1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khủng hoảng nợ công của hy lạp, liên hệ và bài học cho việt nam

28 843 18

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 297,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với nhận thức sâu sắc về vai trò của việc nghiên cứu nợ công để đưa ra cácchính sách phù hợp phát triển kinh tế đất nước, trong tiểu luận này, nhóm chúng em xin trình bày về vấn đề “Khủn

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 2

PHẦN 1: Nợ công và khủng hoảng nợ công 3

I Khái niệm nợ công 3

II Bản chất kinh tế của nợ công 3

III Rủi ro nợ công 5

1 Rủi ro thanh toán 5

2 Rủi ro thanh khoản 5

3 Rủi ro bất ổn vĩ mô 6

PHẦN 2: Khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp 7

I Tổng quan 7

1 Hy Lạp trước khủng hoảng 7

2 Diễn biến khủng hoảng Hy Lạp 8

II Nguyên nhân khủng hoảng nợ công Hy Lạp 10

1 Khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 10

2 Tiết kiệm trong nước thấp dẫn tới phải vay nợ nước ngoài 10

3 Chi tiêu công tăng cao dẫn đến thâm hụt ngân sách 10

4 Nguồn thu giảm sút 11

5 Sử dụng nguồn vốn không hiệu quả 12

6 Tính minh bạch và niềm tin của các nhà đầu tư 12

III Giải pháp của Hy Lạp 14

PHẦN 3: Liên hệ thực tiễn và bài học cho Việt Nam 16

I Thực trạng nợ công ở Việt Nam 16

II Liên hệ nợ công Hy Lạp đến nợ công Việt Nam 17

III Bài học rút ra cho Việt Nam 21

Bài học 1: Cần công khai minh bạch thông tin về ngân sách và nợ công 21

Bài học 2: Luôn chú trọng giảm thâm hụt ngân sách và chi tiêu công hợp lí 22

Bài học 3: Đầu tư kinh tế phải có chọn lọc, đem lại hiệu quả cao 23

Bài học 4: Cần chú trọng đến phát triển thị trường nợ trong nước 24

KẾT LUẬN 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Vào năm 2010, cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu bắt nguồn từ Hy Lạp đãlan mạnh sang các quốc gia Châu Âu khác, ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu vàtrở thành một vấn nạn nhức nhối trong thời gian kéo dài Ảnh hưởng của nó tới nềnkinh tế thế giới trong thời gian qua đã cho thấy, nợ công là một vấn đề mang tínhtoàn cầu mà bất cứ một quốc gia nào dù mạnh hay yếu cũng đều có nguy cơ gặpphải

Việt Nam là một nước có quy mô nền kinh tế nhỏ và đang phát triển Vì thế,việc chính phủ đi vay nợ để đầu tư phát triển nền kinh tế và cho chi tiêu chính phủ

là điều khó tránh khỏi Trong những năm gần đây, kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệuchững lại, do tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và việc không sửdụng dòng vốn đầu tư một cách hiệu quả nhằm thúc đấy tăng trưởng Những sốliệu thống kê cả của Việt Nam và quốc tế đều cho thấy Việt Nam thường xuyên cóthâm hụt ngân sách Tình trạng nợ công của Việt Nam cũng đang có xu hướng tănglên trong khi hiệu quả đầu tư của Việt Nam lại đang có xu hướng giảm xuống Với nhận thức sâu sắc về vai trò của việc nghiên cứu nợ công để đưa ra cácchính sách phù hợp phát triển kinh tế đất nước, trong tiểu luận này, nhóm chúng

em xin trình bày về vấn đề “Khủng hoảng nợ công của Hy Lạp, liên hệ và bài

nghiệm quý giá cho Việt Nam trong quá trình phát triển về quản lý nợ công vàthâm hụt ngân sách Do hạn chế về thời gian và trình độ, bài viết sẽ khó tránh khỏinhững sai sót trong quá trình nghiên cứu Vì thế, chúng em rất mong nhận được sựđánh giá, hướng dẫn của thầy Chúng em xin chân thành cảm ơn

Trang 4

PHẦN 1: Nợ công và khủng hoảng nợ công

Năm 2009, Quốc hội đã ban hành Luật quản lý nợ công, được xem là mộtbước tiến bộ lớn trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề này Theo

Bộ Luật này thì nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợcủa chính quyền địa phương

 Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nướcngoài được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủhoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền pháthành theo quy định của pháp luật Nợ chính phủ không bao gồm các khoản

nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sáchtiền tệ trong từng thời kỳ

 Nợ được chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tàichính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được chính phủ bảo lãnh

 Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành

Theo WB (2002) thì nợ công là toàn bộ những khoản nợ của Chính phủ vànhững khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh

Còn theo IMF (2010), thì nợ công được hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khu vựccông Đi kèm với đó là định nghĩa cụ thể về khu vực công, bao gồm khu vực Chínhphủ và khu vực các tổ chức công

Nợ công xuất phát từ thâm hụt ngân sách

Xét về bản chất kinh tế, nợ công xuất phát từ thâm hụt ngân sách, hay tổngchi tiêu của chính phủ nhiều hơn tổng các nguồn thu của mình Để làm giảm mứcthâm hụt ngày, chính phủ phải tăng nguồn thu ngân sách, hoặc cắt giảm chi tiêu Cắt

Trang 5

giảm chi tiêu không phải là một việc dễ dàng trong ngắn hạn, khi những kế hoạchchi tiêu của chính phủ đã được hoạch định cụ thể Chính vì thế, chính phủ chỉ có thểtìm cách gia tăng nguồn thu của mình

Có hai cách để gia tăng nguồn thu chính phủ Thứ nhất, chính phủ có thể tăng

thuế, vốn là nguồn thu trực tiếp và lớn nhất của mình Tuy nhiên, tăng thuế có thể cóảnh hưởng tiêu cực, đó là làm giảm tiêu dùng, giảm động lực lao động và sản xuất

dẫn đến suy thoái kinh tế Thứ hai, chính phủ có thể tăng nguồn thu thông qua vay

nợ, cả vay trong nước và vay quốc tế Để làm được việc này, chính phủ sẽ yêu cầuNgân hàng trung ương bán cổ phiếu cho giới đầu tư tư nhân trong nước và quốc tế.Các khoản vay này sẽ làm gia tăng nợ công Như vậy có thể thấy nợ công là hệ quảtrực tiếp của thâm hụt ngân sách

Tác động của thâm hụt ngân sách và nợ công

Thâm hụt ngân sách hàm ý rằng thu ngân sách của chính phủ suy giảm hoặc

có sự gia tăng trong chi tiêu Điều này đồng nghĩa với sự gia tăng tổng cầu trong nềnkinh tế Cùng với đó, giá cả và lạm phát cũng sẽ tăng lên Về dài hạn, khi lạm phátgia tăng, người lao động sẽ yêu cầu mức lương cao hơn, và các doanh nghiệp sẽbuộc phải có chính sách cắt giảm sản xuất trước mức tiền lương mới này, tổng cungtrong nền kinh tế sẽ suy giảm Nguồn cung vốn vay hay tổng tiết kiệm của nền kinh

tế suy giảm do thâm hụt ngân sách sẽ đẩy lãi suất tăng lên Lãi suất gia tăng sẽ gâykhó khăn cho khu vực tư nhân trong việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư Chính vì thế,khu vực tư nhân sẽ bị thu hẹp, chính bởi sự chi tiêu không hiệu quả của chính phủ Lãi suất gia tăng không chỉ thu hút giới đầu tư trong nước mà còn hoàn toàn cóthể thu hút giới đầu tư nước ngoài Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ có nhu cầu nắmgiữ tài sản nội địa, do hiệu suất sinh lời cao hơn, điều này đồng nghĩa với việc dòngvốn ngoại tệ chảy vào nền kinh tế, làm cho nguồn cung ngoại tệ tăng lên Khi cungngoại tệ tăng lên, giá trị của đồng ngoại tệ tính theo đồng nội tệ sẽ giảm đi, hay nóicách khác, đồng nội tệ có thể tăng giá trị Việc đồng nội tệ tăng giá sẽ khuyến khích

Trang 6

nhập khẩu thay vì xuất khẩu, và điều này sẽ dẫn đến thâm hụt thương mại và thâmhụt cán cân vãng lai

Vay nợ nước ngoài tại các quốc gia đang phát triển - Original Sin

Tại các quốc gia đang phát triển, có hai nguồn tiền có thể hỗ trợ cho sự thâmhụt thương mại này, đó là lượng kiều hối từ nước ngoài gửi về, hoặc nhận viện trợFDI từ nước ngoài Tuy nhiên, nhiều quốc gia đang phát triển còn phải vay thêm từnước ngoài Việc các quốc gia đang phát triển phải đi vay nợ bằng các đồng tiền nước

ngoài được các nhà kinh tế học gọi là orginial sin Thuật ngữ này được giải thích là

việc các quốc gia đang phát triển không có cơ hội được vay và trả nợ bằng đồng tiềnnội tệ của mình Họ buộc phải vay bằng các đồng tiền mạnh hơn, đồng nghĩa vớiviệc ngay từ thời điểm ban đầu đã có sự không đồng nhất về tiền tệ trong quá trìnhphát triển

1 Rủi ro thanh toán

Khi một quốc gia có thâm hụt ngân sách và buộc phải đi vay nợ để bù đắp sựbội chi này, rủi ro đầu tiên đến từ việc liệu quốc gia đó có thể trả được các khoản nợcông này trong tương lai hay không Điều này phụ thuộc vào khối lượng nợ, có thểđược so sánh trên GDP, xuất khẩu (thường đối với nợ nước ngoài), hoặc thu ngânsách chính phủ Chính phủ được xem là có khả năng thanh toán nợ công nướcngoài nếu như giá trị chiết khấu của cán cân thương mại trong tương lai lớn hơnhoặc bằng giá trị hiện tại của khối lượng nợ công nước ngoài

2 Rủi ro thanh khoản

Rủi ro từ nợ công còn được đo lường thông qua khả năng thanh khoản, hay khảnăng trả nợ nhanh của chính phủ Chỉ mình khả năng thanh toán không đủ đảm bảocho sự an toàn của một quốc gia khi vay nợ, mà còn cần phải có khả năng thanhkhoản Một quốc gia có thể có khả năng thanh toán về lý thuyết bởi quốc gia đó có

Trang 7

thể gia tăng nguồn thu của mình trong tương lai để chi trả cho các khoản nợ củamình cũng như để bù đắp cho thâm hụt ngân sách Tuy nhiên, cũng quốc gia đóhoàn toàn có khả năng vỡ nợ ngay trong ngắn hạn do đánh mất khả năng thanh khoảncủa mình Điều này xảy ra khi các thị trường đánh mất niềm tin vào quốc gia này,khiến nó không thể tiếp cận được các nguồn tài chính cần thiết để trả nợ trong ngắnhạn, hoặc có thể tiếp cận được với lãi suất rất cao Chính vì vậy, một cuộc khủnghoảng thanh khoản hoàn toàn có thể chuyển thành một cuộc khủng hoảng thanhtoán, và đây là điều mà Hy Lạp đã gặp phải trong năm 2010

3 Rủi ro bất ổn vĩ mô

Ngoài những rủi ro trong khả năng thanh toán nợ và khả năng thanh khoản, nềnkinh tế còn gặp nhiều rủi ro do những bất ổn từ các biến số vĩ mô có thể ảnh hưởngtrực tiếp lên nợ công

Tăng trưởng kinh tế có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của nền kinh tế, bởi

nó thể hiện rằng liệu quốc gia đó có đang phát triển bền vững và ổn định hay không.Nguồn thu ngân sách cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ Việc tăngnguồn thu ngân sách sẽ làm giảm thâm hụt tài khóa, giúp giảm gánh nặng nợ côngcho chính phủ Nợ công thường tăng khoảng hai phần ba trong khoảng thời gianngay sau khi diễn ra khủng hoảng tài chính Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng 84%cuộc khủng hoảng nợ đến ngay sau cuộc một cuộc khủng hoảng tiền tệ Do vậy, cácbiến số tạo rủi ro cho một cuộc khủng hoảng tiền tệ cũng có thể là tác nhân gây nênmột cuộc khủng hoảng nợ Trong đó, lạm phát cao cùng cú sốc tỉ giá có thể làmgiảm giá trị của đồng tiền nội địa, đồng nghĩa với việc dư nợ nước ngoài sẽ tăng lên,

đi kèm với rủi ro vỡ nợ

Trang 8

Từ lúc bắt đầu tham gia sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Euro) vào giữanăm 2001 cho đến năm 2008 - khi khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra, ngân sách

quốc gia Hy Lạp luôn nằm trong tình trạng thâm hụt Theo Tạp chí Ngân hàng số

13, năm 2013, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thâm hụt ngân sách trung bình giai

đoạn này của Hy Lạp là trên 5% GDP/năm trong khi tính trung bình cho toàn khuvực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone), con số này chỉ dừng lại ở mức2%/năm; cán cân vãng lai của quốc gia này cũng liên tục bị thâm hụt, trung bìnhvào khoảng 9% GDP hàng năm so với mức trung bình của toàn khu vực Eurozone

là 1% Bắt đầu từ cuối năm 2009, niềm tin của các nhà đầu tư vào chính phủ HyLạp bắt đầu bị lung lay khi vào tháng 10, Chính phủ mới do Thủ tướng GeorgePapandreou lãnh đạo đưa ra con số ước tính thâm hụt ngân sách mới cho năm 2009

là 12,7% GDP, gần gấp đôi con số ước tính hiện tại lúc đó là 6,7%

Trang 9

Biểu đồ Tổng nợ Chính phủ một số nước Châu Âu giai đoạn 1991 - 2012 (Nguồn: Morgan Stanley)

2 Diễn biến khủng hoảng Hy Lạp

Vấn đề nợ Hy Lạp bắt nguồn chính từ việc Chính phủ Hy Lạp, sau khi gianhập vào Khu vực đồng Euro, thay vì phải thực hiện cắt giảm chi tiêu và kiềm chếthâm hụt ngân sách theo những tiêu chuẩn ngặt nghèo của khu vực này, lại tiếp tụcchi tiêu quá mức cho phép, đồng thời che dấu việc này bằng cách đưa ra các báocáo kinh tế sai lệch

Như đã nói ở phần trước, năm 2009 chính phủ Hy Lạp thông báo thâm hụtngân sách sẽ có thể ở mức 12.7% GDP, gấp đôi con số công bố trước đó và camkết sẽ cố gắng cứu Hy Lạp khỏi khả năng vỡ nợ Trên thực tế tổng nợ công năm

2009 của Hy Lạp là 300 tỷ euro, chiếm 12,4% GDP và thâm hụt ngân sách là15,7% GDP vào cuối năm 2009, mức cao chưa từng có trong khu vực đồng tiền

chung châu Âu (Số liệu theo Cơ quan Thống kê châu Âu Eurostat – 1/2014)

(Nguồn Economist Intelligence Unit)

Đến đầu năm 2010 chính phủ Hy Lạp trước sức ép từ nhiều phía đã tuyên bốmuốn giảm thâm hụt ngân sách Ngay sau đó kế hoạch thắt lưng buộc bụng trị giá4.8 tỷ euro được đề ra để giúp Hy Lạp thoát khỏi thâm hụt quá lớn Trước tình hình

Trang 10

Hy Lạp và những nguy cơ của nó đối với các nền kinh tế thuộc EU, Bộ trưởng Tàichính các nước thuộc khu vực đồng tiền chung chân Âu chấp thuận kế hoạch 30 tỷeuro dành cho Hy Lạp, tuy nhiên Hy Lạp tuyên bố không cần Nhưng chỉ gần haituần sau Hy Lạp lại cầu cứu EU và IMF, đổi lại nước này phải giảm chi tiêu 30 tỷeuro trong 3 năm tới Theo trang thông tin của IMF, tháng 5/2010, các nhà lãnhđạo Eurozone và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố gói cứu trợ kỳ hạn 3 năm trịgiá 110 tỷ euro dành cho Hy Lạp Sau đó, vào tháng 10/2010 IMF tiếp tục cho HyLạp vay thêm 2.5 tỷ euro.

Mặc dù đã nhận được các gói cứu trợ lớn, nhưng tình hình kinh tế Hy Lạpkhông những không cải thiện mà còn có xu hướng trầm trọng hơn và đứng trướcnguy cơ vỡ nợ lần thứ hai Tới năm 2011, mọi việc vẫn chưa có thay đổi đáng kể,

Hy Lạp vẫn phải đối mặt với hai vấn đề một lúc là thâm hụt ngân sách và thâm hụtcán cân thanh toán vãng lai Tháng 7 /2011, Hy Lạp nhận gói cứu trợ thứ hai từ cácnước thành viên Eurozone và IMF và do khu vực tư nhân đóng góp Sau đó chínhphủ đã thực hiện hàng loạt các biện pháp tiết kiệm chi tiêu chính phủ Các ngânhàng ở châu Âu cũng đồng ý xóa nửa số nợ trong gói cứu trợ thứ hai cho Hy Lạp.Tháng 2/2012 Quốc hội thông qua chính sách thắt lưng buộc bụng mới trong bốicảnh biểu tình nổ ra khắp nơi Uy tín của chính phủ đã giảm sút qua tỷ lệ số phiếubầu cử thấp Bất chấp nhiều sự phản đối từ người dân, chính phủ vẫn tiếp tục đưa

ra hàng loạt chính sách thắt lưng buộc bụng, cắt giảm nhân viên, công chức cũngnhư lương, trợ cấp…

Đến năm 2013 số người bị cắt giảm việc làm và giảm lương ngày càng tăng

cao Điều này đã gây nên những tranh cãi lớn từ dư luận Ngày 24/06/2013 Trái

dân chủ rút khỏi liên minh Chính phủ Hy Lạp Chính phủ giữ đa số trong Quốchội Một số luật về thuế về tài sản đã thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh

Trang 11

II Nguyên nhân khủng hoảng nợ công Hy Lạp

1 Khủng hoảng kinh tế thế giới 2008

Tác nhân bên ngoài và rõ nét nhất cũng được đề cập đến là cuộc khủng hoảngkinh tế tài chính năm 2008 Sự suy thoái kinh tế diễn ra ở quy mô lớn và trên nhiềulĩnh vực khác nhau, đặc biệt ở một số ngành như thương mại và dịch vụ Nguồnthu chính phủ trong giai đoạn này cũng sụt giảm đáng kể Trong khi đó Hy Lạp lạitung các gói cứu trợ và kích cầu để cứu nền kinh tế Chính vì vậy, chính phủ đãphải đi vay của các ngân hàng, tổ chức tài chính cũng như các nước khác để bù đắp

sự thiếu hụt ngân sách Điều này cũng đã ít nhiều tác động đến cuộc khủng hoảngdiễn ra không lâu sau đó của Hy Lạp Tuy nhiên, nhìn chung, thực trạng kích cầu

và cứu trợ khiến ngân sách bị sụt giảm cũng diễn ra ở nhiều nước ở EU và trênthế giới nên đây cũng chỉ là một yếu tố thêm vào những vấn đề nội tại của Hy Lạp

2 Tiết kiệm trong nước thấp dẫn tới phải vay nợ nước ngoài

Theo một nghiên cứu của PGS.Ts Phạm Thị Thanh Bình - Viện kinh tế chínhtrị thế giới của Việt Nam công bố năm 2013, tỷ lệ tiết kiệm trong nước bình quâncủa Hy Lạp thập niên 90 thấp chỉ ở mức 11% GDP, thấp hơn nhiều so với mức20% của các nước như Bồ Đào Nha, Ý, Tây Ban Nha và đang có xu hướng sụtgiảm nhanh chóng Đầu tư trong nước phụ thuộc nhiều vào các dòng vốn đến từbên ngoài Lợi tức trái phiếu liên tục giảm nhờ vào việc gia nhập liên minh châu

Âu EU (năm 1981) và làn sóng bán tháo trái phiếu từ dân chúng cho thấy Hy Lạp

đã để vuột khỏi tay một kênh huy động vốn sẵn có buộc chính phủ Hy Lạp tăngcường vay nợ tài trợ cho chi tiêu công

3 Chi tiêu công tăng cao dẫn đến thâm hụt ngân sách.

Từ năm 2001 đến năm 2007, mặc dù tăng trưởng trung bình GDP hằng nămcủa Hy Lạp cao song chi tiêu chính phủ tăng nhanh đã khiến cho ngân sách thâm

hụt năm 2007 là 6,5% GDP, vượt quá mức cho phép 3% GDP của EU (Số liệu

Trang 12

theo Eurostat - 2014) Nhiều nhà nghiên cứu nhận định bộ máy công quyền cồng

kềnh và thiếu hiệu quả ở Hy Lạp chính là nhân tố chính đằng sau sự thâm hụt củaquốc gia này

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), vào năm 2004, chi tiêu

cho quản lý công trong tổng số chi tiêu công ở Hy Lạp đã cao hơn nhiều so với cácnước thành viên OECD khác, mà không có bằng chứng nào cho thấy chất lượnghay số lượng dịch vụ ở nước này cao hơn hẳn

Sự già hóa dân số và hệ thống lương hưu vào loại hào phóng bậc nhất khu vựcchâu Âu của Hy Lạp cũng được coi là một trong những gánh nặng cho chi tiêucông Ước tính tổng số tiền chi trả cho lương hưu khu vực công của Hy Lạp sẽ tăng

từ 11,5% GDP (2005) lên 24% (2050) (Theo Pension at a Glance 2013 - OECD).

4 Nguồn thu giảm sút

Đây cũng là một nhân tố dẫn tới tình trạng thâm hụt ngân sách của Hy Lạp,

mà theo nhiều nhà kinh tế, thì việc trốn thuế và hoạt động kinh tế ngầm ở quốc gianày là nhân tố chính đứng đằng sau Theo một nghiên cứu của Institute ofEconomy Affair ở London năm 2013, nền kinh tế không chính thức ở Hy Lạpchiếm khoảng 24% GDP của quốc gia này Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, hệthống thuế với nhiều mức thuế cao và bộ luật phức tạp cùng với sự điều tiết dưthừa và thiếu hiệu quả của cơ quan quản lý là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốnthuế và kinh tế ngầm phát triển ở Hy Lạp Để tăng nguồn thu và cải thiện tình trạngngân sách, quốc gia này phải tích cực giải quyết những trở ngại trên

Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI), Hy Lạp là một trong những nước có tỷ

lệ tham nhũng cao nhất trong EU Năm 2008, hơn 13% người Hy Lạp đã chi tới

750 triệu euro tiền phong bì cho các lãnh đạo khu vực công và khu vực tư Thiệthại mà tham nhũng gây ra cho Hy Lạp ước tính vào khoảng 8% GDP Tham nhũngkhông chỉ gây ra trốn thuế, nó còn làm tăng chi tiêu chính phủ, nhắm tới duy trì

Trang 13

mức lương cao cho công chức và thực hiện các dự án có vốn đầu tư lớn thay vìnhắm vào các dự án tạo ra nhiều việc làm và nâng cao năng suất lao động Mứclương cao không chỉ tạo ra gánh nặng ngân sách mà còn làm cho tính cạnh tranhcủa nền kinh tế Hy Lạp yếu đi Lương cao, đồng euro tăng giá trong suốt giai đoạn

từ 2000-2008 khiến sức cạnh tranh của hàng hóa Hy Lạp yếu và hệ quả tất yếu làmột cán cân thương mại thâm hụt triền miên

5 Sử dụng nguồn vốn không hiệu quả.

Việc gia nhập Eurozone năm 2001 là cơ hội lớn để Hy Lạp có thể tiếp cận vớithị trường vốn quốc tế Dễ dàng thu hút vốn đầu tư nước ngoài với mức lãi suấtthấp, trong gần một thập kỷ qua, chính phủ Hy Lạp liên tục bán trái phiếu để thu vềhàng trăm tỷ đôla Số tiền này lẽ ra có thể giúp kinh tế Hy Lạp tiến rất xa nếu chínhphủ có kế hoạch chi tiêu hợp lý Nhưng điều này không xảy ra, các đời chính phủ

Hy Lạp đã chi tiêu quá tay (phần lớn cho cơ sở hạ tầng) mà hầu như không quantâm đến các kế hoạch trả nợ, trong đó có thể kể đến như thế vận hội Olympics

2004 - kỳ thế vận hội hoành tráng nhất và cũng tốn kém nhất trong lịch sử nhưngchính phủ lại không cho phép sự xuất hiện của bất kỳ một biển hiệu quảng cáo nàotrên đường phố

6 Tính minh bạch và niềm tin của các nhà đầu tư

Hy Lạp đã cố công làm đẹp các chỉ số kinh tế của mình để gia nhập Eurozone,

và kể cả khi đã vào Eurozone để có thể tiếp tục tiếp cận các nguồn tín dụng lãi suấtthấp Có nhiều lý giải cho vấn đề này có thể kể ra như: Hy Lạp đã không ghi khoảntiền phải chi trả cho lương hưu, giấu không ghi chi phí về việc mua vũ khí quốcphòng, không ghi vào nợ công khi nhà nước phải gánh những khoản nợ tư vì nhậnbảo lãnh, ghi khoản tiền nhà nước chuyển cho doanh nghiệp quốc doanh để bù lỗ làtăng đầu tư mua cổ phần, thay vì là chi bù lỗ, nhằm làm giảm thiếu hụt ngân sách,ghi thuế thu không theo thực thu và theo dự báo Tuy nhiên, sẽ là thiếu sót nếu

Trang 14

không khẳng định một phần lỗi trong việc gian lận thống kê này là từ việc thiếuthực thi chặt chẽ các quy định trong Hiệp ước Bình ổn và Tăng trưởng của EU xuấtphát từ những mục tiêu chính trị của khối Ðể vào Eurozone, các quốc gia thànhviên phải tuân theo những quy định khắt khe như thâm hụt ngân sách không đượcvượt quá 3% GDP và nợ không được vượt quá 60% GDP Nếu vi phạm mà khôngthực hiện các biện pháp khắc phục do Ủy ban Châu Âu (EC) và Hội đồng Liênminh Châu Âu đưa ra thì các quốc gia vi phạm sẽ chịu một khoản phạt tươngđương với 0,5% GDP.

Vào thời điểm Hy Lạp gia nhập Eurozone, đã có những bằng chứng cho thấyquốc gia này đưa ra những số liệu không trung thực, ECB cũng tỏ ra quan ngại vềtình hình nợ của Hy Lạp đã vượt xa trần quy định của Eurozone, nhưng các nhàlãnh đạo châu Âu đã không phản đối Vì lý do chính trị, họ đã cho Hy Lạp thamgia đồng Euro Đến năm 2004, bằng chứng về việc Hy Lạp công bố số liệu kinh tếgiả mạo đã được Eurostat thu thập đủ, nhưng các quan chức của châu Âu vẫn tuyên

bố rằng, việc trục xuất Hy Lạp khỏi Eurozone không phải là lựa chọn của họ vàcho Hy Lạp thời gian để sửa chữa Đến năm 2009, thì một lần nữa câu hỏi về sựgian lận số liệu của quốc gia này lại được lật lại và khủng hoảng nợ đã bùng nổ.Các nhà đầu tư bắt đầu lo ngại khi vào tháng 10/2009, chính phủ Hy Lạp mớilên cầm quyền đưa ra con số ước tính thâm hụt ngân sách mới tăng lên gần gấp đôi

so với con số ban đầu là Công bố này lập tức đã khiến cho trái phiếu chính phủ HyLạp bị ba tổ chức định mức tín dụng lớn của thế giới đánh tụt hạng Tới cuối tháng

11, thì những lo ngại về tình trạng vỡ nợ của Dubai World lại dấy lên những quanngại về khả năng xảy ra tình trạng vỡ nợ quốc gia hàng loạt của các chính phủ dướisức ép của khủng hoảng tài chính, trong đó Hy Lạp với những khoản nợ nướcngoài lớn đã trở thành mối quan tâm đặc biệt của các nhà đầu tư

Sự nghi ngờ của giới đầu tư lên đến đỉnh điểm lần nữa vào tháng 4/2010 khi

Ngày đăng: 28/01/2015, 16:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w