1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng lạm phát việt nam từ 2008 đến nay

46 447 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 616,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm Trong điều kiện nền kinh tế chưa đạt đến mức toàn dụng, lạm phát vừa phát thúc đẩy sự phát triển kinh tế vì nó có tác dụng làm tăng khối tiề

Trang 2

BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TPHCM

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH & DU LỊCH

Lê Thanh Nguyên 2007110165 Tống Thanh Phương 2023110225 Đinh Đắc Thắng 2013110131 Nguyễn Văn Thông 2013110321 Nguyễn Phú Thuận 2007110071 Trấn Thanh Trà 2007110115 Ninh Quốc Trí 2013120271 Đặng Phương Trúc 2013110154

TP HCM, 03 TP HCM, 03/20/2013 TPHCM, 4/2013

TP HCM, 03/2013

Trang 3

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1

MỞ ĐẦU 3

1 TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT 4

1.1 Khái niệm lạm phát 4

1.2 Phân loại lạm phát 6

1.3 Hậu quả của lạm phát 7

1.3.1 Tác động phân phối lại thu nhập và của cải 7

1.3.2 Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm 7

1.3.3 Các tác động khác 8

1.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát 9

1.4.2 Nguyên nhân do tổng cung ngắn hạn giảm (lạm phát chi phí đẩy) và giải pháp khắc phục 16

1.4.3 Lạm phát do yếu tố tiền tệ và giải pháp khắc phục 18

1.4.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát do sự mất cân đối trong quan hệ tổng cung - tổng cầu trong trung và dài hạn và giải pháp khắc phục 21

1.4.5 Lạm phát do mất đối trong cán cân thu - chi ngân sách và giải pháp khắc phục 25

1.4.6 Lạm phát do mất cân đối trong cán cân thương mại và giải pháp khắc phục 26

Trang 4

1.4.7 Lạm phát từ những hạn chế trong quản lý giá cả và hệ thống phân phối hàng hoá

và giải pháp khắc phục 27

1.4.8 Lạm phát do yếu tố tâm lý và giải pháp khắc phục 28

1.4.9 Một số nguyên nhân khác 30

2 QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ LẠM PHÁT 30

2.1 Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng 30

2.2 Thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước 31

2.3 Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, sử dụng tiết kiệm năng lượng 31

2.4 Điều chỉnh giá điện, xăng dầu gắn với hỗ trợ hộ nghèo 32

2.5 Tăng cường bảo đảm an sinh xã hội 32

2.6 Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền 33

3 THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ỡ VIỆT NAM TỪ 2008 ĐẾN NAY 33

3.1 Lạm phát 2008 33

3.1.1 Tình hình kinh tế và xã hội 33

3.1.2 Các nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam 2008 36

3.1.3 Kiềm chế lạm phát năm 2008 37

3.2 Lạm phát 2009 37

3.3 Lạm phát 2010-2011 39

3.3.1 Diễn biến lạm phát trong năm 2010 39

3.3.2 Diễn biến lạm phát 2011 40

3.3.3 Nguyên nhân gây lạm phát ở Việt Nam 41

3.3.3.1 Nguyên nhân khách quan 41

3.3.3.2 Nguyên nhân chủ quan 43

Trang 5

3.3.3 Chi tiêu công và sự độc lập của NHNN 44

3.3.4 Khả năng điều hành nền kinh tế 45

3.3.5 Giải pháp của chính phủ 47

3.4 Lạm phát 2012 50

3.5 Lạm phát năm 2013: Kỳ vọng một con số 51

4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP 52

KẾT LUẬN 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 6

MỞ ĐẦU

Việt Nam đã đi qua hơn 20 năm đổi mới một cách ấn tượng với những thành tựu quan trọng Từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ, Việt Nam đã chuyển từng bước chắc chắn sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã vượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế để tự tin bước sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN Việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007 đã khẳng định mức độ tiến bộ mà chúng ta đạt được trong hơn 20 năm qua

Đến nay, Việt Nam đã vượt qua ngưỡng nước có thu nhập thấp và đang nỗ lực theo đuổi mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Làm thế nào để chúng ta có thể đạt được mục tiêu này trong hơn

10 năm nữa, khi mà kinh tế vĩ mô của chúng ta trở nên bất ổn, sự ổn định của nền kinh tế đang trở nên rất mong manh? Lạm phát đang đã có dấu hiệu quay trở lại từ năm 2004 và tăng tốc từ giữa năm 2007 Thêm vào đó, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ thế giới, khởi đầu từ Mỹ,

đã làm cho nền kinh tế Việt Nam chao đảo mạnh hơn Từ chỗ phải trải qua tình trạng lạm phát bùng lên

dữ dội và cối năm 2007 đầu năm 2008, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước một tình huống rất khókhăn: lạm phát có nhiều nguy cơ quay trở lại, song chúng ta lại mong muốn tăng tốc độ để đạt mục tiêucủa năm 2020 và mục tiêu phát triển trong tương lai xa hơn nữa

Vấn đề đặt ra là nguyên nhân nào gây ra tình trạng lạm phát và bất ổn kinh tê vĩ mô ở Việt Nam hiện nay? Ngoài tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ toàn cầu còn có những nguyên nhân nào khác nữa? Làm thế nào để tăng trưởng cao và vững chắc trong dài hạn? … Thực tế đó đang đặt ra yêu cầu cần phải có những nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về những nguyên nhân gây ra lạm phát và những bất ổn kinh tế vĩ mô Điều đó cũng cho thấy ý nghĩa lý luận, thực tiễn và tính cấp thiết của đề tài:

"Lạm phát ở Việt Nam hiện nay: Nguyên nhân và giải pháp” trong bối cảnh kinh tế hiện nay

Trang 7

1 TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT

1.1 Khái niệm lạm phát

Lạm phát là một phạm trù kinh tê khách quan phát sinh từ chế độ lưu thông tiền giấy Điểu này xuất phát từ chỗ tiền giấy chỉ là một loại tiền dấu hiện giá trị được phát hành vào lưu thông để thay thế cho tiền đủ giá nhắm thực hiện vai trò trung gian trao đổi Như vậy, thực chất tiền giấy không có giá trị nộ tại mà chỉ mang giá trị danh nghĩa Do đó khi có hiện tượng thừa tiền giấy trong lưu thông thì người ta không có xu hướng giữ lại trong tay mình những đồng tiền vị mất giá và lượng tiền thừa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và lưu thông hàng hóa

Có nhiều khái niệm khác nhau về lạm phát, về cơ bản có thể thấy có ba khái niệm sau:

Thứ nhất, lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá chung trong nền kinh tế và

nguyên nhân chủ y ếu dẫn đến lạm phát là y ếu tố tiền tệ Đây là khái niệm lạm phát do các nhà kinh

tế học trường phái cổ điển và tân cổ điển đưa ra Đại diện tiêu biểu của nhóm này là nhà kinh tế học Milton Friedman

Thứ hai, lạm phát là sự gia tăng mức giá chung của nền kinh tế và nguyên nhân của lạm phát không

chỉ do yếu tố tiền tệ mà còn bao gồm cả những nguyên nhân khác như sự biến động giá cả của nguyên liệu đầu vào quan trọng như giá năng lượng, vật liệu Khái niệm này là của các nhà kinh tế học hiện đại - đại diện tiêu biểu là nhà kinh tế học Paul A Samuelson Với khái niệm này, Paul A.Samuelson không đề cập trực tiếp đến sự tăng lên liên tục của mức giá chung như các nhà kinh tế học trường phái tiền tệ Tuy nhiên, khi nói đến lạm phát ông cũng đã đặt nó trong mối quan hệ so sánh các chỉ số giá quá các thời kỳ, các năm khác nhau Do đó, không thể đi đến kết luận rằng quan niệm của Samuelson là mức giá cả chỉ tăng lên một lần đã được coi là lạm phát như một số tác giả Việt Nam đã từng phê phán

Thứ ba, lạm phát là hiện tương tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng vị mất

giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên đồng loạt Đây là khái niệm hiện nay của hầu hết các tác giả trong và ngoài nước

Khái niệm lạm phát thứ ba sẽ được sử dụng trong toàn bộ nghiên cứu của đề tài Bởi lẽ, nó đề cập đầy đủ bản chất của lạm phát Lạm phát không phải là hiện tượng giá cả của một vài hàng hóa hay vài nhóm hàng hóa nào đó tăng lên mà là sự tăng lên của mức giá chung của nền kinh tế Khi mức giá chung tăng lên mọi người phải trả nhiều tiền hơn cho giỏ hàng hóa và dịch vụ mà họ mua Hơn nữa, có thể coi mức giá là thước đo giá trị của đồng tiền Sự gia tăng của mức giá có nghĩa là giá trị của đồng tiền bị suy giảm bởi vì khi đó mỗi đơn vị tiền tệ (VNĐ,USD…) sẽ mua được một lượng hàng hóa ít hơn

Chính vì vậy, khi tính mức độ lạm phát, các nhà kinh tế sử dụng chỉ số giá cả Chỉ số giá cả thường được sủ dụng nhất là chỉ số giá tiêu dùng (consumer price index – CPI) Chỉ số này phản ánh mức thay đổi giá cả của một giỏ hàng hóa tiêu dùng so với năm gốc cụ thể Thông thường các nhóm chính trong giỏhàng hóa là thực phẩm, quần áo, nhà cửa, chất đốt, vận tải và y tế Tuy nhiên, việc sử dụng chỉ số CPI để

đo lường lạm phát kkhong phải là không có những hạn chế:

Trang 8

CPI phản ánh tỷ lệ cố định của mỗi mặt hàng theo ý nghĩa kinh tế của nó Nhiều lúc, khi giá 

cả những nhóm mặt hàng tiêu dùng bị tăng giá quá cao thì người tiêu dùng có khuynh hướng sử dụng những hàng hóa khác thay thế cho những hàng hóa có mức giá tươnng đối đắt đỏ

CPI không phản ánh chính xác những thay đổi về chất lượng hàng hóa Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy nếu những thay đổi về chất lượng hàng hóa được tính đến một các thích đáng thì tốc

độ tăng của CPI không tăng lên với tốc độ nhanh trong năm vừa qua

Ngoài CPI được sử dụng rộng rãi nhất để tính chỉ số lạm phát người ta còn sử dụng các chỉ số giá khác như chỉ số giá cả sản xuất, chỉ số “giảm phát GNP” Chỉ số giá cả sản xuất là chỉ số bán buôn, nó được xây dựng để tính giá cả trong lần bán đầu tiên và được tính rất chi tiết vì nó bao gồm rất nhiều sản phẩm được lựa chọn Chỉ số “giảm lạm phát GNP” là chỉ số giá cả cho toàn bộ GNP, nó chính là tỷ lệ củaGNP danh nghĩa so với GNP thực tế Chỉ số “giảm lạm phát GNP bao gồm tất cả các loại hàng hóa dịch

vụ trong GNP, do đó nó phảm ánh khá toàn diện hơn chỉ số giá tiêu dùng

Cần phân biệt rõ hai khái niệm sau đây có liên quan đến lạm phát

- Giảm lạm phát là sự sụt giảm tỷ lệ lạm phát, tức là mức giá chung của nền kinh tế vẫn gia tăng song mức độ tăng mức giá chung có xu hướng chậm lại Chẳng hạn, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam năm

1993 là 5,2% trong khi năm 1992 tỷ lệ đó là 17,6% có thể nói năm 1993 nền kinh tế Việt Nam có giảm lạm phát so với năm 1992 vì tốc độ tăng lạm phát của năm 1993 là 5,2% < 17,6% của năm 1993

- Thiểu phát là khi mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống bằng 0 hoặc dưới 0 Chẳng hạn, năm

2000 nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng thiểu phát, với tỷ lệ lạm phát -0,6%

1.2 Phân loại lạm phát

Có rất nhiều cách phân loại lạm phát và trong mỗi cách lại có nhiều cách phân chia khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu Sau đây là một số cách phân loại cơ bản:

- Căn cứ vào mức độ (tỷ lệ) lạm phát chia thành 3 cấp độ cơ bản:

Lạm phát vừa phải (Normal inflation): loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng chậm 

ở mức độ một con số hàng năm (< 10%/năm) Trong điều kiện lạm phát vừa phải, giá cả tăng chậm, thường xấp xỉ bằng mức tăng tiền lương hoặc cao hơn chút ít Do vậy giá trị tiền tệ tương đối ổn định, tạo thuận lợi cho môi trường kinh tế xã hội Loại lạm phát này thường được các nước duy trì như một chấtxúc tác để thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Lạm phát phi mã (High inflation): loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng 

ở mức độ hai con số hàng năm (từ 10% - 100% một năm) còn được gọi là lạm phát phi mã Cũng có một

số nhà kinh tế quan điểm cho rằng thuộc loại lạm phát phi mã bao gồm cả lạm phát ở mức độ ba con số ( như 100%, 200% )

Lạm phát phi mã gây ra nhiều tác hại đến sự phát triển kinh tế - xã hội

Siêu lạm phát: loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng ở mức độ ba con số hàng năm Siêu lạm phát còn được gọi là lạm phát siêu tốc Không có điều gì là tốt khi nền kinh tế rơi vào tình trạng siêu lạm phát Người ta thường ví siêu lạm phát như căn bệnh ung thư gây chết người, có những tác hại

Trang 9

rất lớn đến kinh tế - xã hội Lịch sử lạm phát của thế giới đã ghi nhận tác hại của siêu lạm phát xảy ra ở Đức sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tỷ lệ lạm phát lên đến trên 10 chữ số (năm 1924 là

10.000.000.000); Việt Nam năm 1986 (774,76%/năm); ở Nga sau Cách mạng tháng 10, ở Trung Quốc vàHungary sau thế chiến thứ hai, ở Mỹ vào thời kỳ nội chiến,…

Ngoài ra cũng theo cách phân loại trên còn có một số tác giả chia lạm phát thành 6 cấp độ: lạm phát

ỳ (dưới 3%/năm), lạm phát nhẹ (dưới 8%/năm); lạm phát vừa phải (8 – 12%/năm); lạm phát cao (hai con

số và < 50%/năm); lạm phát phi mã (2 con số và > 50%/năm) và siêu lạm phát (từ ba chữ số trở lên/năm)

1.3 Hậu quả của lạm phát

Lạm phát có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển kinh tế - xã hội tùy theo mức độ của nó Nhìn chung, lạm phát vừa phải có thể đem lại những điều lợi bên cạnh những tác hại không đáng kể, còn lạm phát cao thường gây những tác hại đến nền kinh tế và đời sống, không có điều gì lá tốt gắn với siêu lạm phát Mặt khác, tác động của lạm phát còn tùy thuộc vào lạm phát đó có dự đoán trước được hay không, nghĩa là nhân dân vá các thể chế có tiên tri được mức độ lạm phát hay sự thay đổi mức độ lạm phát là một điều bất ngờ Nếu tất cả các đợt lạm phát đều hoàn toàn dự đoán trước được thì lạm phát không gây nên gánh nặng kinh tế lớn bởi người ta có thể có những giải pháp để thích nghi với nó Lạm phát không dự đoán trước được sẽ đãn đến những đầu tư sai lầm và phân phối lại thu nhập một cách ngẫu nhiên làm mất tinh thần và sinh lực của nền kinh tế

1.3.1 Tác động phân phối lại thu nhập và của cải

Tác động chính của lạm phát về mặt phân phối phát sinh từ những sự khác nhau trong các loài tài sản

và nợ nần của nhân dân Khi lạm phát xảy ra, những người có tài sản nói chung đều tăng lên, còn giá trị đồng tiền thì giảm xuống Ngược lại, những làm công ăn lương, những người gửi tiền, những người cho vay là bị thiệt hại

Để tránh thiệt hại, một số nhà kinh tế đưa ra các thức giải quyết đơn giản là lãi suât cần được điều chỉnh cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát Ví dụ, lãi suất thực là 3%, tỷ lệ tăng giá là 9%, thì lãi suất danh nghĩa là 12% Tuy nhiên, một sự điều chỉnh lãi suất cho phù hợp tỷ lệ lạm phát chỉ có thể thực hiện được trong điều kiện lạm phát ở mức độ thấp

1.3.2 Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm

Trong điều kiện nền kinh tế chưa đạt đến mức toàn dụng, lạm phát vừa phát thúc đẩy sự phát triển kinh tế vì nó có tác dụng làm tăng khối tiền tệ trong lưu thông, cung cấp thêm vốn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, kích thích sự tiêu dùng của chính phủ và nhân dân

Giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến: khi lạm phát tăng lên thì thất nghiệp giảmxuống và ngược lại khi lạm phát giảm xuống thì thất nghiệp tăng lên Nhà kinh tế học A.W.Philips đã đưa

ra “Lý thuyết trao đổi về lạm phát”, theo đó một nước có thẻ mua một mức độ thất nghiệp thấp hơn nếu sẵn sang trả giá bằng một tỷ lệ lạm phát cao hơn

1.3.3 Các tác động khác

Trong điều kiện lạm phát cao và không dự đoán trước được, cơ cấu nền kinh tế dễ bị mất cân đối vì khi đó các nhà kinh doanh thường hướng đầu tư vào những ngành sản xuất có chu kỳ

Trang 10

ngắn, thời gian thu hồi vốn nhanh, hạn chế đầu tư vào những ngành sản xuất có chu kỳ dài, thời gian thu hồi vốn chậm vì có nguy cơ gặp phải nhiều rủi ro Trong lĩnh vực lưu thông, khi vật giá tăng quá nhanh thì tình trạng đầu cơ, tích trữ hàng hóa thường là hiện tượng phổ biến, gây nên mất cân đối giả tạo làm cho lưu thông càng thêm rối loạn Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, lạm phát xảy ra làm tăng tỷ giá hối đoái Sự mất giá của tiền trong nước so với ngoại tề tạo điều kiện tăng cường tính cạnhtranh của hàng xuất khẩu, tuy nhiên nó gây bất lợi cho hoạt động nhập khẩu Lạm phát cao và siêu lạm phát làm cho hoạt động của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng Nguồn tiền gửi trong xã hội bị sụt giảm nhanh chóng, nhiều ngân hàng bị phá sản do mất khả năng thanh toán Lạm phát phát triểnnhanh, biểu giá thường xuyên thay đổi làm cho lượng thông tin được bao hàm trong giá cả bị phá hủy, cáctính toán kinh tế bị sai lệch nhiều theo thời gian, từ đó gây khó khăn cho cấc hoạt động đầu tư

Lạm phát gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước bằng việc bào mòn giá trji thực của những khoản công phí Ngoài ra lạm phát cao kéo dài và không dự đoán trước được làm cho nguồn thu ngân sách nhà nước bị giảm do sản xuất bị suy thoái Tuy nhiên, lạm phát cũng có tác động làm gia tăng số thuế nhà nước cao hơn, và như vậy người ta nhanh hơn sang nhóm phải đóng thuế cao hơn, và như vậy chính phủ có thể thu được nhiều thuế hơn mà không phải thông qua luật Trong thời kì lạm phát giá cả hàng hóa – dịch vụ tăng lên một cách vững chắc, bên cạnh đó tiền lương danh nghĩa cũng theo xu hướng tăng len, vì vậy thu nhập thực tế cũng theo xu hướng tăng lên, vì vậy thu nhập thực tế của người lao động nói chung có thể giữ vững, hoặc tăng lên, hoặc giảm đi chứ không phải bao giờ cũng suy giảm

Như vậy, lạm phát đã ảnh hưởng đén mọi mặt trong đời sống kinh tế - xã hội và nhà nươc phải áp dụng những biện pháp tích hợp để kiềm chế, kiểm soát lạm phát

1.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát

1.4.1 Lạm phát do tổng cầu tăng mạnh (lạm phát cầu kéo) và giải pháp khắc phục

Khi tổng cầu tăng mạnh có thể làm cho sản lượng thực tế vượt quá mức sản lượng tiềm năng của một nước, làm cho giá cả tăng lên để cân bằng tổng cung và tổng cầu (xem hình 1.1.)

Biểu đồ 1.1 Lạm phát do tổng cầu tăng mạnh

Trang 11

Y p : Sản lượng tiềm năng của nền kinh tế

AD1 , AD2 là đường tổng cầu ở những mức khác nhau của nền kinh tế Khi sản lượng thực tế nềnkinh tế (Y1 ) vượt quá mức sản lượng tiềm năng (Yp ), nếu tổng cầu tiếp tục tăng mạnh (từ AD 1

→ AD2 ), sản lượng thực tế Y1 tăng không nhiều (tới Y2 ) nhưng giá cả tăng nhanh từ P 1 → P 2 Nềnkinh tế rơi vào tình trạng lạm phát cầu kéo

Tổng cầu AD = C + I + G + X - IM tăng có thể do các yếu tố sau :

(i) Tiêu dùng của hộ gia đình tăng

* Tiêu dùng của hộ gia đình quyết định tiêu dùng quốc gia và ảnh hưởng tới tổng cầu của nền kinh

tế

Tiêu dùng của hộ gia đình do thu nhập khả dụng hiện tại tăng

Thu nhập khả dụng hiện tại tăng có thể do chính sách giảm thuế của Chính phủ, chính sách tăng các khoản chi chuyển nhượng của Chính phủ tới các hộ gia đình và các khoản thu nhập khác mà các hộ gia đình nhận được và có thể chi tiêu cho tiêu dùng

Lý thuyết Keynes cho rằng, tiêu dùng của hộ gia đình tăng là do thu nhập khả dụng hiện tại của

họ tăng Phân tích sâu hơn thu nhập khả dụng hiện tại, Millon Friedman cho rằng thu nhập (khả dụng hiện tại) là tổng của thu nhập

thường xuyên Yp và thu nhập tạm thời Y t

* Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét có ý nghĩa đối với chính sách của Chính phủ khi tác động làm thay đổi tiêu dùng của các hộ gia đình

Một là, để giảm mức tiêu dùng của hộ gia đình, chính sách của Chính phủ có thể làm giảm thu nhập khả dụng hiện tại của họ Các chính sách đó có thể là tăng thuế thu nhập cá nhân, cắt giảm các khoản chi chuyển nhượng, giảm mức lương tối thiểu

Hai là, chính sách cắt giảm tiêu dùng của các hộ gia đình cần chú ý tới tập quán, thói quen tiêu dùngcủa người dân Đối với những nước mà ở đó, người dân có thói quen chi tiêu tiết kiệm, như Nhật Bản chẳng hạn (MPC nhỏ), chính sách cắt giảm tiêu dùng bằng cách cắt giảm thu nhập khả dụng hiện tại sẽ không khó khăn bằng chính sách của những nước có thói quen tiêu dùng cao, ví dụ như Mỹ (MPC lớn)

Ba là, nếu người tiêu dùng tuân theo lý thuyết thu nhập thường xuyên và kỳ vọng hợp lý thì chỉ những thay đổi chính sách bất ngờ mới tác động tới tiêu dùng (làm tăng hoặc giảm tiêu dùng)

Do người tiêu dùng sẽ tiêu dùng ít hơn (tiết kiệm nhiều hơn) đối với những thu nhập tạm thời và tiêu dùng nhiều hơn đối với thu nhập thường xuyên Do đó, các chính sách tăng thuế giảm lương tối thiểu sẽ có tác động tức thời làm cho người tiêu dùng điều chỉnh kỳ vọng của họ và giảm mức tiêudùng Nhưng sau một thời gian áp dụng chính sách này, mức tiêu dùng của hộ gia đình sẽ không có gì thay đổi do không có thông tin mới nào làm thay đổi kỳ vọng của họ Mức thu nhập thấp hơn của họ lúc này trở thành mức thu nhập thường xuyên

Trang 12

Bốn là, các chính sách tạm thời làm giảm thu nhập của người dân sẽ không có tác động giảm tiêu dùng của họ mà chỉ có chính sách làm giảm thu nhập thường xuyên của họ mới làm giảm tiêu dùng của người dân

Chẳng hạn, nếu Chính phủ công bố tăng thuế và áp dụng lâu dài mức thuế này, dân chúng sẽ giảm tiêu dùng mạnh hơn so với trường hợp Chính phủ thông báo biện pháp tăng thuế thu nhập (chỉ là biện pháp tạm thời)

Như vậy, có thể thấy rằng, mức tiêu dùng của hộ gia đình chịu tác động chi phối của nhiều yếu tố Chính sách của Chính phủ làm giảm tiêu dùng của hộ gia đình không hề đơn giản vì phải chú ý tới nhiều yếu tố,trong đó có nhiều yếu tố Chính phủ khó có thể kiểm soát được

(ii) Đầu tư tư nhân tăng

Đầu tư ở đây là đầu tư phát triển Nó bao gồm đầu tư cố định vào sản xuất kinh doanh, đầu tư vào nhà ở và đầu tư vào hàng tồn kho Đầu tư tư nhân tăng là do một trong ba loại đầu tư này tăng hay hai hoặc cả ba loại đầu tư này tăng

Như vậy, để thay đổi đầu tư tư nhân, Chính phủ có thể tác động tới 3 loại đầu tư trong đầu tư tư nhânnày Chính sách của Chính phủ cần chú ý tới những điểm sau đây: Một là, chính sách Chính phủ có thể thay đổi đầu tư cố định vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách tác động tới chi phí đầu tư, sản phẩm cận biên của vốn MPK Hai là, để điều chỉnh đầu tư vào nhà ở, chính sách của Chính phủ cóthể tác động vào giá nhà ở tương đối ( PH/P , đó là tỷ số giữa giá nhà PH và mức giá chung) Chính sách làm tăng giá nhà tương đối sẽ làm tăng đầu tư vào nhà ở mới và ngược lại Ba là, chính sách của chính phủ có thể làm thay đổi đầu tư hàng tồn kho bằng cách tác động vào lãi suất thực mà các doanh nghiệp phải gánh chịu khi dự trữ hàng tồn kho Bốn là, đầu cơ đầu tư của doanh nghiệp phụ thuộc vào

kỳ vọng vào sự tăng trưởng, mức độ tăng trưởng của nền kinh tế Chính phủ điều chỉnh đầu tư tư nhân không chỉ thông qua những quyết định tạo môi trường đầu tư mà còn có thể tác động gián tiếp thông qua điều tiết sản lượng nền kinh tế bằng các chính sách kinh tế vĩ mô khác

Những nhận xét trên đây cho thấy chính sách của Chính phủ điều chỉnh đầu tư tư nhân là vấn đề không hề đơn giản Bởi lẽ, đầu cơ đầu tư của doanh nghiệp chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố Do

đó, phản ứng của doanh nghiệp rất có thể không diễn ra theo những dự kiến của Chính phủ về những quyết định chính sách mà Chính phủ đưa ra

(iii) Xuất khẩu ròng thay đổi

Xuất khẩu ròng thay đổi (tăng hoặc giảm) do những yếu tố nào?

Nhập khẩu của một nước tăng/giảm do sản lượng, thu nhập của nước đó tăng/giảm Khi thu nhập tăng lên, nhu cầu tiêu dùng và đầu tư trong nước tăng và làm cho nhập khẩu tăng

Thêm vào đó, giá tương đối giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu cũng làm thay đổi khối lượng vàkim ngạch nhập khẩu của một nước Khi giá hàng trong nước tăng cao tương đối so với hàng nhập khẩu, người dân và doanh nghiệp sẽ chọn mua hàng nhập khẩu nhiều hơn và do đó nhập khẩu sẽ tăng Cuối cùng, tỷ giá nội tệ giảm sẽ làm cho giá hàng nhập khẩu đắt tương đối so với hàng trong nước và giá hàng xuất khẩu rẻ hơn so với hàng nước ngoài trên thị trường thế giới, hàng xuất khẩu nước đó có

Trang 13

khả năng cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới Trong trường hợp đó, nhập khẩu giảm, xuất khẩu ròng tăng

Cũng như nhập khẩu, xuất khẩu thay đổi (tăng hoặc giảm) còn phụ thuộc vào giá tương đối của hàng xuất khẩu của nước đó và giá hàng hoá cạnh tranh của chúng trên thị trường quốc tế Nếu giá hàng xuất khẩu của nước đó rẻ tương đối so với hàng hoá xuất khẩu của nước khác, người nước ngoài sẽ nhập khẩu hàng nước đó nhiều hơn và do đó, nước đó sẽ xuất khẩu được nhiều hơn Mặt khác, xuất khẩu của một nước còn phụ thuộc vào thu nhập và sản lượng của các nước bạn hàng Khi kinh tế các nước bạn hàng tăng trưởng cao, sản lượng và thu nhập tăng, nhu cầu nhập khẩu của họ tăng và do đó xuất khẩu củanhững nước này có thể gia tăng

Như vậy, nhập khẩu của một nước tỷ lệ thuận với thu nhập và sản lượng của nền kinh tế, với giátương đối giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu, tỷ lệ nghịch với tỷ giá ngoại tệ

Trong khi đó, xuất khẩu không phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của nền kinh tế mà tỷ lệ thuận với tỷ giá ngoại tệ, thu nhập và sả lượng của nước bạn hàng và với giá tương đối giữa hàng hoá xuất khẩu của nước đó và giá hàng hoá mà nó phải cạnh tranh trên thị trường thế giới

Từ đây, chúng ta có thể thấy xuất khẩu ròng chịu tác động tổng hợp của các yếu tố tác động tới cả xuất khẩu và nhập khẩu Xuất khẩu ròng dương và tăng, tức là xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu, làm cho tổng cầu tăng nhanh Do vậy, xuất khẩu ròng tăng sẽ góp phần làm cho lạm phát gia tăng Tuy nhiên, trênthực tế, người ta thấy rằng, trong nhiều trường hợp xuất khẩu ròng dương nhưng nền kinh tế vẫn rơi vào tình trạng suy thoái Nhiều trường hợp xuất khẩu ròng âm, nền kinh tế vẫn có lạm phát cao Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, trong đó có nguyên nhân cơ cấu hàng nhập khẩu (cơ cấu hàng tiêu dùng và hàng trung gian nguyên liệu nhập khẩu) vấn đề này sẽ được phân tích sâu hơn trong phần sau.Những phân tích trên đây giúp chúng ta có một số nhận xét về chính sách của Chính phủ có thể tác động tới xuất nhập khẩu và xuất khẩu ròng như thế nào

Một là , về lý thuyết, do xuất nhập khẩu và xuất khẩu ròng phụ thuộc vào tỷ giá, do đó chính sách của Chính phủ có thể làm giảm xuất khẩu ròng thông qua tỷ giá Tuy nhiên, chính sách tác động tới xuất nhập khẩu, xuất khẩu ròng trong các chế độ tỷ giá khác nhau sẽ khác nhau

Trong chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi, để giảm xuất khẩu ròng, Chính phủ có thể sử dụng chính sách

mở rộng tài khoá để làm tăng tỷ giá nội tệ Trong trường hợp này sản lượng nền kinh tế sẽ không thay đổi Chính phủ cũng có thể giảm xuất khẩu ròng bằng cách thắt chặt tiền tệ làm tăng tỷ giá Trong trường hợp này, sản lượng nền kinh tế giảm

Trong chế độ tỷ giá thả nổi, chính sách thương mại (khuyến khích nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu hoặc hạn chế nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu) không làm thay đổi xuất khẩu ròng và sản lượng nền kinh tế vì nó chỉ làm thay đổi tỷ giá (giảm hoặc tăng tỷ giá nội địa)

Trong chế độ tỷ giá cố định, tỷ giá sẽ được duy trì không đổi Do đó chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá của Chính phủ không tác động làm giảm (hoặc tăng) xuất khẩu ròng được Tuy nhiên, Chính phủ

có thể sử dụng chính sách nâng giá nội tệ, bãi bỏ các biện pháp hạn chế nhập khẩu để làm giảm xuất khẩu ròng Chính sách nâng giá nội tệ còn làm giảm được mức nợ Chính phủ tính bằng nội tệ

Trang 14

Hai là, chính sách giảm xuất khẩu ròng có thể chống lạm phát trong ngắn hạn song những chính sách này có thể làm cho đất nước sẽ bị mất các bạn hàng truyền thống để xuất khẩu trong dài hạn, ảnh hưởng đến tăng trưởng, việc làm của nền kinh tế trong dài hạn

Ba là, trong trường hợp kinh tế các nước tăng trưởng mạnh, nhu cầu xuất khẩu tăng cao, theo đó giá hàng hoá xuất khẩu trên thị trường thế giới tăng, chính sách hạn chế xuất khẩu để giảm xuất khẩu ròng vàgiảm tổng cầu, chống lạm phát sẽ khiến cho nước đó bị bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu với giá trị cao, gây thiệt hại cho lợi ích quốc gia Trong trường hợp này, chính sách khuyến khích nhập khẩu để hạn chế tổng cầu tăng thì chính nước đó đã nhập khẩu lạm phát, do giá hàng hoá nhập khẩu cao làm cho giá hàng hoá tiêu dùng và giá hàng hoá trung gian nhập khẩu tăng, sẽ làm cho lạm phát gia tăng (lạm phát giá cả và lạm phát chi phí đẩy - điều này sẽ được bàn thêm trong phần sau)

Bốn là, trong trường hợp lạm phát tăng cao, sản lượng nền kinh tế tăng, theo đó nhu cầu nhập khẩu tăng cao Điều đó làm cho tổng cầu giảm và lạm phát được tự động điều chỉnh Đây là một công cụ tự ổn định để hạn chế lạm phát

Năm là , chính sách của Chính phủ giảm xuất khẩu ròng cần phải chú ý tới tương quan tỷ lệ lạm phát giữa trong nước và nước ngoài để nâng cao hiệu quả tác động của chính sách Khi tỷ lệ lạm phát ở trong nước cao hơn nước ngoài, giá tương đối giữa hàng hoá trong nước sẽ cao do đó xuất khẩu sẽ giảm, nhập khẩu sẽ tăng, xuất khẩu ròng sẽ giảm Trong trường hợp ngược lại, xuất khẩu ròng sẽ tăng Do đó, chính sách giảm xuất khẩu ròng chỉ nên thực hiện trong trường hợp tỷ lệ lạm phát trong nước thấp hơn ở nước ngoài

Sáu là, những phân tích trong 5 điểm trên đây cho thấy xuất khẩu ròng chịu tác động của nhiều biến số ngoại sinh Do vậy chính sách của Chính phủ trong việc giảm xuất khẩu ròng rất khó đạt được mục tiêu mà Chính phủ mong đợi Hơn nữa, việc giảm xuất khẩu ròng đưa lại những hệ quả không

có lợi cho nền kinh tế trong dài hạn Do đó, trên thực tế, Chính phủ các nước ít sử dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu để chống lạm phát Tuy nhiên, đối với một số mặt hàng thiết yếu nằm trong giới hạn tính lạm phát của quốc gia, chính sách Chính phủ có thể hạn chế xuất khẩu để hạn chế việc tăng giá những mặt hàng này ở trong nước và hạn chế lạm phát

(iv) Chi tiêu Chính phủ tăng

Khi sản lượng nền kinh tế đã vượt quá mức sản lượng tiềm năng, Chính phủ tăng chi tiêu quá mạnh

sẽ làm cho tổng cầu tăng nhanh, gây nên lạm phát

Chi tiêu của Chính phủ bao gồm chi cho đầu tư phát triển, chi thường xuyên và chi chuyển nhượng

Tăng chi cho đầu tư phát triển là chi cho xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật (đường sá, cầu cống, trường học, bệnh viện, cảng khẩu, nhà ga, sân bay ) Chi thường xuyên bao gồm chi cho việc duy trì hoạt động của bộ máy công quyền bao gồm mua sắm hàng hoá dịch vụ, thiết bị quân sự , lương công chức, chi duy tu, bảo dưỡng các công trình đầu tư của Nhà nước Chi chuyển nhượng bao gồm các khoản chi bảo hiểm xã hội, chi hỗ trợ người nghèo, chi khắc phục hỗ trợ thiên tai, dịch bệnh

Trang 15

Chi đầu tư phát triển không chỉ làm tăng tổng cầu trong ngắn hạn mà còn làm tăng năng lực sản xuấtcủa nền kinh tế, tăng tổng cung trong dài hạn

Chi thường xuyên làm tăng tổng cầu trong ngắn hạn và góp phần bảo đảm nâng cao hiệu quả của cáccông trình đầu tư công

Chi chuyển nhượng làm tăng tổng cầu một cách gián tiếp thông qua việc tăng thu nhập khả dụng của hộ gia đình, theo đó làm tăng chi tiêu cho tiêu dùng

Chi tiêu của Chính phủ tăng làm tăng tổng cầu và gây ra lạm phát Mặt khác, sự mất cân đối trong cơ cấu thu chi của Chính phủ cũng gây ra lạm phát (phần này sẽ được phân tích kỹ hơn trong phần sau)

Như vậy, có thể thấy rằng, để giảm tổng cầu, Chính phủ cần cắt giảm chi tiêu của mình Khi đó, có một số điểm cần chú ý:

Thứ nhất, việc cắt giảm chi tiêu đầu tư phát triển có thể làm giảm tổng cầu và kiềm chế được lạm phát trong ngắn hạn Tuy nhiên, biện pháp này có thể làm giảm tổng cung trong dài hạn và làm cho việc kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế trong dài hạn khó khăn hơn

Thứ hai, đổi mới cơ cấu chi tiêu của Chính phủ cũng có thể góp phần hạn chế lạm phát

Thứ ba, cắt giảm chi thường xuyên, chi chuyển nhượng sẽ làm giảm tổng cầu và hạn chế lạm phát trong ngắn hạn Tuy nhiên, biện pháp này có thể sẽ làm giảm phúc lợi xã hội do vấn đề an sinh xã hội bị thu hẹp Theo đó, hạn chế sự ổn định xã hội trong dài hạn

Đến đây chúng ta có một số nhận xét về giải pháp giảm tổng cầu để chống lạm phát của chính phủ

Một là , việc cắt giảm tổng cầu bằng cách giảm xuất khẩu ròng dường như là biện pháp mang lại lợi ích ít hơn những biện pháp cắt giảm các yấu tố khác của tổng cầu

Hai là, tiêu dùng, đầu tư tư nhân, xuất khẩu ròng chịu nhiều tác động của rất nhiều các biến số ngoạisinh Do đó, giảm các yếu tố cấu thành này của tổng cầu để chống lạm phát là rất khó Chính sách của Chính phủ sẽ rất khó đạt được mục tiêu như Chính phủ đặt ra

Chẳng hạn, Chính phủ muốn các doanh nghiệp giảm đầu tư hàng tồn kho và đầu tư nhà ở, trong khi không muốn họ giảm đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ Song, quyết định của các doanh nghiệp, đôi khi lại không như mong muốn của Chính phủ

1.4.2 Nguyên nhân do tổng cung ngắn hạn giảm (lạm phát chi phí đẩy) và giải pháp khắc phục

Khi có những cú sốc bất lợi đối với tổng cung ngắn hạn, nó sẽ giảm xuống và làm cho đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển sang trái Điều đó làm cho giá cả tăng lên và sản lượng nền kinh tế giảm xuống, (xem biểu đồ 1.2) Nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát đình trệ, vừa có lạm phát vừa suy thoái.Lạm phát này còn gọi là lạm phát do chi phí đẩy

Những cú sốc bất lợi đối với tổng cung ngắn hạn có thể là sự tăng đột biến của giá các yếu tố đầu vào Chẳng hạn, giá dầu mỏ tăng mạnh, giá than, điện tăng Giả sử mức tiền công không đổi, giá các yếu

Trang 16

tố đầu vào này tăng, các hãng phải định mức giá sản phẩm cao hơn để trang trải cho những chi phí nguyên liệu, năng lượng đã tăng lên này Cung ngắn hạn giảm, giá tăng lên nhưng sản lượng và mức việc làm giảm xuống Giá cao hơn làm giảm mức cung tiền thực tế và tổng cầu

Biểu đồ 1.4 Lạm phát do cú sốc bất lợi đối với tổng cung ngắn hạn

AD, SAS1 , P1 , Y1 , lần lượt tương ứng là đường tổng cầu, đường tổng cung ngắn hạn, giá cả và sốlượng ban đầu của nền kinh tế (Giả sử sản lượng nền kinh tế lúc đầu đạt mức sản lượng tiềm năng Y

p ) Khi có cú sốc bất lợi đối với tổng cung ngắn hạn, đường SAS1 dịch chuyển sang trái (đến SAS2 ) Giá tăng lên, từ P1 đến P2 Số lượng giảm từ Y1 xuống Y 2

Sự tăng lương không hợp lý cũng dẫn tới bất lợi đối với cung ngắn hạn tương tự như trường hợp giá nguyên liệu đầu vào, giá nhiên liệu, năng lượng tăng đột biến

Bên cạnh đó, thiên tai, dịch bệnh bất ngờ xảy ra trên diện rộng cũng có thể làm sụt giảm cung ngắn hạn Chẳng hạn, lũ lụt, mưa bão làm cho mùa màng thất bát, sản lượng lương thực, thực phẩm suy giảm Tất cả những điều đó làm cho tổng cung ngắn hạn giảm, đẩy giá cả tăng cao

Giải pháp khắc phục lạm phát trong trường hợp này rất khó khăn và thường gây tranh cãi Ở đây có hai quan điểm về giải pháp khắc phục lạm phát

Quan điểm thứ nhất cho rằng, chính phủ không nên can thiệp mà để cho thị trường tự điều chỉnh Khi có lạm phát đình trệ xảy ra, nền kinh tế có thất nghiệp tự nguyện, điều đó làm giảm tiền lương hoặc làm chậm việc tăng lương Mức cung tiền thực tế tăng dần trở lại và làm cho lãi suất giảm và tổng cầu tăng lên Sản lượng tăng và cuối cùng nền kinh tế trở về mức thất nghiệp tự nhiên với mức lạm phát

cũ (do mức cung tiền danh nghĩa không đổi)

Mặt khác, theo quan điểm này cùng thực tế ở một số nước cho thấy, trong thời kỳ lạm phát như vậy,tiền lương thực tế bị giảm sút Điều đó khiến đời sống người lao động khó khăn Họ thường đưa ra yêu sách đòi tăng lương Trong trường hợp này, Chính phủ cần thuyết phục người lao động và làm cho họ có niềm tin vào chính sách Chính phủ cần phải làm cho họ thấy rằng việc tăng lương trong thời

kỳ lạm phát có thể tạm thời làm cho tiền lương thực tế cao hơn song nó lại làm cho mức cung tiền thực

tế giảm xuống, lãi suất sẽ tăng và tổng cầu càng giảm Khi đó thất nghiệp càng gia tăng, kinh tế càng suy thoái Khi đã tạo được niềm tin vào chính sách trong dân chúng điều đó cũng có nghĩa là Chính phủ loại

Trang 17

bỏ được một yếu tố gây ra áp lực lạm phát chi phí đẩy, Chính phủ sẽ có điều kiện hơn để thực thi các chính sách của mình, bảo đảm việc kiểm soát lạm phát ở mức thấp được duy trì trong dài hạn

Tuy nhiên, chính sách chống lạm phát trên đây lại khiến cho nền kinh tế phải trải qua một thời

kỳ suy thoái, thất nghiệp cao

Quan điểm thứ hai cho rằng, Chính phủ cần phải can thiệp để tăng cung ngắn hạn, để tăng sản lượng và giảm lạm phát Theo quan điểm này, chính sách của Chính phủ có thể tác động làm giảm chi phí đầu vào sản xuất Chẳng hạn, Chính phủ có thể giảm thuế nhập khẩu các hàng trung gian, trợ giá xăng dầu, Biện pháp này sẽ giúp cho các doanh nghiệp giảm được chi phí nguyên liệu, nhiên liệu cho sản xuất Theo đó cung tăng, sản lượng tăng và giá giảm Lạm phát sẽ được khống chế Tuy nhiên, giá hàng hoá có thể giảm song điều đó lại kích thích hộ gia đình tăng chi tiêu cho tiêu dùng Doanh nghiệp có thể tăng đầu tư hàng tồn kho Phản ứng này của doanh nghiệp và hộ gia đình đều làm cho tổng cầu tăng và làm gia tăng lạm phát

Mặt khác, doanh nghiệp có thể quyết định không như dự tính của Chính phủ Họ có thể không giảm giá mặc dù họ được giảm thuế các nguyên liệu, nhiên liệu đầu vào nhập khẩu hoặc được hỗ trợ giá xăng dầu Bởi lẽ, trong thời kỳ lạm phát, tiền công thực tế giảm khiến cho đời sống người lao động giảm Áp lực đòi tăng lương khiến doanh nghiệp phải tăng lương cho người lao động Do vậy chiphí sản xuất không tăng và giá không giảm

Hơn nữa, việc Chính phủ bù giá xăng cũng có nghĩa là Chính phủ phải tăng chi tiêu ngân sách Điều

đó làm tổng cầu tăng và lạm phát tăng cao hơn

Như vậy, chính sách này có thể có tác động làm cho sản lượng nền kinh tế đạt tới mức sản lượng tiềm năng nhanh hơn Nền kinh tế không phải trải qua thời kỳ suy thoái lâu với mức thất nghiệp không

tự nguyện cao, đồng thời, lạm phát cũng ở mức cao hơn Chính sách này cũng có thể không gây ra hiệuứng giảm lạm phát

1.4.3 Lạm phát do yếu tố tiền tệ và giải pháp khắc phục

Để xác định nguyên nhân lạm phát do yếu tố tiền tệ, chúng ta hãy bắt đầu từ phương trình số lượng tiền tệ

M x V = P x Y (1)

Trong đó, M là khối lượng tiền tệ (mức cung tiền); V là tốc độ lưu thông tiền tệ (hay tốc độ quay vòng tiền tệ); P là mức giá chung, Y là sản lượng của nền kinh tế (GDP thực tế của nền kinh tế, được quyết định bởi các yếu tố sản xuất và hàm sản xuất công nghệ, tạm coi là cho trước)

Từ (1) ta có: P=MV/Y

Ở đây, Y tạm coi là cho trước và là xác định

Trong dài hạn, V được coi là không đổi Vì các nhân tố sản xuất và hàm sản xuất quyết định mức GDP thực tế nên mọi sự thay đổi của GDP danh nghĩa (P.Y) phải thể hiện ở sự thay đổi của mức giá Do vậy,

Trang 18

phương trình (2) cho chúng ta biết khi cung tiền tăng sẽ làm giá cả tăng Hay giá cả tỷ lệ thuận với mức cung tiền Nói cách khác, khi mức cung tiền tăng, lạm phát sẽ gia tăng

Trong ngắn hạn, V thay đổi Giả sử M không đổi, Y vẫn được coi là xác định thì khi V tăng, giá sẽ tăng Hay tốc độ quay tiền tệ tăng là một nguyên nhân gây ra lạm phát Trong ngắn hạn, cung tiền tăng cùng với sự gia tăng tốc độ quay tiền tệ càng làm cho lạm phát tăng mạnh hơn

Vấn đề đặt ra là, mức cung tiền M và tốc độ quay tiền tệ tăng trong trường hợp nào?

Cung tiền tăng khi ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng Chính phủ tài trợ cho thâm hụt ngân sách dai dẳng bằng cách in tiền sẽ làm cung tiền tăng liên tục Việc duy trì tỷ giá cố định cũng có thể làm tăng cung tiền

Đó là khi tỷ giá ngoại tệ giảm, đồng nội tệ lên giá, ngân hàng Trung ương bơm nội tệ để mua ngoại tệ nhằm nâng giá ngoại tệ và duy trì tỷ giá ở mức cố định cũng làm mức tiền cho nền kinh tế tăng

Sự phát triển nhanh chóng của hệ thống ngân hàng thương mại làm cho khả năng tạo tiền của chúng tăng lên và làm cung tiền tăng

Tốc độ quay vòng tiền tệ tăng có thể do các lý do sau đây Cách thức tổ chức của nền kinh tế ảnh hưởng tới cách dân chúng thực hiện các giao dịch làm cho tốc độ quay vòng tiền tệ thay đổi Chẳng hạn, nếu trong nền kinh tế sử dụng sổ ghi nợ và thẻ tín dụng để giao dịch, thì tiền sử dụng cho giao dịch do thu nhập danh nghĩa mang lại, sẽ ít đi (tức là M giảm so với PY) và tốc độ quay tiền tăng lên Mặt khác, nếu dùng tiền mặt và séc để thanh toán thì lượng tiền cần cho các giao dịch mà thu nhập quốc dân hiện

có mang lại sẽ nhiều hơn, theo đó, tốc độ quay vòng tiền tệ giảm xuống Trong trường hợp ngược lại, tốc

độ quay vòng tiền tệ tăng lên

Khi nền kinh tế sử dụng ngoại tệ trong các giao dịch thì lượng nội tệ cần cho giao dịch do thu nhập danh nghĩa mang lại ít đi và do đó tốc độ quay vòng tiền tệ tăng

Ngoài ra, sự phát triển quá nhanh của hệ thống ngân hàng thương mại cùng với việc ứng dụng rộng rãi các công nghệ tiên tiến trong hệ thống ngân hàng thương mại sẽ rút ngắn thời gian giao dịch Điều đó cũng làm cho tốc độ quay vòng tiền tệ tăng

Giải pháp khắc phục lạm phát do nguyên nhân tiền tệ, nhìn chung, được các nhà kinh tế, các nhà hoạch định chính sách thống nhất Đó là ngân hàng Trung ương phải giảm bớt mức cung tiền và giảm tốc độ quay vòng tiền tệ thông qua việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ và cơ chế quản lý hoạt động của hệ thống tài chính, trong đó có hệ thống các ngân hàng thương mại

Ở đây có điểm cần nói thêm Theo quan điểm của các nhà kinh tế theo trường phái tiền tệ, mà đại diện tiêu biểu là Milton Friedman, lạm phát luôn luôn có nguyên nhân từ yếu tố tiền tệ Friedman khẳng định: "Lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ" Theo quan điểm của phái tiền tệ, mức cung cấp tiền tăng liên tục và kéo dài sẽ gây ra lạm phát Đây là lý do duy nhất gây ra lạm phát Điều này

có mâu thuẫn với quan điểm lạm phát do tổng cầu tăng mạnh hay lạm phát do giá các yếu tố đầu vào tăng?

Các nhà kinh tế tiền tệ đã chúng minh rằng không có nguyên nhân nào khác ngoài việc tăng cung tiền liên tục, đã gây ra lạm phát

Trang 19

Theo quan điểm của các nhà kinh tế tiền tệ, tổng cầu tăng mạnh và những cú sốc bất lợi từ phía cungcũng không gây ra lạm phát nếu mức cung tiền không tăng

Keynes cho rằng chi tiêu của Chính phủ làm tăng tổng cầu và gây ra lạm phát Tuy nhiên phái tiền

tệ lại cho rằng, việc tăng chi tiêu từng đợt của Chính phủ chỉ làm tăng giá từng đợt chứ không làm tăng giá cả liên tục, kéo dài và do đó không gây ra lạm phát Nếu Chính phủ tăng chi tiêu liên tục, kéo dài thì sẽ làm tăng giá cả kéo dài và khi đó lạm phát mới xảy ra Tuy nhiên, việc Chính phủ tăng chi tiêu liêntục, kéo dài là điều không thể xảy ra Bởi lẽ, Chính phủ không thể chi tiêu 100% GNP Hơn nữa, trong thực tế, giới hạn tăng chi tiêu của Chính phủ bị hạn chế bởi các quá trình chính trị, sức ép của công chúng, của Quốc hội Trường hợp Chính phủ cắt giảm thuế cũng có thể gây tác động tới mức giá tương

tự như chi tiêu của Chính phủ Song quá trình này cũng không thể diễn ra liên tục và kéo dài Bởi lẽ việccắt giảm thuế sẽ phải dừng lại khi mức thuế = 0 Lập luận tương tự với chi tiêu của hộ gia đình và các doanh nghiệp, chúng ta cũng có thể thấy sự lạc quan có thể thúc đẩy chi tiêu của họ, làm cho đường tổng cầu và giá tăng tạm thời chứ không làm cho tổng cầu tăng liên tục và kéo dài, gây ra lạm phát được Bởi

lẽ, chi tiêu của họ không thể vượt qua 100% GNP

Chính vì vậy, những người theo trường phái tiền tệ cho rằng cách phân tích của Keynes cho thấy lạm phát cao không thể chỉ do một mình chính sách tài khoá gây ra

Những người theo trường trái tiền tệ cũng phân tích và chỉ ra rằng "lạm phát chi phí đẩy cũng là một hiện tượng tiền tệ vì nó không thể xảy ra mà không có chính sách điều hoà được các nhàchức trách tiền tệ đồng ý một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao hơn"

Như vậy, có thể thấy rằng, theo quan điểm của phái tiền tệ, lạm phát chỉ xảy ra trong dài hạn, khi tiền lương có thể được điều chỉnh, những biến động giá cả trong ngắn hạn không phải là lạm phát Bởi lẽ,

họ cho rằng lạm phát là sự tăng giá liên tục kéo dài Tỷ lệ lạm phát lớn hơn 1% mỗi tháng trong nhiều năm thì các nhà kinh tế mới nói rằng lạm phát là cao Những biến động giá cả trong ngắn hạn được coi

là lạm phát tạm thời Trong khi đó, cách phân tích của Keynes xem xét lạm phát xảy ra trong ngắn hạn Khi sản lượng nền kinh tế trên mức tiềm năng, sự tăng chi tiêu mạnh của Chính phủ, sự lạc quan trong chi tiêu của hộ gia đình, doanh nghiệp trong thời hạn ngắn (1-2 năm) làm cho tổng cầu tăng mạnh và mức giá chung tăng nhanh Tương tự với trường hợp lạm phát xảy ra do cú sốc bất lợi từ phía cung, nó cũng xảy ra trong ngắn hạn

Trong dài hạn, sự tăng tổng cầu thường xuyên từng đợt của Chính phủ hay những cú sốc bất lợi của cung không thể gây ra lạm phát nếu mức cung tiền không tăng lên Trong trường hợp này, phân tích của trường phái tiền tệ là hoàn toàn phù hợp

Tuy nhiên, chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá tác động tới lạm phát trong ngắn hạn và trong dài hạn (đối với chính sách tiền tệ), nên trong đó còn gây ra kỳ vọng về lạm phát trong dân chúng Kỳ vọng đó được hình thành như thế nào, chúng ta xem xét tiếp trong mục 1.2.7

1.4.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát do sự mất cân đối trong quan hệ tổng cung - tổng cầu trong trung và dài hạn và giải pháp khắc phục.

Ngoài nguyên nhân gây ra lạm phát do tổng cầu tăng nhanh và tổng cung tăng chậm trong ngắn hạn, sự mất cân đối cung cầu trong trung và dài hạn cũng là một nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát

Trang 20

Trong trung và dài hạn nếu nền kinh tế không bị rơi vào suy thoái hoặc khủng hoảng thì xuthế chung là tổng cung và tổng cầu tăng liên tục kéo theo mức giá gia tăng theo thời gian Nếu sự tăng lên của hai thành tố trên không quá chênh lệch thì mức độ tăng giá không quá lớn và xu thế chung

là ở mức 3-5% Tuy nhiên, khi tốc độ tăng của tổng cung quá chậm so với tốc độ tăng của tổng cầu, gây mất cân đối lớn trong cung - cầu ở trung và dài hạn thì lạm phát sẽ bị đẩy lên ở mức cao Sự mất cân đối này chủ yếu là do năng lực sản xuất của nền kinh tế tăng chậm hơn so với mức tăng của đầu tư

Có thể thể hiện nguyên nhân này theo sơ đồ sau đây:

Biểu đồ 1.5 Quan hệ giữa mức giá với tổng cung và tổng cầu trong dài hạn

- Ở trạng thái ban đầu tổng cầu của nền kinh tế là AD1 và tổng cung là AS1 với mức giá P1

- Trong trung và dài hạn tổng cung và tổng cầu tăng lên chuyển dịch đến vị trí AS2 và AD2 với mứcgiá P2

Do tốc độ tăng của tổng cung chậm hơn đáng kể so với tốc độ tăng của tổng cầu( thể hiện trên biểu

đồ 1.5 là sự dịch sang bên phải của tổng cầu AD lớn hơn đáng kể so với tổng cung AS) nên mức giá P2 tăng lên đáng kể so với mức giá ban đầu P 1

- Giả sử năng lực sản xuất của nền kinh tế tăng nhanh, khi đó tổng cung trong trung và dài hạn tăng cao hơn và đạt ở vị trí AS3 và rõ ràng mức giá P3 của nền kinh tế không quá cao so với mức giá P1, lạm phát sẽ thấp hơn nhiều so với mức giá P 2

Tổng cung (năng lực sản xuất) trong trung hạn và dài hạn tăng chậm chủ yếu là do hiệu quả đầu tư thấp, do trình độ khoa học công nghệ, chất lượng của nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng kỹ thuật thấp và chậm được cải thiện Đặc biệt đối với các nước đang phát triển sự bất hợp lý trong cơ cấu kinh tế là một nguyên nhân quan trọng làm cho năng lực sản xuất của nền kinh tế yếu kém

Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận (ngành, lĩnh vực, thành phần, vùng lãnh thổ) của nền kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng và mối quan hệ hợp thành của các bộ phận đó Ở góc độ bao quát nhất, cơ cấu kinh tế bao gồm 3 nội dung chủ yếu Đó là cơ cấu ngành lĩnh vực, cơ cấu thành phần (gắn với sở hữu) và cơ cấu vùng lãnh thổ (gắn với vị trí địa lý) Ở góc độ từng bộ phận của nền kinh tế, có cơ cấu nội bộ ngành, lĩnh vực, cơ cấu nội bộ thành phần và cơ cấu nội bộ vùng, lãnh thổ kinh tế Gắn với từng nội dung trên là cơ cấu đầu tư, cơ cấu lao động, cơ cấu trình độ công nghệ…

Trang 21

Trước đây, đối với các nước phát triển, các nhà kinh tế thường không đề cập đến các nội dung của

cơ cấu kinh tế khi nghiên cứu những vấn đề của nền kinh tế Bởi vì, họ cho rằng quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế ở các nước này khi vận động theo tín hiệu giá cả của thị trường thì tự bản thân nó có khả năngkhai thác có hiệu quả các nguồn để tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý và tăng trưởng kinh tế cao mà khôngcần đến vai trò can thiệp của Nhà nước Tuy nhiên, khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 đang buộc các nhà kinh tế cần xem xét lại quan điểm trên

Riêng đối với các nước đang phát triển, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng nền kinh tế thường không có khả năng tự hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý, mà quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực tế cần có sự điều tiết của Nhà nước Vì vậy, cơ cấu kinh tế được coi là một nộ i dung rất quan trọng khi nghiên cứu kinh tế của các nước đang phát triển, trong đó có sự nghiên cứu về ảnh hưởngcủa cơ cấu kinh tế đối với lạm phát

Tuy nhiên, cho đến nay việc phân tích ảnh hưởng của nhân tố cơ cấu kinh tế đối với lạm phát chưa có một khung lý thuyết rõ ràng vì nó không phải là nguyên nhân trực tiếp, tức thời như nguyên nhân từ tiền tệ hoặc nguyên nhân do biến động của giá cả các mặt hàng năng lượng trên thị trường Nhưng đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, theo chúng tôi đây là một nguyên nhân rất quan trọng gây lạm phát trong trung và dài hạn Tác động của nó đến lạm phát có thể xem xét trên các góc độ sau đây:

Một là, cơ cấu kinh tế là biểu hiện của sự phân bố nguồn lực phát triển, do đó nó có khả năng thay đổi năng lực sản xuất của nền kinh tế Hay nói cách khác cơ cấu kinh tế tác động đến tổng cung của nền kinh tế, qua đó làm thay đổi quan hệ tổng cung – tổng cầu, dẫn đến thay đổi mặt bằng giá cả của nền kinh

tế

Hai là, cơ cấu kinh tế là biểu hiện của tỷ trọng, vị trí và mối quan hệ giữa các bộ phận của nền kinh

tế Do đó, khi cơ cấu giữa các ngành, lĩnh vực, giữa các thành phần kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến giá cả của hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế Xét ở góc độ ngành, lĩnh vực cơ cấu kinh tế bao gồm 3 bộ phận đó là công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Nếu quá trình hình thành và dịch chuyển vị trí, tỷ trọng của ba bộ phận này không hợp lý sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của từng bộphận và của nền kinh tế Đặc biệt, trong từng giai đoạn cụ thể, bộ phận nào trong cơ cấu kinh tế trên đóngvai trò là động lực thì tác động lan tỏa đối với các bộ phận khác, đến nền kinh tế là rất lớn, trong đó bao gồm cả mặt bằng giá cả của nền kinh tế Chẳng hạn, trường hợp nền kinh tế Việt Nam trong nhiều năm nay công nghiệp có thể coi là lĩnh vực chủ đạo trong cơ cấu ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Do cơ cấu công nghiệp tồn tại nhiều bất hợp lý (cơ cấu nội bộ ngành không cân đối, cơ cấu trình độ công nghệ lạc hậu…) đã không chỉ làm tăng chi phí của sản xuất công nghiệp mà còn làm tăng chi phí đầu vào, đầu ra của sản xuất nông nghiệp và dịch vụ

Nguyên nhân của những bất hợp lý trong cơ cấu kinh tế ở các nước đang phát triển chủ yếu là do chính sách của chính phủ không có định hướng đúng và không sử dụng các biện pháp hỗ trợ kịp thời choquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong nhiều trường hợp, chính sách can thiệp của Chính phủ còn làm cản trở quá trình chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng có hiệu quả Vì vậy, các giải pháp khắc phục lạm phát gây ra do nhân tố cơ cấu kinh tế chủ yếu là sự điều chỉnh trong chính sách của Chính phủ

Trang 22

Đối với nền kinh tế Việt Nam, để làm rõ nguyên nhân gây ra lạm phát do cơ cấu kinh tế chúng tôi sẽ phân tích ảnh hưởng của cơ cấu ngành, lĩnh vực và tập trung vào trọng tâm cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp đã tác động đến mặt bằng giá cả của nền kinh tế nước ta trong nhiều năm qua

1.4.5 Lạm phát do mất đối trong cán cân thu - chi ngân sách và giải pháp khắc phục

Từ lý thuyết tế học vĩ mô và thực tiễn của nhiều nền kinh tế cho thấy tồn tại mối quan hệ chặt chẽ giữa thu chi ngân sách của nhà nước và lạm phát Khi cán cân ngân sách của Nhà nước mất cân đối lớn thì tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế sẽ tăng cao Tác động của mất cân đối của cán cân ngân sách đối vớ lạmphát có thể nhìn nhận qua ba khía cạnh sau:

Trước hết, bội chi ngân sách cao thường là do mức chi ngân sách cao Điều đó sẽ làm tăng tổng phương tiện thanh toán, tổng đầu tư xã hội, trực tiếp làm tăng tổng cầu của nền kinh tế, gây ra lạm phát cầu kéo (xem phân tích ở 1.2.2)

Thứ hai, mức chi ngân sách cao thường do hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước thấp, khi đó, như

đã phân tích ở 1.2.4.1 sẽ làm tăng thêm mất cân đối trong quan hệ tổng cung - tổng cầu trong trung và dài hạn

Thứ ba, khi thâm hụt ngân sách đồng thời với thâm hụt trong cán cân thương mai lớn sẽ vừa là nguyên nhân làm mất giá đồng tiền trong nước so với ngoại tệ vừa kích thích lạm phát kỳ vọng trong dân chúng

Điều đó xẩy ra do hai lý do: Một là , khi cả hai cán cân trên đều trên đều thâm hụt thì sức ép phá giá đồng tiền trong nước thường là rất lớn (sẽ được dẫn chứng ở thực tế của một số nước ở nội dung 1.3 khi phân tích kinh nghiệm quốc tế chống lạm phát); hai là, khi ngân sách thâm hụt lớn dân chúng sẽ kỳvọng là Nhà nước sẽ in tiền để bù đắp ngân sách vì điều đã xẩy ra trong quá khứ

Để khắc phục nguyên nhân gây ra lạm phát do mất cân đối trong cán cân ngân sách thông thường các nước đều phải giảm chi ngân sách, tăng thu ngân sách bằng cách tăng thuế và các khoản thu khác, cân nhắc điều chỉnh tỷ giá hối đoái trong trường hợp thâm hụt kép (thâm hụt ngân sách đồng thời với thâm hụt thương mại) Đối với các nước đang phát triển theo nhiều nghiên cứu thực tiễn cho thấy, để giảm thâm hụt ngân sách thì vấn đề nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư công nhiều khi còn quan trọng hơn cả những giải pháp khác 1.4.6 Lạm phát do mất cân đối trong cán cân thương mại và giải pháp khắc phục

Cán cân thương mại của một quốc gia là một bảng kết toán ghi chép về mặt giá trị các giao dịch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ giữa một nước với phần còn lại của thế giới trong một khoảng thời gian nhất định và thường là một năm

NX = X - IM

Trong đó NX – xuất khẩu ròng, X và IM lần lượt là tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu và tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu

NX > 0 cán cân thương mại thặng dư

NX < 0 cán cân thương mại bị thâm hụt

Trang 23

Tác động của thâm hụt cán cân thương mại lên lạm phát được biểu hiện như sau:

Một là, với tư cách là một thành tố của tổng cầu khi NX tăng sẽ gây áp lực lên lạm phát, khi NX giảm sẽ làm giảm áp lực lạm phá (xem phân tích ở 1.2.1)

Hai là, với tư cách là một cấu thành của cán cân thanh toán quốc tế, cán cân thương mại có ảnh hưởng rất quan trọng đến tỷ giá hối đoái Khi cán cân thương mại bị rơi vào tình trạng thâm hụt sẽ làm tăng thâm hụt của cán cân thanh toán quốc tế, giảm tỷ giá hối đoái, hay đồng tiền nội tệ sụt giảm giá trị Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, tác động này là rất đáng kể Có thể thấy tác

động đó trong sơ đồ sau đây:

Biểu đồ 1.6 Quan hệ giữa tỷ giá với cung cầu ngoại tệ

Khi cán cân thanh toán uốc tế rơi vào thâm hụt lớn, để giảm bớt tình trạng mất cân đố cung cầutrên thị trường ngoại tệ buộc phải phá giá đồng tiền Đồng tiền trong nước mất giá so với ngoại tệ

Ba là, khi đồng tiền trong nước mất giá liên tục và ở mức độ lớn, người dân sẽ ồ ạt rút tiền nội tệ để chuyển sang ngoại tệ mạnh và vàng Điều đó càng làm cho đồng tiền trong nước mất giá thêm Đây là thời cơ để các nhà đầu cơ tiến hành trục lợi, gây hỗn loạn thị trường, vừa làm cho mặt bằng giá cả của nền kinh tế tăng lên vừa đẩy tỷ giá lên cao hơn

Để khắc phục nguyên nhân gây ra lạm phát do mất cân đối trong cán cân thương mại thường phảitập trung điều chỉnh chính sách đối với hoạt động xuất, nhập khẩu và chính sách tỷ giá theo hướng có lợicho xuất khẩu Tuy nhiên, đối với cac nước mà đầu vào của sản xuất phụ thuộc vào nhập khẩu từ thị trường nước ngoài thì vấn đề đó cần phải cân nhắc cụ thể hơn

1.4.7 Lạm phát từ những hạn chế trong quản lý giá cả và hệ thống phân phối hàng

hoá và giải pháp khắc phục

Trong các giáo trình kinh tế học vĩ mô, các nhà kinh tế thường ít đề cập đến nguyên nhân gây ra lạm phát do quản lý giá và hệ thống phân phối Bởi đây là những vấn đề thuộc kinh tế học vi mô Ở Việt Nam, trong một số công trình được đăng tải trên các tạp chí, các tác giả có bàn đến vấn đề này nhưng chưa nhiều, chưa có hệ thống Qua quá trình quan sát thực tiễn của nước ta, chúng tôi thấy rất

Ngày đăng: 28/01/2015, 15:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w