1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích những lý thuyết giá trị - lao động của các nhà kinh tế tư sản cổ điển anh

21 1,4K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 65,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đà thâm nhập của tư bản vào lĩnh vựcsản xuất, những vấn đề kinh tế của sản xuất nảy sinh vượt quá khả năng lý giảicủa chủ nghĩa Trọng thương; Đòi hỏi phải có những lý thuyết mới – K

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

BÀI TIỂU LUẬN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TÊ

LỚP N03

-LAO ĐỘNG CỦA CÁC NHÀ KINH TẾ TƯ SẢN CỔ

ĐIỂN ANH

Người thực hiện : Nguyễn Lê Thuỷ Tiên

K47H Kinh tế - 13K4011539

Huế, tháng 5.2014

Trang 2

Mục lục

Trang 3

Lời mở đầu

Xã hội loài người đã và đang trải qua những hình thái kinh tế – xã hội khác nhau

Ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người đều có những hiểu biết vàcách giải thích các hiện tượng kinh tế – xã hội nhất định

Việc giải thích các hiện tượng kinh tế – xã hội ngày càng trở nên hết sức cần thiếtđối với đời sống kinh tế của xã hội loài người Lúc đầu nó chỉ xuất hiện dướinhững hình thức tư tưởng kinh tế, về sau mới trở thành những quan niệm,quan điểm kinh tế có tính hệ thống của các giai cấp khác nhau, đáp ứng cho nhucầu lý luận và bảo vệ các lợi ích của các giai cấp đó Mặt khác, cáctrường phái lý luận qua các giai đoạn lịch sử khác nhau mang tính kế thừa, pháttriển, cũng như phê phán có tính lịch sử của các trường phái kinh tế học Trườngphái kinh tế chính trị học tư sản đầu tiên là chủ nghĩa Trọng thương Nó ra đờitrong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ tư bản Đối tượng nghiên cứu của kinh

tế chính trị học lúc này là lĩnh vực lưu thông và đánh giá cao vai trò tiền tệ trongviệc tích luỹ của cải Con đường làm tăng của cải là thương nghiệp, là ngoạithương Họ đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế để tạo điều kiệncho chủ nghĩa tư bản ra đơì Theo đà thâm nhập của tư bản vào lĩnh vựcsản xuất, những vấn đề kinh tế của sản xuất nảy sinh vượt quá khả năng lý giảicủa chủ nghĩa Trọng thương; Đòi hỏi phải có những lý thuyết mới – Kinh tếchính trị học tư sản cổ điển xuất hiện Kinh tế chính trị học tư sản cổ điểnlần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vựcsản xuất Các đại biểu xuất sẵc của trường phái cổ điển là W.Petty,F.Quesnay, A.Smith, D.Ricacdo

Trường phái này ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế, dưới sự chi phối của bàn tay vôhình, Nhà nước không can thiệp vào kinh tế Song thực tế đã bác bỏ tư tưởng tự

do kinh tế của trường phái cổ điển Đồng thời thể hiện sự bất lực của kinh tếchính trị học tư sản cổ điển trước những hiện thực kinh tế mới Trước bố cảnh đó,

Trang 4

nhiều trào lưu kinh tế chính trị học nổi lên mà cơ bản là 2 trào lưu: Một là nhữngnhà kinh tế tiếp tục thuyết tư sản cổ điển đã đổi mới và phát triển, Trường pháiKeynes, tù do mới, chính hiện đại Hai là kinh tế chính trị học Marx – Lenin.Trong hệ thống các các lý luận cơ bản của từng trường phái cũng như của cả quátrình lịch sử phát triển, lý luận giá trị lao động đóng vai trò hạt nhân, là cơ sở củacác lý luận khác; Nó cũng bắt đầu sơ khai từ những tư tưởng kinh tế và được pháttriển thành những quan niệm, khái niệm và đến Marx đã khái quát hoá thànhnhững phạm trù, những hệ thống lý luận hoàn chỉnh mà nhờ đó giải thích đượccác hiện tượng kinh tế trong xã hội Với những kiến thức tiếp cận được quacác bài giảng của Thầy giáo, qua một số tài liệu nghiên cứu hiện hành, trongphạm vi bản tiểu luận này, trên lập trường tư tưởng của chủ nghĩa Marx – Lenin,

em xin chọn đề tài "Phân tích những lý thuyết giá trị - lao động của các nhà

kinh tế tư sản cổ điển Anh".

Trang 5

Nội dung

1 Hoàn cảnh ra đời

Sự phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa đã bước vào thời kỳ đòi hỏi chấmdứt vai trò thống trị của tư bản thương nghiệp để mở đường cho tư bản côngnghiệp và tư bản nông nghiệp phát triển Chủ nghĩa trọng thương đã trở thành lỗithời và bắt đầu tan rã ngay từ thế kỷ XVII, trước hết là Anh, một nước phát triểnnhất về mặt kinh tế Tiền đề của việc đó được tạo ra chủ yếu là do sự phát triểncác công trường thủ công ở Anh, đặc biệt là trong nghành dệt, sau đó là côngnghiệp khai thác Giai cấp tư sản đã nhận thức được rằng, muốn làm giàuphải bóc lột lao động, lao động làm thuê của những người nghèo là nguồn gốclàm giàu vô tận của những người giàu

Quá trình tích lũy tiền theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương khi sự pháttriển của chủ nghĩa tư bản đến một giai đoạn nhất định thì nguồn tích lũy tiền haytích lũy tư bản dần cạn kiệt Do đó, chủ nghĩa trọng thương bị nhiều nhà kinh tếthời kỳ này lên án Ở Pháp, do hậu quả của chủ nghĩa trọng thương trong chínhsách Konbe nên nền nông nghiệp Pháp đình đốn, nông dân Pháp khổ cực Do đó,cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa trọng thương ở Pháp gắn liền với phê phán chế

độ phong kiến nhằm giải thoát những ràng buộc của chế độ phong kiến để pháttriển nông nghiệp theo kiểu tư bản chủ nghĩa làm xuất hiện chủ nghĩa trọng nông.Những đại biểu điển hình của chủ nghĩa trọng nông đã tìm ra nguồn gốc của giátrị thặng dư là ở trong quá trình sản xuất Vì vậy, đã trực tiếp đặt cơ sở cho việcphân tích nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng:

Kinh tế chính trị tư sản cổ điển đã chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưuthông sang lĩnh vực lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu các quan hệ kinh tế trong quátrình tái sản xuất, trình bày một cách có hệ thống các phạm trù kinh tế trong nền

Trang 6

kinh tế tư bản chủ nghĩa như phạm trù hàng hóa, giá trị, tiền tệ, giá cả, tiền lương,lợi nhuận, lợi tức, địa tô, tư bản Từ đó, rót ra được quy luật vận động của nềnsản xuất tư bản chủ nghĩa Mục tiêu nghiên cứu của kinh tế chính trị tư sản cổđiển: đó là luận chứng cương lĩnh kinh tế và các chính sách kinh tế của giai cấp

tư sản, cơ chế thực hiện lợi Ých kinh tế trong xã hội tư bản nhằm phục vụ cho lợiích của giai cấp tư sản trên cơ sở phát triển lực lượng sản xuất (Trong đó lựclượng sản xuất gồm các yếu tố lao động và tư liệu sản xuất)

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu thể hiện trên hai mặt:

Sử dụng phương pháp trừu tượng hóa để tìm hiểu các mối liên hệ bêntrong của các hiện tượng và các quá trình kinh tế nên đã rót ra những kết luận cótính khoa học Do hạn chế về thế giới quan và phương pháp luận, về điều kiệnlịch sử nên khi gặp phải những vấn đề khó khăn phức tạp, họ chỉ mô tả một cáchhời hợt và rót ra kết luận sai lầm Những sai lầm này là điều kiện, cơ sở để nhữngnhà tư tưởng tầm thường lợi dụng và phát triển thành hệ thống lý luậntầm thường

Học thuyết kinh tế cổ điển là xu hướng của kinh tế tư sản phát sinh trong thời kỳhình thành phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa Các nhà kinh tế học củatrường phái này lần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thôngsang lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu các vấn đề kinh tế của nền sản xuất Tư bảnchủ nghĩa đặt ra Lần đầu tiên họ xây dựng một hệ thống các phạm trù và quy luậtcủa nền kinh tế thị trường, như phạm trù giá trị, giá cả, tiền lương Lần đầu tiên

họ áp dụng phương pháp trừu tượng hoá nghiên cứu các mối liên hệ nhân quả đểvạch ra bản chất và các quy luật vận động của quan hệ sản xuất Tư bản chủ nghĩacủa nhà nước vào kinh tế Tuy vậy những kết luận của họ còn mang tính phi lịch

sử, lẫn lộn giữa yếu tố khoa học và yếu tố tầm thường

3 Tư tưởng về học thuyết giá trị lao động của một số nhà kinh tế tiêu biểu của trường phái cổ điển Anh:

Trang 7

Kinh tế chính trị học tư sản cổ điển lần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên cứu từlĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất Các đại biểu xuất sắc củatrường phái cổ điển là W.Petty, A.Smith, D.Ricacdo Các ông nghiên cứu nhữngvấn đề cơ bản của lý luận kinh tế chính trị học nh- thuyết giá trị lao động, tiềnlương, lợi nhuận, lợi túc, tư bản, tích luỹ, tái sản xuất Từ đó xây dựng nên hệthống các phạm trù, quy luật kinh tế Trường phái này ủng hộ tư tưởng tự dokinh tế, dưới sự chi phối của bàn tay vô hình, Nhà nước không can thiệp vào kinh

tế Trong đó lý luận về giá trị lao động là đỉnh cao lý luận kinh tế chính trị tư sản

cổ điển

3.1 William Petty - Người đầu tiên đưa ra nguyên lý lao động quyết định

giá trị trong kinh tế chính trị học tư sản:

William Petty (1623-1687) là một trong những người sáng lập ra họcthuyết kinh tế cổ điển ở Anh Ông sinh ra trong mét gia đình thợ thủ công, cótrình độ tiến sĩ vật lý, là nhạc trưởng, là người phát minh ra máy chữ Ông làngười áp dụng phương pháp mới trong nghiên cứu khoa học, được gọi làphương pháp khoa học tự nhiên W.Petty đã viết nhiều tác phẩm như "Điều ước

về thu thuế" (1662), "Số học chính trị" (1676) và "Bàn về tiền tệ" (1682) Ông làngười áp dụng phương pháp mới trong nghiên cứu khoa học được gọi là phươngpháp khoa học tự nhiên Bản chất đó là phương pháp thừa nhận và tôn trọng cácquy luật khách quan, vạch ra mối liên hệ phụ thuộc, nhân quả giữa các sự vậthiện tượng Ông viết "Trong chính sách và trong kinh tế phải tính đến những quátrình tự nhiên, không nên dùng hành động cưỡng bức để chống lại quá trình đó"

Đó là mầm mèng của tư tưởng tự do cạnh tranh mà các đại biểu sau nàycủa trường phái cổ điển và những người kế tục họ đã phát triển W.Petty đãnghiên cứu và đưa ra học thuyết giá trị lao đông, trong đó ông đã đưa ra ba phạmtrù về giá cả hàng hoá trong tác phẩm "Bàn về thuế khoá và lệ phí" Đó là giá cả

tự nhiên, giá cả nhân tạo và giả cả chính trị Theo ông, giá cả tự nhiên là giá trịhàng hoá, nó do lao động của người sản xuất tạo ra, lượng của giá cả tự nhiên tỷ

lệ nghịch với năng suất lao động Nếu giá cả tự nhiên là giá trị hàng hoá, thì giá

Trang 8

cả nhân tạo là giá cả thị trường của hàng hoá Ông viết "tỷ lệ giữa lúa mú và bạcchỉ là giá cả nhân tạo chứ không phải là giá cả tự nhiên" Giá cả nhân tạo thay đổiphụ thuộc vào giá cả tự nhiên và quan hệ cung - cầu hàng hoá trên thị trường.Còn giá cả chính trị, ông cho rằng nó là một loại đặc biệt của giá cả tự nhiên, giá

cả chính trị là chi phí lao động để sản xuất hàng hoá, nhưng trong điều kiện chínhtrị không thuận lợi Vì vậy chi phí lao động trong giá cả chính trị thườngcao hơn so với chi phí lao động trong giá cả tự nhiên bình thường Như vậy,Petty là người đầu tiên đã tìm thấy cơ sở giá cả tự nhiên là lao động, thấy đượcquan hệ giữa lượng giá trị và năng suất lao động Ông kết luận rằng, số lượng laođộng bằng nhau bỏ vào sản xuất là cơ sở để so sánh giá trị hàng hoá Giá cả tựnhiên (giá trị) tỷ lệ nghịch với năng suất lao động khai thác vàng và bạc Ông có

ý định đặt vấn đề lao động phức tạp và lao động giản đơn nhưng không thành

Như vậy, W.Petty chính là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho lý thuyết giá trị lao động Tuy lý thuyết giá trị - lao động của ông còn có những

hạn chế chưa phân biệt được các phạm trù giá trị, giá trị trao đổi với giá cả Ôngtập trung nghiên cứu về giá cả một bên là hàng hoá, một bên là tiền, tức là ôngmới chú ý nghiên cứu về mặt lượng Ông nhận thức được rằng giá trị của tiền tệcũng là do lượng lao động quyết định, từ đó khắc phục được các kiếngiải không những không thể trừu tượng hoá được giá trị từ giá trị trao đổi, màcòn không trừu tượng hoá được giá trị trao đổi từ giá cả là biểu hiện bằng tiềncủa giá trị, mà ông đã lẫn lộn hai cái đó Ông cũng chia lao động ra làm hai loại:một loại lao động sản xuất ra vàng và bạc, một loại khác là lao động sản xuất ranhững hàng hoá bình thường Ông cho rằng chỉ có lao động khai thác vàng vàbạc mới có giá trị trao đổi, còn các lao động khác thì chỉ khi trao đổi hàng và tiềnmới nảy sinh giá trị trao đổi Theo ông, giá trị hàng hoá chính là sự phản ánh giátrị tiền tệ còng nh- ánh sáng của mặt trăng là sự phản chiếu ánh sáng mặt trời vậy

Đó là ảnh hưởng tư tưởng chủ nghĩa Trọng thương rất nặng ở ông Ông đã lẫn lộnlao động với tư cách là nguồn gốc của giá trị với lao động với tư cách là nguồngốc của giá trị sử dụng, nghĩa là ông đã đồng nhất lao động trừu tượng với laođộng cụ thể Từ đó Petty có ý định đo giá trị bằng hai đơn vị lao động và đất đai

Trang 9

Ông nêu ra câu nói nổi tiếng: “Lao động là cha, còn đất là mẹ của của cải” Vềphương diện của cải nói nh- vậy là đúng, chỉ rõ nguồn gốc giá trị sử dụng Nhưngông lại xa rời tư tưởng giá trị - lao động khi kết luận "lao động và đất đai lànguồn gốc của giá trị" Điều này là mầm mèng của học thuyết các nhân tố sảnxuất tạo ra giá trị sau này

3.2 Adam Smith - Người đầu tiên trình bày một cách có hệ thống lý luận giá trị lao động:

Adam Smith (1723-1790) đã mở ra giai đoạn phát triển mới của sự phát

triển các học thuyết kinh tế thị trường ông sinh năm 1723, là con một viên chứcngành thuế Sau khi tốt nghiệp đại học, 13 năm ông giảng dạy Văn học, logic triếthọc và đạo đức Năm 1763, ông ngừng giảng dạy đi du lịch các nước Châu Âu ỞPháp, ông gặp nhiều nhà trọng nông, sau đó ông về nước và viết tác phẩm nổitiếng là "Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân sự giàu có của các dân téc"(1776) Ông là nhà tư tưởng tiên tiến của giai cấp tư sản, ông muốn thủ tiêu tàntích phong kiến, mở đường cho Chủ nghĩa tư bản phát triển, kêu gọi tích luỹ vàphát triển lực lượng sản xuất theo ý nghĩa tư bản, xem chế độ tư bản chủ nghĩa làhợp lý duy nhất C Mác coi A.Smith là người thầy, nhà kinh tế học tổng hợp củacông trường thủ công

Về học thuyết giá trị lao động của A.Smith so với W.Petty có bước tiếnđáng kể Trước hết, ông chỉ ra rằng tất cả các loại lao động sản xuất đều tạo ra giátrị lao động là thước đo cuối cùng của giá trị Ông đã phân biệt rõ ràng giá trị sửdụng với giá trị trao đổi Ông cho rằng giá trị có hai nghĩa khác nhau, có lúc nóbiểu thị hiệu quả sử dụng như là một vật phẩm đặc biệt, có lúc biểu thị sức mua

do chỗ chiếm hữu một vật nào đó mà có được đối với vật khác Cái trước gọi làgiá trị sử dụng, và cái sau gọi là giá trị trao đổi Ông còn chứng minh rõ quan hệgiữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi Những thứ có giá trị sử dụng rất lớnthường có giá trị trao đổi cực nhỏ, thậm chí còn không có Việc phân biệt rõ rànghai khái niệm giá trị sử dụng và giá trị trao đổi này đồng thời giải thích rõ là giátrị trao đổi lớn hay nhỏ không liên quan gì đến giá trị sử dụng, đó là công lao của

Trang 10

A.Smith Nhưng ông cho rằng những thứ không có giá trị sử dụng có thể có giátrị trao đổi thì lại sai lầm Theo A.Smith giá trị trao đổi là do lao động quyết định,giá trị trao đổi là do hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá quyết định Đó làkhái niệm đúng đắn về giá trị Lao động là thước đo thật sự để xác định giá trịtrao đổi của mọi thứ hàng hoá Việc xác nhận lao động quyết định giá trị hànghoá là công lao và thành tích khoa học của ông Nhưng ông không hiểu được tínhchất xã hội của loại lao động này Vì thế, khi đi sâu tìm hiểu thêm xem lao động

gì quyết định giá trị của hàng hoá , lao động xác định giá trị hàng hoá như thế nàothì ông rơi vào hỗn loạn Một mặt ông cho rằng lao động quyết định giá trị hànghoá là lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá Lượng giá trị của hàng hoá tỷ lệthuận với lượng thời gian lao động hao phí trong sản xuất Đồng thời ông cònnghiên cứu sự phân biệt giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp, ôngcho rằng trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra giá trị nhiều hơn làlao động đơn giản Nhưng đồng thời ông lại cho rằng giá trị một hàng hóa bằng

số lượng lao động mà người ta có thể mua được nhờ hàng hoá đó Đây là điềuluẩn quẩn và sai lầm của A.Smith, dùng giá trị quyết định giá trị Ông đã lẫn lộnvấn đề giá trị đã được quyết định như thế nào trong sản xuất và giá trị đã biểuhiện nh- thế nào trong trao đổi A.Smith nghiên cứu quy luật giá trị và tác dụngcủa nó Ông đã phân biệt giá cả tự nhiên với giá cả thị trường Về bản chất, giá cả

tự nhiên là biểu hiện bằng tiền tệ của giá trị Ông viết "nếu giá cả của một loạihàng hoá nào đó phù hợp với những gì cần thiết cho thanh toán về tiền tô, trảlương cho công nhân và lợi nhuận tư bản được chi phí cho khai thác, chế biến vàđưa ra thị trường, thì có thể nói hàng hoá đó được bán theo giá cả tự nhiên Còngiá cả thực tế mà qua đó hàng hoá được bán gọi là giá cả Nó có thể cao hơn, thấphơn hay trùng hợp với giá cả tự nhiên Theo ông, giá cả tự nhiên có tính chấtkhách quan, còn giá cả thị trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Ngoài giá cả

tự nhiên, giá cả thị trường còn phụ thuộc vào quan hệ cung - cần và các loại độcquyền khác Công lao chủ yếu của A.Smith về lý luận giá trị lao động là đã phânbiệt được giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, hơn nữa, ông đã cho rằng lao động làthước đo thực tế của mọi giá trị Với định nghĩa này, Ông là người đứng vững

Ngày đăng: 28/01/2015, 16:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w