việc này Đó là trách nhiệm của nhà quản lý để đảm bảo mỗi thành viên công nhân/nhân viên biết chính xác công việc nào được phân công cho họ và mức độ trách nhiệm và quyền hạn để thực hiện công việc đó và có các hướng dẫn để trợ giúp trong việc thực hiện công việc

Lãnh dạo ! phối hợp (điêu khiển)

Các nhà quản lý phải học các kỹ năng lãnh đạo để làm việc hiệu quả Họ phải học cách làm việc với người khác, cách chỉ phối và động viên người khác để đảm bảo công

12

Trang 14

việc được thực hiện Nói ngắn gọn, các nhà quản lý cũng phải là người lãnh đạo hiệu

quả Các nhân viên trong mỗi tổ chức đều có cách suy nghĩ riêng và cũng sẽ làm những

việc họ muốn nếu họ không thích các mệnh lệnh hoặc chỉ dẫn của các nhà quản lý đưa

ra Chức năng quản lý của lãnh đạo bao gồm:

„ Chidao

« - Gây ảnh hưởng

«ồ Giám sat

„ Hướng dẫn

Harold Koontz phát biểu rằng : "sự phối hợp tốt nhất xuất hiện khi các cá nhân

thấy được các công việc của họ đóng góp như thế nào đến các mục đích lớn của doanh nghiệp Điều này cho thấy kiến thức và hiểu biết về các mục tiêu của doanh nghiệp không chỉ là có trong một bộ phận nhỏ các các nhân vật chủ chốt của doanh nghiệp mà

là tất cả mọi người trong toàn công ty”

Kiểm tra

Trong tất cả các tổ chức phải có một mức độ kiểm tra nhất định đối với con người, tài chính, thời gian và các hoạt động Thường các nhà quản lý hay nhầm lẫn phối

hợp với kiểm tra Phối hợp hàm ý là một cách tiếp cận mềm dẻo để kiểm tra và kiểm tra

ngụ ý là các hoạt động được giám sát để đảm bảo sự tuân thủ các luật và qui định

Chức năng kiểm tra của quản lý liên quan đến sự đo lường và điểu chỉnh công việc được thực hiện bởi cấp đưới để đảm bảo các kế hoạch của tổ chức được thực hiện

hiệu quả Địa vị của nhà quản lý trong tổ chức quyết định mức độ kiểm tra Kiểm tra là

một chức năng rất quan trọng của quản lý Để cho chức năng này có hiệu quả, nhà quản

lý phải thiết lập được các tiêu chuẩn, qui trình kiểm tra, đo lường và phân tích các kết

quả, và thực hiện các hành động điều chỉnh

Chức năng kiểm tra cho phép các nhà quản lý xác định được là tổ chức có đạt

được các mục tiêu để ra hay không, và có được liên kết chặt chẽ với việc lập kế hoạch hay không Thông qua chức năng kiểm tra, các nhà quản lý có thể xác định được là họ sẽ đạt được các mục đích hay không, và nếu không đạt được thì phải cải thiện việc thực hiện nhằm tăng cơ hội đạt được mục đích

Sắp xếp nhân viên

Con người là phần quan trọng nhất trong mỗi tổ chức và các nhà quản lý giỏi luôn

Trang 15

lý nhân sự do đó là một chức năng khó khăn của quản lý Một tổ chức vững mạnh là một

tổ chức có các nhân viên vững mạnh Bố trí nhân viên liên quan đến việc xác định các yêu cầu nhân sự của một tổ chức và bao gồm:

« Tuyển chọn

« Dao tao

« Khuyến khích động viên

« Đãi ngộ

„ _ Khuyến khích sáng kiến phat triển nghề nghiệp

Hình 1: Các khía cạnh chức năng của người quản lý

Đạt được các mục tiêu của tổ chức

có hiệu quả

14

Trang 16

Trong việc thực hiện chức năng này, bản chất của công tác quản lý là giao tiếp và tạo động cơ Họ phải phối hợp các hoạt động của các cá nhân với nhiều kỹ năng khác nhau để tạo ra hàng hoá và dịch vụ Sự giao tiếp thường xuyên với nhân viên đảm bảo sự thực hiện tốt hơn

Bố trí nhân viên cũng liên quan đến đào tạo, để đảm bảo tổ chức tiếp tục hoàn

thiện các kỹ năng cho nhân viên của mình Điều này cũng có nghĩa bao gồm việc phát

triển các nhà quản lý có thể đáp ứng được các yêu cầu về nhân sự của tổ chức trong

Con người là độc đáo và phức tạp và có thể hoặc là đồng gớp cho sự tiến bộ của tổ

chức hoặc là nguyên nhân làm cho tổ chức bị phá huỷ Nhà quản lý phải biết những loại người nào được cần và cũng đảm bảo các nhân viên được thông suốt về vai trò của mình, loại công việc mà họ thực hiện và quan hệ với ai trong tổ chức Tất cả các nhân viên phải

chấp nhận triết lý của tổ chức

1.1.4 Khía cạnh vai trò của người quản lý

Henry Mintzberg (1971) và các đồng nghiệp của ông đã nghiên cứu vai trò của nhà quản lý Họ nghiên cứu công việc hàng ngày của 5 nhà quản lý cấp cao nhất và kết

luận rằng công việc của nhà quản lý có thể được mô tả tốt nhất trong các thuật ngữ về 10

chức năng quản lý được nhóm vào ba phạm trù Đó là:

Vai trò liên cá nhân (long trọng, lãnh đạo và liên lạc)

Trang 17

Vai tro théng tin

Giám sát

Các nhà quản lý thường nhận được và chọn lựa các thông tin từ tổ chức hơn là từ chính họ Điển hình là thông qua việc đọc các tạp chí và nói chuyện với người khác để tìm hiểu về những thay đổi trong thị hiếu chung và các kế hoạch của các đối thủ cạnh tranh Mintzberg gọi đây là chức năng giám sát

Phể biến

Các nhà quản lý cũng hành động như các ống dẫn nước thông qua việc truyền thông tin đến các thành viên trong tổ chức Trong việc thực hiện các nhiệm

vụ của mình, nhà quản lý sẽ truyền nhiều thông tin thu thập được cho các cấp

dưới của họ Đây là chức năng phổ biến

Người phát ngôn

Các nhà quản lý thực hiện chức năng người phát ngôn khi họ đại điện cho

tổ chức làm việc với bên ngoài

Vai trò quyết định

Đoanh nghiệp

Trong chức năng doanh nhân, các nhà quản lý để xướng và trông mong các

dự án mới sẽ giúp cải thiện sự thực hiện của tổ chức

Giải quyết xáo trôn

Là người điểu khiển sự xáo trộn, các nhà quản lý thực hiện các hành

động điều chỉnh để thích ứng với những vấn để phát sinh không dự kiến

được trước đó

Phân bổ nguồn lực

16

Trang 18

Long trong

Hình 2: Các khía cạnh vai trò của người quản lý

Người phể biến

1 hương thuyết

17

Trang 19

Là người phân bổ nguồn lực, các nha quan lý chịu trách nhiệm phân bổ các nguồn lực vật chất và tiền bạc của tổ chức cho các người khác nhau và các nơi khác nhau

Thượng thuyết

Cuối cùng, các nhà quản lý thực hiện vai trò người thương thuyết, trong đó

họ thảo luận và mặc cả với các đơn vị khhác để có được những ưu thế cho đơn vị của họ Họ thường thương thuyết với khách hàng, nhà cung cấp v.v về các vấn

để ảnh hưởng đến tổ chức và môi trường của tổ chức

Cách tiếp cận chức năng của Mintzberg giúp cho ta hiểu được các hoạt động hàng ngày của nhà quản lý thực hành

1.1.5 Khía cạnh kỹ năng của người quản lý

Kỹ năng là khả năng biến nhận thức thành hành động và thể hiện trong kết quả của công việc muốn làm Rõ ràng, cần nhiều kỹ năng để làm chủ được những thách thức bản chất của việc quản lý Một trong những điều quan trọng nhất là cho phép nhà quản

lý giúp đỡ người khác thực hiện tốt hơn công việc Robert L Katz đã phân loại những kỹ năng tiên quyết của nhà quản lý thành 3 loại: chuyên môn, quan hệ con người, và khái quát Mặc dù 3 kỹ năng này là tiên quyết đối với nhà quản lý, song chúng có xu hướng thay đổi theo mức độ trách nhiệm quản lý Các kỹ năng cơ bản đó là:

Kỹ năng chuyên môn

Bao gồm năng lực áp dụng kiến thức và chuyên môn Khi nói về các kỹ năng

chuyên nghiệp như kỹ sư xây dựng hoặc bác sĩ phẫu thuật vòm họng, ta thường tập trung

vào kỹ năng chuyên môn của họ Thông qua giáo dục chính qui, họ đã học kiến thức và

thực hành chuyên sâu về lĩnh vực của mình Tất nhiên, những người lành nghề không

độc quyền về kỹ năng chuyên môn, và không phải tất cả mọi kỹ năng chuyên môn đều phải học ở trường hoặc các chương trình đào tạo chính quy Tất cả mọi công việc đều yêu cầu trình độ chuyên môn nghiệp vụ, và nhiều người đã phát triển kỹ năng chuyên môn thông quả công việc

Kỹ năng quan hệ con người

Khả năng làm việc, hiểu biết và tác động tới người khác, ở cả cá nhân và tập thể chính là nội dung của kỹ năng con người Nhiều người có kỹ năng chuyên môn nhưng

kỹ năng làm việc không linh hoạt theo các đối tượng Họ có thể là những người không

thích nghe người khác, không hiểu được nhu cầu của người khác, hoặc gặp khó khăn

18

Trang 20

trong xung đột quản lý Khi các cán bộ quản lý thu nhận mọi thứ thông qua những người khác, họ phải có những kỹ năng con người tốt để giao tiếp, tác động và chỉ đạo

Kỹ năng khái quát

Các cán bộ quản lý phải có khả năng trí tuệ để phân tích và phán đoán những tình huống phức tạp Những công việc đó yêu cầu phải có kỹ năng khái quát Ví dụ như, việc đưa ra quyết định, yêu cầu các cán bộ quản lý đi ngay vào vấn đề, xác định các lựa chọn

có thể đúng, đánh giá các lựa chọn và đưa ra một cách tốt nhất Các cán bộ quản lý có kỹ năng chuyên môn và kỹ năng quan hệ con người tốt vẫn thất bại trong quản lý bởi vì không có khả năng đánh giá quá trình và xử lý thông tin

Một nghiên cứu về lực lượng lao động của Mỹ cho thấy lương và thu nhập không phải là nguyên nhân người lao động yêu mến nghề nghiệp và trung thành với công ty Điều quan trọng hơn là chất lượng công việc cũng như tính hỗ trợ của môi trường làm

việc Theo số liệu của Trung tâm Lãnh đạo Sáng tạo thuộc Bang North Carolina, Mỹ,

khoảng 40% cán bộ quản lý mới được bổ nhiệm đều thất bại trong việc thừa hành chức

vụ quản lý Khi nghiên cứu về tỷ lệ thất bại cao như vậy, Trung tâm đã xác định được rằng “Thất bại trong việc xây dựng quan hệ tốt với đồng nghiệp và thuộc cấp” chính là thủ phạm của hiện tượng này Điều ta có thể thấy rõ là kỹ năng chuyên môn là cần thiết nhưng không đủ để thành công trong công tấc quản lý Trong môi trường công tác có tính cạnh tranh và đòi hỏi cao ngày nay người quản lý không thể thành công với kỹ năng chuyên môn Họ cần có kỹ năng quan hệ con người

1.1.6 Khía cạnh cấp bậc của người quản lý

Khi nói về các nhà quản lý, đù ở cấp bậc trưởng nhóm hoặc quản lý cao cấp, người ta thường tập trung vào những trách nhiệm quản lý - để đảm bảo hoàn thành công

trong việc đạt kết quả cao từ nỗ lực của tập thể Cần phải ghi nhận rằng bản chất của quản lý là làm tiến triển như sự thay đổi và phát triển của các loại tổ chức theo thời gian Một bài trong tạp chi Wail street di miéu ta su chuyển đổi của các kiểu nhà quản lý như

là: “Cách đây không lâu họ có thể chỉ giám sát của 10 nhân viên làm việc ở văn phòng bên ngoài Ngày nay họ phải đạt được nhiều hơn — nhân viên có trình độ khác nhau,

công việc khác nhau, và kể cả khác biệt về văn hoá” Bài báo còn cho biết thêm rằng

“Những nhà quản lý mới luôn phải có những kỹ năng tổ chức những vấn đề phức tạp, xử

lý những vấn để phát sinh, những mối giao tiếp và đưa ra những quyết định nhanh chóng”

Trang 21

Người quản lý cấp cao

Là những người quản lý bảo đảm được sự để ra và hoàn thành những mục tiêu chính của việc thực hiện theo các mục tiêu của tổ chức Chức danh nói chung ở cấp độ này là tổng giám đốc điều hành , chủ tịch, phó chủ tịch công ty Các nhà quản lý hoặc điều hành cao cấp này chịu trách nhiệm cho việc vận hành của một tổ chức trọn vẹn hay một bộ phận quan trọng của tổ chức Họ phải đặc biệt quan tâm đối với môi trường bên ngoài, cảnh giác về các vấn để khó khăn và cơ hội tim tàng lâu đài, và xây dựng những giải pháp hợp lý để xử lý Các nhà quản lý thực hiện tốt nhất là người có suy nghĩ định hướng chiến lược cho tương lai, là người đưa ra nhiều quyết định trong điều kiện cạnh

tranh cao và không chắc chắn

Người quản lý cấp trung

Họ chịu trách nhiệm báo cáo với các nhà quản lý cấp cao đồng thời chịu trách nhiệm về các phòng, ban lớn liên quan gồm có các đơn vị nhỏ Ví đụ như bác sĩ đa khoa trong bệnh viện; trưởng khoa ở các trường đại học; giám đốc các bộ phận chức năng, giám đốc kế hoạch, và giám đốc các chi nhánh bán hàng trong quản lý doanh nghiệp Các nhà quản lý cấp trung gian phải có khả năng xây đựng và thực hiện các kế hoạch

hành động phù hợp với các mục tiêu có mức độ cao hơn Họ cũng phải có hướng tập thể

và có thể làm việc tốt cùng với các đồng nghiệp nhằm giúp gắn kết các hoạt động trong

tổ chức Đặc biệt, ngày nay, các nhà quản lý cấp trung gian phải đảm đương các trách nhiệm mới để thực hiện các dự án phức tạp mà yêu cầu sự tham gia của các cá nhân

thuộc các bộ phận khác nhau trong tổ chức Ví dụ ở Công ty General Electric, các thợ

chữa máy hoặc “thợ trình độ cao” được tổ chức nhằm quản lý các nhóm để xử lý các vấn

dé và tạo ra sự biến đổi giữa các bộ phận và phạm vi trong công ty

Người quản lý cấp thấp

Đặc trưng của công việc quản lý đầu tiên diễn ra khi người nào đó được phân

công công việc với tư cách người lãnh đạo hoặc giám sát nhóm — là những người người chịu trách nhiệm ở các đơn vị nhỏ hơn bao gồm các nhân viên không làm công tắc quản

lý Mặc đù hầu hết mọi người khi tham gia lực lượng lao động như chuyên gia kỹ thuật,

trước hay sau họ sẽ nam bắt các vị trí quản lý Kiểu này có nhiều tên gọi khác nhau

nhưng gồm có các chức danh bổ nhiệm như: trưởng phòng, lãnh đạo nhóm, và giám đốc các bộ phận Ví dụ, lãnh đạo của nhóm kiểm toán được coi là nhà quản lý thực hiện, như trưởng phòng khoa học của trường đại học Những nhà quản lý ở cấp độ này chịu trách nhiệm đảm bảo công việc của nhóm hoặc của bộ phận đáp ứng những mục tiêu thực hiện

để phù hợp với các kế hoạch của các nhà lãnh đạo cấp cao và trung gian Việc nghiên cứu xác nhận những đề nghị và sự quan trọng thiết yếu để nâng cao các kỹ năng giám sát

20

Trang 22

là giải pháp tốt để nâng cao hiệu quả sản xuất của tổ chức Trách nhiệm thực hiện của

lãnh đạo nhóm và người giám sát có thể bao gồm nội dung như sau:

~ _ Kế hoạch làm việc và lịch hợp

~ _ Phân rõ các mục tiêu, nhiệm vụ và tập hợp ý kiến để nâng cao

~ Đánh giá việc thực hiện và tư vấn các thành viên trong nhóm

— Đề xuất việc tăng lương và phân công việc

- Tuyén dụng, đào tao và phát triển các thành viên để đáp ứng tiêu chuẩn thực hiện

— Khuyến khích việc thực hiện tốt và làm việc theo nhóm

Thông báo cho các thành viên mục tiêu và những mong chờ của tổ chức

- Théng báo các mức cao hơn về nhu cầu và hoàn thành công việc của nhóm

- Gắn kết với các nhóm khác và hỗ trợ những nỗ lực làm việc của họ

Ngoài phục vụ cho các cấp khác nhau của quyền lực, các nhà quản lý làm việc với các khả năng khác nhau trong các tổ chức Các nhà quản lý thực hiện chịu trách nhiệm

về hoạt động của các công việc đóng góp trực tiếp cho kết quả của tổ chức Ví dụ như

chủ tịch, giám đốc bán lẻ và giám sát về tất cả các cửa hàng ở địa phương có trách nhiệm trực tiếp kể từ khi công việc của họ, cách này hay cách khác có liên quan trực tiếp đến việc mua bán của cửa hàng Các nhà quản lý nhân viên thì ngược lại, sử dụng những

chuyên môn kỹ thuật đặc biệt để tư vấn và hỗ trợ những nỗ lực cho các nhân viên làm

việc trực tiếp Trong một cửa hàng, giám đốc nguồn nhân lực và giám đốc tài chính đều

có trách nhiệm về nhân viên Trong quản lý doanh nghiệp, giám đốc theo các chức năng

có trách nhiệm một khu vực hoạt động riêng như: Tài chính, tiếp thị, sản xuất, nhân sự, tài chính hoặc bán hàng Các nhà quản lý chung thì chịu trách nhiệm ở các bộ phân phức tạp hơn gồm nhiều khu vực chức năng Ví dụ, một giám đốc kế hoạch sẽ quán xuyến nhiều chức năng riêng biệt gồm: Mua bán, sản xuất, nhà xưởng, bán hàng, nhân sự và kế

toán Đây là kiểu phổ biến với các nhà quản lý trong cơ quan công quyền hoặc các tổ

chức phi lợi nhuận được gợi là nhà quản lý Ví dụ như: Quản lý bệnh viện, quản lý công, quán lý thành phố và quản lý dịch vụ nguồn nhân lực

Trang 23

Bảng 1: Phân loại cán bộ quản lý doanh nghiệp ở Việt Nam

Các giám đốc và các phó giám đốc các công ty thành viên

Các quản đốc, phó quản đốc, phụ trách (trưởng, phó) các cơ sở

quản lý doanh nghiệp

Quản lý viên cấp thừa hành (các cán bộ quản lý khác còn lại

trong phạm vị doanh nghiệp )

Phân loại các cán bộ quản

lý doanh nghiệp gắn với

thực hiện các chức năng

Các cán bộ quản lý kỹ thuật sản xuất trong doanh nghiệp

Các cán bộ quản lý kinh tế — tài chính

Các cán bộ quản lý hành chính văn phòng Các cán bộ quản lý nhân sự, nhân lực

Nguồn: Phan Tùng Mậu: Thực trạng và giải pháp đào tạo-bôi dưỡng cán bộ quản lý doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hóa, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ

của Viện NCPTGD, Hà nội, 1998

Nếu xét mối tương quan giữa các kỹ năng cần có đối với người quản lý tuỳ theo cấp bậc

của họ thì ta thấy nếu cấp bậc quản lý càng cao thì người quản lý càng cần có nhiều kỹ nang quan hệ con người và khái quát trong khi đó đối với kỹ năng chuyên môn thì giảm

rất nhiều

22

Trang 24

Hình 3: Yêu cầu về kỹ năng đối với người quản lý theo cấp bậc

Người quản lý Người quản lý Người quản lý

i : Kỳ năng khải quát: khả năệg từ duy

phân tích và giả quyết vấn để hoàn c ì

Nguồn: Shermerhorn, J.R., 1999 Managemem, Sixth Edition, New York

Một nghiên cứu ở Việt Nam có để cập đến mức độ yêu cầu về các kỹ năng nêu

trên đối với các đối tượng quản lý ở cấp độ khác nhau cũng khẳng định khái quất chung

nêu trên Mặc dù cách phân loại kỹ năng có hơi khác, song nếu ta coi kiến thức kinh tế

và kiến thức kỹ thuật công nghệ như là kỹ năng chuyên môn và năng lực quản lý như là

kỹ năng con người và kỹ năng khái quát thì có thể có bức tranh chung về khía cạnh kỹ năng của cán bộ quản lý Việt Nam

Bảng 2: Sự thay đổi mức độ kiến thức và năng lực quản lý

của cán bộ quản lý Việt Nam

Nguồn : Lê Văn Tâm, Nguyễn Thành Độ : Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

ở Hà Nội Đề tài cấp Bộ năm 1995

Trang 25

Hình 3: Yêu cầu về kỹ năng đối với người quản lý theo cấp bậc

Người quản lý Người quản lý Người quản lý

; Kỹ năng khái quát: khả nãặg tư duy

phân tích và giả quyết van dé hoàn c¡ :

Nguon: Shermerhorn, J.R., 1999 Management, Sixth Edition, New York

Một nghiên cứu ở Việt Nam có để cập đến mức độ yêu cầu về các kỹ năng nêu trên đối với các đối tượng quản lý ở cấp độ khác nhau cũng khẳng định khái quát chung nêu trên Mặc dù cách phân loại kỹ năng có hơi khác, song nếu ta coi kiến thức kinh tế

và kiến thúc kỹ thuật công nghệ như là kỹ năng chuyên môn và năng lực quản lý như là

kỹ năng con người và kỹ năng khái quát thì có thể có bức tranh chung về khía cạnh kỹ năng của cán bộ quản lý Việt Nam

Bảng 2: Sự thay đổi mức độ kiến thức và năng lực quản lý

của cán bộ quản lý Việt Nam

STT Cấp quản lý Kiến thức kinh te | Kien thức kỹ thuật | Nang luc

Nguồn - Lê Văn Tâm, Nguyễn Thành Độ : Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

ở Hà Nội Đề tài cấp Bộ năm 1995

Trang 26

1.1.7 Mô hình bốn khía cạnh của người quản lý

Có lẽ sẽ có những nghiên cứu tiếp tục sau này về nhiều khía cạnh khác của người quản

lý, song cho đến nay trong hầu hết các tài liệu nghiên cứu về quản lý người ta thường để cập đến bốn khía cạnh đặc trưng là: vai trò, chức năng, kỹ năng và cấp bậc Đây là các góc độ khác nhau để giúp ta nhìn rõ hơn và hiểu rõ hơn nội dung công việc mà người quản lý cần phải làm Thực ra mà nói, ngay cả các thuật ngữ như vai trò, chức năng, kỹ

năng và cấp bậc ở đây còn nhiều điều phải làm rõ thêm Chính vì vậy mà khi xét nội dung cụ thể của từng khía cạnh sẽ xảy ra vấn đề trùng lắp của một số nội dung của các

khía cạnh Chang hạn mặc dù gọi các chức năng của nhà quản lý là lạp kế hoạch, xây

dựng tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra song thực tế ta có thể coi đây là các kỹ năng chính

mà người quản lý cần có Điều cân nhận thấy ở đây là hầu hết các tài liệu nói về quản lý hiện nay đều có cấu trúc nội dung dựa vào 4 chức năng chủ yếu này Mặt khác, còn có những cách nhìn từ những góc độ khác khá thú vị khi ta cho rằng người quản lý cần có các kỹ năng quan hệ con người cá thể, kỹ năng quan hệ con người nhóm và kỹ năng

quan hệ con người trong tổ chitc (S.P Robbins, 2001) Hinh 4 cho ta thấy tính phức tạp

của nội dung hoạt động của người quản lý

Hình 4 : Mô hình bốn khía cạnh của người quản lý

Trang 27

1.2.DOANH NGHIỆP VÀ CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

1.2.1 Khái niệm về doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Từ trước đến nay có nhiều khái niệm, định nghĩa về đoanh nghiệp, song các khái niệm và định nghĩa đó chưa thể hiện đầy đủ và toàn điện những đặc điểm chung nhất cho bất kỳ một loại doanh nghiệp nào Sau đây là một số quan niệm về doanh nghiệp

Theo quan điểm hệ thống: Doanh nghiệp là một tổng thể, một hệ thống bao gồm

con người và thiết bị được tổ chức lại nhằm đạt được những mục đích nhất định, đó là việc tạo ra một sự cân bằng trong ngân qui, tạo ra khả năng sinh lợi của vốn đầu tư, làm lợi cho người chủ sở hữu, bảo đảm tương lai phát triển của doanh nghiệp

Theo quan điểm tổ chức, quá trình và nội dung hoại động của doanh nghiệp thì" Doanh nghiệp là một tổ chức mà thông qua đó, trong khuôn khổ của một số lượng tài sản nhất định, người ta sẽ lựa chọn phương pháp kết hợp các yếu tố đầu vào một cách tối

ưu nhất, nhằm tạo ra những hàng hoá trên thị trường để thu về những khoản tiền chênh lệch giữa giá bán và phí tốn"

Theo mục đích hoạt động của doanh nghiệp thì “Doanh nghiệp là một tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý doanh nghiệp như sản xuất, mua bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận”

Các định nghĩa này chỉ đứng trên một góc độ để xem xét nên chưa thể hiện được

nhận thức đầy đủ và toàn diện về doanh nghiệp và còn có một số hạn chế sau:

Mục đích hoạt động của doanh nghiệp chưa thể hiện rõ trong các định nghĩa về từng loại doanh nghiệp Các định nghĩa này mới chỉ cố gắng đưa ra sự phân biệt về nguồn gốc tài sản, đặc điểm kinh tế — kỹ thuật hoặc đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, trong khi đó mục tiêu hoạt động thì chưa được thể hiện đầy đủ Trong các khái niệm và định nghĩa về doanh nghiệp có sự lẫn lộn về phương tiện và mục đích hoạt động của doanh nghiệp Chẳng hạn, trong luật doanh nghiệp tư nhân và luật công ty đưa ra khái niệm: “doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế được thành lập nhằm mục đích chủ yếu

là thực hiện các hoạt động quản lý doanh nghiệp ”, nhưng thực chất các hoạt động quản

lý doanh nghiệp không phải là mục đích của doanh nghiệp, mà chỉ là phương tiện để người chủ doanh nghiệp đạt được mục đích là lợi nhuận tối đa khi thực hiện các hoạt động sản xuất quản lý doanh nghiệp

25

Trang 28

Các khái niệm về những loại hình doanh nghiệp trước đây chưa thể hiện rõ mối

quan hệ của doanh nghiệp với môi trường quản lý doanh nghiệp với Nhà nước và với người tiêu dùng do vậy khái niệm về doanh nghiệp cần phải đạt các yêu cầu sau:

- Thể hiện đẩy đủ những nội dung cơ bản trong hoạt động của bất kỳ một doanh nghiệp nào, trước hết cần thể hiện rõ mục đích, chức năng, đặc điểm hoạt động của

Từ những yêu cầu trên có thể đề xuất một nhận thức về doanh nghiệp như sau :

“Doanh nghiệp là một tổ chức quản lý doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, thực hiện các

hoạt động sản xuất, cung ứng, trao đổi những hàng hoá trên thị trường theo nguyên tắc

tối đa hoá lợi ích của đối tượng tiêu dùng thông qua đó tối đa hoá lợi ích kinh tế của người chủ sở hữu về tài sản của doanh nghiệp, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội” Hay nói một cách vấn tắt: Doanh nghiệp là một tổ chức quản lý doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, một tập hợp người và vốn, có mục đích quản lý doanh

nghiệp để kiếm lời Từ các khái niệm tổng quát trên đây có thể rút ra các đặc điểm hoạt

động của doanh nghiệp như sau :

-_ Chức năng quản lý doanh nghiệp của doanh nghiệp bao gồm: Sản xuất, cung ứng,

trao đổi hợp tác và tiêu thụ nhằm mục đích sinh lời

-_ Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi ích kinh tế Mục tiêu này toàn diện và bao quát hơn mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Bởi lẽ lợi ích kinh tế không chỉ đơn thuần là lợi nhuận đạt được từ lợi ích sản xuất quản lý doanh nghiệp mà còn là khả năng phát triển doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường Đó là nguồn tài sản vô hình tạo nên giá trị và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Trong lợi ích kinh tế của người chủ sở hữu về tài sản bao gồm lợi nhuận hay cổ phiếu

mà họ được phân phối và chênh lệch giữa giá thị trường của cổ phiếu với định giá ghi trên cổ phiếu, sự chênh lệch này không chỉ đơn thuần là do lợi nhuận của công ty

cao

- _ Doanh nghiệp luôn tìm cách thoã mãn tối đa lợi ích của đối tượng tiêu dùng đó là

phương tiện để đạt tới lợi thế cạnh tranh nhằm tối đa hoá lợi nhuận và nâng cao giá

trị tài sản doanh nghiệp trên thị trường

Trang 29

- _ Tư cách pháp nhân của doanh nghiệp là một điều kiện cơ bản quyết định sự tổn tai

của doanh nghiệp trong hệ thống kinh tế quốc dân Nó được khẳng định và xác định bởi Nhà nước Mặt khác, việc khẳng định tư cách pháp nhân của đoanh nghiệp với tư

cách là thực thể kinh tế phải chịu trách nhiệm pháp lý về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản nợ khi phá sản hay giải thể

-_ Thông qua hệ thống luật pháp, chính sách của Nhà nước doanh nghiệp sẽ diéu hoa

những đối kháng hay bất đồng giữa mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp với mục tiêu

xã hội được đặt ra cho doanh nghiệp

- Doanh nghiệp phải tôn trọng quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng, mọi hoạt động nhằm tạo ra sự tăng trưởng thu nhập của doanh nghiệp không được vi phạm quyền lợi chính đáng của đối tượng tiêu dùng Quyền lợi đó được Nhà nước và các tổ

chức xã hội công nhận và bảo vệ

- Mọi hoạt động quản lý doanh nghiệp của doanh nghiệp chịu sự chỉ phối và tác động

của môi trường kinh tế — xã hội Để các doanh nghiệp có thể tổn tại và phát triển,

Nhà nước phải cố gắng tạo môi trường ổn định về kinh tế vĩ mô như : Vấn để tăng

trưởng của nền kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, các chính sách bảo hộ sản xuất v.v 1.2.2 Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường tồn tại rất nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau

với các loại hình đặc điểm khác nhau Để nghiên cứu phục vụ công tác quản lý nói

chung và công tác qui hoạch đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp theo các đặc điểm của chúng có thể phân loại doanh nghiệp theo các tiêu thức sau đây :

a Phân loại theo tính chất sở hữu tài sản có các loại doanh nghiệp sau:

Doanh nghiệp chỉ có một chủ sở hữu, đó là xí nghiệp 100% vốn Nhà nước (doanh nghiệp quốc doanh) hay doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp tư nhân của người Việt nam hay người nước ngoài) Ngoài những tính chất đã nêu ở trên, đối với các doanh nghiệp này trách nhiệm pháp lý về việc thanh toán những khoản nợ của doanh nghiệp là

vô hạn bằng tài sản của chủ doanh nghiệp Doanh nghiệp có nhiều người, nhiều tổ chức

là đồng sở hữu thường bao gồm :

Trang 30

e H6 san xuat quan ly doanh nghiép ca thé

Tính chất hoạt động của các loại hình doanh nghiệp này đã được qui định theo luật

công ty và luật hợp tác xã Riêng doanh nghiệp hợp doanh gồm ít nhất hai thành viên

góp vốn đã hình thành doanh nghiệp và việc điều hành doanh nghiệp sẽ được thoả thuận giữa các bên chung vốn

b Phân loại theo hình thức pháp lý và trách nhiệm pháp lý, có các loại doanh nghiệp

« Doanh nghiệp có trách nhiệm pháp lý vô hạn, đó là các doanh nghiệp Nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân (100% vốn của người nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân của người Việt nam)

s Doanh nghiệp có trách nhiệm pháp lý hữu hạn, gồm: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã v.v

c Phân loại doanh nghiệp theo qui mô hoạt động sản xuất quản lý doanh nghiệp

Hiện tại người ta vẫn dựa vào 3 tiêu chuẩn để phân loại qui mô doanh nghiệp đó

e _ Tổng số vốn sản xuất quản lý doanh nghiệp

øe - Giá trị sản lượng (doanh số)

e - Số lương lao động

Trong điểu kiện thiếu đồng nhất về kỹ thuật và công nghệ như hiện nay thì vốn và

doanh số (giá trị sản lượng) là hai tiêu chuẩn được coi trọng hơn

Theo các tiêu chuẩn này các doanh nghiệp trong nên kinh tế được chia thành 3

loại:

s _ Các doanh nghiệp nghiệp có qui mô lớn (ở nước ta hiện nay là 18 tổng công ty 91 và

64 tổng công ty 90 được thành lập theo các quyết định 90 TTG và 91 TTG của Thủ tướng Chính phủ năm 1994)

e - Các doanh nghiệp có qui mô vừa

« _ Các doanh nghiệp có qui mô nhỏ

Trang 31

Theo các tiêu chuẩn đó thì hầu hết các doanh nghiệp độc lập ở nước ta hiện nay

đều thuộc các qui mô vừa và nhỏ

d Phân loại doanh nghiệp theo ngành nghề và tính chất sản phẩm

Theo tiêu thức này người ta phân loại các doanh nghiệp theo đặc điểm kinh tế —

kỹ thuật, do đó có các loại sau:

e - Các doanh nghiệp công nghiệp

e - Các doanh nghiệp xây dựng cơ bản

e _ Các doanh nghiệp vận tải :

øe - Các doanh nghiệp thương mai

ø _ Các doanh nghiệp du lịch, dịch vụ

Do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của các doanh nghiệp này rất khác nhau nên các

yêu cầu về tổ chức quản lý doanh nghiệp, về quản lý và về đào tạo, bố trí sử dụng người

lao động cũng có những nét khác nhau

e Phân loại doanh nghiệp theo (yêu câu) mục tiêu hoạt động trong kinh tế thị trường

Theo cách này, các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân được chia thành hai loại:

e _ Các doanh nghiệp sản xuất - quản lý doanh nghiệp các sản phẩm hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng cá nhân hoạt động hoàn toàn theo cơ chế thị trường và mục tiêu lợi

nhuận

s _ Các doanh nghiệp sản xuất - quản lý doanh nghiệp các sản phẩm, hàng hoá phục vụ

cho lợi ích công cộng, lợi ích chung, phục vụ cho sự phát triển của xã hội và khác

phục các khuyết tật của cơ chế thị trường, hoạt động vì mục tiêu kinh tế - xã hội

Cách phân loại này chỉ có ý nghĩa đối với việc xác định mục tiêu quản lý doanh nghiệp và tổ chức công tác quản lý doanh nghiệp trong các loại hình doanh nghiệp của

1.3 HOI NHAP VA TOAN CAU HOA NEN KINH TE

29

Trang 32

1.3.1 Tự do hoá, đa cực hoá và toàn cầu hoá trong kinh tế quốc tế hiện đại

Chiến tranh lạnh kết thúc đã khởi đầu cho làn sóng đổi mới tư duy toàn cầu với sự thắng thế của xu hướng tăng cường hoà bình, đối thoại vì sự hợp tác và phát triển kinh tế

giữa các nước Đồng thời, thế giới hiện nay đang day lên trào lưu mới đề cao tự do hoá

trong các lĩnh vực kinh tế, và từ đó lan sang các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Những nét nổi bật của trào lưu tự đo hoá kinh tế là:

Cơ chế thị trường mở làm nền tầng cho mọi hoạt động và giao lưu kinh tế cả ở cấp

vĩ mô và vi mô trong phạm vi công ty, quốc gia, khu vực và quốc tế được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới và hoàn thiện hơn trong mỗi nước Nếu trước thập kỷ 90 này chỉ có 1/6 số nước trên thế giới chấp nhận cơ chế kinh tế thị trường, thì nay nó được tôn vinh và được coi là tài sản chung của nhân loại, là định hướng chung của các nền kinh tế chuyển đổi và các nên kinh tế đang phát triển khác trên toàn cầu Trong các nước đã xây dựng

nền kinh tế thị trường từ lâu, cũng đang có những khởi động mới nhằm hoàn thiện và

nâng cao hơn hiệu quả vận hành của các nguyên tắc và các thiết chế thị trường mở

-_ Lần sóng tư nhân hoá và cổ phần hoá đang lan rộng toàn cầu, không chỉ ở các nước

có nền kinh tế chuyển đổi, các nước đang phát triển ở Châu Á đang bị khủng hoảng tài chính — tiền tệ, mà còn cả ở các nước phát triển Các lĩnh vực quản lý doanh nghiệp độc quyền đang -được thu hẹp, bao gồm cả độc quyền Nhà nước với tư nhân,

và độc quyền của tư bản trong nước với tư bản nước ngoài

- Vai trò kinh tế của Nhà nước được chuyển dịch theo hướng giảm can thiệp hành

chính, trực tiếp, để chuyển sang phương thức can thiệp gián tiếp, có tính định hướng

và ít điều chỉnh hơn Vai trò đầu tư của nhà nước ngày càng giảm xuống hoặc được định hướng hỗ trợ tư nhân đầu tư

- _ Các dòng chảy thương mại hàng hoá, dịch vụ và đầu tư quốc tế ngày càng được tự do hoá cả trong phạm vi quốc gia và giữa các quốc gia với nhau Hiện tại có khoảng

50% tổng sản lượng thế giới được thực hiện trong trao đổi quốc tế so với 30% của

năm 1980

Thế giới hiện đại, những thập niên gần đây, bước vào giai đoạn phát triển mới đầy

phức tạp và nhạy cảm như kết quả tổng hoà của sự đan xen và tương tác giữa các quá

trình không cùng chiều, giữa những cái cũ đang mất di và cái mới đang hình thành trên một nền tảng chung, đồng thời có sự phân hoá và thay thế mạnh mẽ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế ~ xã hội, trong nhận thức và trong thực tiễn, về giá trị cũng như

Trang 33

1.3.2 Cách mạng khoa học kỹ thuật và xu thế dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo

hướng phát triển kinh tế tri thức

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhất là trong vòng 3 thập kỷ gần đây, khoa học —

kỹ thuật có những đột phá quan trọng và phát triển trên qui mô mới cả về lượng và chất

với nhịp độ ngày càng nhanh Nếu coi lịch sử nhân loại là một năm và thế kỷ XX là 15 phút, trong đó 3 thập kỷ gần đây là 5 phút cuối, thì lượng trí thức nhân loại có được trong 15 phút đó bằng toàn bộ tr¡ thức tích luỹ được trước đấy Hơn nữa lượng tri thức này là kết quả thu nhận được chỉ vào 5 phút cuối cùng (số lượng tạp chí và bài báo khoa học cứ 10 năm lại tăng gấp đôi, khoảng 80% công nghệ và qui trình kỹ thuật đang sử

dụng hiện nay sẽ trở nên lạc hậu trong vòng một thập kỷ tới, chu kỳ đổi mới của nhiều

chương trình, phần mềm máy vi tính rút lại thậm chí chỉ còn 6 tháng v.v )

Nền đại công nghiệp cơ khí vơí các công nghệ và mô hình tiêu dùng truyền thống đang đi đến những giới hạn cuối cùng, do vấp phải:

- Những điểu kiện khách quan về tài nguyên (chẳng hạn đến năm 2040 — 2045, giọt dầu mỏ cuối cùng của thế giới sẽ bị vét lên - chấm dứt nền văn minh công nghiệp

-_ Những giới hạn về môi trường, về chí phí sản xuất

- _ Những giới hạn về thị trường và xã hội chúng ta dựa vào

-_ Những giới hạn nội tại của bản thân các công nghệ và nền sản xuất đó

Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 3 đang hình thành với các đặc trưng mới về chất như:

-_ Cố tính tự động hoá cao, là sự kết hợp giữa công nghệ vi điện tử, công nghệ tỉn học,

công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ và đáy đại đương cùng các công nghệ chế biến sâu không có phế liệu

-_ Sử dụng nguyên vật liệu mới có khả năng tái sinh, không gây ô nhiễm môi trường -_ Làm hài hoà quan hệ giữa con người với thiên nhiên Đặt con người vào trung tâm sự tăng trưởng, trí tuệ hoá lao động và giải phóng con người khỏi lao động đơn điệu, độc hại cũng như những giới hạn sinh lý cá nhân

Tóm lại, đó là mô hình kinh tế - công nghệ nhân đạo hơn, trí tuệ hơn, có khả năng tự bảo vệ, vì thế hiệu quả và bền vững hơn Cùng với việc tạo ra những công nghệ

31

Trang 34

mới, đang xuất hiện những điều kiện quản lý doanh nghiệp và cơ cấu tiêu dùng mới Thế giới ngày càng trở thành mạng lưới đày đặc và nhạy bén hơn các quan hệ giao tiếp và tương tác lẫn nhau, làm tăng các cơ hội cho tự do cá nhân, làm xói mòn các lợi thế cũ và tạo ra những sức mạnh cùng lợi thế mới Cả ở cấp vi mô lẫn vĩ mô đang khởi động những quá trình tái cấu trúc vĩ đại chưa từng có trong lịnh sử, trong đó:

Đối với các sản phẩm: Đang và sẽ có sự cải thiện căn bản về danh mục, chủng loại, chất lượng, hình đáng, công dụng và giá cả của hàng loạt sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ theo hướng đa dạng hơn, nhỏ gọn hơn, nhiều chức năng hơn, tiện lợi, tỉnh xảo hơn, tiết kiệm năng lượng và rẻ hơn, do đó, phổ cập rộng rãi hơn Sẽ xuất hiện hàng loạt

sản phẩm và dịch vụ hoàn toàn mới Vòng đời sản phẩm sẽ ngắn đi, thậm chí rất ngắn

Trong cơ cấu tiêu dùng mới, tỉ trọng lớn sẽ thuộc về thông tin và những phương tiện cung cấp, xử lý và phân tích thông tin Công nghệ mới khiến giá trị thông tỉn trở nên dat

hơn Chất lượng nắm bắt, xử lý các thông tin trở thành nhân tố quyết định chất lượng

sống cũng như sự thành công của mỗi cá nhân và doanh nghiệp và của cả quốc gia

Đối với các công Iy: Sẽ có hai xu hướng song song điễn ra Một mặt, nên kinh tế quốc gia và thế giới càng lớn và mở rộng hơn thì các công ty trung bình và nhỏ sẽ càng thống trị và có tương lai hơn Các doanh nghiệp sẽ được tổ chức theo qui mô nhỏ, phi tập trung hoá, giảm bớt các khâu trung gian, cơ cấu thành nhiều đơn vị độc lập, có quyền tự chủ cao, giảm bớt tệ quan liêu, được chuyên môn hoá cao có tỉnh thần hợp tác, hoạt

động mang tính toàn cầu chặt chế và tuân thủ những tiêu chuẩn đạo đức ngày càng cao

(hiện tại các công ty có qui mô lao động nhỏ dưới 19 người đang tạo ra 50 % giá trị hàng xuất khẩn ở Mỹ và CHLB Đức; 90 % giá trị nền kinh tế Mỹ là do các công ty dưới 500 người tạo ra) Mặt khác, sự hợp nhất để trở thành lớn hơn, mạnh hơn, giảm chỉ phí và có

sức cạnh tranh-hơn, đáp ứng những nhu câu to lớn của nền kinh tế tương lai, sẽ trở thành

xu hướng vận động của các tổ hợp quản lý doanh nghiệp dich vụ tài chính ngân hàng và thông tin Sẽ ngày càng có nhiều tập đoàn xuyên quốc gia có giá trị tài sản lớn hơn GDP của một nước, thậm chí của nhiều nước (tháng 4 năm 1998, thế giới chứng kiến vụ siêu sáp nhập giữa ngân hàng Titicorp và tập đoàn môi giới thương khoán bảo hiểm Travelers

Inc với tổng giá trị tài sản 700 tỉ USD, gần bằng GDP của Trung quốc và bằng 1,8 lần GDP toàn khối ASEAN) Các công ty đa quốc gia đang kiểm soát 2/3 chu chuyển ngoại

thương và đầu tư quốc tế và sẽ không mất đi vai trò to lớn của chúng trong việc tạo động lực cho tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế toàn cầu: Trong tương lai các công ty này

sẽ được điều chính theo hướng:

-_ Toàn cầu hoá chiến lược quản lý doanh nghiệp

Trang 35

- Danguyén hod cdc chi thé đầu tư

-_ Đa đạng hoá thị trường và lĩnh vực đầu tư

- Dia phương hoá xí nghiệp của các công ty này ở nước ngoài, kể cả hướng quản lý doanh nghiệp, cơ cấu sản phẩm, công nghệ, nguyên liệu, nhân lực và vốn đầu tư v.v

Đối với các nên kinh tế quốc gia và quốc tế: Cấu trúc các ngành nghề sẽ dịch chuyển theo hướng: Thu hẹp và mất đi các ngành khai thác, chế biến nguyên liệu truyền thống và xuất hiện những ngành khai thác, chế biến nguyên liệu mới thích hợp Các ngành sản:xuất truyền thống được chuyển thành những ngành sản xuất kỹ thuật cao và hàng loạt ngành sản xuất mới sẽ xuất hiện với cơ cấu phát triển lên tầng lớp ngày càng cao hơn Các dịch vụ và sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao sẽ chiếm tỉ trọng lớn nhất và

đem lại nhiều lợi nhuận nhất trong nền kinh tế quốc gia và quốc tế

Công nghiệp quốc phòng thuần tuý sẽ giảm tỉ trọng, hoặc định hướng “kiêm nhiệm” các hoạt động quản lý doanh nghiệp có tính đân sự (thực tế cho thấy chỉ phí quân sự toàn cầu giảm từ 5% GDP năm 1985 xuống còn 2,5 % GDP năm 1995) Các công nghệ mới, các xa lộ thông tin, vận tải toàn cầu phát triển, đang thu hẹp lại khoảng cách của các quốc gia, đồng thời mở rộng giới hạn không gian kinh tế và sinh tồn của con người lên khoảng không, xuống đáy đại dương hay các vùng xa mạc, các vùng băng tuyết quanh năm và đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển các yếu tố của hoạt động tái sản xuất kinh tế — xã hội Các công ty và quốc gia không chỉ lập kế hoạch cho thị trường trong nước, mà còn phải cho thị trường khu vực và toàn cầu Nền công nghiệp mới, tự động hoá và có tính toàn cầu sẽ xuất hiện cùng với nền kinh tế thị trường toàn cầu

Chế độ tổ chức lao động của công ty và quốc gia cũng thay đổi mạnh, sẽ giảm đi cách làm việc tập trung tại công sở và chế độ ăn lương suốt đời tại một công ty, một quốc gia Con người lao động mới sẽ có tri thức toàn diện hơn, năng động, tự chủ hơn, di

chuyển chỗ làm việc thường xuyên và ngày càng rộng hơn Đô thị hoá sẽ tăng nhanh,

các cấu trúc chính trị và giao lưu văn hoá xã hội quốc gia và quốc tế sẽ có sự dịch chuyển tương ứng “Nền kinh tế nợ” sẽ trở thành đặc trưng cho mọi công ty và quốc gia Nói cách khác, mỗi công ty và mỗi quốc gia ngày càng có nhu cầu và khả năng tiếp cận rộng rãi, thường xuyên hơn với các nguồn vốn bên ngoài, cũng như tích cực đầu tư ra bên ngoài hơn Tăng trưởng với tốc độ nhanh nhất so với tất cả các hoạt động quản lý doanh nghiệp khác nên các hoạt động tài chính ~ tín dụng sẽ ngày càng trở thành vũ khhí cạnh tranh và “công cụ” đồng hoá một công ty, một quốc gia lợi hại nhất Tình trạng nợ khó đòi và tín dụng không hiệu quả sẽ gia tăng, kéo theo nhưng xung lực tiểm

an gay bất ồn định thị trường tài chính — tiền tệ quốc gia và quốc tế, đồng thời đặt ra yêu

33

Trang 36

cầu bức bách phải hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát an toàn tài chính

~ tín dụng cả ở cấp vi mô lẫn vĩ mô (cấp quốc gia lẫn cấp khu vực và quốc tế)

Trên thực tế, khoa học kỹ thuật ngày càng được coi trọng, đất đỏ hơn và trở thành

lực lượng sản xuất trực tiếp Một thời đại mới “ kinh tế tri thức toàn cầu” đang ra đời với

đặc trưng nổi bật là coi trọng phát triển theo chiều sâu Nền sản xuất và công nghiệp truyền thống được thay thế dần bằng các ngành công nghiệp và dịch vụ mới Sự phát

triển của các ngành chủ yếu dựa trên tri thức, tự động hoá, tin học hoá, dùng vật liệu mới

sử dụng công nghệ sạch, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi sinh hơn Khu vực dịch vụ ngày càng mở rộng so với hai khu vực còn lại của nền kinh tế quốc dân Cơ cấu sản phẩm ngày càng phong phú và càng đổi mới, tiến bộ nhanh chóng, đang từng bước hướng dẫn và cải thiện kết cấu tiêu dùng xã hội; qui mô tiêu dùng của mỗi nước và toàn thế giới cũng không ngừng mở rộng Những lĩnh vực đầu tư mới ngày càng mở ra Đầu tư cố định ngày càng tăng về qui mô, đẩy nhanh hơn về tốc độ vòng quay (song cấu tạo hữu cơ của tư bản lại giảm tương đối do nâng cao vị thế trí tuệ của lao động) Sự sáng

tạo, đổi mới thường xuyên là động lực chủ yếu nhất thúc đẩy sự phát triển Công nghệ đổi mới rất nhanh, vòng đời công nghệ, vòng đời sản phẩm rút ngắn Giá trị sản xuất và

lợi nhuận quản lý doanh nghiệp chủ yếu dựa vào tài nguyên thông tin (chứ không phải tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo), đặc biệt là những thông tin về tương lai, về cái chưa biết chứ không phải cái đã biết

Kinh tế tri thức, nếu so với nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế nông nghiệp,

thì có những khác biệt căn bản cả về “đầu vào” lẫn “đầu ra” của sản xuất Các sản phẩm

ngày càng có hàm lượng tài nguyên và lao động thấp, hàm lượng khoa học cao hơn, chúng được sản xuất ngày càng nhiều, nhanh, tốt, rẻ theo hướng đa dạng hoá, phi chuyên môn hoá, phi tập trung hoá và phi tối đa hoá Giá trị sử dụng của chúng ngày càng cao, càng phổ biến thì giá bán càng rẻ; đồng thời sản phẩm càng nhiều người dùng thì giá trị

và giá trị sử dụng càng cao Đặc biệt nếu trong nền kinh tế nông nghiệp và công nghiệp,

sản phẩm mang tính vật thể, là sở hữu của ít người và đáp ứng nhu cầu có giới hạn của cá

nhân, thì trong kinh tế tri thức sản phẩm mang tính tri thức (hàm lượng trí tuệ cao), thông tin — tri thức là sở hữu của rất nhiều người và nhu cầu của cá nhân về những sản

phẩm này là vô hạn, nhất là đối với các nhu cẩu về tỉnh thần, giải trí, văn hoá cao Có thể

nói sự linh hoạt và qui mô mang tính mở rất cao cả về khả năng sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm trong nền kinh tế tri thức là đặc tính mới về chất, mà tất cả thời kỳ phát triển kinh tế của nhân loại trước đó không có Chính những đặc tính quan trọng nêu trên

của kinh tế tri thức đã, đang và sẽ thay đổi cơ cấu và tổ chức vật chất — kinh tế — xã hội

Trang 37

trực tiếp và gián tiếp mở rộng không gian kinh tế, mở rộng thị trường (cung cấp và tiêu thụ), gắn kết trực tiếp và hợp lý bơn giữa sản xuất và tiêu dùng, đồng thời tạo ra nhiều yếu tố nguồn lực và động lực mới thúc đẩy kinh tế phát triển, cũng như làm cho nền kinh

tế nói chung, sản xuất nói riêng tăng trưởng bền vững hơn Điều đó còn có nghĩa là giảm

nhẹ tính chất “' định mệnh” chu kỳ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa (tăng trưởng — Suy thoái) cả ở cấp vi mô và vĩ mô, quốc gia và toàn cầu

1.3.3 Bản chất, nội dung, hình thức và tác động hai mặt của hội nhập kinh tế quốc

Khái niệm và bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế tế quốc tế là khái niệm mở, phản ánh quá trình các thể chế quốc gia tiến hành xây dựng, thương lượng, ký kết và tuân thủ các cam kết song phương, đa phương và toàn cầu ngày càng đa dạng hơn, cao hơn và đồng bộ hơn trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế quốc gia và quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh

tế của một nước vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó các thành viên quan hệ với nhau theo những qui định chung

Trước kia, khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế chỉ được hiểu đơn thuần là những hoạt động giảm thuế quan mở cửa thị trường Chẳng hạn Hiệp định chung về Thuế quan

và Thương mại (GATT) suốt trong 38 năm, qua 7 vòng đàm phán cũng chỉ tập trung vào đàm phán giảm thuế quan Hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay được hiểu là việc một

quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mỏ, tham gia vào các định chế kinh tế tài chính quốc tế, thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đâu tư

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cùng với quá trình tự do hoá kinh tế là hai quá trình song song và hợp thành của một quá trình rộng lớn hơn, đó là quá trình toàn cầu hoá (tức là quá trình quốc tế hoá kinh tế dựa trên cơ sở sự phát triển khoa học — kỹ thuật

và cơ chế thị trường đã phát triển qui mô toàn cầu mà mới chỉ thực sự phát triển từ sau khi kết thức chiến tranh lạnh những năm 90 của thế kỷ XX) Đích hội tụ bao trùm của quá trình toàn cầu hoá - do đó, của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế — là sự định hình

và phát triển của nền kinh tế toàn cầu với tư cách một chỉnh thể chung thống nhất, không

còn biên giới quốc gia về kinh tế

Nội dung và hình thức của hội nhập kinh tế quốc tế

35

Trang 38

Phản ánh xu hướng hình thành nền kinh tế toàn cầu thống nhất như là nội dung cơ bản của quá trình toàn cầu hoá, song hội nhập kinh tế quốc tế có những nội dung riêng mang tính giai đoạn Những thoả thuận mang tính nguyên tắc của WTO trong Vòng đầm phán Uruguay (1986 -1994) được coi là thể hiện tập trung và rõ nhất nội dung cla hdi nhập kinh tế quốc tế hiện nay, cụ thé bao gồm các khía cạnh, vấn đề sau:

Về thương mại hàng hoá

- Giữa các nước thành viên phải cam kết và thực hiện theo lộ trình thoả thuận về:

- Cất giảm thuế nhập khẩu, tiến tới thực hiện thuế xuất nhập khẩu bằng 0

- Giam thiểu, tiến tới loại bỏ các bàng rào phi thuế quan (từ cấm nhập, hạn chế nhập, nhập theo quata, đến các biện pháp phòng dịch, giá tham chiếu, các thủ tục hải quan phức tạp v.v )

- _ Công nhận quyền quản lý doanh nghiệp xuất nhập khẩu cho mọi loại hình công ty

không phân biệt trong nước hay ngoài nước

Vệ thương mai dich vu

-_ Giảm thiểu các hạn chế đối với thương mại dịch vụ

- _ Cung cấp dịch vụ qua biên giới từ lãnh thổ của nước thành viên này sang lãnh thổ của nước thành viên khác

- _ Tiêu dùng ngoài lãnh thổ

- _ Hiện diện thương mại của công ty một nước thành viên trên lãnh thổ một nước thành viên khác với các hình thức lập liên doanh, chỉ nhánh, công ty 100% vốn nước ngoài

- _ Hiện diện thể nhân, di chuyển thể nhân

Vệ đầu tư

-_ Giảm thiểu các hạn chế đối với đầu tư để mở đường cho tự do hoá thương mai

hơn nữa

- _ Tạo môi truờng quản lý doanh nghiệp bình đẳng và thống nhất

Hiện nay, những nội dung và nguyên tắc hội nhập nêu trên ở các mức độ khác nhau đang chi phối nội dung các hiệp định thương mại, các khối kinh tế thương mại song phương và khu vực các tổ chức kinh tế toàn cầu Trong thời gian tới, những nội dung, nguyên tac và lĩnh vực hội nhập trên đây chắc chắn sẽ được nâng cao và mở rộng

Trang 39

hơn Hiện tại,.EU và NAFTA đã thực hiện những cam kết hội nhập vượt xa các yêu cầu của WTO, còn những cam kết AFTA của ASEAN nếu không được thực hiện tích cực có

thể sẽ lạc hậu hơn WTO rất nhiều.Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển không

chỉ về nội dung như đã nêu trên, và còn cả về các hình thức của chúng

Các hiệp định kinh tế thương mại song phương

Ngoài những hình thức hội nhập kinh tế quốc tế chủ yếu trên đây, thế giới đang

xuất hiện ngày càng nhiều hơn hình thức đặc thù như thành phố cảng tự do, các đặc khu kinh tế quốc gia và cả những “tam giác”, “tứ giác” vùng (nghĩa là những vùng kinh tế giáp biên giới:của 3 —4 nước liển kể nhau, bổ sung cho nhau về những lợi thế và mở cửa

tự do cho tất cả các đoanh nghiệp trên thế giới)

Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế này càng phát triển phong phú hơn và một quốc gia có thể lựa chọn tham gia các hình thức thích hợp với điều kiện và định hướng phát triển của mình Hơn nữa, mỗi nước cần sử dụng đồng thời nhiều hình thức để khai thác tối đa các lợi thế, hạn chế thấp nhất các tác động trái chiều của hội nhập kinh tế quốc tế

Tóm lại, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan đo tác

động của sự phát triển của lực lượng sản xuất trình độ cao và trở thành xu thế phát triển

chủ yếu của quan hệ quốc tế ngày nay Quá trình này diễn ra ở nhiều cấp độ và một nước

có thể đồng thời tham gia nhiều hình thức và tổ chức hợp tác, từ hợp tác song phương

giữa hai nước đến hợp tác đa phương để hình thành các tam giác, tứ giác, các tố chức tiểu vùng, các tổ chức khu vực, liên minh châu lục và các tổ chức toàn cầu, với phương thức đa dạng như khu vực mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, diễn đàn kinh tế, liên minh kinh tế .nhằm theo đuổi mục tiêu khai thác các lợi ích từ sự lưu

thông tự do các yếu tố của quá trình tái sản xuất trên phạm vi toàn cầu

Những thách thức trong quá trình hội nhập và toàn câu hoá

Thiếu nghiêm trọng nhất chính là thiếu nguồn con người có năng lực, có kinh nghiệm hoạch định chính sách, quản lý quản lý doanh nghiệp, làm chủ công nghệ Chính

sách cũng được coi là công nghệ; Quản lý hay phối hợp cũng là một công nghệ của nền

hành chính kinh tế Chính đây là một mắt xích yếu nhất cần chú trọng tạo nguồn và nâng

cấp

37

Trang 40

1.4 HE THỐNG CÁC TIÊU CHÍ NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ DOANH

NGHIỆP

Trong Đề tài này, việc xây dựng một hệ thống năng lực của người quản lý doanh nghiệp được dựa vào quan điểm lý thuyết của Robert Katz về khía cạnh kỹ năng của người quản lý được trình bày chi tiết ỏ trang 17-18 thuộc Chương I Mặc dù trong lập

luận của mình Katz dùng thuật ngữ "kỹ năng” (kỹ năng chuyên môn, kỹ năng quan hệ

con người và kỹ năng khái quát), song thực ra, nếu xem xét các "kỹ năng" này dưới góc

độ lý luận đạy học thì các khái niệm này mang ý nghĩa rộng hơn và thuật ngữ đúng hơn

để thể hiện nội dung cần phản ánh ở đây là "năng lực” Trong lý luận dạy học hiện nay, với xu thế áp đảo của cách tiệm cận của cái gọi là "đào tạo dựa trên năng lực” khái niệm

"năng lực" đã gần như được nhiều người thừa nhận bao gồm các thành tố sau:

về lý thuyết Việc đưa thành tố kỹ năng vào cấu trúc của năng lực nhấn mạnh hơn vào ý nghĩa thực hành, khả năng phải làm được, vận dụng kiến thức vào nghề nghiệp hàng ngày Thành tố thái độ ở một mức độ nào đó cho ta thấy nội dung về phẩm chất cũng được coi là năng lực Tóm lại khái niệm năng lực cho thấy một triết lý đào tạo, bồi dudng hiện đại là trong hoạt động nghề nghiệp, người ta phải có năng lực làm được việc

đó Năng lực là tổ hợp hữu cơ các thành tố kiến thức, kỹ năng và thái độ Không có đủ các thành tố trên không bao giờ có năng lực Mặc khác khái niệm về năng lực tạo nên nên móng cơ sỏ quan trọng để xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cũng như biên soạn các tài liệu dạy học phù hợp

Với lập luận trên, hệ thống tiêu chí năng lực của người quản lý doanh nghiệp theo cách tiếp cận của Katz, c6 thể bao gồm:

e Năng lực chuyên môn

© _ Năng lực quan hệ con người

e Nang lực khái quát

Ngày đăng: 30/03/2013, 16:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w