131 Hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách xã góp phần thực hiện chương trình phát triển nông thôn Cà Mau
Trang 1“Hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách xã góp phần thực hiện chơng trình phát triển nông
Theo Luật NSNN, phân cấp quản lý là điểm cốt yếu Trớc đây đã có 4 cấpngân sách, nhng việc giao nguồn thu và nhiệm vụ chi cho từng cấp cha rõ ràng,tình trạng ngân sách cấp này làm nhiệm vụ chi của ngân sách cấp khác là phổbiến, đặc biệt là ngân sách cấp xã cha đợc kiểm soát vẫn nằm ngoài hệ thốngngân sách Trong khi đó, xã là đơn vị hành chính cơ sở có tầm quan trọng rất lớn,vì đây không phải đơn thuần là một đơn vị hành chính về mặt nhà nớc mà còn làmột cộng đồng dân c gần gũi với nhau về các mặt kinh tế, xã hội và văn hoá
Theo số liệu của Bộ Tài chính, hiện nay cả nớc có 10.082 xã, thị trấn và
Trang 2những năn gần đây qui mô ngân sách xã đã có sự phát triển nhanh chóng (bìnhquân tăng gần 30% năm) nên đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựngngân sách mới Tuy nhiên, do mức độ phát triển kinh tế, xã hội của các địa phơngcũng nh trình độ nhận thức và khả năng chủ động sáng tạo của cán bộ, đặc biệt làcán bộ cấp xã, không đồng đều, nên kết quả hoạt động ngân sách xã rất khácnhau Nhiều xã đã biết chủ động nuôi dỡng, phát triển và khai thác nguồn thutheo đúng chế độ, huy động đóng góp của dân để có kinh phí hoạt động và thựchiện các chính sách khác nhau nhằm chăm lo đời sống nhân dân Ngợc lại cũngkhông ít xã quản lý ngân sách còn lỏng lẻo
Trớc tình hình đó, không chờ các văn bản dới luật đợc ban hành, chỉ bámsát những định hớng căn bản và có tính nguyên tắc của Luật NSNN, dới sự chỉ
đạo của tỉnh Minh Hải, tác giả đề tài, đã khởi thảo Quy định tạm thời về cácnguồn thu, chi của ngân sách xã, thị trấn, phờng ở Minh Hải, có sự tham gia
đóng góp của các ngành chuyên môn và các huyện, thị, xã, phờng, thị trấn và kếtquả là ngày 04/12/1996, UBND tỉnh minh Hải đã ký ban hành Quy định này(xem phụ lục) để làm cơ sở cho việc thực hiện luật NSNN từ ngày đầu tiên củanăm 1997
Mục tiêu của đề tài nhằm góp phần làm rõ cở sở lý luận và thực tiễn choviệc xây dựng ngân sách xã trở thành một cấp ngân sách cơ sở, chủ động và sángtạo, gần dân và phục vụ thiết thực quyền lợi của dân Đối tợng và phạm vi nghiêncứu của đề tài đợc xác định là việc hoàn thiện cơ chế tổ chức thu và chi ngânsách xã đợc hình thành trớc đây vào điều kiện cụ thể của tỉnh Cà Mau mới vừa đ-
ợc tách ra từ tỉnh Minh Hải
Ngoài các phơng pháp nghiên cứu phổ biến trong khoa học, phơng phápnghiên cứu đợc sử dụng xuyên suốt trong đề tài là phơng pháp duy vật biệnchứng Dựa vào phơng pháp này, việc tổ chức và quản lý thu chi ngân sách xã đ-
ợc xem xét nh là một hệ thống luôn biến đổi, vận động và do đó cần thờng xuyên
từ rất lâu trong quản lý thu, chi ngân sách xã; làm cho quá trình thực hiện vàquản lý thu, chi ngân sách xã đợc dễ dàng, phù hợp với trình độ cán bộ quản lý
Trang 3hiện tại Đồng thời với việc “lợng hoá” thì mối quan hệ giữa các cơ quan hữuquan trong lĩnh vực quản lý điều hành ngân sách xã đã đợc định hình rõ nét.
Toàn bộ đề tài có số lợng 115 đánh máy, 7 bảng biểu, sơ đồ, 7 phụ lục và
13 danh mục tài liệu tham khảo
Chơng I Vai trò của ngân sách xã đối với sự nghiệp
xây dựng nông thôn mới ở việt nam
1.1- x và vai trò của x trong đời sống kinh tế-xã ã ã
hội ở việt nam
Theo giáo s sử học Lê Văn Lan, về mặt từ nguyên và ngữ nghĩa, “Xã” làmột từ gốc Hán du nhập, đợc dùng để chỉ đơn vị hành chính thấp nhất ở các vùngnông thôn Còn “làng” là một từ thuần nôm đợc dùng để chỉ đơn vị tụ c nhỏ nhấtnhng hoàn chỉnh của ngời nông dân
Trên vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ, “xã” của ngời Việt có thể baogồm từ một đến nhiều “làng” Trong trờng hợp này ( khi đợc tích hợp vào xã ) thì
“làng” trở thành yếu tố cấu thành đơn vị hành chính cơ sở, và đợc gọi thành mộttên khác, gốc Hán: “Thôn” Nh vậy, “làng” và “thôn” gần nh đồng nghĩa, chỉmang chút sắc độ khác nhau: “làng” – hàm nghĩa tình cảm, thờng dùng trongngôn gnữ hằng ngày ( “-Bác ngời làng nào ?” ); còn “thôn” nặng chất hành chính,thờng dùng cho các văn bản (“Xã thôn Việt Nam” – tên sách của giáo s NguyênHồng Phong) Tuy nhiên, chỉ trong nhiều trờng hợp, “xã” lại chỉ một “làng”(“nhất xã nhất thôn”) Do đó có chuyện lẫn lộn giữa “làng” và “xã”, thậm chí
“làng” và “xã” đợc nối ghép lại, thành làng xã
Làng xã cổ truyền bắt đầu xuất hiện từ gất sớm trong lịch sử Việt Nam ởthời đại dựng nớc và giữ nớc đầu tiên (“Thời đại Hùng Vơng”), căn cứ vào di chỉkhảo cổ của văn hoá Phùng Nguyên - Đông Sơn ( cách ngày nay từ bốn đến hainghìn năm) có thể ớc tính khoản 500 làng đã tồn tại trên lãnh thổ nớc Văn Lang,nớc Âu Lạc! Khi ấy chúng có thể mang tên là “Kẻ” (biến thành âm “cổ”: CổLoa ), là “chạ” “chung chạ”
Vào thời triều đại nhà Đờng thống trị nớc ta (thế kỷ VII), tổng quản KhâuHoà là ngời đầu tiên đặt định cấp xã Đất “An Nam” ngày ấy có mời hai “châu”,
59 “huyện” Dới huyện là “hơng” và “xã” Trên giấy tờ, quy định “tiểu hơng” có
Trang 470 - 150 “hộ” , “đại hơng” có 160 - 540 “hộ”, và: “tiểu xã” có 10-30 “hộ”, “đạixã” có từ 40-60 “hộ” “Xã”, với số “hộ” ít ỏi nh vậy, có thể chính là “làng” thời
đó
Đến buổi đầu kỷ nguyên tự chủ ( đầu thế kỷ X ), nhà cải cách Khúc Hạo(với đờng lối chính trị gói trong chữ “Khoan - Giản - An - Lạc”) đã chia cả nớcthành những đơn vị hành chính gồm các: lộ, châu, giáp, xã Trên thực tế chỉ thấy
sử cũ nói cụ thể về các cấp “giáp” và “xã” “Giáp” chính là “hơng” ngày trớc.Khúc Hạo đặt thêm, ở thời của mình, đợc 150 “giáp”, cộng với số “giáp” có từ tr-
ớc, thành tất cả 314 “Giáp” Mỗi “Giáp” có một “quản giáp” và một “phó trigiáp” để trông nom việc thu thuế Còn mỗi “xã” thì đặt “xã quan”, gồm một
“Chánh lệnh trởng” và một “tá lệnh trởng” ( về sau trong tổ chức “giáp” ở cáclàng xã, vẫn còn bảo lu hiệu: “lềnh”, “Ông lềnh”, “Cai lềnh” )
Sang thời Trần (thế kỷ XIII-XIV), triều đình ra lệnh phân bổ các chức “Đại
t xã” và “tiểu t xã”, cùng với các “xã trởng”, “Xã giám” (đều là “xã quan”) nắmquyền ở cấp hành chính cơ sở “Đại t xã” là chức quan từ ngũ phẩm trở lên, “Tiểu
t xã” là chức quan từ lục phẩm trở xuống, cùng với các “xã trởng”, “xã giám”chịu trách nhiệm quản lý hộ khẩu, đôn đốc binh dịch, thuế khoá
Thế là từ việc đặt định và quản lý làng xã thời xa xa (thời cổ đại và trungcổ),thực thể làng xã và văn minh làng xã đã hiện hình Đó là - nh nhà dân tộc họcNguyễn Đức Từ Chi hình dung: “sản phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình định c vàcộng c của ngời Việt trồng trọt “làm nông nghiệp lúa là chủ lực, từ cái nôi đầutiên của ngời Việt là đồng bằng và trung du bắc bộ, mà nhân ra trên cả nớc Việcnhà nớc cấp cao (dân tộc tự chủ hoặc ngoại bang đô hộ) trải qua các đời, luôn tìmcách với xuống/ và với tới/ cái thực thể - sản phẩm làng xã và văn minh làng xã
ấy trong đó có vấn đề thu chi - ngân sách - thuế khoá - tiền tệ đã cho thấy cái
“thế lỡng” trong suốt lịch sử, vốn là một trong những đặc trng quan trọng củalàng xã và văn minh làng xã, và một trong những biểu hiện quan trọng nhất củacái “thế lỡng” ấy chính là: sự tự tồn (“tự trị”, “bảo lu truyền thống” ) Trongquan hệ gắn bó giữa làng nớc của các làng xã
“Sống ở làng, sang ở nớc” - ngời của các làng xã, ngày xa biểu đạt cái lẽsống của mình theo quan hệ diú đôi nh thế (đồng thời sự gắn bó hữu cơ, thờnghằn và sâu sắc, đến độ thốt lên lời cảm thán, kêu, cầu, thì cùng với “trời đất
ơi !”) tuy nhiên từ đáy lòng (tâm thức), ngời dân xã nào cũng coi làng xã củamình mới là cái cơ bản: “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn !”
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra các cơ sở và điều kiện để cho các làng xã cổtruyền trở thành một thực thể luôn giữ vai trò cơ bản trong lịch sử Việt Nam(“Hằng số của lịch sử và văn minh”) Đó là:
Xét về mặt kinh tế: Sự định hớng làm ăn để sống còn đã từ “cái hích ban
đầu” ở thời xa xa mà thành đờng lối không thay đổi, là nông nghiệp trồng lúa
n-ớc, gắn liền với chế độ ruộng đất công (“Công điền công thổ”, “Ruộng công làngxã”, “Chế độ công điền” Là hàng loạt vấn đề - liên kết kết và đồng thời - tạo cơ
sở kinh tế cho sự tự tồn của làng xã và văn minh làng xã)
Trang 5Về mặt tinh thần: Tín ngỡng thành hoàng và hệ thống phong tục tin thờ vịthần riêng của từng làng, mở rộng thành “văn hoá làng”, trong đó có yếu tố ngônngữ (thổ ngữ, phơng ngữ) Vừa là sợi dây hết sức thiêng liêng và quan trọng, gắn
bó những ngời cùng làng xã, vừa khu biệt các làng xã với nhau, làm nổi nét sắcthái địa phơng của các làng xã: “Thánh làng nào, làng ấy thờ”, “chửi cha khôngbằng pha tiếng”
Về mặt thiết chế: từ những hình thức tự quản sơ khai, trong tiến trình lịch
sử lâu dài đã dần dần vừa bảo lu vừa xây dựng - hình thành nên một bộ máyquản trị làng xã khá đặc biệt, mà đến cuối thời trung cổ thì đọng thể thức lạithành hai hội đồng là:
- Hội đồng kỳ mục, tức bộ máy quản lý xã thôn cổ truyền (gồm một sốchức sắc của làng đứng đầu là một viên “Tiên chỉ” và một hai “Thứ chỉ”) là cơquan có toàn quyền quyết định các công việc làng xã
- Hội đồng lý dịch, tức đại diện cho bộ máy nhà nớc phong kiến ở làng xã(đứng đầu là một “ lý trởng” và một hai “phó lý”) do dân cử ra và nhà nớc côngnhận, chịu trách nhiệm thi hành các công việc (Chủ yếu là su thuế binh dịch) củalàng xã
Với bộ máy quản lý làng xã này và ở chỗ bộ máy này, cái này gọi là tính
tự trị làng xã (“Một vơng quốc nhỏ trong vơng quốc lớn”) và cả “tính dân chủcủa làng xã” nữa, thấy thể hiện ra rõ nhất Đây còn là và chính là chỗ tập trungnhững vấn đề của cái gọi là “quỹ làng”, “chi tiêu của làng”, “phụ thu lạm bổ” -Chính là những vấn đề của “ngân sách xã” trong xã hội văn minh và làng xã cổtruyền [4]
Đến cuối thời Tự Đức, tức là thời nớc ta còn rơi vào sự thống trị của thựcdân Pháp, quan của triều đình bổ ra chỉ có đến phủ, huyện, còn tổng trở xuốngthuộc quyền tự trị của dân Dân tự chọn lấy ngời của mình mà cử ra coi mọi việctrong hạt Tổng là một khu có mấy làng hay xã, có một cai tổng hay phó tổng dohội dồng kỳ dịch các làng cử ra coi việc thuế khoá, đê diều và mọi việc trị an củatổng[2] Theo nhà viết sử Trần Trọng Kim, thì: “làng hay xã là phần tử cốt yếucủa dân phong tục lệ luật của làng nào riêng làng ấy, triều đình không can thiệp
đến, cho nên tục ngữ có câu “phép vua thua lệ làng” Làng có hội đồng kỳ dịch
do dân cử ra để trông coi hết cả mọi việc Hội đồng ấy có ngời tiên chỉ và thứ chỉ
đứng đầu rồi có lý tổng và phó lý do hội đồng kỳ dịch cử ra để thay mặt làng màgiao thiệp với quan t, có tuần định coi việc cảnh sát trong làng Khi một ngời nàocan phạm việc gì thì quan trình cứ ở làng, cho nên ai đi đâu hay làm việc gì cũngphải lấy làng làm gốc’’
Sự hình thành của làng xã ở miền Nam là kết quả trực tiếp của quá trình
“di dân lập ấp” từ phía Bắc vào Nam Tuy vậy, khi bàn đến làng xã ở đây ngời takhông thể đồng nhất với hình ảnh “Luỹ tre làng” hoặc một khái niệm tơng tự nào
đó, vì làng xã ở phía Nam đợc trải rộng ra theo cảnh sông nớc mênh mông củathiên nhiên tại đây chứ không cụm lại nh cảnh làng, xã phía Bắc
Vấn đề hình thành làng xã ở miền Nam, nhà nghiên cứu Sơn Nam cónhững dòng ghi nhận sau đây:
Trang 6“Xã, thôn là là đơn vị cơ sở của xã hội thời trớc Thờng phân biệt xã làlàng lớn, thôn là làng nhỏ Dân c xã, thôn ghi vào bộ đinh, không ghi đàn bà trẻcon”
để thành lập một xã chỉ cần năm, sáu ngời dân đinh, theo nghĩa có vốn, có
đất đứng đơn, bảo đảm với triều đình về nghĩa vụ thuế đinh, thuế điền Thờiphong kiến, “tấc đất ngọn rau ơn Chúa”, muốn lập công phải xin phép vua Bỗngdng mà lập làng, tự tiện xử kiện, thâu thuế, đóng mộc v.v bị ghép tội làm loạn
Ngời giầu, có thế lực đứng ra lập làng, có nhiều cái lợi: vừa có địa vị, vừabóc lột nhân công dễ dàng, ban ơn bố đức cho ngời đến c ngụ Khi chết đợc dânthờ nh một tiên triều, hậu triều trong đình Khi cúng đình con cháu đợc ăn mộtmâm riêng, sang trọng; nhằm lúc sa sút cũng đợc làng nâng đỡ Làng mới lập dễthu hút ngời nghèo, thất nghiệp, vỡ nợ từ nơi khác đến Thông thờng thì thời gian
đầu ngời đứng ra lập làng phải ra tay giúp đỡ những ngời mới tới để lấy tiếng tốt
đơn xin ra lập làng thành hai bổn, nộp quan Bố chánh, trong đơn phải ghirõ:
a- Ranh giới bốn bên của làng (tứ cận);
b- Tên họ ngời đứng lập, những ngời chịu đóng thuế Đúng ra là tên củachủ nhà (xa là điền hộ, nay là chủ hộ);
c- Ranh giới những số đất xin trởng khẩu, tên chủ đất, diện tích loại tốt,xấu;
d- Tên làng, do những ngời thành lập đề nghị (Đề nghị phạm huý, gợi ýphản nghịch, hại đến phong thuỷ hoặc cuộc đất, đem hoạ cho làng);e- Xin miễn thuế, miễn su, miễn đi lính trong ba năm;
f- Tên những dân đinh chịu đóng thuế đinh
Nhà văn Sơn Nam còn ghi lại nh sau: “Việc cai trị làng do hơng chức ởngoài Bắc có hơng ớc, có tham tích ở nam bộ su tầm lại rất khó khăn, không aibiết đến hơng ớc, nhất là những làng mới lập sau này Bản hơng ớc còn tìm thấy
đợc là của làng Minh Hơng, soạn thảo lần đầu năm 1800, Trịnh Hoài Đức duyệtlại, thêm bớt năm 1821, tới năm 1823 lại thêm nhiều khoản mới Làng này qui tụnhững ngời gốc Hoa (theo nhà Minh), không theo qui chế nớc ngoài (không gianhập các bang) mà sinh hoạt nh làng xã Việt Nam Lời mở đầu bản hơng ớc ghi:
“Nớc có pháp luật nhà có châm quy”, một kiểu với bản hơng ớc của làng DơngLiễu ở Sơn Tây, lập năm 1739, đời Lê “Nớc có pháp luật quy định, dân có điều -
ớc riêng”
Trang 7Gia Định thành thông chí, hoàn tất vào đầu Minh Mạng, ghi: “Mỗi làng códựng một ngôi đình, tuỳ làng cúng tế hàng năm vào tháng giêng, hoặc tháng 8,tháng 9 hoặc vào ba tháng cuối năm Làng nào có ngời học thức thì nhân ngày ấygiảng quốc luật và hơng ớc, và báo cáo về tình hình thâu thuế, bầu cử và bàn giaogiữa hơng chức cũ và mới Làng không đình, làm sao trọn vẹn ý nghĩa truyềnthống” [3]
Làng xã nơi đâu trên thế giới hoặc Việt Nam, tựu trung lại, đều giống nhau
ở chỗ tính cộng đồng rất cao Vì vậy, xét về mặt từ nguyên học, từ tiếng Anh
“commune”, hoặc tiếng Pháp “commune” có nghĩa nguyên gốc là “cộng đồng”.Chẳng hạn, từ điển “Le petit Larousse” có định nghĩa xã nh sau: “Collectivitéterritoriale administrée par un maire assisté du conseil municipal”
Nhiều công trình nghiên cứu về sử học, nhân chủng học, đã chỉ rõ tínhcộng đồng là đặc thù quan trọng của các tập đoàn ngời từ khi rời bỏ cách sốngtheo kiểu “vợn ngời” ở miền Bắc nớc ta, đặc thù này còn để lại dấu ấn đậm nétqua hình ảnh: “luỹ tre làng bao bọc”, nhằm không những chỉ tạo ra quan hệ tơngtrợ để cùng nhau khắc phục sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên mà còn để đối
đầu với “ngời khổng lồ phơng Bắc” và các lân bang ở phía Nam, nh đã nêu trên,
do cảnh rừng và sông nớc mênh mông, làng mới có vào thời khai hoang, đợc nhàvăn, nhà nghiên cú Sơn Nam mô tả rất đặc sắc nh sau: “Nhà không rào, làngkhông luỹ tre, con ngời khẩn hoang cần có sự tơng trợ đùm bọc với nhau Đấthoang còn cha có ngời khẩn, hoặc cha khẩn tới mức Nhân công thiếu” [3]
Đại Nam Nhất Thống Chí ghi: “Con trai chuyên nghề nông, đánh cá Congái chăm việc canh cửi, có khi kiêm nghề buôn bán Hạng tuấn tú chuyên theo
đèn sách, hạng khoẻ mạnh chuyên theo kỹ nghệ, khuôn dệt đúng phép, làng lụabắt bông hoa tinh xảo có tiếng, phong tục thuần mà rộng rãi Ưu đãi khách màkhông sợ tốn phí”
1.2- lịch sử ra đời của ngân sách x ở việt namã
Theo nhà sử học Lê Văn Lan, ngân sách xã ở Việt Nam có quá trình pháttriển rất lâu đời
Bản “hơng ớc” của làng Phú Thôn, tổng Phú Lão, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam
Định ngày trớc ghi: “Nớc có thuế nớc, nh thuế đinh, điền, môn bài, để chi côngviệc công ích trong nớc Dân phải đóng thuế ở dân, nh: thuế trâu, bò, ngựa, nhàcửa, để lo công việc cho dân” (Trong câu văn cổ này, thuật ngữ và khái niệm
“dân” chính là dùng với làng xã)
Đó chính là một “tuyên ngôn” cho sự ra đời và tồn tại ngân sách xã trongxã hội và văn minh làng xã ngày xa Với lý do: Làng xã là một đơn vị có tính tựtồn - tự trị - tự quản cao, nên cũng cần phải có quỹ làng xã, sự ra đời và sự tồn tại
‘ngân sách xã” là hiển nhiên và thành một tất yếu truyền thống, không nhữngkhông thể phủ định - phủ nhận mà còn hằn nếp lại - dới nhiều hình thức - trongthiết chế làng xã các đời sau Vấn đề bây giờ là nhận diện các đặc trng của quỹlàng ngày xa, để xem có những gì bảo lu trong vấn đề ngân sách xã, ngày nay nói
Trang 8riêng, cũng nh trong nếp sống - nếp nghĩ làng xã, nói chung với các hình thức
“quỹ làng” bây giờ
Đặc trng nổi nét là tính tuỳ tiện, gắn bó và nằm ngay trong một thuộc tínhlớn của văn minh làng xã, vốn là sản phẩm của lối sống và c dân nông nghiệptruyền đời: “cha ăn bữa sáng đã lo bữa tối” - cái lo nghĩ - lo toan của dân làng xãthờng chỉ đến mức nh thế cho nên “giật gấu vá vai”, “đợc chăng hay chớ”, “chín
bỏ làm mời” là những chuyện thờng hằng Vì thế, về phơng diện tạo nguồn choquỹ làng qua các đời, do “Sống ở làng, chết ở làng”, nên xoay sở đủ cách “trămdâu đổ đầu tằm”, ngời xa cũng chỉ quẩn quanh một số phơng sách mà ngay cả
đến khi cố định đợc thành “lệ làng” (tức “hơng ớc”, “khoán ớc” ) chặt chẽ, ráoriết, cũng chủ yếu là phạt vạ Đáng chú ý là do kinh tế hàng hoá kém phát triển,nên bằng cách phạt (vạ) để đa đầu vào cho “quỹ làng” (và cũng tiện cho cách sửdụng nguồn thu theo phong tục của văn minh làng xã cổ truyền), thấy cùng vớiloại tiền tệ cổ, rất phổ biến là hiện vật, đặc biệt là thức ăn, đồ uống Khoán ớclàng Phú Cốc, Thanh Oai, Hà Tây ghi: “ai chửi mắng nhau phạt gà rợu và 3 mạchtiền” Cũng về “tội” này, làng Mộ Trạch (Hải Dơng) quy định: nặng thì phạt mộttrâu giá 5 quan 2 mạch, nhẹ thì phạt một lợn giá 1 quan (Hơng ớc làng Mộ Trạchlập năm 1772) Còn lý do để bị phạt vạ thì vô vàn, miễn là nó tuỳ tiện góp đợcvào việc thu quỹ cho làng: “gặp hoạn lạc mà ngời làng bỏ đi, không giúp đỡ dân,khi trở về, bị phạt 20 quan tiền” (Hơng ớc làng Quỳnh Đôi - Nghệ An, lập năm1802); “có ngời làng khác vào làng mình để tìm hoa màu mà họ bị mất trộm, aikhông cầm gậy ra đánh mạnh theo hiệu lệnh, bị phạt 1 quan tiền (Hơng ớc làng
Đông L, Hà Tây, lập năm 1774)” Trong làng có kẻ phạm lỗi, đến khi làng cóviệc ăn uống, ai để phần cỗ cho kẻ vi phạm đó, bị phạt 3 quan tiền (Hơng ớc làngDơng Liễu, Hà Tây, lập năm 1691)
Thu đã vậy, mà chi cũng càng tuỳ tiện Một số làng xã dùng quỹ làng đểtrả lơng cho các chức dịch, nhng mỗi làng trả một cách: làng Hành Thiện (Nam
Định): Lý trởng 24 đồng/năm, Phó lý-Th ký-Thủ quỹ 12 đồng/ năm; làng DơngXá (Gia Lâm): Lý trởng 50 đồng/ năm, phó lý 12 đồng/năm; làng Phù chuẩn(Bắc Ninh): Lý trởng 18 đồng/năm, phó lý 15 đồng/năm Nhiều làng có khoán ớc
sử dụng quỹ làng để khen thởng, nhng việc khen thởng này cũng rất tuỳ tiện.Làng Lộc D, (Thừơng Tín, Hà Tây) quy định: ngời nào tố cáo việc cờ bạc tronglàng đợc thởng 6 mạch tiền; làng Mộ Trạch (Hải Dơng) thởng cho ngời tố giác kẻ
ăn trộm 2 quan tiền; làng Kiều trì (Hà Tây) thởng 7 quan tiền cho cả phiên tuần,nếu trong nhiệm kỳ không để xảy ra trộm cắp; làng Yên Sở (Hà Tây) cấp cho ng-
ời đánh cớp, nếu bị chết: 100 quan tiền đen, nếu bị thơng nặng: 50 quan, bị
th-ơng nhẹ: 10 quan Còn phần lớn quỹ làng thì thờng ở đâu cũng dùng chủ yếuvào việc ăn uống (nếu số quỹ là ít, thì cho ngay ngời đảm nhận các công việc có
kẻ vi phạm hởng; còn nếu có nguồn thu lớn thì “cả làng” (có nơi, làng là cácchức dịch, có nơi làng là toàn thể nam giới) đợc “ăn vạ”)
Cùng với tính tuỳ tiện, thì tính hà lạm cũng là dấu hiệu đặc trng của “quỹlàng” ngày xa, và điều này cũng nằm ngay trong mặt trái của cái gọi là tinh thầndân chủ; trong “Văn minh làng xã cổ truyền” công trình nghiên cứu của giáo sCao Văn Biền về làng xã thời cận đại, đã cho biết: thực tế, đầu vào của quỹ làng
là vơ vét từ rất nhiều nguồn: ngoài phép “phụ thu lạm bổ” (thu dôi ra để dựphòng, thuế ruộng đất nói chung nộp cho nhà nớc (chỗ dôi ra đó, thuộc về quỹlàng, thì ngay đối với “Quốc gia công điền công thổ”, các làng xã cũng thờng
Trang 9xén ra một phần, đấu giá lấy tiền bỏ quỹ làng (“Làng có ruộng công ở xứ TrngNữ, cho thuê đồng niên, lấy tiền bỏ công quỹ”- Hơng ớc làng ốc Nhiêu, tổngHoà Bình, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hng Yên cũ “Làng có 5 mẫu ruộng ký tại làngThủy T, nay lấy ra bán đấu giá để sung công”- Hơng ớc làng Thờng Sơn, tổngThuỷ T, huyện Thuỷ Nguyên, tỉnh Kiến An cũ ); còn đối với loại “bản xã công
điền công thổ” thì các làng xã đều sử dụng nh một thứ tài sản riêng để cho thuêlấy tiền bỏ quỹ làng Ngoài những khoản thu nh thế, ngoài khoản thu về phạt vạ,quỹ làng còn vắt lấy từ nguồn cheo (“cheo nội”, “cheo ngoại”): “Lấy chồng tronglàng, phải nộp cheo 1 đồng, một mâm xôi, một con gà, hai chai rợu, 100 khẩutrầu; gả chồng cho ngời làng khác, nộp cheo 5 đồng, còn sửa lễ cũng nh ngờitrong làng Tiền ấy để sung vào công quỹ”- Hơng ớc làng An Xá, tổng ĐanTràng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dơng Thu từ lệ “Khao vọng” (“tiền chiếtcan”) “Trong làng có ngời nào thi đỗ có văn bằng cử nhân chữ Tây và ngời cóquan hàm ra làm quan, thì biện (tiền chiết can) là 100 quả cau, 1 chai rợu để lễthần trình dân và nộp 30 đồng để sung công” - Điều 187, Hơng ớc làng Liêu Xá,
Mỹ Hào, Hng Yên) thu từ lệ phí bán danh các chức sắc, ngôi thứ trong làng “khi
có việc công ích phải chi tiêu thì hơng hội có thể bán vị thứ để lấy tiền chi dùng”(Hơng ớc làng Liêu Hạ, Mỹ Hào, Hng Yên)
Từ rất nhiều nguồn thu nh thế, vấn đề đặt ra là: ai sẽ sử dụng quỹ làng? Dĩnhiên, trên danh nghĩa, thì đây là việc công của làng Các văn bản xa cũng thờnghay dùng chủ ngữ “dân” ở chỗ này ( “Dân cho ngời ngoài làng đến ở (tại khu đất
ở đầu làng) đồng niên lấy mỗi lô là 3 đồng” (Quy định của làng Phú Thọ); “Dânlấy mỗi sào 1 đồng (tiền bỏ thầu 27 mẫu 9 sào hoang thổ)” - Quy định của làng
Hà Tây ) Nhng trên thực tế, thì toàn bộ quỹ làng xa đều do bộ máy quản trịlàng (chức sắc, chức dịch) thao túng, nếu không phải là nuốt gọn Những kẻ nắmquyền ở làng xã này là ai? Trớc đây, từ một cái nhìn giản đơn, nhiều ngời chorằng đó là những kẻ “hào phú’ (nhà giàu) trong làng (“quyền lực kinh tế”) Gần
đây, công trình nghiên cứu về “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ”Của giáo s Trần Từ đã cho thấy một thực tế uyển chuyển và phức tạp hơn: nhữngngời nắm quyền điều hành công việc làng xã, do đó, hởng dụng - chiếm dụngquỹ làng, thơng lại ở tầng lớp trung gian (“Trung nông”) - những kẻ khôn khéolinh hoạt, biết “đi dầy” giữa một bên là dân làng, và một bên là tầng lớp phú hào,
để trục lợi Học giả Pháp (Philippe Papin) nghiên cứu đề tài “Làng xã ở Hà Nội
và vùng phụ cận” cũng thấy nh vậy và còn chứng minh rằng đó là do chế độ dân
cử và chính quyền cấp cao hơn “tri huyện” thơng thoả hiệp chứ không can thiệpvào việc dân cử này
Tính “dân chủ làng xã” - đặc trng quan trọng của văn minh làng xã, ở đây
có “mặt trái”của nó, nếu không phải là “con dao hai lỡi” Ngời chịu chém cắt ở
đây, nếm vị đắng “mặt trái cái mề đay” không ai khác hơn, chính là nhân dânlàng xã
Đối với tình hình tiêu cực nghiêm trọng của “quỹ làng” ngày xa nh thế,lịch sử cho thấy đã có những ứng xử gì ?
Từ trong nội bộ làng xã và văn minh làng xã, phát huy mặt phải của tính
“dân chủ” làng xã, thấy cũng có đấy những cố gắng để hạn chế những lạm quỹlàng và điều này cũng đợc ghi vào bản hơng ớc (“Ai cỡng hiếp dân chúng, yêusách trong kỳ thu thuế, phu) (kẻ đó bị phạt 10 quan tiền cổ và bị xoá bỏ ngôi thứ
Trang 10ở đình”) ( Hơng ớc làng Dơng Liễu); “khi thu thuế ai đòi hỏi yêu sách thêm, thìngời ấy chết làng không đến đa tang” (Hơng ớc làng Quỳnh Đôi); “Ai lấy tiềnthuế làm của riêng, hay tiêu lạm, phải trả lại và bị phạt 10 quan” (Hơng ớc làngdơng Liễu); “Xã trởng, giáp trởng thu lạm tiền từ 1 quan trở lên, phạt 3 quan tiền
có khoảng 600 làng (cha đến 10%) thuộc diện 500 suất đinh trở lên Vì thế vănbản năm 1927 quy định thêm, không chỉ căn cứ vào số đinh (500 trở lên) mà còncăn cứ vào múc thu (500 đồng trở lên) buộc làng xã trong diện phải có sổ thu chi.Tuy vậy trên thực tế, ngời ta không tìm thấy một quyển sổ nào nh thế cả
Trong thời Pháp thuộc, ngân sách xã ở là một bộ phận hợp thành của hệthống ngân sách đợc hình thành khá hoàn chỉnh và nó đóng vai trò cực kỳ phản
động trong việc vơ vét của cải thuộc địa và nô dịch nhân dân ta (các bộ phận cònlại là: a/ Ngân sách Đông Dơng và các ngân sách phụ thuộc của nó là: ngân sách
đặc biệt về tiền vay nợ và ngân sách riêng của sở hoả xa; b/ Ngân sách các xứbên trong liên bang: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao, Cao Miên và QuảngChâu Văn (Một vùng đất Trung Quốc dới quyền uỷ trị của Pháp trong 99 năm);c/ Ngân sách các tỉnh và thành phố)
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến ngày ký hiệp định Geneve tháng7/1954, các nghiên cứu về lịch sử tài chính đều có chung nhận định rằng: là một
bộ phận hợp thành của hệ thống ngân sách, “ngân sách xã cũng góp phần quantrọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam Từkhi có Điều lệ ngân sách xã ban hành ngày 8/5/1972, ngân sách xã đã thực sựquản lý theo luật lệ thống nhất của nhà nớc, góp phần quan trọng trong sự nghiệpgiải phóng miền Nam, xây dựng miền Bắc XHCN Sau ngày giải phóng, sau mộtthời gian khá dài vẫn tiếp tục duy trì chế độ quản lý theo cơ chế cũ, với sự ra đờicủa nghị quyết số 138 - HĐBT ngày 19/11/1983, hệ thống ngân sách nhà nớckhẳng định bao gồm bốn cấp: trung ơng, tỉnh, huyện, xã Nhiều địa phơng thựchiện tốt công tác lập và chấp hành tốt ngân sách xã kiểm soát đợc mục đích vàkhối lợng các khoản chi tiêu của chính quyền xã Một báo cáo cho thấy: tính đếnnăm 1993, có khoảng 8.000 xã đã xây dựng đợc ngân sách, quy mô thu, chi ngânsách xã tăng nhanh, đợc công nhận cấp ngân sách, chỉ còn khoảng 786 xã là đơn
vị dự toán Số xã biết quản lý ngân sách xã khá, có phơng hớng cụ thể ngày mộttăng (ớc trên 12%) Ngân sách xã đảm bảo chi tiền lơng và sinh hoạt phí, phụ cấp
hu trí cho khoảng 550.000 ngời làm việc và công tác tại xã và chi thờng xuyên vềnghiệp vụ phí, công tác phí, mua sắm tài sản và chi sự nghiệp văn xã Các xã đãgiành khoảng 30% tổng số chi ngân sách cho việc đầu t xây dựng trụ sở, trờnghọc, trạm y tế, nhà văn hoá, đờng liên thôn Tại thời điểm đầu năm 1993, ở xã đã
có cơ sở vật chất khá lớn, tuy chất lợng chỉ mới đáp ứng đòi hỏi những việc phục
Trang 11vụ cấp thiết với 8.616 trụ sở, 13.855 trờng phổ thông cơ sở, 41.292 lớp mẫu giáo,nhà trẻ, trên 8.000 trạm y tế, nhà hộ sinh, 650 nhà và 350 phòng văn hoá, 3640chợ, hàng chục vạn km đờng liên thôn, hàng nghìn km đờng dây điện
Chi ngân sách xã đã đảm bảo duy trì hoạt động của ngành giáo dục, y tế
đạt đợc một số kết quả nhất định, 54,7% số cán bộ y tế xã và 40,7% số cô nuôidạy trẻ đã đợc ngân sách xã chi lơng và sinh hoạt phí theo mức quy định của nhànớc Điều này cho thấy, trớc khi có luật NSNN, ngân sách xã đã có một vai trònhất định trong việc phát triển nông thôn và đẩy mạnh quá trình đô thị hoá ở ViệtNam.[8]
1.3- vai trò của ngân sách x đối với phát triển nôngã
thôn ở việt nam
1.3.1- Xây dựng ngân sách xã vững chắc là điều kiện quan trọng trong quá trình xây dựng nông thôn mới, giảm sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị
Theo Hiến pháp năm 1992, hệ thống các đơn vị hành chính hiện nay đợc tổchức nh sau:
- Nớc chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng;
- Tỉnh chia thành huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Thành phố trực thuộc trung ơng chia thành quận, huyện;
- Thành phố thuộc tỉnh chia thành phờng;
- Thị xã chia thành phờng, xã;
- Quận chia thành phờng;
- Huyện chia thành xã, thị trấn
Trong hệ thống nói trên, xã là đơn vị hành chính cơ sở, có vai trò đặc biệtquan trọng; điều đó đợc giải thích nh sau:
- Xã không chỉ là nơi mà ngời dân sống trong cộng đồng này gắn bó vớinhau bằng quan hệ ruột thịt, bằng truyền thống tơng thân tơng ái mà còn là nơitrực tiếp sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội
- Khi bàn đến xã, ngời ta hình dung đến hình ảnh nông thôn Việt Nam cònqúa cách xa về trình độ phát triển so với thành thị - nơi mà bằng với cơng lĩnhcủa Đảng đợc khẳng định ngay từ đầu, cần đợc đầu t và phát triển để tiến tới mộtngày mai tơi sáng, cùng sánh bớc với thành thị trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa
Để đạt đợc mục tiêu nói trên, các cấp xã phải có ngân sách đủ mạnh để
điều chỉnh các hoạt động ở xã đi đúng hớng, góp phần thực hiện mục tiêu pháttriển kinh tế của Đảng và Nhà nớc Ngân sách xã, đợc xác định là có vai trò quantrọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nông thôn, đặc biệt đốivới các khu vực có nhiều tiềm năng nh Minh Hải chẳng hạn
Minh Hải là một vùng đất còn non trẻ, đợc khai phá muộn, cơ sở vật chấtcha đợc xây dựng là bao, tiếp theo là chiến tranh kéo dài, khu vực nông thôn hầu
Trang 12nh bị hoang phế Khi hoà bình lập lại, làn sóng di dân trở về nông thôn tăngnhanh Tốc độ khai khẩn đất hoang đợc đẩy nhanh, diện tích đất nông nghiệptăng dần, sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản tăng vọt, thúc đẩy nền kinh tế của tỉnhphát triển mạnh vào những năm đầu sau giải phóng Tuy vậy, sự phát triển theochiều rộng đó đã dẫn đến hậu quả:
- Rừng bị chặt phá nặng nề, nhằm mục đích khai thác lâm sản, lấy đất làmruộng, nuôi tôm Điều này làm ảnh hởng đến sản xuất, và tài nguyên cũng bị cạnkiệt Đồng thời, làn sóng di dân từ thành thị về nông thôn và di dân từ các tỉnhkhác đến để khai mở đất hoang đã làm cho dân số ở khu vục nông thôn tăngnhanh có tính chất cơ học, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu ngời giảm,
đẩy nhanh tiến trình nghèo khó, tạo gánh nặng cho việc giải quyết các vấn đề xãhội và phát triển kinh tế khu vực nông thôn
- Điều kiện tự nhiên: Minh Hải là vùng đất thấp, nền đất yếu, nhiều kênhrạch, đất bùn do bồi đắp tự nhiên, nên việc đầu t phát triển kinh tế hạ tầng rất khókhăn, đòi hỏi nhiều chi phí lớn Bên cạnh đó có khả năng đầu t từ ngân sách vàocác năm sau giải phóng lại ít, nên từ đó cơ sở hạ tầng nông thôn rất yếu kém, trớchết là hệ thông giao thông đờng bộ, điện, nớc sinh hoạt, trụ sở, trờng học, trạmxá Sự cách biệt về tốc độ phát triển và đời sống giữa nông thôn và thành thịngày cũng một tăng
Từ khi thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và nhà nớc, nguồn tài chính
đầu t hạ tầng cấp xã tiếp tục bị giảm sút, nên việc hỗ trợ sản xuất nông dân kém
đi
Trớc đây công việc nghiên cứu và phát triển khuyến nông, cung ứng máykéo, tín dụng, cơ sở phúc lợi: đờng xá, trạm xá, trờng học, do hợp tác xã đứng ralàm, nay chuyển sang kinh tế thị trờng, các hợp tác xã bị giải tán một cách tựnhiên, kéo theo sức hỗ trợ vào đầu t và hỗ trợ sản xuất nông nghiệp không còn.Còn các hàng hoá nông sản trớc đây đợc các doanh nghiệp nhà nớc hỗ trợ bằngcách thu mua và chế biến tiêu thụ, sau này do chỉ thấy lợi ích trớc mắt và cục bộtrong cơ chế thị trờng nên nhiều doanh nghiệp nhà nớc bây giờ chỉ trợ giúp cầmchừng đối với khu vực nông thôn
Mặt khác, cũng cần thấy rằng do thiếu sự định hớng nên cơ cấu chi NSNNtrong giai đoạn chuyển đổi kinh tế bớc đầu cũng rơi vào chỗ bất hợp lý, chỉ thiênvào đầu t cho khu vực thành thị, đến việc chế biến nông sản nhiều hơn là khâunuôi trồng ở nông thôn, thiếu quan tâm phát triển khu vực nông thôn; kết quả là
sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn ngày một nhiều hơn nữa
Để giải quyết vấn đề trên, chơng trình phát triển đến năm 2000 của tỉnhMinh Hải đã đặt ra các kế hoạch và chính sách hỗ trợ cho phát triển nông thônnh: phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, chính sách xoá đóigiảm nghèo, đầu t cơ sở hạ tầng cho nông thôn, bình ổn giá thu mua nông sản,khuyến nông từ nguồn ngân sách nhà nớc, mở rộng tín dụng nông thôn Tuy vậyvấn đề bức xúc và quan trọng hơn cả dễ dàng nhận thấy là: làm thế nào có nguồntài chính tại chỗ để giải quyết tình trạng kém phát triển của nông thôn Minh Hải.Bởi vì, bất cứ nguồn tài trợ bên ngoài nào cũng không thể không thông qua yếu
tố bên trong để phát huy Bởi vậy xây dựng ngân sách xã vững chắc là một yếu tố
Trang 13quan trọng trong quá trình xây dựng nông thôn mới, giảm sự cách biệt giữa nôngthôn và thành thị ở Minh Hải Vai trò ngân sách đợc thể hiện qua các nội dungtiếp theo đây:
1.3.2- Ngân sách xã là công cụ tài chính quan trọng để chính quyền xã thực hiện mọi chức năng nhiệm vụ đợc giao.
Quản lý nhà nớc ở cấp trung ơng là quản lý toàn diện mọi mặt, mọi lĩnhvực của cả nớc Quản lý nhà nớc của chính quyền địa phơng là quản lý các mặtchức năng, nhiệm vụ đợc quy định phân giao trên địa bàn lãnh thổ Quản lý nhànớc ở cấp xã là quản lý về mặt dân sinh, kinh tế, văn hoá, xã hội và trật tự trị an ởxã Từ lâu nay, việc phân định chức năng của các cấp cha đúng đã làm nảy sinhtình trạng có nhiều cấp chính quyền làm kinh tế Phải xác định lại, xã không làmkinh tế, nhng công việc về xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển văn hoá xã hội,
đảm bảo trật tự an toàn ở nông thôn là những vấn đề quan trọng, đòi hỏi phải
có bộ máy quản lý và ngồn tài chính tơng xứng để thực thi chúng
Công việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội là nhiệm vụ cực kỳ quantrọng của chính quyền xã, nhằm mục đích phát triển kinh tế, đẩy mạnh giao luhàng hoá, góp phần to lớn vào việc khai thác tiềm năng và thế mạnh, thúc đẩyxoá bỏ phơng thức cổ truyền, tự cung tự cấp dẫn đến hình thành nền kinh tế hànghoá phong phú, đa dạng và phát triển kích thích áp dụng kỹ thuật và công nghệmới ở nông thôn, từ đó tạo tiền đề để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohớng nông-công nghiệp hiện đại
Xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông thôn đòi hỏi vốn đầu t lớn, vốn này có
đặc điểm là thời hạn thu hồi chậm, thậm có khi không thu hồi đợc vốn đầu t,
nh-ng hiệu quả kinh tế manh-ng lại cho xã hội rất cao.Chính vì vậy mà kinh tế t nhânkhông thể tham gia vào công việc này mà ngợc lại chỉ có ngân sách nhà nớc mới
có thể đầu t cơ sở hạ tầng ở nông thôn Xã là cấp chính quyền cơ sở, là nơi tiếpnhận sự chỉ đạo, đầu t từ đơn vị hành chính cấp trên Mặt khác xã có tính độc lập
và khép kín nhất định về nhiều mặt và tính tự quản, ví dụ nh hệ thống đờng giaothông nội bộ, thuỷ nông nội đồng, nhà trẻ, mẫu giáo, công trình phúc lợi côngcộng ở xã chủ yếu do đảm nhận với sự đóng góp sức ngời sức của nhân dântrong xã, để phục vụ trở lại cho nhân dân trong xã đó Chính vì vậy mà phơngthức đầu t cơ sở hạ tầng ở nông thôn phải đa dạng và vận dụng triệt để mọi nguồnngân sách nhà nớc, nhân dân đóng góp tuỳ theo điều kiện thuận lợi của từng xã.Một phơng thức phổ biến có hiệu quả hiện đang phát huy hiệu quả tích cực: “Nhànớc và nhân dân cùng làm” để giải quyết tốt các vấn đề: “thuỷ lợi, điện, đờng, tr-ờng, trạm”
- Ngân sách xã đóng vai trò to lớn trong việc phát triển nền văn hoá đậm
đà bản sắc dân tộc Hoạt động văn hoá, văn nghệ thể dục - thể thao là những hoạt
động nâng cao sức khoẻ , vui chơi, giải trí, mà con dịp để tập hợp dân Cuộc sốngcàng ổn định và đi lên thì những đòi hỏi về mặt này càng cao, càng nhiều hơn.Phát huy vai trò của ngân sách xã đối với sự nghiệp phát triển các kết cấuhạ tầng và hạ tầng xã hội đi liền với thúc đẩy kinh tế và phát triển văn hoá - thểthao, sẽ thúc đẩy hình thành các trung tâm thị tứ, thi trấn mới, điều đó sẽ thúc
đẩy quá trình thành thị hoá nông thôn, hạn chế dần sự phát triển cách biệt giữanông thôn và thành thị
Trang 14Việc phát triển trờng lớp, giải quyết nạn mù chữ cùng với phát triển của cácphơng tiện truyền thông, truyền hình và các phơng tiện thông tin khác là chìakhoá để nâng cao dân trí và tạo ra sự liên hệ, giao tiếp mới, góp phần loại trừ hủtục và nâng cao đời sống văn hoá ở nông thôn.
Tài trợ thích hợp cho sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, phát thanh truyềnhình, câu lạc bộ nhà văn hoá đợc xem là chìa khoá để nâng cao dân trí, hớngnghiệp cho thanh niên, cung cấp thông tin khuyến nông và thi trờng cho nôngthôn; tao ra sự liên hệ, giao tiếp mới, góp phần tăng khả năng sản xuất, bán cácsản phẩm hàng hoá dich vụ và nâng cao đời sống văn hoá của nông thôn
- Phát triển các kết cấu hạ tầng và hạ tầng xã hội, đi liền với thúc đẩy kinh tế
và phát triển văn hoá - thể thao, sẽ thúc đẩy hình thành các trung tâm thị tứ, thịtrấn mới, điều đó sẽ thúc đẩy quá trình thành thị hoá nông thôn, hạn chế dần sựphát triển cách biệt giữa nông thôn và thành thị Cũng từ đó phát sinh phong phúnhiều nguồn tài chính thu ngân sách nhà nớc trên địa bàn ngày càng tăng, quymô thu, chi ngân sách xã ngày càng giữ vị trí quan trọng trong hệ thống ngânsách nhà nớc và nền kinh tế quốc gia Chính sách tài chính, đặc biệt là chính sáchngân sách nhà nớc có mối quan hệ hữu cơ với sự phát triển nông thôn nói chung,
ở Minh Hải nói riêng Xây dựng cơ chế quản lý ngân sách xã thích hợp trongtừng giai đoạn có ý nghĩa quan trọng đến việc tạo điều kiện, thúc đẩy sự pháttriển nông thôn, giảm bớt sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn
1.3.3- Ngân sách xã là công cụ tài chính quan trọng để chính quyền nhà nớc cấp xã điều chỉnh các hoạt động ở xã đi đúng hớng, thu hút vốn đầu t phát triển kính tế - văn hoá - xã hội ở xã.
Chính quyền cấp xã cũng nh chính quyền các cấp khác nói chung đều sửdụng các công cụ: pháp luật, kế hoạch, hành chính, tài chính để điều chỉnh cáchoạt động nhằm hớng đến mục tiêu ổn định và phát triển Trong lĩnh vực tàichính thì ngân sách là công cụ tài chính quan trọng nhất
Thông qua thu ngân sách, chính quyền xã thực hiện kiểm tra, kiểm soát,
điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ đi đúng hớng theo kếhoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phơng trong từng giai đoạn nhất thời
Đồng thời, thông qua công tác thu thực hiện việc chống các hành vi hoạt độngkinh tế phi pháp, trốn lậu thuế và các nghĩa vụ khác Thu ngân sách xã là nguồnchủ yếu để đáp ứng các nhu cầu chi thờng xuyên, đầu t cơ sở hạ tầng ngày càngphát triển ở xã
Thông qua chi ngân sách, xã bố trí các khoản chi để đảm bảo tăng cờnghiệu lực và hiệu quả các hoạt động của chính quyền về quản lý pháp luật, giữvững trật tự trị an, bảo vệ tài sản công cộng, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân
và các tổ chức kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu t phát triển sản xuất, kinhdoanh phục vụ trên địa bàn xã, thu hút vốn đầu t từ bên ngoài, quản lý mọi mặthoạt động kinh tế, văn hoá, thực hiện các chính sách xã hội và tăng cờng cơ sởvật chất cho xã nh trụ sở và phơng tiện làm việc, trờng học, nhà trẻ, lớp mẫu giáo,nhà văn hoá, đờng, cầu cống liên ấp, trang thiết bị công cộng
Bố trí các khoản chi ngân sách xã phải đợc kết hợp chặt chẽ với kết quảquản lý, sử dụng nguồn kinh phí này, nếu không sẽ làm hạn chế hiệu lực và hiệuquả các mục tiêu đề ra
Trang 151.4- tổ chức và quản lý ngân sách x ở một số nã ớc cókinh tế thị trờng phát triển.
Kinh nghiệm thế giới cho thấy không phải bất cứ nớc nào cũng có ngânsách xã và điều chắc chắn hơn cả là nếu tồn tại ngân sách xã ở các nớc khác nhauthì nội dung, mục tiêu, phơng pháp tổ chức và quản lý ngân sách xã lại khônggiống nhau; bởi lẽ tổ chức và quản lý ngân sách xã phụ thuộc vào 2 yếu tố có mốiquan hẹ chặt chẽ với nhau: tổ chức quản lý hành chính quốc gia và tơng ứng với
nó là yếu tố: phân cấp ngân sách
Về mặt lý thuyết, vấn đề phân cấp ngân sách có thể thực hiện theo hai
ph-ơng án với hai quan điểm hoàn toàn trái ngợc nhau:
Phơng án thứ nhất dựa trên quan điểm coi NSNN là một thể thống nhất vàduy nhất, do chính phủ trung ơng quản lý và quyết định việc sử dụng với ý nghĩa
đó, khái niệm “phân cấp ngân sách” và “ngân sách địa phơng hoàn toàn bị phủnhận Thay vào đó, là khái niệm “phân cấp quản lý NSNN”, nghĩa là chính phủtrung ơng chỉ phân giao nhiệm vụ quản lý một số nghiệp vụ nhất định trong hoạt
động của NSNN cho chính quyền địa phơng
Phơng án thứ hai, dựa trên quan điểm ngợc lại, cho rằng mỗi cấp chínhquyền nhà nớc phải có ngân sách riêng độc lập trong hệ thống NSNN thống nhất
Nh vậy, bên cạnh ngân sách trung ơng do chính phủ trung ơng quản lý và quyết
định sử dụng, vẫn cần thiết tồn tại ngân sách địa phơng do chính quyền địa phơngcác cấp quản lý
Phơng án thứ hai đợc nhiều nớc áp dụng, bởi lẽ nó vừa đảm bảo sự tập trungcác nguồn lực tài chính vào tay chính phủ trung ơng để thực hiện các chức năng
và nhiệm vụ của chính phủ ở tầm vĩ mô nhng vẫn đảm bảo phát huy đợc quyềnchủ động và sáng tạo của chính quyền địa phơng trong việc thực hiện các chínhsách kinh tế - xã hội ở địa phơng
Dới đây, chúng ta xem xét một số kinh nghiệm về phân cấp ngân sách một
số nớc tiêu biểu: CHLB Đức (nớc theo thể chế liên bang), Nhật bản (nớc theo thểchế phi liên bang), Malaysia (đại diện cho các nớc đang phát triển ở khu vực) đểqua đó thấy đợc đặc điểm về mặt tổ chức và quản lý ngân sách xã
a Phân cấp ngân sách ở CHLB Đức
CHLB Đức là một quốc gia theo chế độ dân chủ lập hiến Theo hiến pháp,CHLB Đức có ba cấp hành chính: Liên bang, tiểu bang (16 tiểu bang) và cấp xã
(khoảng 16.000 xã) Theo điều 30 của Hiến pháp CHLB Đức, quyền lực của nhà
nớc nằm ở Liên bang và tiểu bang, mỗi cấp có chức năng riêng của nó Điều 28của nớc này cũng quy định rõ các xã có quyền giải quyết các nhiệm vụ của mìnhdới sự chỉ đạo của chính phủ bang Mỗi tiểu bang đều có Hiến pháp, Quốc hội,Chính phủ và bộ máy hành chính riêng Về mặt nguyên tắc, mỗi cấp hành chínhlàm việc độc lập để thực hiện các nhiệm vụ do hiến pháp quy định Liên bang và
Trang 16các tiểu bang đều gánh chịu mọi chi phí xuất phát từ các nhiệm vụ của họ Liênbang, các tiểu bang và các xã đều có ngân sách riêng và độc lập với nhau Cácngân sách này phải đáp ứng nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế Việc phân phối sốthuế thu đợc có thể áp dụng theo 3 hệ thống phân phối nh sau:
- Các loại thuế dành riêng cho một cấp, ví dụ cho Liên bang hoặc tiểubang
- Tất cả các khoản thu thuế đa vào một quỹ rồi chia ra theo từng cấp làmột Liên bang, tiểu bang và xã
- Hệ thống hỗn hợp của các phân phối nêu trên
Năm 1991, toàn bộ số thu về thuế dự tính khoảng 650 tỷ DM đợc phân phối
nh sau:
- 48% số thu về thuế Liên bang nắm;
- 34% số thu về thuế do tiểu bang nắm;
- 13% số thu về thuề do xã nắm;
- 5% số thu về thuế nộp cho EU
Nếu nh ngân sách cấp liên bang và tiểu bang phải đảm nhận việc huy độngcác khoản thu lớn và tài trợ cho các hoạt động có tính chiến lợc và thờng xuyên ởtầm vĩ mô thì cấp ngân sách xã ở CHLB Đức chỉ chịu trách nhiệm tài trợ cho cácnhiệm vụ công cộng ở địa phơng nh hệ thống cung ứng và cung cấp dịch vụ (nớc,năng lợng điện, giải quyết ô nhiễm, bảo dỡng đờng sá) và quản lý các tài sảnkhác ở địa phơng, đồng thời cùng với tiểu bang thực hiện các nhiệm vụ về giáodục, văn hoá và đợc tiểu bang và liên bang uỷ nhiệm giải quyết khoản trợ cấp xãhội
Để giải quyết các nhiệm vụ trên, cấp ngân sách xã nhận đợc 15% tổng sốthuế tiền lơng và thuế thu nhập Đồng thời, cấp xã thu các loại thuế môn bài, thuế
đất (phải trích một phần nộp liên bang và tiểu bang) Ngoài ra cấp xã còn thu cácloại thuế lặt vặt nh thuế nớc giải khát, lệ phí mở dịch vụ ăn uống, giải trí Điều
đáng chú ý là Hiến pháp cho phép các xã hoặc tiểu bang tự quy định các khoảnthu ngoài các khoản thu của Liên bang đã quy định Tuy nhiên điều này cũngkhông dẫn đến việc tuỳ tiện, bởi vì các nhà chức trách địa phơng phải cân nhắc
kỹ càng, nếu quy định quá nhiều loại thuế thì các nhà doanh nghiệp sẽ chuyểnvốn đầu t sang xã khác hoặc tiểu bang khác để kinh doanh và đân chúng ở địaphơng bị đánh nhiều loại thuế sẽ biểu tình và không tín nhiệm bộ máy của địaphơng nữa, cho nên các nhà chiến lợc tài chính ở địa phơng phải tìm ra đợc sựcân bằng
Hiến pháp CHLB Đức đã quy định rõ tỷ lệ phân chia các loại thuế cho cấpngân sách nh sau
- Thuế lơng và thuế thu nhập :
15% cho ngân sách xã
42,5% cho ngân sách Liên bang
Trang 1742,5% cho ngân sách Tiểu bang
- Thuế doanh nghiệp
50% cho ngân sách Liên bang
50% cho ngân sách Tiểu bangNgân sách xã do tiểu bang phê chuẩn nhng việc này không có nghĩa là tiểubang can thiệp vào thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chỉ có ý nghĩa giámsát, kiểm tra điều 109 của Hiến pháp còn quy định tiểu bang hoàn toàn độc lậpvới nhau về tài chính và ngân sách Ngân sách tiểu bang do Quốc hội của tiểubang phê chuẩn, ngân sách liên bang do Quốc hội của liên bang phê chuẩn
b Phân cấp ngân sách ở Nhật
Hệ thống NSNN ở Nhật bao gồm 2 bộ phận cấu thành: ngân sách trung ơng
và ngân sách địa phơng; trong đó ngân sách trung ơng giữ vai trò chủ đạo, đảmnhận phần lớn nhiệm vụ chi và các khoản thu; còn ngân sách địa phơng cũng chiathành ngân sách tỉnh, ngân sách quận, huyện thị xã, thị trấn, xã phờng Thu củangân sách địa phơng bao gồm các khoản thuế, trợ cấp của ngân sách trung ơng vàvay qua phát hành trái phiếu địa phơng
Quốc hội Nhật Bản quy định rất rõ các loại thuế và các biểu thuế phải nộpvào các cấp ngân sách Thuế suất thờng quy định theo từng khung (có giới hạntối đa và tối thiểu) Căn cứ vào khung thuế đó, Hội đồng nhân dân các cấp quyết
định mức thu cụ thể hàng năm Ví dụ, khung thuế suất của thuế thu nhập doanhnghiệp do Quốc hội quy định là 12 - 15%, thì Hội đồng nhân dân tỉnh có thể quy
định thuế suất cụ thể là 12% hoặc tối đa là 15% Căn cứ vào quyết định của Hội
đồng, các Sở thuế địa phơng tiến hành thu thuế cho cấp mình (Trung ơng có tổngcục thuế và các cục thuế khu vực Tỉnh, huyện, xã có bộ máy thuế riêng gọi làthuế địa phơng)
Về chi, định mức chi về giáo dục, công trình công cộng, quản lý hànhchính của các cấp ngân sách đo Nhà nớc quy định thống nhất, áp dụng cho tất cảcác địa phơng căn cứ vào định mức chi của cả nớc, vào dân số, diện tích và cácyếu tố khác (số giờng bệnh, số trờng học, số viên chức ), từng địa phơng lập kếhoạch thu chi tài chính và đa ra Hội đồng nhân dân duyệt Tỉnh nào thu không đủchi thì Quốc hội có thể xem xét để tài trợ Việc tài trợ chủ yếu nhằm mục đíchthực hiện những dự án cụ thể Nếu địa phơng nào thu vợt chi, thì đợc tăng chi,nếu kế hoạch thu không đạt, phải giảm chi Khối lợng tài trợ đã đợc duyệt làkhông đổi
Trang 18Mỗi cấp ngân sách đều hoạt động dựa trên Hiến pháp và Luật pháp đã đợcquy định cho từng cấp: ngân sách liên bang thu tất cả các loại thuế của chính phủliên bang theo Hiến pháp và luật thuế của liên bang, không để lại tỷ lệ thu chongân sách các bang Các bang căn cứ vào Hiến pháp của mình, tự quyết định một
số loại thuế và thu có liên quan đến địa phơng (thuế đất, thuế thổ trạch, tàinguyên gỗ, rừng, lệ phí đỗ xe, nguồn thu cho thuê tài sản, nguồn thu hoạt độngdịch vụ nh: thu dọn rác) ở liên bang Malaysia, ngân sách địa phơng (giống nhcấp quận, huyện ở Việt Nam; nh vậy có thể coi là không có ngân sách xã ởMalaysia) đảm nhận các khoản chi:
- Chi thờng xuyên của bộ máy hành chính địa phơng
- Chi duy trì bảo dỡng cơ sở hạ tầng
- Chi cho dự án phát triển của địa phơng
Qua kinh nghiệm của nhiều nớc, có thể rút ra những đặc điểm chung vềphân cấp ngân sách tổ chức, quản lý ngân sách xã nh sau:
Một là, việc phân cấp ngân sách không thực hiện theo nguyên tắc tổng hợp
từ dới lên Ngân sách cấp dới không thể hiện vào ngân sách cấp trên và ngân sáchcấp trên không lồng ghép vào ngân sách cấp dới; có nghĩa là ngân sách các cấpkhông bao hàm lẫn nhau
Hai là, trong hệ thống ngân sách của tất cả các nớc, vai trò chủ yếu phụthuộc vào ngân sách trung ơng Chính phủ trung ơng thâu tóm các nguồn thuquan trọng nhất là đảm nhận các nhiệm vụ chi chủ yếu nhất Ngân sách trung -
ơng thờng có xu hớng thu các loại thuế thu nhập (ở các nớc phát triển thuế nàychiếm tỷ trọng lớn so với tổng số thu về thuế), phần lớn các loại thuế gián thu vàcác nguồn thu từ doanh nghiệp nhà nớc; đồng thời cũng cấp phát cho các nhu cầuchi gắn với việc thực hiện các chức năng về kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nớc
Ngân sách địa phơng, trong đó có ngân sách xã, đóng vai trò phụ thuộc:Nguồn thu của ngân sách địa phơng thờng là các nguồn thu “loại hai”, gồm cácloại thuế địa phơng, các khoản quyên góp, các khoản phụ thu và một phần quantrọng là trợ cấp của ngân sách trung ơng Ngân sách địa phơng đảm nhận đáp ứngnhu cầu chi cho bộ máy quản lý địa phơng và cho các dịch vụ công cộng (cácdoanh nghiệp dịch vụ công cộng, sửa chữa đờng giao thông, xây dựng nhà ở), chi
về giáo dục, bảo vệ sức khỏe và trợ cấp xã hội.[6]
ở các nớc có quy định ngân sách xã chính phủ đều rất coi trọng chế độquản lý ngân sách xã vì là xã địa bàn trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội
và ngân sách xã là hạt nhân cấu thành nên hệ thống NSNN Điều này đợc minhhoạ qua ý kiến của GS TS Tào Hữu Phùng, thứ trởng Bộ Tài chính, nh sau : “trong công cuộc đổi mới đất nớc, xã là đơn vị hành chính cơ sở có tầm quantrọng đặc biệt, đó không chỉ là một đơn vị hành chính về mặt nhà nớc mà còn là
“ngôi nhà chung” của cộng đồng dân c Đặc trng của cấp xã là cấp cơ sở gần dânnhất, chính quyền cấp xã là cầu nối giữa cộng đồng dân c trong xã với cơ quannhà nớc cấp trên Và ngân xã cũng có những đặc thù riêng Tính đặc thù đó thể
Trang 19hiện cơ bản ở chỗ: nguồn thu đợc khai thác trực tiếp từ trên địa bàn và nhiệm vụchi cũng đợc bố trí để phục vụ cho mục đích trực tiếp của cộng đồng dân c trongxã, mà không qua một khâu trung gian nào” [5]
CHƯƠNG 2
TìNH HìNH Và THựC TRạNG CÔNG TáC QUảN Lý NG
ÂN SáCH Xã TRƯớC YÊU CầU XÂY DựNG
NÔNG THÔN MớI ở MINH HảI
2.1- TìNH HìNH Và THựC TRạNG CÔNG TáC QUảN Lý NGÂNSáCH X ở VIệT NAMã
Theo các báo cáo gần đây nhất, cùng với những đổi thay của đất nớc, trớcyêu cầu xây dựng nông thôn mới, ngân sách xã có nhiều biến đổi tích cực, tạonguồn thu ngày càng lớn hơn, đáp ứng nhu cầu chi phong phú và da dạng đặt racho chính quyền xã Nguồn thu của ngân sách xã không ngừng tăng lên, ngoàicác khoản thu thờng xuyên, ngân sách xã đã tích cực khai thác và huy độngnguồn thu khác để phục vụ cho yêu cầu xây dựng các công trình phúc lợi xã hội
ở địa phơng Có xã nguồn thu ngân sách lên tới hàng tỷ đồng Tốc độ tăng thunăm sau đều cao hơn năm trớc do đó tốc độ tăng chi ngân sách xã cũng tăngnhanh hơn đã đáp ứng đợc phần lớn các nhu cầu chi tại xã (Năm 1994 chi ngânsách xã tăng 34,2%, năm 1995 tăng 29,6 % và năm 1996 ớc tăng 23,6% so vớinăm trớc) Điều đó cho thấy ngân sách xã đóng vai trò hết sức quan trọng trongquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xây dựng nông thôn mới ở nớc ta
Thực hiện phơng châm “nhà nớc và nhân dân cùng làm”, nhiều xã huy
động đợc nhiều nguồn vốn trong dân dới mọi hình thức bổ sung giải quyết cácnhu cầu bức bách về phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, nhà trẻ, mẫu giáo, nhàvăn hoá, đờng liên thôn, liên xã, xây dựng nhà tình nghĩa và nhiều nhu cầu khác
ở xã Các biện pháp đợc xã sử dụng để động viên và huy động nguồn thu thờng lànuôi dỡng và tạo cơ sở để thu nh xây dựng chợ, làm bến đò, cầu cống Về phíanhà nớc, trong những năm qua NSNN đã tích cực hỗ trợ cho ngân sách xã thôngqua các hình thức trợ cấp bổ sung xây dựng cơ bản và trợ cấp cân đối ngân sáchxã Số trợ cấp này là một khoản thu đáng kể trong ngân sách xã Chỉ tính riêngnăm 1996 tổng số chi ngân sách xã khoảng 3.500 tỷ đồng, trong đó khoảng 1.510
tỷ đồng do NSNN chi hỗ trợ, còn khoảng 1.990 tỷ đồng do ngân sách xã thu để
đảm bảo chi Trong đó chi trả phụ cấp cho cán bộ xã (kể cả cán bộ nghỉ việc)
Trang 20khoảng 900 tỷ đồng gấp hơn hai lần so với năm 1993 NSNN đảm bảo chi sinhhoạt phí, phụ cấp cho 452.800 cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể, cán bộchuyên môn; 192.400 cán bộ già yếu nghỉ việc và hơn 20 vạn ngời là trởng thôn,trởng bản Đó là khoản chi rất lớn trong NSNN để giúp chính quyền cấp xã thựchiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội tại địa phơng.
Tuy đã đạt đợc nhiều kết quả rất đáng khích lệ trong việc đầu t phát triểncơ sở hạ tầng ở nông thôn, thực hiện các biện pháp phúc lợi xã hội, chăm lo cácgia đình chính sách, song, ngân sách xã đã bắt đầu bộc lộ những yếu kém và hạnchế nhất định Hạn chế cơ bản là còn quá nhiều xã cha tổ chức khai thác tiềmnăng sẵn có, còn buông lỏng quản lý các nguồn thu đợc giao, để thất thu lớn.Một số xã còn tuỳ tiện đặt ra các khoản thu phí, lệ phí mang tính “lệ làng”, tráiquy định của nhà nớc, bổ bán trên đầu dân Theo thống kê thì hiện nay cả nớc cógần 10.000 xã, nhng chỉ khoảng trên 10% số xã sử dụng ngân sách có hiệu quả
Số thu trợ cấp của ngân sách cấp trên còn giữ vị trí quan trọng trong ngân sáchxã, có đến 60% số xã còn phải nhận trợ cấp cân đối ngân sách xã Các khoản chi
đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng có nhiều xã làm tốt nhờ khai thác tốt các tiềm năngtrong dân, song về cơ bản vẫn còn t tởng ỷ lại, trông chờ vào cấp trên
Về công tác lập, chấp hành quyết toán ngân sách xã có nhiều địa phơngthực hiện tốt các chế độ theo quy định của nhà nớc, tổ chức xây dựng và bảo vệ
kế hoạch kịp thời, có chất lợng, tính toán các nguồn thu tơng đối sát thực tế và bốtrí chặt chẽ từng mục chi Ngay từ đầu năm, nhiều xã đã thực hiện thu đúng, thu
đủ và phản ánh kịp thời, đầy đủ vào sổ sách báo cáo kế toán đúng thời gian quy
định Tuy nhiên, trong điều kiện còn hạn chế về nhiều mặt, công tác lập, chấphành, quyết toán ngân sách xã còn yếu dẫn đến việc quản lý quỹ ngân sách xã bịbuông lỏng, thất thoát và lãng phí, bị cá nhân lợi dụng Trên thực tế, nhà n ớc đãgiao cho xã quản lý một số quỹ và tài sản nhà nớc nhng do cha có cơ chế quản lý
cụ thể nên còn mất mát và thất thoát xảy ra phổ biến
Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân cơ bản phải kể
đến là chính quyền cấp xã và các cơ quan ở địa phơng còn cha quan tâm đúngmức đến việc tổ chức thu và bố trí chi hợp lý, dẫn đến ngân sách xã bị thả nổi.Chủ trơng “nhà nứơc và nhân dân cùng làm” cha phát huy mạnh mẽ và sâu sắctrong nhân dân Việc phân cấp quản lý ngân sách xã cha gắn bó với mục tiêukinh tế xã hội giao cho xã quản lý nhất là đối với các lĩnh vực cần huy độngnhiều nguồn lực trong dân Ngoài ra, bộ máy quản lý tài chính ngân sách xã cáccấp, ngay cả ở cấp xã cũng cha đợc quan tâm củng cố và xây dựng.[5]
2.2- tình hình và thực trạng công tác tổ chức và quản
lý thu, chi ngân sách x ở tỉnh minh hải trã ớc khi thựchiện chia tách tỉnh
2.2.1- Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Minh Hải
Minh Hải là tỉnh cực Nam của đất nớc và là một trong 9 tỉnh thuộc đồngbằng sông Cửu Long Vùng đất này đợc khai phá rất muộn màng (vào cuối thế kỷ17) và là nơi hội tụ của những ngời dân tứ xứ tìm nơi sinh cơ lập nghiệp
a- Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của tỉnh Minh Hải
Trang 21Phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh Cần Thơ, SócTrăng, phía Đông và Nam giáp biển Đông, phía tây giáp vịnh Thái Lan.
Với diện tích 7.689 km2, Minh Hải là tỉnh lớn nhất trong số các tỉnh thuộc
đồng bằng sông Cửu Long (chiếm 19,4%diện tích) và bằng 2,32% diện tích củacả nớc
Toàn tỉnh đợc chia thành 9 huyện và 2 thị xã, 93 xã, 14 thị trấn và 13 phờng.Thị xã Cà Mau là trung tâm tỉnh lỵ
Có 307 km bờ biển và cửa sông lớn nh: Bồ Đề, Gành Hào, Bảy Háp, sông
Ông Đốc Các đảo là: Hòn Khoai, Hòn Chuối Diện tích vùng biển: 86.000 km2,trong đó diện tích thăm dò khai thác: 51.000 km2 , trữ lợng cá nổi: 320.000 tấn;cá đáy: 370.000 tấn; tôm biển từ 25.000 đến 30.000 tấn, ngoài ra còn có mực, sò,cua là điều kiện thụân lợi cho phát triển việc khai thác hải sản, nuôi trồng thuỷsản, dịch vụ kinh tế biển, dầu khí mở rộng giao lu với các nớc trong khu vực
Đông Nam á và thế giới
Là vùng đất phù sa mới, đồng bằng thuần nhất, địa hình bằng phẳng trênphạm vi rộng Hớng dốc chính của địa hình là từ Đông – Bắc xuống Tây –Nam, với độ đốc từ 1 đến 1,5 cm/ km, rất thuận lợi cho việc tổ chức chuyên canhlớn, cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá Kết quả điều tra năm 1992 cho thấy Minh Hải có 4loại đất chính:
- Đất phèn: 466.000 ha, chiếm 60% diện tích tự nhiên, độ chua cao, nồng độ
độc tố nhôm, sắt và độ phì kém
- Đất mặn:257 ngàn ha, chiếm 34,5% diện tích tự nhiên, chịu ảnh hởng
n-ớc mặn biển Đông, Tây, đợc hình thành bởi dải đất ven biển và dọc dài theo các
bờ sông lớn
- Đất than bùn: 11 ngàn ha, chiếm 1,5 diện tích tự nhiên
- Đất bãi bồi: 8 ngàn ha, chiếm 1% diện tích tự nhiên, đây là vùng sinh tháimôi trờng rất quan trọng cho sinh sản, phát triển tôm, cá biển và bồi lắng mởrộng diện tích đất rừng cho minh Hải
Theo bố trí quy hoạch các vùng khả năng đất thì ở Minh Hải có:
- Đất có khả năng trồng lúa và cây hàng năm là 390 ngàn ha
- Đất trồng tràm và trồng cây công nghiệp là 124 ngàn ha
- Đất trồng rừng ngập mặn và nuôi tôm là 212 ngàn ha
Hiện trạng sử dụng đất hiệu quả còn thấp, diện tích cha sử dụng và sử dụngcha ổn định còn lớn (60.000 ha) Hệ số sử dụng đất thấp (1,02 lần) Cơ cấu nôngnghiệp và kinh tế phần lớn cha thoát khỏi độc canh và thuần nông, chăn nuôichậm phát triển, nặng về khai thác, cha có đầu t thích đáng để nâng cao hệ số sửdụng đất, giá trị tạo ra trên đơn vị diện tích thấp, công nghiệp, dịch vụ nông thôncha phát triển, lao động nông nghiệp đang dôi thừa theo mùa vụ khá lớn
Nếu đợc quy hoạch hợp lý, đầu t thích đáng từ phía nhà nớc và nhân dânthì tiềm năng đất đai ở Minh Hải còn rất lớn, cho phép mở ra hơng phát triển toàndiện nông-ng-lâm nghiệp tổng hợp
Trang 22Khí hậu ở Minh Hải là khí hậu cận xích đạo, gió mùa, với một nền nhiệt
độ cao quanh năm, và lợng ma phong phú nên rất thuận lợi cho sản xuất nôngnghiệp, lâm nghiệp
Ma là một trong các yếu tố khí hậu có ảnh hởng trực tiếp đến nền kinh tếnông nghiệp ở Minh Hải Bởi vì, ở Minh Hải thời vụ gieo cấy và chế độ canh táccòn phụ thuộc hoàn toàn vào chế độ ma hàng năm để tạo nguồn nớc nông nghiệpduy nhất trong thời gian qua Nguồn nớc trong các kênh rạch bị nhiễm mặn, phènvới nồng độ cao không thể sử dụng cho lúa và hoa màu đợc
Mùa ma ở Minh Hải bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11 hàng năm, tiếp đến làmùa khô Lợng ma trung bình dao động từ 1.900mm đến 2.000mm
Năm 1995, hệ thống thuỷ lợi Quản Lộ - Phụng Hiệp đa nớc ngọt sông Hậu
về Minh Hải hình thành, mở ra khả năng tăng vụ cho sản xuất nông nghiệpkhoảng 40.000 ha, cho phép phá thế độc tôn của nguồn nớc ma hình thành từ bao
đời đối với nền nông nghiệp Minh Hải, giúp nền nông nghiệp đợc chủ động hơn,thoát dần sự ảnh hởng của tự nhiên
Sông ngòi, kênh rạch ở Minh Hải dày đặc, đứng hàng đầu của các tỉnh
đồng bằng sông Cửu Long Tổng chiều kênh rạch lớn nhỏ có đến 10.250 km,tổng diện tích là 175 km2, chiếm 2,3% diện tích tự nhiên tạo điều kiện thuận lợicho giao thông đờng thuỷ Chế độ thuỷ văn biên độ triều lớn, độ mặn cao, sôngngòi dày đặc làm cho dễ dàng xâm nhập mặn sâu rộng trong đất liền, ảnh hởng
đến sản xuất nông nghiệp Tuy vậy, đây lại là nguồn tài nguyên quý của tỉnh đểnuôi trồng thuỷ sản, kinh doanh tổn hợp rừng ngập mặn, làm muối, trên cơ sở bốtrí hợp lý sẽ hình thành vùng dộng lực thúc đẩy kinh tế phát triển
Địa bàn tỉnh Minh Hải xa trung tâm kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật,văn hoá và thị trờng lớn, là thành phố Hồ Chí Minh, nên có nhiều trở ngại vềnhiều mặt, ảnh hởng đến sự phát triển của địa phơng Tuy vậy, giữa tỉnh và thànhphố này đã từng tồn tại, và trong tơng lai tiếp tục phát triển mối quan hệ kinh tếrất chặt chẽ, hỗ trợ, bổ sung lẫn nhau trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng vàcùng cò lợi Minh Hải là một thị trờng đối với hàng công nghệ tiêu dùng, vật tnông nghiệp, xây dựng, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp, thuỷ sảncủa thành phố Hồ Chí Minh Ngợc lại Minh Hải là nơi cung cấp lơng thực, thựcphẩm, nguyên vật liệu chế biến hàng nông hải sản cho thành phố Mối quan hệhữu cơ, trao đổi kinh tế lẫn nhau là không thể thiếu đợc, nếu không biết khaithác, phát huy và mở rộng chắc chắn sẽ làm chậm đi tốc độ phát triển của tỉnh
b- Đặc điểm kinh tế-xã hội của tỉnh Minh Hải
Dân số ảnh hởng phát triển kinh tế bởi vì với tốc độ tăng dân số quánhanh hoặc không hạn chế đợc tốc độ tăng dân số thì mức tăng trởng kinh tế sẽkhông còn ý nghĩa (các nhà kinh tế đã nêu lên mối tơng quan này là: nếu dân sốtăng 1% thì mức tăng trởng kinh tế phải lớn hơn 4%, thì nền kinh tế mới có táisản xuất mở rộng) Mặt khác, dân số nói chung và lực lợng lao động nói riêng làmột trong những nhân tố không thể thiếu trong phát triển nền kinh tế, nếu có lựclợng lao động dồi dào, đợc đào tạo có trình độ kỹ thuật, chuyên môn tốt là nhân
tố vô cùng thuận lợi trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Vấn
đề này đặt ra cho chính sách chi tiêu của chính phủ hai mặt cần giải quyết là:
Trang 23phải vừa hạn chế tốc độ tăng dân số vừa phải chăm lo công tác giáo dục, đào tạo
để sử dụng hiệu quả nhất nguồn nhân lực hiện có
*Dân số và đời sống dân c
- Dân số Minh Hải năm 1995: 1.840 ngàn ngời, nhịp độ tăng bình quân giai
đoạn 1991 - 1995: 2,45% (GDP tăng bình quân giai đoạn 1991- 1995: 7,9%) dựkiến đến năm 2000 giảm xuống còn 1,9% với dân số là 2.020 ngàn ngời
- Lao động xã hội vào năm 1995: 1.034 ngàn ngời, trong đó nông thônchiếm 72% và có đến 73,5% số hộ nông nghiệp, còn ở thành thị là: 28% Sốnhân khẩu bình quân trên hộ ở nông thôn: 5,6% Diện tích đất nông nghiệp bìnhquân hộ: 12.766 m2
- Mật độ dân số: 328 ngời/ km2, nhng phân bố không đều, tập trung sinhsống chủ yếu ở những bờ sông, kênh rạch và ven đờng giao thông
Hạn chế yếu tố của dân số và nhân lực ở Minh Hải là:
- Gia tăng dân số tự nhiên cao
Nông nghiệp và đời sống xã hội nông thôn:
Giá trị sản phẩm nông, lâm, ng nghiệp chiếm 53% cơ cấu kinh tế trong GDPnăm 1995, với tổng giá trị: 1.167,2 tỷ đồng Nhịp độ tăng bình quân hàng nămgiai đoạn 1991-1995 là: 7,05% Hớng thực hiện đến năm 2000 tốc độ tăng bìnhquân hàng năm 9,40%, với tổng giá trị: 1.872 tỷ đồng
Nhìn chung nền nông nghiệp Minh Hải vẫn còn là nền sản xuất nhỏ, cá thể
Có sự chuyển dịch ban đầu về cơ cấu cây trồng, vật nuôi: phát triển mô hình sảnxuất đa canh Nhng một số cây công nghiệp nh: mía, khóm, dừa, chuối và đànheo, gia cầm phát triển chậm do cha có thị trờng tiêu thụ ổn định
Hệ thống công trình thuỷ lợi cha hoàn chỉnh và đồng bộ Diện tích tăng vụ
ít (đông xuân và hè thu: 39.197ha trên tổng diện tích canh tác: 321.747ha năm1995), năng suất bình quân: 36 tạ/ha
Tình trạng thiếu các dịch vụ hỗ trợ ở hầu hết các lĩnh vực nh: công tácnghiên cứu, khuyến nông, cung ứng giống cây trồng vật nuôi, vật t, các phơngtiện chế biến, tiếp thị, tín dụng đã làm hạn chế phát triển nông nghiệp ở MinhHải Thực tế này đòi hỏi các dịch vụ nêu trên cần phải đợc đầu t, cải tiến và pháttriển để nâng cao hiệu quả sản xuất lúa gạo, và đồng thời còn là nền tảng thúc
đẩy phát triển sản xuất hoa màu
Cơ sở hạ tầng ở nông thôn Minh Hải còn yếu kém, mức sống thấp Có37,6% số xã có điện về tới trung tâm, số hộ dùng chiếm tỷ lệ 4,34%; giá điện lại
Trang 24cao hơn ở thành thị từ 50% đến 60%; 21,5% số xã có đờng ô tô, 35,4% xã cótrạm truyền thanh, 58% xã có chợ, 58% xã có lớp mẫu giáo, 5,37% xã có nhà trẻ,
có 5,49% số nhà ở kiên cố, 13,852% nhà ở bán kiên cố, còn lại 80,6% nhà ở câylá địa phơng (Thống kê năm 1994 - Cục thống kê Minh Hải) Điều đó làm hạnchế khả năng phát triển kinh tế văn hoá xã hội ở nông thôn Muốn cải thiện cơ sởhạ tầng và đời sống ở nông thôn cần phải có vốn lớn để đầu t, từ nhiều nguồn bênngoài và bên trong nội bộ kinh tế, kể cả việc sử dụng sức dân tại chỗ, trong đónguồn vốn từ ngân sách nhà nớc là chủ yếu nhất
* Đánh bắt và nuôi thuỷ sản
- Sản lợng nuôi và đánh bắt 151.902 tấn (năm 1995) tốc độ tăng bình quânhàng năm 11.85% (giai đoạn 1995-1995)
- Kim ngạch xuất khẩu chiếm 85% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh (Năm
1995 là 146,243 triệu USD) và tơng đơng 50% kim ngạch xuất khẩu thủy sản củacả nớc
- Những năm gần đây do ảnh hởng của môi trờng, dịch bệnh, tôm nuôi củatỉnh bị chết hàng loạt, kéo dài làm ảnh hởng lớn đến thu nhập của ngời nuôi tôm,công nghiệp chế biến và cả các mặt khác của đời sống kinh tế, xã hội làm hạnchế đến tốc độ phát triển về nền kinh tế của tỉnh
t quốc lộ IA đi xuyên qua) Đa số các tuyến xã cha có đờng ô tô vào trụ sở xã
- Giao thông nông thôn khó khăn do đặc thù nhiều sông rạch, yêu cầu đầu
t lớn Mật độ đờng bộ ở nông thôn là 620 m/ km2 Điều kiện đi lại của nhân dânrất khó khăn
- Giao thông thuỷ với hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt thuận lợi đilại ở nông thôn Đối với sông lớn, nhiều đoạn bị bồi cạn, cha đợc nạo vét làm chokhả năng lu thông bị hạn chế
Đánh giá chung
Trang 25Đời sống kinh tế, xã hội ở tỉnh Minh Hải những năm qua đang đi dần vào
ổn định và phát triển, một số lĩnh vực khá Nhng còn một số hạn chế nh sau:
- Mức độ tăng trởng cha tơng xứng với tiềm năng Nền kinh tế mang tínhchất nông nghiệp lạc hậu hiệu quả thấp, công nghiệp nhỏ bé, kết cấu hạ tầngchậm phát triển, nhất là ở nông thôn
- Tài nguyên, tiềm lực lao động cha khai thác sử dụng đúng mức
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm Thị trờng tiêu thụ còn hạn hẹp và cha
ổn định
- Môi trờng đầu t còn yếu kém
- Môi trờng sinh thái và nguồn tài nguyên có chiều hớng giảm sút
- Lĩnh vực văn hoá xã hội còn nhiều vấn đề lớn, bức xúc cần đợc giảiquyết
Vấn đề cần giải quyết đối với nền kinh tế là: yêu cầu phát triển với nhịp độnhanh hơn nữa, giải quyết nhân sinh, phát triển xã hội trên cơ sở giải quyếtnhững khó khăn về vốn đầu t, thị trờng tiêu thụ, hạ tầng yếu kém, thiếu kinhnghiệm quản lý và trình độ công nghệ lạc hậu
2.2.2- Công tác quản lý ngân sách xã ở Minh Hải: kết quả đạt đợc và các mặt hạn chế.
Xuất phát từ nhu cầu phải có lơng thực, thực phẩm và các trang thiết bị cầnthiết để nuôi dỡng quân dân du kích địa phơng trong thời kỳ kháng chiến, các
Đảng bộ cơ sở sản xuất tự túc, huy động đóng góp của nhân dân để nuôi quân tạichỗ, về sau đợc bổ sung bằng nguồn thu một phần thuế đảm phụ Kể từ đó coingân sách xã tỉnh Minh Hải đợc hình thành và tồn tại đến ngày nay
Trải qua mỗi giai đoạn khác nhau, ngân sách xã có những hình thức, vaitrò đặc điễm khác nhau Nghiên cứu ngân sách xã trong giai đoạn kinh tế thị tr-ờng có sự quản lý của nhà nớc cho ta thấy bức tranh hiện thực về ngân sách xã,nhằm giúp nhanh chóng hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách xã thích ứng vớiquy luật vận hành của cơ chế thị trờng phù hợp với luật ngân sách nhà nớc, pháthuy vai trò ngân sách xã trong xây dựng và phát triển nông thôn mới
Để từng bớc đổi mới cơ chế quản lý ngân sách cho phù hợp với nền kinh tếthị trờng, nhà nớc ban hành Nghị quyết số 186/ HĐBT ngày 27/7/1989 về sửa đổiphân cấp ngân sách cho địa phơng và tiếp đó ban hành quyết định 168/HđBTngày 16/5/1991 bổ sung sửa đổi một số điểm của nghị quyết 186
Hai văn bản này đã khẳng định tầm quan trọng của nhiệm vụ quản lý ngânsách, coi đây là nhiệm vụ hàng đầu của chính quyền địa phơng các cấp, xác định
rõ trách nhiệm của từng cấp chính quyền về quản lý tài chính ngân sách nhà nớc,phân giao ngân sách tỉnh, huyện, xã chung vào ngân sách địa phơng và giao cho
Trang 26UBND tỉnh tự quy định cụ thể nội dung thu chi quản lý theo các nguyên tắcthống nhất và phù hợp với chế độ chung.
Ngày 20/03/1996 Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá
IX kỳ họp thứ 9 đã thông qua luật ngân sách nhà nớc Đây là một bớc pháp chếhoá quan trọng nền tài chính quốc gia phù hợp với cơ chế thị trờng
Bộ Tài chính đã phát hành hai văn bản có tính chất hớng dẫn địa phơng tự
đổi mới trong quá trình tự củng cố và tăng cờng công tác quản lý ngân sách xã:công văn số 75-TC /NSNN ngày 30/10 /1989 về quản lý ngân sách xã trong tìnhhình mới và công văn 35-TC /NSNN ngày 14 /05 /1989 hớng dẫn về kế toán ngânsách xã
Hai văn bản này bớc đầu đã xác lập đợc một số quan điểm mới và hìnhthành hai nội dung thu, chi mới cho phù hợp với cơ chế thị trờng, trớc hết, đối vớiviệc quản lý và khai thác nguồn thu Về thu, để có căn cứ chỉ đạo công tác khaithác, nuôi dỡng các nguồn thu, đã khẳng định những mô hình từng loại xã nh: xãkinh tế nông nghiệp, xã kinh tế nông nghiệp kết hợp với một số ngành nghề khác,xã kinh tế phát triển toàn diện nông công thơng Tiếp đó, trong nhiệm vụ chi, cáckhoản chi thờng xuyên và không thờng xuyên đợc nhận thức gần với nội dung chitích luỹ và tiêu dùng và phân định phạm vi trách nhiệm quản lý cụ thể Nội dungquản lý ngân sách xã cũng đa ra một số biện pháp tình thế nh: khoán thu, khoánchi cho xã, điều tiết nguồn thu cho xã, giảm dần sự trợ cấp, thực hiện biện pháptrợ cấp có mục tiêu nhằm khai thác tiềm năng ở xã
Riêng đối với tỉnh Minh Hải, có hai văn bản gắn với quá trình đổi mớiquản lý ngân sách xã đợc ghi nhận là:
- Chỉ thị số 02 /CT-UB ngày 02/04/1991 của UBND tỉnh về tăng cờngcông tác quản lý ngân sách xã, phờng, thị trấn
- Hớng dẫn số 06/TC-HD ngày 04/04/1991 của Sở Tài Chính - Vật giá có ớng dẫn thi hành chỉ thị số 02 của UBND tỉnh
h-Đến ngày 20/4/1994 Sở tài chính - Vật giá có hớng dẫn số 07/HD.TCVGhớng dẫn một số điểm bổ sung sửa đổi hớng dẫn số 06 cho phù hợp với tình hìnhmới Các văn bản này đã cụ thể hoá các văn bản hớng dẫn của trung ơng cho phùhợp với các đặc điểm về kinh tế xã hội ở Minh Hải
Các chủ trơng mới và các hớng dẫn quản lý cụ thể của Bộ, tỉnh đợc thựchiện có kết quả nh sau:
Về TìNH HìNH THU NGÂN SáCH Xã
1- Nguồn thu cố định:
Theo thông t hớng dẫn 06/TC.HD, thu cố định bao gồm:
- Thu lệ phí sử dụng mặt đất, mặt nớc các sông hồ, kênh rạch, bến nớc, bến
đò, bến tàu, nền chợ
- Thu các khoản phạt của xử lý hành chính
- Thu hoa lợi công sản
Trang 27- Thu các khoản nhân dân tự nguyện đóng góp.
- Thu các khoản hoá giá tài sản
- Hoa hồng của các đơn vị quốc doanh đóng góp khi mua sản phẩm của địaphơng (nếu có)
- Thu ngày công lao động công ích (phần của địa phơng)
- Thu kết d ngân sách năm trớc
- Các khoản thu khác ngân sách xã mà luật cho phép
Công văn hớng dẫn số 07 /HD.TCVG ngày 20/04/1994 của Sở Tài Vật giá bổ sung thêm nguồn thu cố định cho xã nh sau:
- Những cơ sở mua bán nhỏ (nh nghề phụ gia đình) cố định hoặc lu động,
hộ kinh doanh lu động, hộ kinh doanh thơng nghiệp rải rác ở nông thôn, thuế cha
có điều kiện thì giao cho ngân sách thu
- Loại sản xuất kinh doanh mới phát sinh, cha ổn định nh: cầu kéo, nhữngdịch vụ khác đợc thu cho ngân sách xã Khi nào sản xuất kinh doanh ổn định,phát triển thành phổ biến phải giao lại cho cơ quan thuế quản lý thu
- Mức thu tính theo nguyên tắc:
+ Loại sản xuất kinh doanh tính theo quy định của nhà nớc, lệ phí nào chaquy định thì báo về Sở Tài Chính-Vật giá để trình UBND tỉnh xét duyệt
+ Hoa chi có mức từ 100 đồng, 600 đồng, đến 1.000 đồng/ ngày
Công văn hớng dẫn 06 của Sở Tài chính-Vật giá và công văn hớng dẫn số
07 sửa đổi bổ sung hớng dẫn 06 của Sở Tài chính Vật giá không hớng dẫn chi tiếtcác nguồn thu và mức thu, cho nên các xã vận dụng mỗi nơi mỗi khác, khôngtheo chế độ thống nhất, và thực hiện thu không đồng đều ở các xã, thể hiện nhsau:
- Thu phí và lệ phí có:
+ Lệ phí giấy tờ: giấy khai sinh, chứng nhận kết hôn, chứng nhận giấy tờkhác, mức thu từ 200đ đến 1.000đ/ giấy, khoảng 30% số xã có thu nguồnnày
+ Chứng nhận trên hợp đồng kinh tế thu: 10.000đ/ 1 hợp đồng, chỉ có mộtvài xã thu
+ Cho thuê mặt bằng chợ, có 3 cách tính: tiền thuê theo m2 chiếm chỗ tiềnthu theo sạp bán hàng, tiền thuê tính theo đầu hộ kinh doanh Các xã có
đầu t xây dựng chợ đều tổ chức thu
+ Hoa chi: mức thu từ 200đ đến 1000đ/ngày, có xã đấu thầu khoán thu cảnăm hoặc từng tháng
+ Bến đò ngang: khoán thu theo tháng, có một số xã để cho các gia đìnhchính sách thu
Trang 28- Thu phạt hành chính: phần lớn là tiền phạt vi phạm trật tự an ninh xã hội,phạt vi phạm câu bắt cá giống vào thời điểm cấm.
- Thu hoa lợi công sản: chỉ có thuê vuông tôm ở một số huyện Đầm Dơi vớimức khoán 7 triệu đồng/ năm cho 25 ha
- Thu vuông đeo (phần do dân mở thêm để khai thác nuôi tôm ngoài diệntích chính): mức thu tơng đơng mức thuế nuôi trồng thuỷ sản trên đất cùng hạng
- Thu tiền bán đất (mặt bằng chợ) vào ngân sách xã theo mức thực bán.Theo số liệu tổng hợp của Sở Tài chính - Vật giá cơ cấu nguồn thu ngânsách xã nh sau:
Trang 29Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn thu ngân sách xã tỉnh Minh Hải
46 48 6
53 43 4
53 40 7
43 49 8
- Thu ngân sách không đạt kế hoạch, nguồn thu cố định ngân sách xãgiảm theo
- Tỷ lệ nguồn thu cố định tăng qua các năm thể hiện sự quan tâm khaithác nguồn thu này rất tích cực của chính quyền xã Đây là nguồn thucơ bản của ngân sách xã ở Minh Hải, tác giả luận án ghi nhận có tìnhtrạng chấp hành khá tốt các quy định về thu ngân sách xã Số thu và cơcấu các khoản thu cố định qua các năm nh sau:
Bảng 2.2: NGUOÀN THU COÁ ẹềNH NGAÂN SAÙCH XAế MINH HAÛI
ẹụn vũ tớnh: trieọu ủoàng
Nguồn thu Naờm 1991 Naờm 1992 Naờm 1993 Naờm 1994 Naờm 1995
Soỏ thu Tổ leọ% Soỏ thu Tổ leọ% Soỏ thu Tổ leọ% Soỏ thu Tổ leọ% Soỏ thu Tổ leọ%Thu coỏ ủũnh NS xaừ
767 2.880
100 58,7
8,6 32,5
11.909 5.209 236 30 718 619 3.423 1.676 5.204 605 133 386 289 2.060
100 43,0 4,5 0,6 13,7 11,8 65,4 14,2 43,0 11,6 2,5 4,19 5,5 39,5
14.547 5.064 605 45 966 1.043 2.402 3.245 6.237 821 180 226 557 1.582
100 34,8 11,9 0,9 19,0 20,5 47,4 22,3 42,9 31,1 2,8 3,6 8,9 25,3
17.446 7.207 396 40 1.742 599 4.430 2.163 8.076 743 144 844 529 4.257
100 41,3 5,4 0,5 24,1 8,3 64,4 12,4 46,3 9,2 4,7 10,4 6,5 52,7
15.904 4.689 824 36 1.153 567 2.107 3.550 7.664 659 242 1.108 1.602 4.050
100 29,4 17,5 0,7 24,5 3,5 44,9 22,3 48,3 8,5 3,15 14,4 20,9 52,8
Trang 30- Thu khác
- Thu kết dư
Ở Minh Hải vụ mùa thu hoạch vào cuối năm, từ đó dẫn đến số thu điềutiết dồn vào cuối năm rất lớn cho ngân sách xã, do đó số kết dư chuyển sangnăm sau lớn Là khoản thu điều tiết nhưng khi kết chuyển sang ngân sáchnăm sau trở thành nguồn thu cố định, do đó khi đánh giá trên báo cáo tổnghợp cần thiết phải loại trừ nguồn kết dư này thì số liệu về thu cố định mớiđược phản ánh chính xác
Việc khai thác nguồn thu cố định phụ thuộc điều kiện tự nhiên, điềukiện kinh tế của xã Xã nào địa thế thuận lợi về giao thông, có chợ tập trung,kinh tế phát triển đa dạng thì có nguồn thu cố định lớn Ngược lại một số xãthuần nông thì nguồn thu cố định này hạn hẹp Chi tiết số liệu ngân sách xãtừ năm 1991 đến 1995 cho thấy cụ thể như: huyện U Minh có 6 xã thiên vềkhai thác rừng tràm nên số thu cố định năm 1994 chỉ là: 239 triệu, bình quâncho một xã là 39,8 triệu; trong khi đó huyện Đầm Dơi có 10 xã với thế mạnhvề nuôi trồng thủy sản và thương mại tương đối phát triển, số thu cố định là:2.673 triệu đồng, bình quân 1 xã là 267 triệu, lớn gấp 6,7 lần so với một xã ởhuyện U Minh
Sự quan tâm đến khai thác nguồn thu cố định ngân sách xã của cấp ủyvà chính quyền địa phương cũng là nhân tố tác động rất lớn đến số thu củangân sách xã Cùng điều kiện kinh tế như nhau, nhưng số thu cố định ngânsách xã bình quân ở huyện Vĩnh Lợi, Cái Nước, Đầm Dơi lớn hơn so với cáchuyện Hồng Dân, Giá Rai
Công văn hướng dẫn 06; 07 của sở Tài chính - Vật giá trong công tácquản lý vừa qua xét thấy có những điểm thiếu sót và sơ hở như sau:
1/ Các văn bản này chưa hướng dẫn cụ thể về cách tính các mức thunhư: giá các dịch vụ, giá cho thuê mặt nước, mặt đất, mặt bằng chợ, giá ngàycông lao động công ích, các mức thu đối với các hộ mua bán nhỏ có mức kinhdoanh khác nhau cho nên các xã vận dụng về cách tính mức thu mỗi nơi khác
Trang 31nhau Coự xaừ toồ chửực thu, coự xaừ khoõng – gaõy aỷnh hửụỷng khoõng toỏt, loọn xoọn(thaỏt thu lụựn).
2/ nguoàn ủaỏt ủai thuoọc quừy ủaỏt coõng chửa ủửụùc hửụựng daón khai thaực taùonguoàn thu cho ngaõn saựch xaừ nhử: ủaỏt baừi boài ven soõng, ven bieồn, ủaỏt baỷo lửubụứ soõng, ven loọ Haàu heỏt nhaõn daõn coự ủaỏt ủửụùc giao quyeàn sửỷ duùng lieàn ranhlaỏn chieỏm vaứ khai thaực nhử laứ ủaỏt ủửụùc giao quyeàn sửỷ duùng chớnh thửực
3/ Vieọc giao cho ban taứi chớnh xaừ laọp boọ ủeồ quaỷn lyự taỏt caỷ caực nguoàn thucoỏ ủũnh cuỷa ngaõn saựch xaừ laứ phuứ hụùp, ủieàu naứy phaựt huy ủửụùc sửù chuỷ ủoọng,tớch cửùc cuỷa taứi chớnh xaừ trong caực nguoàn thu coỏ ủũnh, nhửng caàn phaỷi quyủũnh thaồm quyeàn quyeỏt ủũnh hoọ lụựn, nhoỷ giao cho chi cuùc thueỏ huyeọn, neỏukhoõng deó ủeỏn vieọc tranh chaỏp nguoàn thu giửừa caực cụ quan thueỏ vaứ taứi chớnhxaừ
4/ Vieọc quy ủũnh caực nguoàn thu coỏ ủũnh ủửụùc ủửa thaỳng vaứo taứi khoaỷnngaõn saựch xaừ ụỷ kho baùc vaứ ủửụùc sửỷ duùng ngay trong thửùc teỏ khoõng thửùc hieọnủửụùc, toaứn boọ caực xaừ ủeàu thu chi nguoàn thu coỏ ủũnh ngoaứi ngaõn saựch nhaứ nửụực
2- Nguoàn thu ủieàu tieỏt vaứ trụù caỏp
ẹaõy laứ soỏ thu ủửụùc theồ hieọn qua ngaõn saựch nhaứ nửụực Theo coõng vaờnhửụựng daón soỏ 06 vaứ 07 cuỷa Sụỷ Taứi chớnh – Vaọt giaự, nguoàn thu ủieàu tieỏt chongaõn saựch xaừ ủửụùc chia laứm hai loaùi:
- Nguồn thu điều tiết 100% cho ngân sách xã gồm có: thuế sát sinh; nguồnthu chống buôn lậu do xã thực hiện; các loại nợ có nguồn gốc từ ngân sách nhànớc
- Nguồn thu đợc điều tiết 10% cho xã, đợc tính chung trên toàn huyện, sau
đó tùy thực tế mà huyện phân chia tỷ lệ điều tiết lại cho từng xã, gồm có: thuếmôn bài, thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế hàng hóa, thuế nhà đất, thuế tàinguyên, thuế nông nghiệp, thuế nuôi trồng thủy sản, trớc bạ
Năm 1991, để khuyến khích tăng cờng trách nhiệm cùng ngành thuế quản
lý nguồn thu, tỉnh Minh Hải cho phép trích thêm 10% trên kết quả thu vợt, lấy từngân sách huyện thị 5% và ngân sách tỉnh 5% thởng cho các xã Đến năm 1992,
tỷ lệ điều tiết nguồn thu này cho xã là 15%, nhng chỉ điều tiết trực tiếp cho xã là10%, còn 5% huyện giữ lại làm qũy điều hòa dùng chi cho các xã có số thu ít,không cân đối đợc ngân sách Năm 1993, 1994 áp dụng lại tỷ lệ điều tiết 10%các nguồn thu trên cho ngân sách xã, huyện vẫn giữ vai trò điều hòa ngân sách
Trang 32các xã trong huyện nhng không lập qũy điều hòa riêng mà tính toán trong dựtoán ngân sách hàng năm bằng cách điều chỉnh lại tỷ lệ điều tiết cho ngân sáchxã trên tỷ lệ đợc giao chung.
Kết quả về thu điều tiết và trợ cấp trong cơ cấu ngân sách xã thể hiện ởbảng 2.2 cho thấy: nguồn thu điều tiết năm 1991, 1992 giữ tỷ trọng 48%, đếnnăm 1993 còn 43% và năm 1994 còn 40% do tỷ lệ điều tiết bình quân ngân sáchcho huyện giảm từ 15% xuống còn 10% Đến năm 1995 tăng lại 49% do không
áp dụng tỷ lệ điều tiết bình quân cho ngân sách xã cho cơ cấu ngân sách huyệnnữa, mà áp dụng hình thức định mức chi cho ngân sách xã, sau đó mới tính lại tỷ
lệ điều tiết
Việc điều tiết theo tỷ lệ thống nhất cho ngân sách xã, ngân sách huyện sau
đó giao lại cho huyện tính toán phân định tỷ lệ điều tiết lại cho từng xã, khôngphân biệt nguồn thu tiềm năng khác nhau ở từng huyện có những u và nhợc điểm
nh sau:
- Ưu điểm của cách phân chia này là đơn giản để quản lý và lập dự ánngân sách huyện, tạo đợc sự chủ động trong tính toán phân bổ chỉ tiêu ngân sáchxã, sát hợp với tình hình địa phơng
- Nhợc điểm thể hiện ở chỗ: huyện có tiềm năng khá (số thu cố định lớn)thì số điều tiết đợc nhiều, ngân sách xã có nguồn thu lớn Ngợc lại, nếu huyệnnghèo (số thu cố định ít) thì ngân sách xã có nguồn thu này ít Bởi vì khi phân
định lại tỷ lệ điều tiết chi xã, huyện phân chia không đợc vợt quá tỷ lệ điều tiếttỉnh đã phân Tình hình này đã làm phát sinh sự phân hóa nghèo, giàu rất lớn giữacác xã, (thể hiện qua phụ lục 1: số liệu về nguồn điều tiết trợ cấp bình quân chocác xã ở các huyện thuộc tỉnh Minh Hải) Mặt khác, giao cho huyện tính lại điềutiết cho xã sẽ dẫn đến tình hình các huyện, thị quan tâm đến ngân sách xã thì đểlại số điều tiết nhiều, ngợc lại sẽ để cho xã ít Điều này tạo sự không công bằng
và dễ xảy ra hiện tợng co kéo giữa ngân sách huyện và xã, giảm sự chủ độngtrong điều phối ngân sách của Hội đồng nhân dân xã
Đến năm 1995, nhằm hạn chế các nhợc điểm trên trong tính toán điều tiết
để lại cho xã đợc thay đổi bằng hình thức khoán chi cho ngân sách xã bình quân
từ 150 đến 180 triệu đồng, tính chung vào dự toán ngân sách huyện, thị Dựa vàomức khoán, huyện, thị tính lại tỷ lệ điều tiết cho ngân sách từng xã, kết quả tỷ lệcơ cấu nguồn điều tiết trong thu ngân sách xã tăng 9% so với năm 1994 Bìnhquân số thu ngân sách giữa các xã có sự chênh lệch ít hơn, u điểm của phơngpháp này là: các xã biết chắc đợc số ngân sách xã đợc chi để chủ động bố trí chitiêu hợp lý Tuy nhiên, phơng pháp này lại có nhợc điểm: nếu huyện thu không
đạt kế hoạch đợc giao thì ngân sách xã cũng bị ảnh hởng, và trong tình hình nàyhuyện không có khả năng để trợ cấp cho ngân sách xã vì huyện cũng gặp khókhăn
Vấn đề trợ cấp từ ngân sách cấp trên cho ngân sách xã theo quy định chỉ
đặt ra khi nguồn thu ngân sách xã không đảm bảo chi thờng xuyên và chỉ trợ cấp
đủ trả sinh hoạt phí, không trợ cấp cho chi hoạt động
Trang 33Kết quả các khoản trợ cấp qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.3 NGUồN THU TRợ CấP NGÂN SáCH Xã TỉNH MINH HảI
Đơn vị tính: triệu đồng.Diễn giải Năm 1991 Năm 1992 Năm 1993 Năm 1994 Năm 1995 THU TRợ CấP
1.448 708 560 180
1.253 1.067 30 156
2.196 1.376 529 291
3.017 1.518 628 870
Nguồn thu trợ cấp cho ngân sách xã chủ yếu là trợ cấp cân đối ngân sáchxã, trợ cấp định suất, trợ cấp XDCB phát sinh không đều với số lợng không lớn
Qua tình hình trợ cấp nh vậy, ta thấy chính sách tài trợ từ ngân sách cấptrên chỉ nhằm mục tiêu duy trì đội ngũ cán bộ xã không bỏ việc và duy trì hoạt
động thờng xuyên; không nhằm mục đích điều chỉnh sự phát triển giữa các xãgiàu, nghèo, thực hiện sự công bằng trong đầu t và phát triển giữa các xã khácnhau
Về tình hình và thực trạng chi ngân sách xã
Theo chỉ thị 02- CT/UB ngày 02/04/1992 của UBND tỉnh Minh Hải và cáccông văn hớng dẫn 06/TC – HD ngày 04/04/1991, công văn hớng dẫn số07/HD.TCVG ngày 20/04/1994 của Sở Tài chính - vật giá, chi ngân sách xã chilàm 4 loại:
Trang 34Chứng từ chi tiêu không theo quy định, có những khoảng chi mang tính tạm ứngnhng xã đa vào quyết toán chi (không thanh toán trở lại).
Một số khoảng chi chủ yếu đợc thực hiện ở các xã nh sau:
a/ Chi công tác phí
Mục chi này chiếm đại bộ phận trong chi hành chính và đợc quản lý khátùy tiện ở các xã Chứng từ cho mục chi về công tác phí thờng đợc phát hànhkhông hợp lệ, không đúng quy cách và trong nhiều trờng hợp thực hiện thủ tụctạm ứng và thanh toán không đúng chế độ quy định Một số xã thực hiện chế độchi khoán với mức cao hơn so với mức chi quy định của tỉnh
Một số khoản chi chủ yếu đợc thực hiện ở các xã nh sau:
Bảng 2.4: Chi ngân sách xã ở tỉnh minh hải
100,00
20,90 4,40 51,48 23,22
23.289
4.145 1.275 12.575 5.294 998 474
100,00
15,48 5,11 55,68 23,37
28.109
4.453 1.436 15.651 6.569 625 426
100,00
15,84 5,11 55,68 23,37
30.577
4.550 1.447 17.151 7.429 1.303 646
100.00
14,88 4,73 56,09 24,30
33.083
4.521 2.367 18.889 8.305 2.202 379
100,00
13,67 4,13 52,10 25,10
- Chi công tác phí đi ấp Khoảng 30% số xã chi tiền xăng, dầu đa đón cán
bộ đi công tác ấp, không chi phụ cấp lu trú Phần đông xã chi xăng, dầu và tiềnphụ cấp thấp nhất là 20.000đ /ngày, cao nhất là 60.000đ/ngày, cá biệt có xã chiphụ cấp đến 100.000đ/ngày
- Công tác phí đi huyện Hầu hết các xã chi tiền xăng, dầu và phụ cấp lutrú với mức chi thấp nhất: 5.000đ/ ngày, cao nhất 20.000đ/ ngày Cá biệt có xãchi theo thực tế chi phí kê khai của cán bộ đi công tác
- Công tác phí đi tỉnh Ngoài tiền tàu xe, cán bộ xã đi công tác còn đ ợc chiphụ cấp lu trú thấp nhất: 20.000đ/ngày, cao nhất 70.000đ/ngày Có một xã thanhtoán theo thực chi (chế độ công tác phí tỉnh đang áp dụng phụ cấp lu trú 10.000đ/ngày)
b/ Chi hội nghị: thờng có sự phân biệt giữa hội nghị và họp phổ biến cácchủ trơng chính sách, họp công tác và quy định số lợng cuộc hội nghị trong năm
Trang 35của cấp xã nên chi còn rất tùy tiện cho các cuộc họp lẽ ra không nên chi Mức chitập trung số đông ở mức 5.000đ/ngày và 6.000đ/ngày/ngời.
c/ Chi tiếp khách: khoản chi khá lớn trong chi hành chính, rất khó quản lý
Có xã chi hàng trăm triệu đồng trong năm Chế độ quản lý khác nhau ở các xã cóxã định mức cho trởng ngành tiếp khách 200.000đ/tháng, phó ngành 100.000đ/tháng có xã quy định một lần tiếp khách không quá 100.000đ, có xã khống chếbằng cách phải có ý kiến của Đảng bộ mới đợc chi Phần lớn xã chi theo thực tếtiếp khách
d/ Chi bếp ăn tập thể Có đến 80% số xã duy trì chế độ cho bếp ăn tập thể,với mức chi từ 5.000đ đến 6.000đ/ngời/ ngày
e/ Tiền thuốc trị bệnh Đây là khoản chi thực tế đơn thuốc trị bệnh, chiếm
tỷ trọng không lớn chỉ tập trung ở mức cấp trởng đầu ngành của xã
Trớc năm 1994 có đến 40 cán bộ đợc hởng chế độ định suất xã Đến năm
1994, thực hiện Nghị định số 46/CP ngày 23/06/1993 của Thủ tớng Chính phủ vềchế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ Đảng, chính quyền và kinh phí hoạt động củacác đoàn thể, nhân dân ở xã, phờng, thị trấn, Ban Tổ chức Chính quyền tỉnh quy
định lại suất xã không quá 28 cán bộ, mức chi trả theo Nghị định 46/CP
Hầu hết các xã đều có số lợng cán bộ vợt định suất quy định Cho đến nayphần đông các xã đều có số lợng cán bộ hởng định suất từ 30 đến 40 cán bộ, rất ítxã thực hiện đúng định suất đã quy định Biện luận về việc này, các xã có ý kiến
nh sau:
- Mức trả sinh hoạt phí cho định suất xã thấp không đủ chi phí ăn, mặc,
đi lại làm việc, tình hình này làm cho thời gian làm việc của mỗi cán bộxã ít đi do phải sản xuất tự túc nhằm có thêm thu nhập, do đó phải bùlại bằng số đông mới đảm bảo công việc hàng ngày ở xã Ví dụ, mứcsinh hoạt phí Phó Bí th Đảng ủy xã, Phó Chủ tịch HĐND xã, Phó Chủtịch UBND xã, Trởng công an xã, Trởng các đoàn thể nhân dân xã cómức sinh hoạt phí theo Nghị định 50/CP ngày 26 /07/1995 là:180.000đ/tháng, tiền ăn tối thiểu hiện tại đối với một ngời phải là6.000đ/ngày, tính ra là 180.000đ, không còn tiền để trang trải chi phí vềmặc, đi lại và chi phí khác Nếu là cán bộ thuộc chức danh chuyên mônkhác thì còn gặp nhiều khó khăn hơn
- Quy mô về diện tích đất và dân số các xã thuộc tỉnh Minh Hải lớn: có
18 xã có dân số từ 19.000 đến 30.000 ngời, có diện tích từ 7.000ha đến28.000ha Điều kiện sông nớc đi lại khó khăn Dân c ở rải rác theodiện tích đất canh tác nông nghiệp, cho nên với số lợng cán bộ xã quy
định nh hiện nay, không thể thực hiện tốt và chu đáo hết chức năng củacấp chính quyền cấp xã đợc giao
- Do đặc điểm kinh tế nông nghiệp, nên nguồn thu ngân sách xã dồn vàocuối năm, phần lớn các xã không có kế hoạch chi tiêu chặt chẽ đã dẫn
đến tình trạng chi trả sinh hoạt phí không kịp thời theo quy định, thờng
có số nợ sinh hoạt phí trả dồn vào cuối năm Những lúc nh vậy làm ảnh
Trang 36hởng đến thời gian công tác của cán bộ xã (vì phải lo chạy ăn), chínhtình hình này làm cho xã phải chi tiền cho bếp ăn tập thể để giữ đợc cán
bộ làm việc, do đó đa đến tình trạng mức chi trả định suất các xã thờngthấp hơn quy định, thậm chí có nơi trả sinh hoạt phí chỉ bằng 50% sốquy định (một số xã ở huyện Đầm Dơi, Giá Rai)
Nghị định 46/CP và nghị định 50/CP của Chính phủ không đề cập đến địnhsuất và sinh hoạt phí cho cán bộ ấp, công văn hớng dẫn 07 của Sở Tài chính Vậtgiá Minh Hải, định mức chi sinh hoạt phí và hoạt động cho ấp: 100.000đ/ tháng.Trong thực hiện hầu hết nh các xã đều chấp thuận định suất cho ấp từ 2 đến 5cán bộ, nhng chế độ chi trả định suất và hoạt động rất khác nhau: có nơi giaokhoán theo tỷ lệ trên số thu thuế sử dụng đất nông nghiệp, có nơi giao cho ấp thumột số hộ công thơng nghiệp nhỏ, có nơi khoán trên mức quy định, có nơi chỉ hỗtrợ khi có công tác đột xuất
Trợ cấp một lần cho cán bộ nghỉ việc có thời gian công tác từ 5 năm trởlên, toàn bộ các xã không thực hiện
Chi hoạt động của đoàn thể theo Nghị định 46/CP của Chính phủ và hớngdẫn 07 của Sở Tài chính-Vật giá, khoán cho mỗi đoàn thể chi hoạt động khôngquá 3,5 triệu đồng/năm, không có định mức công việc kèm theo, trong thực hiệncác xã chi theo chế độ chung của chính quyền xã và khống chế mức tối đa nhquy định
Ngoài các đối tợng thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã kể từ năm 1991,khi các đội thuế xã đợc thành lập, ngân sách xã còn phải chi một phần hoạt độngcho đội thuế, có xã chi tiền ăn và công tác phí cho đội thuế, có xã khoán chi:15.000.000đ, 30.000.000đ/ năm cho đội thuế, một số xã cung cấp lai thu kháccho đội thuế để thu cho ngân sách xã và chi trả lại đến 50% số thu, mục đích chi
hỗ trợ cho đội thuế là nhằm khuyến khích đội thuế thu đạt vợt kế hoạch đợc giao,
là nhiệm vụ của chính quyền xã, đồng thời gắn với số thu ngân sách xã
2/ Chi sự nghiệp văn xã và chi khác
Chi văn xã là khoản chi chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong ngân sách xã
Theo hớng dẫn 07 của Sở Tài chính - Vật giá thì các khoản chi: nghiệp vụphí y tế, chi truyền thanh, hỗ trợ giáo dục, cứu tế xã hội tùy khả năng ngân sáchxã và yêu cầu cụ thể mà các xã định mức khoán cho từng loại Do mức chi, mụcchi của từng xã rất khác nhau, cộng với số lợng công trình văn hóa rất ít nh: chỉ
có 5% các xã có nhà trẻ, 26% xã có trờng mẫu giáo, 36% xã có trạm truyềnthanh, nên số chi về sự nghiệp văn xã ở các xã rất ít
- Chi sự nghiệp giáo dục ở các xã bao gồm: chi hỗ trợ cho trờng tiểu họctrong các kỳ thi hoặc chi tiếp khách cho các trờng trong trờng hợp cấp trên đếnlàm việc Có một số xã chi sửa chữa trờng lớp từ qũy xây dựng trờng, lại quyếttoán vào mục chi sự nghiệp giáo dục
Trang 37- Chi sự nghiệp thể dục thể thao chủ yếu là chi tiền ăn, uống, trang bị cho các cầu thủ trong các đợt, tập dợt, thi đấu các phong trào thể dục thể thao.
- Chi cho y tế các xã, thị trấn lấy từ nguồn thu phí y tế (thu cơ sở phòngmạch t) để chi hỗ trợ cho trạm y tế, các đợt tiêm chủng mở rộng, có xã lại giaoluôn khoản thu phí y tế cho trạm y tế thu chi ngoài ngân sách xã
- Các hoạt động thờng xuyên của công an đợc đảm bảo từ nguồn thu phạt
vi phạm hành chính Công an tuần tra, truy quét chi từ 5.000 đến 10.000đ/ đêm
3/ Chi kiến thiết kinh tế
Chi kiến thiết kinh tế chiếm tỷ trọng từ 20,9% năm 1991, giảm dần đếnnăm 1995 còn 13,6% trong cơ cấu chi ngân sách (bảng số 2.4 – chi ngân sáchxã) Số chi kiến thiết kinh tế của ngân sách xã qua các năm không vợt hơn 4.500triệu đồng, đó là kết quả của chính sách hạn chế chi đầu t từ cấp ngân sách xãtrong phân cấp ngân sách vừa qua
Công văn hớng dẫn 06/TC.HD ngày 04/04/1991 của Sở Tài chính - Vật giáquy định: “xã không quản lý chi xây dựng cơ bản, nếu nhu cầu quá bức thiết,ngân sách có khả năng, hoặc công trình có huy động vốn của dân, phải lập thủtục theo quy trình xây dựng cơ bản đợc Chủ tịch UBND huyện, thị xã kiểm tragiám sát từ khâu đầu đến khâu cuối”
Đối với nguồn trợ cấp chỉ thực hiện khi “xã đã quản lý thu hết các nguồn
và chi sinh hoạt phí, hoạt động thờng xuyên với tinh thần tiết kiệm, không viphạm chế độ sẽ đợc trợ cấp đủ để trả sinh hoạt phí cho cán bộ xã’ (Công văn h-ớng dẫn số 06/TC.HD ngày 04/04/1991, trang 2, dòng 34, 35, 36)
Công văn hớng dẫn số 07/HD.TCVG ngày 20/04/1994 của Sở Tài chính –Vật giá xếp chi xây dựng cơ bản vào khoản chi “không thờng xuyên”, nguồnchi “tùy thuộc vào ngân sách và yêu cầu cụ thể” (Công văn hớng dẫn số07/HD.TCVG, trang 4, dòng 7, 8, 9)
Các danh mục công trình chi kiến thiết kinh tế của xã chủ yếu là: chi xâydựng trụ sở, làm đờng giao thông nội xã, chợ ở những thị trấn dân c đông đúc,nhu cầu đòi hỏi bức xúc, từ thực tiễn, có nơi ngân sách xã có khả năng ngânsách cộng với khả năng huy động trong nhân dân để giải quyết, có một số xã tr-
ớc nhu cầu bức thiết phải đi vay ngoài dân, chiếm dụng tiền thuế để chi, và sau
đó không có khả năng chi trả, nợ đọng kéo dài, ngân sách xã không có khả năngthanh toán Năm 1996, Sở tài chính - Vật giá phỉ xin ý kiến UBND tỉnh để trợcấp gần 1 tỷ đồng cho các khoản nợ này, nhằm làm lành mạnh hóa tài chính chongân sách xã trớc khi thực hiện luật ngân sách nhà nớc
Số xã chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của tỉnh và khả năng ngânsách yếu kém không dám làm sai quy định thì có tình trạng cơ sở hạ tầng phục
vụ sinh hoạt dân c rất là yếu kém
Nhu cầu về vốn để sửa chữa cầu, trờng, trụ sở làm việc, thiết bị văn phòng,phát sinh ở xã thờng xuyên, nhng hầu nh cha đợc bố trí nguồn vốn đợc thực