Chính sách tiền tệ có thể hiểu là tổng hòa các phương thức mà Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông, nhằm phục v
Trang 1STT MSSV TÊN THÀNH VIÊN Mức độ hoàn
thành công việc của mỗi thành viên
Đánh giá % công việc của mỗi thành viên so với cả nhóm
1
BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN MÔN HỌC TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ P1
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em bày tỏ lời cảm ơn em sâu sắc nhất đến Thầy Nguyễn Lê Hồng Vỹ
đã giúp đỡ nhóm em trong thời gian thực hiện tiểu luận này Mặc
dù đã cố gắng hết sức nhưng cuốn tiểu luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong các cô giáo cùng các bạn sinh viên đánh giá góp ý để cuốn tiểu luận được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Tp Hồ Chí Minh, 6/2014
Trang 3MỤC LỤC
3
Trang 41)Nội dung nghiên cứu
Đề taì sẽ hệ thống hóa những vấn đề có tính lý luận về chính sách tiền tệ trong nền kinh tế thị trường đồng thời qua việc khảo sát quá trình sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam ( từ 2008 đến nay) nhằm đánh gía thực trạng sử dụng, điều hành các công cụ đó, trên cơ sở đó đề ra giải pháp góp phần hoàn thiện
và nâng cao hiệu quả các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam.
2)Đối tượng nghiên cứu:
Mục tiêu và chính sách tiền tệ ở Việt Nam
3)Phạm vi nghiên cứu
chính sách tiền tệ ở Việt Nam ( từ 1991đến nay)
4)Phương pháp nghiên cứu:
Lấy phương pháp duy vật biện chứng,duy vật lịch sử làm phương pháp luận cơ bản kết hợp với quan điểm tiếp cận hệ thống và sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp cùng các phương pháp nghiên cứu kinh tế khác.
5)Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ
mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát Để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản, quyết định
Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là các công cụ của nó đang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh
tế Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọn các công cụ nào, sử dụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thường xuyên phải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế
Trang 61LỜI MỞ ĐẦU
Gắn liền với công cuộc đổi mới và mở cửa ở nước ta, có nhiều yêu cầu phải giải quyết cùng một lúc: Vừa ổn định, vừa phát triển kinh tế trong nước, vừa mở rộng giao lưu quan hệ quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài…Nhu cầu mở rộng lượng tiền cung ứng( cầu về tiền) ngày càng lớn, dẫn đến sự xác lập quan hệ cung - cầu mới về tiền trong khi đó vẫn phải tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô với hạt nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung.
Ngày nay, không ai còn có thể phủ nhận bằng việc điều chỉnh tiền tệ cho phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế là một trong những vấn đề thiết yếu mà tổ chức của các
hệ thống tiền tệ phải tuân thủ và chính sách tiền tệ phải theo đuổi.
Xét về toàn cảnh thị trường tài chính thế giới trong những năm qua thì bức tranh thị trường tài chính khá sáng sủa, các khoảng tối đã bị thu hẹp và nhường chỗ cho những khoảng sáng Thế giới đã từng chứng kiến sự hồi phục nhanh chóng của các nền kinh tế từ châu Á, châu Âu và Mỹ sau những tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á diễn ra giữa năm 1997 chắc chắn còn là nỗi ám ảnh đối với nhiều người.
Bước vào thế kỷ mới, năm 2000, năm bản lề của sự phát triển và hưng thịnh, Việt Nam – con rồng châu Á xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
Vì vậy, việc lựa chọn giải pháp nào để xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất vẫn còn là một ẩn số phức tạp và nhiều bất cập Nhận thấy được sự quan trọng của nó, cho nên nhóm chúng em chọn đề tài này để nghiên cứu để có một sự hiểu biết về chính sách tiền tệ ở nước ta.
Trang 8
Chính sách tiền tệ có thể hiểu là tổng hòa các phương thức mà Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông, nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định Mặt khác, chính sách tiền tệ là một phận quan trọng trong
hệ thống chính sách kinh tế tài chính vĩ mô của chính phủ
Tùy điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể xác lập theo hai hướng: chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng “chính sách tiền tệ chống thất nghiệp”)hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư, sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng -
“chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền”).
2.1.1Vị trí chính sách tiền tệ :
Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ Song cũng có quan hệ với các chính sách vĩ mô khác như chính sách tài khóa, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại Đối với Ngân hàng trung ương, việc hoạch định thực thi chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất,
Trang 9mọi hoạt động của Ngân hàng Trung Ương đều nhằm làm cho chính sách tiền tệ hoạt động hiệu quả hơn
2.1.2Hệ thống mục tiêu của chính sách tiền tệ:
Bằng việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ, Ngân hàng Trung Ương không thể tác động trực tiếp và ngay lập tức đến các mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ như: giá cả, sản lượng, công ăn việc làm Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ chỉ xuất hiện sau một khoảng thời gian nhất định từ sáu tháng đến hai năm
Sẽ là quá muộn và không hiệu quả nếu Ngân hàng Trung Ương đợi các tín hiệu phản hồi về giá cả, sản lượng, thất nghiệp để điều chỉnh các công cụ Nhằm khắc phục hạn chế này, Ngân hàng Trung Ương của tất cả các nước thường xác định các chỉ tiêu cần đạt được trước khi đạt được mục tiêu cuối cùng Các chỉ tiêu này
thường chia thành hai loại: mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động.
2.1.2.1 Mục tiêu trung gian
Mục tiêu trung gian là chỉ tiêu được Ngân hàng Trung Ương lựa chọn để đạt được mục đích cuối cùng của chính sách tiền tệ Các chỉ tiêu thường được sử dụng làm mục tiêu trung gian là tổng khối lượng tiền cung ứng (M1, M2 hay M3) hoặc mức lãi suất thị trường (ngắn và dài hạn).
Tiêu chuẩn của mục tiêu trung gian
Các mục tiêu trung gian cần phải thoả mãn các tiêu chuẩn sau:
Có thể đo lường được: Các mục tiêu trung gian phải là các chỉ tiêu có thể đo lường được một cách chính xác và nhanh chóng bởi vì các chỉ tiêu này chỉ có ích khi nó phản ánh được tình trạng của chính sách tiền tệ nhanh hơn mục tiêu cuối cùng Ngân hàng Trung Ương có thể dựa vào các mục tiêu này để điều chỉnh hướng tác động khi cần thiết Hiển nhiên Ngân hàng Trung Ương không thể đưa ra một tỷ lệ tăng trưởng M2 nếu nó không biết M2 hiện đang tăng với tốc độ bao nhiêu Mặt khác, tiêu chuẩn này cũng chỉ cho Ngân hàng Trung Ương biết nên chọn chỉ tiêu cụ thể nào trong tổng lượng tiền cung ứng và lãi suất.
9
Trang 10Ngân hàng Trung Ương có thể kiểm soát được: Khi Ngân hàng Trung Ương có khả năng kiểm soát mục tiêu trung gian, nó có thể điều chỉnh mục tiêu đó cho phù hợp với định hướng của chính sách tiền tệ Chẳng hạn, sự trông đợi của các nhà kinh doanh sẽ quyết định đến tổng đầu tư và do đó GDP, nhưng nếu chọn chỉ tiêu này làm mục tiêu trung gian thì ảnh hưởng của Ngân hàng Trung Ương đến mục tiêu này là rất ít Việc lựa chọn các chỉ tiêu mà Ngân hàng Trung Ương không có khả năng kiểm soát làm mục tiêu trung gian gian không chỉ ảnh hưởng đến định hướng và hiệu quả chính sách tiền tệ mà còn lãng phí do mọi cố gắng để đạt được chỉ tiêu này không mang tính mục đích.
Có mối liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng: Đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất của một mục tiêu trung gian Khả năng có thể đo lường chính xác hoặc khả năng kiểm soát của Ngân hàng Trung Ương sẽ trở nên vô nghĩa nếu các chỉ tiêu được chọn không có ảnh hưởng trực tiếp tới các mục tiêu cuối cùng như sản lượng, giá cả
Một vấn đề được đặt ra ở đây là cả hai chỉ tiêu: tổng lượng tiền cung ứng và lãi suất đều thoả mãn các tiêu chuẩn trên, nhưng Ngân hàng Trung Ương không thể chọn đồng thời cả hai làm mục tiêu trung gian Nó chỉ có thể chọn một trong hai chỉ tiêu đó, căn cứ vào mối liên hệ của các chỉ tiêu này đến các mục tiêu cuối cùng Bởi
lẽ nếu đạt được mục tiêu về tổng khối lượng tiền cung ứng thì phải chấp nhận sự biến động của lãi suất và ngược lại.
Mục tiêu tổng lượng tiền cung ứng
Nếu Ngân hàng Trung Ương chọn tổng lượng tiền cung ứng làm mục tiêu trung gian với tỷ lệ tăng dự tính là x%, lãi suất tương ứng là i* (Hình 1) Tuy nhiên, nếu mức cầu tiền tệ không ổn định tại MD mà dao động giữa MD' và MD'' thì lãi suất sẽ biến động từ i' đến i'' Sự biến động của nhu cầu tiền tệ là tất yếu bởi sự tăng lên hoặc giảm xuống không dự tính trước được của các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu nắm giữ tiền tệ của công chúng Trong điều kiện cố định mức cung ứng tiền tệ,
sự biến động mức lãi suất là hiển nhiên.
Trang 11Mục tiêu lãi suất
Nếu NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG chọn mức lãi suất mục tiêu i* = y%, mức cầu tiền tệ tương ứng sẽ là MD (Hình 2) Trong thực tế, mức cầu tiền dao động từ MD' đến MD'' Để đạt được mục tiêu lãi suất tại i*, Ngân hàng Trung Ương buộc phải thay đổi mức cung tiền từ M' đến M'' nhằm ngăn cản sự tăng lên hay giảm xuống của lãi suất so với i* Như vậy, để duy trì mục tiêu lãi suất, mức cung ứng tiền và cơ số tiền
sẽ biến động
Ưu nhược điểm của các chỉ tiêu làm mục tiêu trung gian
Các Ngân hàng Trung Ương phải chọn lựa mục tiêu trung gian phù hợp với điều kiện kinh tế và khả năng quản lý của mình Bên cạnh đó, việc lựa chọn mục tiêu mức tăng của tổng lượng tiền hoặc mức lãi suất cần dựa trên sự đánh giá ưu và nhược điểm của từng chỉ tiêu với tư cách là mục tiêu trung gian
Đối với chỉ tiêu lãi suất
Ảnh hưởng quan trọng nhất của lãi suất là đối với nhu cầu tiêu dùng và đầu tư - hai bộ phận cấu thành quan trọng nhất của tổng cầu Sự tăng lên hay giảm xuống của lãi suất sẽ đẩy tổng cầu sang trái hoặc phải và dẫn đến sự thay đổi trong ngắn hạn
cả mức giá cũng như sản lượng Nếu lãi suất được chọn là mục tiêu trung gian và được giữ cho ổn định, nó sẽ loại trừ ảnh hưởng của nhu cầu tiền tệ đến nền kinh tế Như vậy đối với một nền kinh tế có mức cầu tiền tệ biến động mạnh, việc chọn lãi suất là mục tiêu trung gian có lẽ thích hợp hơn.
Tuy nhiên, mục tiêu này có những hạn chế của nó:
• Sự biến đổi của nhu cầu tiêu dùng và đầu tư có thể do nhiều lý do khác nhau như: thuế suất, sự trông đợi của công chúng về triển vọng nền kinh tế Trong
trường hợp này, ổn định lãi suất có thể làm tăng thêm sự biến động của mức cầu tiền tệ và tiếp đó là tổng cầu
• Mục tiêu lãi suất không thể duy trì dài hạn được Lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực cộng với tỷ lệ lạm phát dự kiến Sự kiểm soát mục tiêu lãi suất trung
11
Trang 12gian về dài hạn sẽ chỉ thành công khi tỷ lệ lạm phát dự kiến luôn ổn định, và do đó mục tiêu lãi suất là nhằm vào mức lãi suất thực - một chỉ tiêu về dài hạn lại phụ thuộc vào các yếu tố của nền kinh tế hơn là sự kiểm soát của Ngân hàng Trung Ương.
Đối với chỉ tiêu tổng lượng tiền cung ứng
Việc cố định mức tăng của tổng lượng tiền cho phép lãi suất biến động đáp ứng những thay đổi của tiêu dùng và đầu tư mà không xuất phát từ lý do lãi suất, do đó giảm sự biến động tổng cầu Vì thế mục tiêu tổng lượng tiền thích hợp với một nền kinh tế có tổng cầu biến động mạnh bởi các lý do ngoài lãi suất Bên cạnh đó, khác với lãi suất, mục tiêu tổng lượng tiền hoàn toàn có thể là mục tiêu dài hạn của Ngân hàng Trung Ương.
Vấn đề đặt ra là mức cung tiền tệ nào thích hợp với vai trò mục tiêu trung gian nhất, trong khi bản thân các thành phần của từng mức cung tiền tệ cũng thay đổi Điều này là rất quan trọng vì mức cung tiền tệ khác nhau sẽ quyết định hướng vận động của chính sách tiền tệ khác nhau Mặt khác, lãi suất và do đó nhu cầu tiêu dùng và đầu tư sẽ biến động mạnh trong điều kiện mức cung tiền tệ được chọn làm mục tiêu.
Hiện nay, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam chọn khối tiền M2 làm mục tiêu trung gian trong điều hành chính sách tiền tệ bởi thực tế đã chỉ ra rằng sự biến động của khối tiền M2 hoàn toàn phù hợp với sự biến động của mức giá và sản lượng trong thập kỷ 90 Tuy nhiên, chính sách lãi suất ấn định phần nào làm giảm hiệu quả của mục tiêu trung gian này.
Ngoài hai chỉ tiêu trên còn có một số chỉ tiêu khác là ứng cử viên của vai trò mục tiêu trung gian như: tổng khối lượng tín dụng, tỷ giá hối đoái Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của các chỉ tiêu này là mối quan hệ của chúng với các mục tiêu cuối cùng rất phức tạp và không rõ ràng Vì thế ít khi nó được sử dụng làm một mục tiêu độc lập mà thường được sử dụng với các mục tiêu khác như tổng lượng tiền cung ứng hoặc lãi suất.
Trang 132.2 MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
2.2.1Ổn định giá cả
Ổn định giá cả hay kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu và là mục tiêu dài hạn của chính sách tiền tệ Các ngân hàng Trung Ương thường lượng hoá mục tiêu này bằng tốc độ tăng của chỉ số giá cả tiêu dùng xã hội Việc công bố công khai chỉ tiêu này là cam kết của Ngân hàng Trung Ương nhằm ổn định giá trị tiền tệ về mặt dài hạn Điều này có nghĩa là Ngân hàng Trung Ương sẽ không tập trung điều chỉnh sự biến động giá cả về mặt ngắn hạn Do những biện pháp về chính sách tiền tệ tác động đến nền kinh tế có tính chất trung và dài hạn, hơn nữa khó có thể dự đoán chính xác kết quả sẽ xảy ra vào thời điểm nào trong tương lai, vì vậy sẽ là không khả thi đối với Ngân hàng Trung Ương trong việc theo đuổi để kiểm soát giá cả trong ngắn hạn.
13
Trang 14Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hướng phát triển kinh tế của quốc gia vì nó làm tăng khả năng dự đoán những biến động của môi trường kinh tế
vĩ mô Mức lạm phát thấp và ổn định tạo nên môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu tư và đảm bảo sự phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả Đây là lợi ích có tầm quan trọng sống còn đối với sự thịnh vượng kinh tế của quốc gia Lạm phát cao hay thiểu phát liên tục là rất tốn kém cho xã hội, thậm chí ngay cả trong trường hợp nền kinh tế phát triển khả quan nhất Sự biến động liên tục của các tỷ lệ lạm phát dự tính làm méo mó, sai lệch thông tin và do đó làm cho các quyết định kinh tế trở nên không đáng tin cậy và không có hiệu quả Nguy hiểm hơn, sự bất ổn định giá cả dẫn đến sự phân phối lại không dân chủ các nguồn lực kinh tế trong xã hội giữa các nhóm dân cư.
Tuy nhiên, theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả không đồng nghĩa với tỷ lệ lạm phát bằng không Những nghiên cứu về lạm phát cho thấy trong khi cố gắng duy trì lạm phát ở gần mức 0, chính sách tiền tệ dễ đưa nền kinh tế đi quá đà và rơi vào tình trạng thiểu phát gây hậu quả còn trầm trọng hơn, đó là làm nền kinh tế suy thoái Hơn nữa một mức lạm phát dương được chứng minh là có tác dụng bôi trơn và hâm nóng nền kinh tế nên sẽ có những ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng kinh tế Theo các chuyên gia về chính sách tiền tệ ở châu Âu, mức lạm phát từ 1.5% đến dưới 4% là phù hợp với các nền kinh tế phát triển.
2.2.2Ổn định tỷ giá hối đoái
Trong điều kiện mở cửa kinh tế, các luồng hàng hoá và tiền vốn vào ra một quốc gia gắn liền với việc chuyển đổi qua lại giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ Việc ngăn ngừa những biến động mạnh, bất thường trong tỷ giá hối đoái sẽ giúp cho các hoạt động kinh tế đối ngoại được hiệu quả hơn nhờ dự đoán được chính xác về mặt khối lượng giá trị Thêm vào đó, tỷ giá hối đoái còn ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước với nước ngoài về mặt giá cả.
2.2.3Ổn định lãi suất