1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chiến lược xây dựng nền kinh tế tri thức ở việt nam trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay

28 557 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 52,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm của Đảng và nhà nước về kinh tế tri thức………11 CHƯƠNG 2: CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG NỀN KTTT VÀ MỘT SỐ GIẢI GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN THÀNH CÔNG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TÊ TRI THỨC CỦA VIỆ

Trang 1

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU………1

B NỘI DUNG TIỂU LUẬN………5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI……… 5

1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ có liên quan………5

1.2 Khái quát quá trình hình thành nền kinh tế tri thức……… 6

1.3 Một số đặc điểm cơ bản của kinh tế tri thức………7

1.4 Kinh tế tri thức và chủ nghĩa Mác – Lênin……… 9

1.5 Quan điểm của Đảng và nhà nước về kinh tế tri thức………11

CHƯƠNG 2: CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG NỀN KTTT VÀ MỘT SỐ GIẢI GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN THÀNH CÔNG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TÊ TRI THỨC CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA……….12

2.1.Xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức trên thế giới trong thế kỷ XXI………12

2.2.Chiến lược xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay……….14

2.3 Giải pháp chủ yếu cho nền kinh tế tri thức của Việt Nam hiện nay…………22

C KẾT LUẬN………26 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Kinh tế tri thức là một khái niệm mới, về nội hàm, kinh tế tri thức phản ánh mộttrình độ rất cao trong các nấc thang phát triển kinh tế của loài người Hiện nay xuhướng phát triển kinh tế tri thức đang tác động ngày càng sâu rộng trên mọi khíacạnh, lĩnh vực của đời sống nhân loại; có thể nói kinh tế tri thức vừa là mục tiêuvừa là xu thế phát triển tất yếu của xã hội loài người trong tương lai gần Kinh tế trithức được xác định chính là cánh cửa mở ra cho các nền kinh tế đang phát triểntiếp cận và rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển nếu biết đón bắt và tậndụng cơ hội Ngược lại, kinh tế tri thức cũng tạo ra thách thức lớn hơn bao giờ hếtđối với các nước đang phát triển, đó là nguy cơ tụt hậu, đó là khoảng cách ngàycàng gia tăng về trình độ phát triển với các nước phát triển

Trong bối cảnh đó ở nước ta, sau nhiều tranh luận, đã có sự nhất trí xây dựngnền kinh tế theo hướng tri thức hóa dần các công đoạn của quá trình sản xuất hànghóa và dịch vụ trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, và phát triển kinh tếtri thức ở nước ta đã được khẳng định tại các Báo cáo Chính trị của Đảng lần thứ

IX, X, XI

Trong chiến lược phát triển nền kinh tế theo mô hình công nghiệp hóa, hiện đạihóa rút ngắn của vài thập niên tới, làm cho nhiệm vụ xây dựng chương trình hànhđộng nhằm hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức của Việt Nam trở nên đặcbiệt cấp bách, thậm chí là rất gay gắt Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập kinh tếquốc tế, kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ và đóng góp vai trò quantrọng trong quá trình phát triển của thế giới, đó là thách thức lớn đối với nước ta,song cơ hội lớn cũng nằm trong thách thức đó Vì thế, mặc dù vẫn còn là một nướcđang phát triển, chúng ta không thể không tính đến tìm một lối đi tiến nhanh vào

Trang 3

nền kinh tế tri thức theo cách của mình, trong hoàn cảnh và đặc điểm của mình,theo chiến lược và bước đi phù hợp với trình độ hiện có Trong điều kiện đó, trêntầm nhìn dài hạn, xây dựng nền kinh tế tri thức phải được coi là nhiệm vụ mang

tính sống còn đối với tương lai của Việt Nam Vì vậy, em chọn đề tài: “ Chiến lược xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay” làm đề tài tiều luận môn chuyên đề kinh tế chính trị Mác – LêNin.

Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên bài tiều luận hẳn còn nhiều thiết sót

Vì vậy em rất mong ý kiến và sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô giáo để đề tàicủa em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn

- Phạm Quang Phan, “ Những vấn đề cơ bản về kinh tế tri thức”, Báo cáo kết quả

nghiên cứu đề tài khoa học, Hà Nội, 2002

- Nguyễn Kế Tuấn (chủ biên),“ Phát triển kinh tế tri thức, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2004

- Nghiên cứu kinh tế tri thức nhiều năm, cho đến năm 2006, PGS.TS Phí Mạnh

Hồng chủ trì đề tài “ Một số vấn đề cơ bản về kinh tế tri thức – Cơ hội và thách thức đặt ra cho Việt nam”.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Trang 4

*Mục đích: Cần làm rõ chiến lược xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong

quá trình công nghiệp hóa hiện nay:

- Về mặt lý luận: Cần làm rõ được khái niệm kinh tế tri thức đặc điểm cũng như vai

trò của kinh tế tri thức; nêu nên một số quan điểm của C.Mác của Đảng và nhànước về kinh tế tri thức; chứng minh phát triển kinh tế tri thức là tất yếu trong giaiđoạn hiện nay

- Về mặt thực tiễn: Cần khảo sát, đánh giá thực trạng nền kinh tế tri thức ở các

nước phát triển và các nước đang phát triển và của Việt Nam trong thời kỳ côngnghiệp hóa, có những cơ hội và thách thức gì khi xây dựng nền kinh tế tri thức vàđưa ra những biện pháp để xây dừng thành công nền kinh tế tri thức

* Nhiệm vụ:

- Thứ nhất: Một số khái niệm có liên quan như ( kinh tế tri thức là gì? CNH-HĐH

là gì? ); đặc điểm của kinh tế tri thức Quan điểm của Đảng và nhà nước về kinh tếtri thức

- Thứ hai: Nghiên cứu tình hình kinh tế tri thức trên quốc tế và nêu nên thực trạng

kinh tế tri thức của nước ta trong thời gian qua Từ đó rút ra những mặt mạnh vàmặt yếu của Việt Nam trên con đường xây dựng nền kinh tế tri thức

- Thứ ba: Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trên con đường xây dựng nền kinh

tế tri thức của Việt Nam, từ đó đưa ra một vài giải pháp tiếp cận để xây dựngthành công nền kinh tế tri thức ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

* Đối tượng nghiên cứu: Tiểu luận nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế tri

thức ở Việt nam trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện nay

- Thứ nhất: Đánh giá nền kinh tế tri thức của Việt Nam đang ở mức độ nào, những

mặt nào mạnh cần phát huy và những điểm yếu cần khắc phục

Trang 5

- Thứ hai: Chiến lược xây dưng nền kinh tế tri thức của Việt Nam trong thời đại

công nghiệp hóa và phát triển kinh tế tri thức là rất cần thiết và quan trọng, là conđường tất yếu của nền kinh tế nước ta nếu như không muốn tụt hậu

* Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: Tiều luận nghiên cứu về nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong

thời kỳ công nghiêp hóa Bối cảnh mọi quốc gia đều phát triển theo xu thế toàn cầuhóa và hội nhập kinh tế quốc tế

- Về thời gian: Thời gian những năm 2000 trở lại đây, khi mà hầu hết các quốc gia

đều nhận thấy phát triển kinh tế tri thức là cơ hội phát triển đất nước trong thế kỷXXI, thời điểm mà Đảng và Chính phủ biến chủ trương, mong muốn, trở thànhhành động được thể hiện tai văn kiên Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI

5 Phương pháp nghiên cứu:

Trừu tượng hóa khoa học, phương pháp duy vật lich sử, phân tích tổng hợp, sosánh đối chiếu, thống kê, phương pháp suy luận logic, quy nạp và diễn dịch, đọc vànghiên cứu tài liệu…

6.Kết cấu của tiểu luận:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì kết cấu của tiểu luận gồm: 2chương và 8 tiết

*Một số từ viết tắt:

KTTT: Kinh tế tri thức

CNH- HĐH: Công nghiệp hóa- hiện đại hóa

Trang 6

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ có liên quan:

1.1.1 Nền kinh tế tri thức.

a Kinh tế: Theo ông Adam Smith, cha đẻ của môn kinh tế, định nghĩa từ “ Kinh

tế” trong cuốn sách nổi tiếng “Sự giàu có của các quốc gia” (Wealth of Nations) của ông là: “nghiên cứu về sự giàu có” Tuy nhiên, như trong bài viết về [“Kinh

tế tri thức ở Việt Nam”, của GS Hồ Tú Bảo, tạp chí Tia sáng đăng ngày 2010] có đưa ra quan điểm: “Theo một định nghĩa được thừa nhận rộng rãi, kinh

20-07-tế là toàn bộ các hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của một cộng đồng hay một quốc gia”

b.Tri thức: Theo OECD: “Tri thức bao gồm toàn bộ kết quả, về trí lực của loài

người sáng tạo ra từ trước đến nay, trong đó tri thức về khoa học, về kỹ thuật, về quản lý là các bộ phận quan trọng nhất”[ chuyên đề kinh tế chính trị Mác – Lênin,

tr 51, tr 52].

c Kinh tế tri thức: Hiện nay trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về kinh

tế tri thức, trong đó khái niệm được thừa nhận rộng rãi nhất là khái niệm của tổchức hợp tác và phát triển kinh tế OECD ( Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế)

Năm 1996, OECD đưa ra định nghĩa: “ Kinh tế tri thức là những nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức và thông tin” Nhưng đến năm 2000, OECD và APEC đã điều chỉnh lai: “ Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của

sự tăng trưởng, tạo ra của cải, tạo việc làm trong tất cả các ngành khinh tế”.

1.1.2 Chiến lược: Là một từ có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, đó là phương cách

Trang 7

để chiến thắng trong một cuộc chiến tranh Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng

có thể hiểu chiến lược là chương trình hành động, kế hoạch hành động được thiết

kế để đạt được một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biệnpháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó Trong quân sự, chiến lượckhác với chiến thuật, chiến thuật đề cập đến việc tiến hành một trận đánh, trong khichiến lược đề cập đến việc làm thế nào để liên kết các trận đánh với nhau Nghĩa làcần phải phối hợp các trận đánh để đi đến mục tiêu quân sự cuối cùng

1.1.3 Công nghiệp hóa: Là quá trình chuyển đổi một cách căn bản, toàn diện các

hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sứclao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng vớicông công nghệ, phương tiện, phương pháp ngay tiến, hiện đại, dựa trên sự pháttriển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ nhằm tạo ra năng suất laođộng xã hội cao

1.2 Khái quát quá trình hình thành nền kinh tế tri thức:

1.2.1 Vai trò của tri thức trong lịch sử: Trình độ phát triển của lực lượng sản

xuất phụ thuộc chủ yếu vào tri thức con người C.Mác “ Tất cả sản phẩm lao động của con người đều là sức mạnh vật hóa của trí thức” Mọi nền kinh tế đều cần tri

thức như một yếu tố sản xuất và đến giai đoạn phát triển cao thì tri thức trở nên

đóng vai trò quan trọng [ Chuyên đề kinh tế chính trị Mác- Lênin, tr 46].

1.2.2 Sự hình thành nền kinh tế tri thức: Trước hết là kinh tế săn bắn và hái

lượm tồn tại trong hàng trăm nghìn năm Tiếp theo đó là kinh tế nông nghiệp kéodài khoảng mười nghìn năm Rồi đến kinh tế công nghiệp xuất hiện lần đầu tiên ởAnh vào đầu nửa sau thế kỷ XVIII đã xác lập cơ sở kỹ thuật cơ khí, hình thànhlực lượng lao động và tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế công nghiệp hiện đại.Cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật lần thứ hai (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)

Trang 8

đã nâng cao cơ sở kỹ thuật cơ khí lên trình độ bán tự động hóa và hình thành tổchức quản lý mới Đến giai đoạn gần đây chúng ta cũng dễ nhận thấy có nhữngchuyển biến mang tính cách mạng đó là cách mạng trong quản lý, quản lý cũngđóng vai trò trở thành lực lượng sản xuất góp phần sáng tạo ra của cải xã hội, chứkhông còn là quản lý về kỷ cương lao động thuần khiết Bất kỳ nền kinh tế nàonói trên, dù ít hay nhiều cũng đã dựa vào tri thức để phát triển Tuy nhiên, khôngphải bất kỳ một nền kinh tế nào cũng là nền kinh tế dựa trên tri thức Cái khácbiệt chủ yếu của nền kinh tế tri thức với các nền kinh tế khác là tri thức đã pháttriển đặc biệt mạnh mẽ, đã trở thành yếu tố quan trọng nhất, nguồn lực có tínhquyết định nhất đối với tăng trưởng kinh tế hơn cả vốn và tài nguyên; từ nhữngcăn cứ xác thực đó, người ta cho rằng một nền kinh tế mới hoàn toàn khác cácnền kinh tế truyền thống đã ra đời

1.3 Một số đặc điểm cơ bản của kinh tế tri thức.

1.3.1 Tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp:

Trong nền kinh tế tri thức, trí tuệ con người và kỹ năng lao động trở thành lợi

thế phát triển lớn nhất, quyết định nhất Thay vì các yếu tố vật chất- kỹ thuậttruyền thống, con người trí tuệ và có kỹ năng cao đang trở thành lực lượng sảnxuất quang trọng nhất, quyết định thành công nỗ lực phát triển Tri thức và côngnghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp và quan trọng nhất, đồng nghĩa tri thức kỹnăng, nguồn phát minh và công nghệ hiện đại đã trở thành lợi thế cạnh tranh quyếtđịnh Lực lượng nắm giữ tri thức sẽ là động lực phát triển của xã hội và là tầng lớpquyết định vận mệnh của mỗi dân tộc

1.3.2 Kinh tế tri thức có tốc độ hoạt động nhanh và đổi mới nhanh:

Trong nền kinh tế tri thức có sự biến đổi sâu sắc và nhanh chóng cơ cấu tổ

chức, phương thức hoạt động [chuyên đề kinh tế chính trị Mác- Lênin, tr 56] Các

Trang 9

ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học côngnghệ ngày càng tăng và chiếm đa số Các ngành kinh tế như công nghệ thông tin,công nghệ sinh học, điện tử, viễn thông… ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong nền

kinh tế Sáng tạo trở thành động lực trực tiếp của sự phát triển Cái có giá trị nhất

là cái chưa biết, sự hao mòn vô hình diễn da rất nhanh đối với những cái đã biết

đã được sử dụng.[chuyên đề kinh tế chính trị Mác- Lênin, tr 57]

Trong kinh tế tri thức thì quyết định năng lực cạnh tranh chính là sự sáng tạo racái mới có chất lượng cao hơn, thời gian đi tới người tiêu dùng nhanh hơn Sự pháttriển kinh tế là do sự không ngừng đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm Do đó

nền kinh tế tri thức có tốc độ hoạt động rất nhanh, “ làm việc và kinh doanh theo mức độ của tư duy” ( Bill Gates, 2000).Sản xuất công nghệ trở thành ngành sản

xuất chủ đạo Các khu công nghệ phát triển nhanh, đó là hình thức tổ chức sản xuất

cơ bản nhất trong nền kinh tế tri thức KTTT là nền kinh tế rất nhiều biến động, cónhiều rủi ro Có người gọi KTTT là nền kinh tể rủi ro, kinh tế mạo hiểm

1.3.3 Mạng thông tin trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng nhất:

Nhờ có mạng thông tin, tri thức được quảng bá rộng rãi đến mọi người; mạng

gắn kết mọi người, mọi tổ chức với nhau, rút ngắn thời gian, xoá khoảng cáchkhông gian; các hoạt động sản xuất kinh doanh trở nên sôi động, nhanh nhạy, sảnxuất gắn chặt với thị trường; tổ chức quản lý có hiệu lực hơn, thúc đẩy phát triểndân chủ, công khai, minh bạch Mạng thông tin trở thành cơ sở hạ tầng quan trọngnhất của nền kinh tế Nhiều người gọi nền KTTT là kinh tế thông tin Có xã hộithông tin mới có KTTT

1.3.4 Học tập trở thành yêu cầu thường xuyên, liên tục trong suốt cuộc đời của mỗi người:

Trang 10

Trong nền kinh tế tri thức, trí thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, conngười muốn làm việc được cần phải có tri thức Xã hội sẽ thực hiện nguyên tắcphân phối mà người nắm giữ tri thức có mức tiền lương và tiền thưởng cao hơnnhiều lần so với lao động chân tay Thực tế đó đòi hỏ mọi người không ngừng họctập, trau rồi kỹ năng, phát triển trí sáng tạo Với sự bùng nổ thông tin và và liên tụcđổi mới công nghệ, đổi mới tri thức, mô hình đào tạo xong rồi làm việc không cònphù hợp nữa Giáo dục phải đào tạo cơ bản, tạo nền tảng để người học có khả năng

tự đào tạo không ngừng tiếp thu những kiến thức mới Con người vừa học tập vừalàm việc suốt đời Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế học hỏi: mọi người có điềukiện ngày càng thuận lợi để học suốt đời, không ngừng phát triển kinh tế tri thức,nâng cao kỹ năng, phát triển sức sáng tạo, thích nghi với sự phát triển, thúc đẩy đổimới Xã hội học tâp là nền tảng của kinh tế tri thức

1.3.5 Toàn cầu hóa kinh tế diễn ra mạnh mẽ:

Quá trình phát triển khoa học công nghệ, phát triển KTTT, cùng với quá trình

phát triển kinh tế thị trường, phát triển thương mại thế giới và quá trình toàn cầuhoá là những quá trình đi liền nhau, tác động qua lại và thúc đẩy nhau phát triển

Sự sản sinh ra, truyền bá, sử dụng tri thức không thể chỉ nằm trong biên giới quốcgia Nền KTTT ra đời trong điều kiện nền kinh tế thế giới toàn cầu hoá; bất cứngành sản xuất, dịch vụ nào cũng đều dựa vào nguồn cung ứng từ nhiều nước vàđược tiêu thụ trên toàn thế giới Người ta thường gọi nền KTTT là nền kinh tế toàn

cầu hoá nối mạng, hay là nền kinh tế toàn cầu dựa vào tri thức

1.4 Kinh tế tri thức và chủ nghĩa Mác – Lênin:

Vào thời đại của C.Mác, mới chỉ có một vài nước đang xây dựng nền kinh tếcông nghiệp, chưa xuất hiện kinh tế tri thức Nhưng những quan điểm mà C.Mác

Trang 11

rút ra từ việc phân tích sự phát triển của hệ thống máy móc rất phù hợp với nhữngđặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức hiện nay:

- Khi nghiên cứu về tư bản cố định, C.Mác đã chỉ rõ: hệ thống máy móc biểu hiện ra là một hình thức thích hợp nhất của tư bản cố định và sự phát triển của tư bản cố định lại là chỉ số của sự phát triển sức sản xuất, là thước đo mức độ phát triển của sự giàu có dựa trên phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực sự trở nên ít phụthuộc vào thời gian lao động và số lượng lao động mà phụ thuộc ngày càng nhiềuvào trình độ chung của khoa học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộcvào việc ứng dụng khoa học hay vào sản xuất Tính chất của lao động cũng thayđổi Con người là người kiểm soát và điều tiết bản thân quá trình sản xuất

-Việc hệ thống máy móc tự động thay thế lao động giản đơn, làm giảm laođộng trực tiếp không hề có ý nghĩa là giảm vai trò nhân tố con người trong lao

động sản xuất Bời vì, như C.Mác đã khẳng định:“ Thiên nhiên không chế tạo ra máy móc…Tất cả những cái đó đều là sản phẩm lao động của con người…đều là sức mạnh đã vật hóa của tri thức…”

Những điều nói trên hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của kinh tế tri thức hiệnnay: hệ thống máy móc phát triển cùng với sự tích lũy những tri thức xã hội và nóichung, sự tích lũy sức sản xuất Mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ, sản xuấtngày càng trở nên chặt chẽ Tri thức, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trựtiếp

- Trong nền kinh tế tri thức, sự sáng tạo, đổi mới thường xuyên là động lự chủyếu thúc đẩy sự phát triển sức sản xuất Muốn thắng trong cạnh tranh, phải luôn

luôn tìm được công nghệ mới Các Mác đã chỉ rõ: “ Phát minh trở thành một nghề đặc biệt, và đối với nghề đó thì việc vận dụng khoa học vào nền sản xuất trực tiếp

tự nó trở thành một trong những yếu tố có tính chất quyết định và kích thích”.

Trang 12

- C.Mác đã dự đoán rằng, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất sẽnâng cao năng xuất lao động xã hội Cơ sở chủ yếu của sản xuất và của cải khôngphải là lao động trực tiếp do chính con người thực hiện, không phải là thời giantrong đó anh ta lao động, mà là sự chiếm hữu sức sản xuất của chính con người, lànhận thức của con người về giới tự nhiên và sự thống trị giới tự nhiên do sự tồn tạicủa con người với tư cách là một cơ thể mang tính xã hội.

1.5 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về kinh tế tri thức.

Đại hội VII của Đảng quyết định chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xãhội 1991- 2000 Đại hội IX đánh giá việc thực hiện chiến lược đó và thực hiện

chiến lược phát triển kinh tê- xã hội 10 năm đầu của thế kỷ XXI- “ Chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tẳng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”[Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001,

tr 148] Trong thời gian tới, kinh tế thế giới sẽ có những biến động to lớn không

lường trước được, theo chiều hướng chuyển mạnh sang nền kinh tế tri thức, tốc độtăng trưởng kinh tế cao, khoảng cách giữa các nước giàu nghèo có thể còn gia tăng

Đó là một thách thức lớn đối với các nước đang phát triển nói chung và với ViệtNam nói riêng Nếu không biết tận dụng cơ hội nâng cao năng lực nội sinh, đổimới cách nghĩ, cách làm, bắt kịp tri thức mới của thời đại, đi thẳng vào nền kinh tếdựa vào tri thức và công nghệ cao thì sẽ bị tụt hậu xa

Tuy nhiên, theo quan điểm của Đảng và nhà nước thì chúng ta không thể rậpkhuôn theo mô hình công nghiệp hóa mà các nước đi trước đã tiến hành Cũngkhông nên hiểu công nghiệp hóa chủ yếu là xây dựng công nghiệp mà phải hiểuđây là sự chyển biến nền kinh tế từ tình trạng lạc hậu, năng suất, chất lượng vàhiệu quả thấp, dựa vào phương pháp sản xuất nông nghiệp, lao động thủ công làchính sang nền kinh tế có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, theo phương pháp

Trang 13

sản xuất công nghiệp, dựa vào tiến bộ khoa học công nghệ mới nhất Như vậy, nềnkinh tế tri thức là cơ hội quý giá để Việt Nam đẩy nhanh CNH-HĐH Nước takhông thể trần chừ, bỏ lỡ cơ hội lớn này mà phải đi thẳng vào nền kinh tế tri thức

để rút ngắn khoảng cách với các nước Vì vậy công nghiệp hóa ở nước ta phảiđồng thời thực hiện hai nhiệm vụ lớn lao, đó là chuyển từ nền kinh tế nông nghiệpsang kinh tế công nghiệp và từ kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Hainhiệm vụ ấy phải được thực hiện đồng thời, lồng ghép vào nhau, hỗ trợ nhau và bổsung cho nhau Nhưng chúng ta không thể chờ công nghiệp hóa hoàn thành cơ bảnrồi mới chuyển sang nền kinh tế tri thức như các nước đi trước đã trải qua Đây làlợi thế của các nước đi sau Chiến lược phát triển của chúng ta là chiến lược dựavào tri thức và thông tin, chiến lược đi tắt đón đầu với mũi nhọn là công nghệ

thông tin: “ con đường CNH-HĐH của nước ta cần và có thể rút ngán thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước ngảy vọt Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức”[Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 91].

CHƯƠNG 2: CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ TRI THỨC VÀ MỘT SỐ GIẢI GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN THÀNH CÔNG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TÊ TRI THỨC CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH

CÔNG NGHIỆP HÓA 2.1 Xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức trên thế giới trong thế kỷ XXI

Thực tế cho thấy, việc Mỹ và các nước EU đã vượt trội so với các nước châu Á

và các nước thuộc châu lục khác trong việc xây dựng nền kinh tế tri thức không chỉ

Trang 14

do họ có những điều kiện xuất phát về kinh tế và kỹ thuật cao hơn, mà trước hết là

do các nước này đã sớm nhận thức được vai trò quan trọng của nền kinh tế tri thức,tính tất yếu và những điều kiện cần thiết cho sự ra đời và phát triển của nền kinh tếnày Họ đã hiểu rằng công nghệ thông tin và rộng hơn là nền kinh tế tri thức khôngnhững đòi hỏi những điều kiện ra đời và phát triển khác hẳn và một khi nó xuấthiện nó cũng khiến cho các điều kiện cũ trở nên lỗi thời một cách nhanh chóng, do

đó họ sớm có những giải pháp đúng đắn để phát triển hoặc tạo điều kiện cho sự rađời của nền kinh tế tri thức Mỹ là nước đang dẫn đầu xu thế chuyển từ nền kinh tếhậu công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Nền kinh tế tri thức, đứng đầu là côngnghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin đã xuất hiện sớm và khá thành công ở

Mỹ Ngoài ra, những yếu tố của nền kinh tế tri thức cũng đã phát triển và đạt đượcmức khá cao trong nhiều nước EU

Trong khi đó, ở không ít các nước châu Á, châu Phi và Mỹ la tinh, người ta cònhết sức mơ hồ về nền kinh tế tri thức Cho nên, ở các nước này, sự đầu tư cho việcphát triển khoa học công nghệ mà trước hết là công nghệ thông tin và cho việc xâydựng nền kinh tế tri thức chưa được quan tâm thích đáng Ở nhiều nước, người tavẫn bám lấy và coi trọng những tư duy và thể chế cũ và hậu quả là nền kinh tế củacác nước này bị lạc hậu tương đối so với các nước Âu Mỹ trong việc phát triểnkhoa học kỹ thuật và trong việc tiến đến nền kinh tế tri thức Những cuộc điều tragần đây cho thấy, trong khi Mỹ và EU đang hăng hái lao vào hoạt động kinh doanhđiện tử thì các công ty Châu Á dường như kém tích cực trong việc tham gia vào

hoạt động này Một cuộc điều tra vào năm 2000 của công ty International Card

cho thấy, hầu hết các giám đốc điều hành của các công ty hàng đầu châu á đềukhông cho rằng, thương mại điện tử là có lợi cho họ Tại Singapore, một cuộc điềutra của chính phủ cho thấy, 63% các công ty ở đó không thích kinh doanh trên

mạng điện tử

Ngày đăng: 28/01/2015, 15:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w