129 Phát huy hiệu quả vốn đầu tư mạo hiểm đối với các doanh nghiệp Việt Nam
Trang 1nợ sẽ không khả thi vì trong giai đoạn mới khởi sự qui mô doanh nghiệp còn nhỏ, doanh nghiệp chưa có đủ tài sản để thế chấp và uy tín của doanh nghiệp chưa đủ để đáp ứng nhu cầu vay vốn từ ngân hàng Và đồng thời nó cũng làm gia tăng chi phí của doanh nghiệp do gánh nặng chi trả lãi suất tiền vay Và doanh nghiệp cũng khó nhận được tài trợ bằng vốn cổ phần bởi trong giai đoạn này doanh nghiệp chưa đủ các tiêu chuẩn để phát hành chứng khoán ra công chúng
Vấn đề đặt ra là nguồn tài trợ nào cho doanh nghiệp trong giai đoạn này? Với những đặc điểm đó thì vốn đầu tư mạo hiểm được xem là đáp án tối ưu cho bài toán
về vốn của các doanh nghiệp mới khởi sự Ở các doanh nghiệp này có một tiềm
năng tăng trưởng rất lớn nhưng đi theo nó là yếu tố rủi ro cũng rất cao Vậy vốn đầu
tư mạo hiểm là gì?
- Vốn đầu tư mạo hiểm:
Vốn đầu tư mạo hiểm là những khoản đầu tư cổ phần vào giai đoạn đầu của những doanh nghiệp mới khởi sự, các doanh nghiệp này đang cần vốn để tài trợ cho việc phát triển sản phẩm mới hoặc ý tưởng về khoa học công nghệ, do vậy đây là những khoản đầu tư hứa hẹn một tiềm năng tăng trưởng rất lớn để bù đắp cho mức
độ rủi ro cao hơn Các chuyên gia quản lý vốn đầu tư mạo hiểm sẽ tìm kiếm các khoản thu nhập vốn tiềm năng cao hơn
Nếu hiểu theo nghĩa rộng hơn thì vốn đầu tư mạo hiểm là nguồn tài chính đầu tư cho các doanh nghiệp dươi hình thức vốn cổ phần và các khoản đầu tư gần
Trang 2giống vốn cổ phần, có thời hạn trung bình (3-5 năm) Mục tiêu là tìm kiếm được khoản thu nhập vốn cao hơn mức trung bình Bên cạnh việc cung cấp vốn, các chuyên gia quản lý quỹ vốn đầu tư mạo hiểm còn cung cấp cho các doanh nghiệp những hỗ trơ về mặt phi tài chính như: chiến lược kinh doanh, marketing, khách hàng, đối tác tiềm năng,…tạo điều kiện cho doanh nghiệp bước sang một giai đoạn tăng trưởng tiếp theo và chuẩn bị sẵn sàng để doanh nghiệp được chuyển giao cho các cổ đông khác
Vốn đầu tư mạo hiểm được huy động thông qua các quỹ đầu tư mạo hiểm và trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các công ty quản lý quỹ để đầu tư vào các doanh nghiệp, các dự án khả thi
- Quỹ đầu tư mạo hiểm:
Quỹ đầu tư mạo hiểm là một định chế trung gian chuyên đầu tư vào các doanh nghiệp mới khởi sự nhằm mong đợi một sự gia tăng thu nhập cao hơn mức bình quân để bù đấp cho rủi ro của khoản đầu tư có mức độ rủi ro cao hơn mức bình quân
Các quỹ đầu tư mạo hiểm thường nhắm vào giai đoạn đầu của doanh nghiệp mới khởi sự Doanh nghiệp ở giai đoạn này có mức độ rủi ro cao nhưng đồng thời cũng hứa hẹn một sự gia tăng giá trị khoản đầu tư trong tương lai (nếu doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển tốt) Và khi đó các quỹ đầu tư có thể thực hiện một cuộc thoát vốn bằng cách bán cổ phần trên thị trường chứng khoán hoặc bán toàn bộ cổ phần của mình cho đối tác khác Do vậy, các quỹ đầu tư mạo hiểm không chỉ đầu tư vốn mà còn hỗ trợ doanh nghiệp về nhiều mặt: tư vấn tài chính, marketing, hoạch định kế hoạch kinh doanh,…nhằm đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển, nâng cao giá trị doanh nghiệp
1.2.) Các thành phần của quỹ đầu tư mạo hiểm
- Các nhà đầu tư mạo hiểm: bất kỳ một các nhân, một tổ chức nào cũng đều
có thể trở thành nhà đầu tư mạo hiểm Họ có thể là cá nhân giàu có, là các tập đoàn công nghiệp lớn hoặc các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính như ngân hàng, quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm,…họ có lượng tiền nhàn rỗi lớn, sẵn sàng đầu tư và
Trang 3chấp nhận rủi ro cao đễ hi vọng đạt được những khoản lợi nhuận cao như mong muốn trong tương lai
- Các nhà quản lý quỹ: họ chính là những người quản lý quỹ ĐTMH, tiến
hành ĐTMH chuyên nghiệp, vừa có kiến thức về công nghệ, vừa có tài năng quản trị, họ hoạt động vốn từ các nhà ĐTMH, họ tìm kiếm và đánh giá các cơ hội đầu tư, thực hiện công cuộc thoát vốn để thu hồi vốn và lợi nhuận cho quỹ Quá trình này được lập đi lập lại với việc hoạt động quỹ mới cho những cơ hội đầu tư mới Với đặc điểm trên, ta có thể thấy vốn mạo hiểm mang tính chu kỳ
- Các doanh nghiệp: chủ yếu là các DN mới khởi sự, họ là những tổ chức,
những cá nhân đang mong muốn biến một phát hiện công nghệ, một ý tưởng độc đáo, mới mẻ thành một sản phẩm thành công trên thị trường nhưng do tiềm lực tài chính có hạn, họ cần có sự góp vốn của các quỹ ĐTMH
Mối quan hệ giữa 3 nhóm đối tượng trên có thể được phối hợp theo những
mô hình tổ chức và hoạt động khác nhau Một mô hình thành công phải đảm bảo lợi ích hài hòa của ba nhóm đối tượng trên, nhờ đó đạt được mục tiêu:
¾ Duy trì và khuyến khích sáng tạo công nghệ, tinh thần khởi nghiệp (duy trì nhu cầu về vốn đầu tư mạo hiểm)
¾ Tạo động lực cho cá nhân, tổ chức có vốn tham gia đầu tư mạo hiểm (phát triển nguồn cung)
¾ Phát huy triệt để năng lực của các nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm (đảm bảo hiệu quả đầu tư)
1.3) Đặc điểm hoạt động của Quỹ ĐTMH :
Theo báo cáo IFC (International Fanance Corporation- Công ty tài chính Quốc tế) thì hoạt động của các quỹ ĐTMH trên thế giới được xem là thành công khi chúng mang những đặc điểm:
• Các khoản đầu tư có tiềm năng rất tăng trưởng cao nhưng rủi ro cũng rất lớn Đây là một điểm đặc biệt tạo nên sự khác biệt với các nguồn tài trợ vốn khác
vì thành công chủ yếu của các Quỹ ĐTMH dựa chủ yếu vào kỹ năng tìm kiếm những dự án đầu tư ban đầu tương đối nhỏ nhưng lại hàm chứa một tiềm năng tăng
Trang 4trưởng cao Đầu tư là hoạt động hy sinh những giá trị hiện tại để đạt được những giá trị không chắc chắn trong tương lai Nhưng khác với đầu tư thông thường, mục tiêu của quỹ đầu tư mạo hiểm là kiếm được các khoản thu nhập vốn vượt trội hơn mức trung bình Quỹ đầu tư mạo hiểm thường đầu tư vào các công ty trong giai đoạn mới khởi sự, những công ty mới, thường là trước khi đạt được khả năng thu lợi nhuận, trước khi bán được một sản phẩm nào đó, thậm chí trước khi phát triển được sản phẩm, nhưng phải sẵn sàng theo đuổi một con đường tăng trưởng nhanh Các nhà tư bản mạo hiểm nắm giữ các công cụ giống như vốn chủ sở hữu, tức là họ tham gia trực tiếp vào rủi ro kinh doanh của những công ty mà họ đầu tư Đi kèm với yếu tố rủi ro cao nhưng điều hấp dẫn nhất đối với các nhà đầu tư đó là tiềm năng mang lại lợi nhuận vượt trội được kỳ vọng của doanh nghiệp được đầu tư
• Hỗ trợ phi tài chính cho các doanh nghiệp
Nhân tố quan trọng để đạt được thành công là việc áp dụng kỹ thuật quản lý theo kiểu Mỹ – đó là phương pháp tăng thêm giá trị của dự án đầu tư bằng những đóng góp tích cực vào hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy, ngoài sự hỗ trợ về tài chính cho doanh nghiệp các chuyên gia quản lý quỹ còn hỗ trợ cho doanh nghiệp những vấn đề khác như: quản lý, chính sách nhân sự, marketing, phát triển sản phẩm, Với
vị trí cũng như những kinh nghiệm thu được từ các doanh nghiệp khác, quỹ ĐTMH
có thể tác động sâu sắc đến sự phát triển của doanh nghiệp mà họ đầu tư
• Kỹ năng của các nhà đầu tư
Hoạt động của các Quỹ ĐTMH phụ thuộc nhiều vào kỹ năng của nhà quản lý,
đó là việc đánh giá tiềm năng tăng trưởng của một doanh nghiệp mới, và chắc chắn rằng ý tưởng kinh doanh mới sẽ thành công Điều này không chỉ yêu cầu nhà quản
lý phải là chuyên gia trong lĩnh vực tài chính để có thể tạo ra một cấu trúc tài chính linh hoạt mà họ còn phải có kinh nghiệm trong các lĩnh vực quản trị doanh nghiệp, nghiên cứu thị trường, bán hàng,…
• Quỹ đầu tư mạo hiểm là một quỹ đầu tư tư nhân
Vì mức độ rủi ro của quỹ là rất cao nên vốn của quỹ đầu tư mạo hiểm huy động bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một số nhóm các nhà đầu tư, có thể được
Trang 5lựa chọn trước, đó là các cá nhân, thể nhân, các định chế tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn Các nhà đầu tư thường đầu tư một lượng vốn tương đối lớn và đổi lại họ yêu cầu về kỹ năng quản lý quỹ rất cao để đảm bảo yếu tố sinh lợi trên số vốn đầu
tư Vì vậy, quỹ đầu tư mạo hiểm là một quỹ đầu tư tư nhân
• Cấu trúc hoạt động hai lớp
Nhà đầu tư cung cấp tài chính, còn các công ty quản lý quỹ (được thuê) sẽ chịu trách nhiệm về mọi hoạt động đầu tư và rút vốn
• Lợi tức dành cho các nhà quản lý quỹ
Là sự kết hợp giữa một khoản chi phí cố định (thường là thấp) cùng với một phần trong khoản lợi nhuận thu được từ các dự án đầu tư mà họ chịu trách nhiệm quản lý
• Số lượng dự án nhiều
Dòng vào của các dự án phải nhiều, do thường là số dự án được xem xét để có thể tiến tới một cuộc đàm phán là khá ít, cho nên hoạt động của vốn đầu tư mạo hiểm này cũng đòi hỏi một nền kinh tế thật năng động và khuyến khích kinh doanh
• Phần lớn là đầu tư gián tiếp
Hình thức đầu tư chủ yếu ban đầu của quỹ đầu tư mạo hiểm là đầu tư trực tiếp, tuy nhiên từ đầu những năm 80, hình thức đầu tư đã thay đổi, việc tiến hành đầu tư được thực hiện thông qua nhà quản lý đầu tư tư nhân chuyên nghiệp Xu hướng này ngày càng phổ biến thể hiện tính chuyên môn hóa trong lĩnh vực đầu tư vốn mạo hiểm và dần hình thành ngành công nghiệp đầu tư vốn mạo hiểm
• Có sẵn lối thoát vốn:
Thị trường chứng khoán cung cấp một lối thoát “tự nhiên” cho các nhà đầu tư mạo hiểm Tuy nhiên, việc tạo ra nhiều kênh thoát vốn khác nhau như hợp nhất, bán lại công ty đang quản lý hoặc chuyển quyền sở hữu công ty cũng là vấn đề quan trọng Vì vậy, hoạt động này đòi hỏi một thị trường với những qui định rỏ ràng hoặc
có tính chất quốc tế
Đó là những đặc điểm nổi bậc được rút ra từ các quỹ đầu tư mạo hiểm đang hoạt động thành công trên khắp thế giới Tuy nhiên, không phải bất cứ quỹ đầu tư mạo
Trang 6hiểm nào cũng mang tất cả những đặc điểm nêu trên, tùy vào môi trường kinh doanh, các đặc điểm kinh tế- xã hội của từng quốc gia mà hoạt động của quỹ có những thay đổi tương ứng
1.4) Qui trình hoạt động của quỹ ĐTMH
Quá trình để có thể xây dựng một quỹ ĐTMH là một quá trình tốn kém nhiều mặt Các thành viên thường phải mất nhiều thời gian, công sức và chi phí để tiếp thị, thuyết phục các nhà đầu tư tiềm năng tham gia vào quỹ, tin tưởng vào khả năng quản lý quỹ cũng như xây dựng niềm tin và lợi nhuận của những khoản đầu tư trong tương lai Quá trình hoạt động một quỹ đầu tư mạo hiểm thường trãi qua các giai đoạn sau:
- Giai đoạn hình thành quỹ:
Đây là giai đoạn để có thể hình thành nên một quỹ ĐTMH, các nhà tư bản mạo hiểm nghiên cứu tìm kiếm các nguồn cấp vốn cho quỹ, đồng thời trong thời gian này các nhà quản lý quỹ tiến hành nghiên cứu, tìm kiếm các cơ hội đầu tư tốt, song song đó họ cũng tiến hành các thủ tục chuẩn bị về mặt pháp lý cho sự hình thành và hoạt động của quỹ
• Các thành viên tổng quát cảm nhận và phát hiện các cơ hội đầu tư có tiềm năng phát triển tốt đẹp, có mức tăng trường nhanh và triển vọng lợi nhuận cao Thông thường thì các thành viên tổng quát phải bỏ ra nhiều công sức, thời gian, chi phí để xây dựng hồ sơ dự án, chuẩn bị nền tảng cho triển khai dự án, và phát hiện các nguồn vốn tương lai khả thi
• Các thành viên tự thẩm định dự án để lựa chọn sản phẩm, thị trường, các chiến lược phát triển cũng như lựa chọn hình thức tổ chức doanh nghiệp phù hợp và cách tổ chức tiếp cận các nguồn tài chính để đi đến quyết định thực hiện
• Xây dựng mô hình tổ chức và tính pháp lý của quỹ đầu tư mạo hiểm: công ty đầu tư, quỹ hỗ tương, quỹ đầu tư dạng đóng, mở
• Sau đó, các thành viên xem xét và ra quyết định về mức vốn, số lần gọi vốn, mô hình, chi tiết thể thức đầu tư, cơ cấu thành phần quỹ, hội đồng quản trị, hội đồng điều hành,…Vì phần lớn các thành viên là những định chế tài chính, những
Trang 7tập đoàn công nghiệp đầu tư nên họ trở thành những người tham gia xem xét thận trọng các chi tiết thành lập để góp phần đảm bảo cho thành công của quỹ
• Các thành viên ra quyết định vế các chiến lược thực hiện và chiến lược chiếm lĩnh thị trường,…
- Giai đoạn gọi vốn :
• Tổ chức huy động vốn, ấn định ngày đóng quỹ
• Hợp đồng với các đối tác cung cấp vốn
Thời kỳ đóng quỹ, gọi vốn đầu tư có thể kéo dài 2-3 năm Các nhà đầu tư sẽ
có được những quyền ngang nhau căn cứ theo tỉ lệ góp vốn Quyền lợi đó tiếp tục được duy trì trong quá trình đóng vốn trừ khi từng thành viên quyết định thay đổi vị trí và bán đi cổ phần của mình Trong quá trình hoạt động các nhà đầu tư sẽ thường xuyên báo cáo để thấy được số tiền đầu tư như thế nào vào các danh mục đầu tư, và giá trị thị trường của từng danh mục, từng thời kỳ
- Giai đoạn đầu tư:
Lợi ích của các nhà đầu tư cũng như các nhà quản lý quỹ phụ thuộc rất lớn vào kết quả do công cuộc đầu tư mang lại Do đó, trong từng thời kỳ đầu tư vào các danh mục và dự án, các nhà quản lý quỹ luôn phải mất nhiều thời gian, công sức để chọn lọc, thẩm định các dự án đầu tư, thương thuyết mua cổ phiếu hay tham gia vốn vào các dự án Để có thể đầu tư hết số vốn mà quỹ hoạt động được, các nhà quản lý quỹ phải làm việc với hiệu quả rất cao, không ngừng nâng cao kiến thức cũng như chất lượng kỹ thuật đầu tư để đảm bảo lợi nhuận như cam kết ban đầu Trong quá trình này tiếp tục có những đợi gọi thêm vốn để đáp ứng nhu cầu cho đầu tư
Bên cạnh đó, xuất phát từ quyền lợi của quỹ luôn gắn với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà quỹ tiến hành đầu tư, các quỹ có quyền tham gia giám sát, hỗ trợ, tư vấn,…tích cực về các mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: hệ thống quản lý, nhân sự, tài chính, marketing,… để có thể làm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp của doanh nghiệp mà quỹ đầu tư
Trang 8- Giai đọan tăng cao giá trị:
Sau khi đã thực hiện đầu tư vào các danh mục, các nhà tư bản mạo hiểm tiếp tục xây dựng bộ máy quản trị quỹ và đặt thêm quan hệ với các tổ chức tài chính, kinh doanh để tăng thêm vốn quỹ Trung bình quỹ đầu tư mạo hiểm sẽ thu hoạch lợi nhuận sau 5 năm đầu tư
- Giai đoạn thoát vốn:
Sau thời gian tăng cao giá trị, giá trị của các dự án đầu tư đã đạt đến mức mong muốn, các quỹ ĐTMH sẽ thực hiện việc thoát vốn, thoát vốn là một khâu vô cùng quan trọng trong quá trình hoạt động của quỹ ĐTMH và nó phản ánh kết quả đầu tư của quỹ, cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của quỹ, các quỹ thoát vốn bằng cách:
• Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng – IPO (Initial Public Offerings)
• Bán toàn bộ doanh nghiệp: là việc bán hoặc sáp nhập 1 công ty cho một công
ty khác lớn hơn hoặc bán công ty cho một cá nhân, tổ chức nào đó
• Nhượng lại cổ phiếu cho doanh nghiệp nhận đầu tư
• Bán số cổ phiếu đã đầu tư cho 1 cá nhân, hoặc tổ chức nào đó
Kết quả thu được qua việc thoát vốn của nhà đầu tư có thể được thể hiện bằng tiền mặt hoặc các cổ phiếu có khả năng thanh khoản cao trên thị trường vốn
Toàn bộ thời gian từ giai đoạn hình thành quỹ, gọi vốn, đầu tư đến thu hoạch của một quỹ có thể khác nhau vì số lượng và thời gian đầu tư của các dự án của một quỹ có thể biến thiên khác nhau Tuy nhiên, thời gian để hình thành mục tiêu đầu tư
và thu hoạch của các dự án tối thiểu là 5 năm, có khi có thể dài hơn (5-10 năm) để các dự án của họ có thể đạt được lợi nhuận
Trang 9Sơ đồ1: Qui trình hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm
GIÁM SÁT VÀ TẠO GIÁ TRỊ
ĐÓNG QUỸ GỌI VỐN LẦN ĐẦU
PHÁT TRIỂN KHÁI NIỆM QUỸ
Chọn lọc
DAĐT
Thẩm định các DAĐT
Thương thuyết các thương vụ
và các giai đoạn đầu tư
Tiếp tục các lần gọi vốn
Đầu tư vốn vào
dự án
Trang 101.5) Phân loại quỹ đầu tư mạo hiểm:
1.5.1) Nếu xét về cơ cấu tổ chức thì có các hình thức tổ chức của một quỹ đầu tư mạo hiểm:
+ Mô hình hợp danh hữu hạn:
Tổ chức theo mô hình hợp danh hữu hạn (limited partnership) cho đến nay được xem là ưu việt hơn trong việc tạo ra một cơ chế phân chia trách nhiệm và quyền lợi hợp lý, hiệu quả Trong hình thức tổ chức này có hai loại thành viên: thành viên tổng quát (general partners) và thành viên hợp danh hữu hạn (limited partners)
• Các thành viên tổng quát :
Họ là những người lập ra và quản lý vốn đầu tư mạo hiểm chuyên nghiệp, họ
có chức năng tổ chức, kêu gọi vốn từ các nhà đầu tư mạo hiểm, tìm kiếm và lựa chọn các cơ hội đầu tư tốt nhất, sau đó tiến hành đầu tư, quản trị dự án Việc đầu tư vốn vào các doanh nghiệp đòi hỏi các thành viên tổng quát phải tốn nhiều thời gian, công sức để theo dõi, giám sát, tư vấn và hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhận đầu tư Trong quá trình quản lý quỹ, các thành viên tổng quát sẽ nhận một khoản phí quản
lý (lương) và một tỉ lệ nhất định từ tổng số lợi nhuận thu được sau khi thực hiện công cuộc thoát vốn để đổi lại những đóng góp của họ cho quỹ Điều này đã tạo ra động lực mạnh mẽ để các thành viên tổng quát không ngừng nổ lực để tạo ra nhiều lợi nhuận hơn cho quỹ
• Những thành viên hợp danh hữu hạn :
Họ là những nhà đầu tư mạo hiểm, họ góp vốn vào quỹ và được chia lợi nhuận (hoặc chịu rủi ro), họ không có bất cứ vai trò gì trong các quyết định đầu tư của quỹ Các thành viên hợp danh hữu hạn thường là các tập đoàn công nghiệp hoặc
là các tổ chức tài chính như ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí,…
Với hình thức này, các doanh nghiệp được đầu tư không những nhận được sự
hỗ trợ về vốn mà còn nhận được sự hỗ trợ về các mặt quản lý, hoạt động điều hành,…
Trang 11Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức của quỹ ĐTMH theo mơ hình hợp danh hữu hạn
THÀNH VIÊN TỔNG QUÁT
-Huy động vốn -Tìm kiếm, thẩm định, chọn lọc DAĐT -Đàm phán đầu tư
-Giám sát, tư vấn -Thu hoạch đầu tư
Phí quản lý và chia lợi nhuận
QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM
Đóng
góp
vốn
Được chia lợi nhuận Tài trợ
Vốn+lợi nhuận (lỗ)
THÀNH VIÊN TRÁCH
NHIỆM HỮU HẠN
-Tập đoàn công nghiệp
-Tổ chức tài chánh ( ngân hàng,
công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí,…)
-Chính phủ
-Cá nhân
DOANH NGHIỆP
Thoát vốn -IPO
-Bán thương mại -Mua lại cổ phần
Trang 12+Mô hình công ty con:
Ngoài hình thức hợp danh hữu hạn, còn có một hình thức tổ chức khác của quỹ đầu tư mạo hiểm, đó là hình thức quỹ là công ty con của các tập đoàn công nghiệp hay các tổ chức tài chính lớn (mô hình này là nét đặc trưng của các quỹ đầu
tư mạo hiểm ở Nhật) Trong hình thức này, công ty mẹ thực hiện tài trợ vốn đầu tư mạo hiểm cho doanh nghiệp là nhằm tạo mối quan hệ với những doanh nghiệp mới
để cung cấp những dịch vụ khác hoặc hi vọng vào những khoản lợi nhuận trong tương lai
So với hình thức hợp danh hữu hạn, loại hình này có những khuyết điểm như sau:
• Hội đồng quản trị của công ty con sẽ đưa ra quyết định phê chuẩn các khoản đầu tư, trong đó việc quản lý các khoản đầu tư của quỹ lại do một công ty quản lý vốn mạo hiểm được thuê đảm trách Như vậy, hình thức này sẽ không tạo ra được các nhà đầu tư chuyên nghiệp, mà nếu có thì năng lực của họ cũng bị lãng phí
và họ không có quyền đưa ra các quyết định đầu tư
• Thù lao cho những người quản lý quỹ là một khoản tiền lương và một khoản thưởng nào đó, không gắn liền với thành quả đầu tư, vì thế tính chất khuyến khích không mạnh
• Công ty phải trung thành với lợi ích của công ty mẹ chứ không phải vì lợi ích của công ty được nhận đầu tư Điều này đôi khi dẫn đến xung đột lợi ích giữa nguồn tài trợ và người khởi nghiệp, giữa quỹ của công ty với nhà đầu tư mạo hiểm khác
• Đội ngũ nhân viên quản lý của công ty con là do công ty mẹ cử tới, sau một thời gian hoạt động, họ trở về làm việc cho công ty mẹ, tốc độ luân chuyển công việc cao, vì thế khó hình thành một đội ngũ chuyên gia đầu tư vốn mạo hiểm chuyên nghiệp
+Mô hình tín thác (dạng hợp đồng):
Trong mô hình này quỹ đầu tư mạo hiểm không có tư cách pháp nhân nhân
mà chỉ là một lượng tiền nhất định do các nhà đầu tư đóng góp Mô hình này thể hiện rõ ở vai trò của ba bên tham gia vào hoạt động của quỹ: công ty quản lý quỹ,
Trang 13ngân hàng giám sát và các nhà đầu tư
Công ty quản lý quỹ đứng ra thành lập quỹ, tiến hành huy động vốn, thực hiện việc đầu tư theo những mục tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ
Ngân hàng giám sát: ngoài vai trò giám sát, bảo quản vốn và tài sản của quỹ, ngân hàng giám sát còn làm nhiệm vụ giám sát hoạt động của công ty quản lý quỹ, đảm bảo việc tuân thủ các mục tiêu và chính sách đầu tư đã đề ra Quan hệ giữa công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát được thể hiện bằng hợp đồng quản
lý giám sát, trong đó qui định quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong việc thực hiện và giám sát việc đầu tư để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư
Các nhà đầu tư góp vốn bằng việc mua các chứng chỉ đầu tư do công ty quản lý quỹ thay mặt quỹ phát hành Các nhà đầu tư trong mô hình này không phải
là các cổ đông như mô hình công ty mà chỉ đơn giản là những người thụ hưởng kết quả kinh doanh từ hoạt động đầu tư của quỹ
1.5.2) Nếu dựa vào nguồn huy động vốn: quỹ hải ngoại và quỹ nội địa
Quỹ hải ngoại: Nguồn vốn huy động vào quỹ 100% là nguồn vốn nước ngoài, công ty quản lý quỹ được đăng ký thành lập ở nước ngoài và quỹ được quản
lý bởi các chuyên gia quản lý vốn quốc tế Các quỹ sẽ tìm kiếm cơ hội và đầu tư vào các dự án trong nước để thu lợi nhuận Cổ phiếu của quỹ được niêm yết ở thị trường nước ngoài
+ Quỹ hải ngoại có những điểm mạnh như sau:
• Có thể thu hút lượng vốn lớn từ nước ngoài
• Môi trường thuế và pháp chế ổn định
• Cơ cấu pháp lý đã thành công ở nhiều nước và có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động đầu tư
+ Tuy nhiên quỹ đầu tư hải ngoại cũng có một số điểm yếu như:
• Bị hạn chế số vốn đầu tư, về ngành nghề kinh doanh
• Khâu tiếp cận doanh nghiệp trong nước còn nhiều khó khăn do có sự khác nhau về môi trường, văn hóa kinh doanh
• Rủi ro tỉ giá trong chuyển vốn và chuyển lợi nhuận
Trang 14Quỹ nội địa: Yếu tố then chốt của quỹ nội địa là sẽ huy động vốn trong nước để đầu tư vào các công ty trong nước, công ty quản lý quỹ đăng ký thành lập trong
nước và những quỹ này sẽ do các chuyên gia trong nước quản lý là chính Cổ phiếu của quỹ được niêm yết ở thị trường trong nước
+ Quỹ nội địa có những điểm mạnh như sau:
• Huy động nguồn vốn từ trong nước nên tránh được rủi ro về tỉ giá
• Huy động được nguồn tài chính đa dạng trong nước
• Không bị hạn chế vốn và ngành nghề đầu tư
• Quỹ có thể duy trì lâu bền hơn với sự tham gia của nguồn nhân lực ổn định trong nước
• Hoạt động của quỹ nội địa sẽ góp phần tạo niềm tin cho các quỹ hải ngoại mới đi vào thị trường trong nước, làm cho thị trường vốn mạo hiểm ngày càng phát triển hơn
+ Một số điểm yếu của Quỹ nội địa
• Nguồn vốn không lớn mạnh như quỹ đầu tư hải ngoại
• Cần nhiều thời gian để thành lập và đi vào hoạt động
• Ít kinh nghiệm và tính chuyên nghiệp thấp hơn
1.5.3) Nếu dựa vào cách thức huy động: chúng ta có thể chia thành 2 loại là quỹ
đầu tư dạng đóng và quỹ đầu tư dạng mở
+ Quỹ đầu tư dạng đóng:
Quỹ chỉ phát hành cổ phiếu, chứng chỉ đầu tư ra công chúng tại những thời điểm định sẵn với số lượng nhất định và quỹ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu, chứng chỉ đầu tư khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại Sau khi phát hành lần đầu ra công chúng, cổ phiếu đầu tư được giao dịch như các chứng khoán niêm yết khác trên thị trường tập trung (sở giao dịch chứng khoán) Các nhà đầu tư có thể mua hoặc bán để thu hồi vốn cổ phần hoặc chứng chỉ đầu tư của họ trên thị trường thứ cấp thông qua các nhà môi giới, giá cổ phần được xác định bởi lượng cung, cầu trên thị trường
Trang 15+ Quỹ đầu tư dạng mở:
Quỹ liên tục phát hành cổ phiếu, chứng chỉ đầu tư ra công chúng và thực hiện mua lại cổ phiếu, chứng chỉ đầu tư khi người đầu tư có nhu cầu thu hồi vốn Đặc điểm quan trọng đối với quỹ đầu tư dạng mở là giá của cổ phiếu, chứng chỉ đầu
tư của quỹ luôn gắn trực tiếp với giá trị tài sản thuần của quỹ Cổ phiếu, chứng chỉ đầu tư của quỹ dạng mở không giao dịch trên thị trường thứ cấp mà giao dịch với quỹ hoặc các đại lý được ủy quyền Giá cổ phiếu được xác định bởi giá trị tài sản thuần cộng với phần lệ phí giao dịch
1.6) Phân biệt sự tài trợ từ vốn đầu tư mạo hiểm và sự tài trợ từ ngân hàng
Qua những đặc điểm của quỹ đầu tư mạo hiểm vừa trình bày, ta thấy rằng giữa hình thức tài trợ vốn từ ngân hàng và tài trợ vốn từ quỹ đầu tư mạo hiểm có những
sự khác nhau cơ bản như sau:
Ngân hàng:
• Những doanh nghiệp có qui mô lớn, có uy tín, có tài sản thế chấp thường sẽ
có ưu thế hơn
• Ngân hàng sẽ hướng đến mục tiêu là lãi suất tiền vay
• Sự tài trợ vốn của ngân hàng sẽ độc lập với quyền kiểm soát doanh nghiệp
• Không có sự hỗ trợ nhiều về mặt phi tài chính cho doanh nghiệp
• Tài trợ vốn cho doanh nghiệp theo kỳ hạn (ngắn, trung hoặc dài hạn)
Vốn đầu tư mạo hiểm
• Hướng đến những doanh nghiệp mới khởi sự, có ý tưởng về khoa học công nghệ, không có tài sản đảm bảo, có tiềm năng tăng trưởng cao nhưng rủi ro
đi kèm cũng rất lớn
• Kết quả hướng đến là lãi vốn thu được
• Quỹ sẽ có quyền chi phối hoạt động của doanh nghiệp được đầu tư vì mục tiêu là tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp
• Hỗ trợ cho doanh nghiệp rất nhiều về mặt phi tài chính
• Thời gian hoạt động tích cực của quỹ là khoản 5 năm
Trang 161.7) Vai trò của vốn đầu tư mạo hiểm:
1.7.1) Khuyến khích sự phát triển của khoa học công nghệ
Với sự ra đời của nguồn vốn đầu tư mạo hiểm, nó thúc đẩy khoa học kỹ thuật
và công nghệ ngày càng phát triển Với việc đầu tư vốn mạo hiểm các nhà đầu tư đã đóng góp rất lớn vào sự hình thành và phát triển của ngành công nghiệp, điện toán hiện nay, tạo điều kiện thúc đẩy ngành công nghệ cao phát triển như: điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin,…
Theo nghiên cứu của Đại Học Havard, 1 USD vốn mạo hiểm sẽ tạo ra được một lượng bằng phát minh, sáng chế nhiều gấp từ 3 đến 5 lần so với chi cho công tác nghiên cứu triển khai (chủ yếu trong lĩnh vực công nghệ cao) Nước Mỹ đã mất
85 năm để có được 1 triệu bằng phát minh, sáng chế đầu tiên, nhưng từ bằng sáng chế thứ 5 triệu cho đến 6 triệu thì chỉ mất trong 8 năm
Nguyên tắc hoạt động của vốn đầu tư mạo hiểm là đầu tư vào những dự án tiền năng, có rủi ro cao hơn mức bình quân để thu được mức lợi nhuận vượt trội kỳ vọng Do đó, các công ty quản lý quỹ luôn luôn phải nâng cao trình độ, năng lực quản lý của mình, đồng thời quỹ cũng hỗ trợ, tư vấn nhiều cho các doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư Chính sự hỗ trợ, tư vấn về mặt tài chính lẫn phi tài chính đã biến quá trình nghiên cứu, tìm kiếm, thử nghiệm, phát triển một ý tưởng khoa học công nghệ thành phát minh và từ đó thương mại hóa thành sản phẩm Quá trình biến một
ý tưởng thành một sản phẩm đòi hỏi một lượng vốn tài trợ rất lớn Nếu không đủ nguồn vốn tài trợ thì nhiều khả năng các ý tưởng, phát minh này sẽ bỏ ngỏ, chỉ mãi mãi là ý tưởng mà thôi Khi càng nhiều ý tưởng, phát minh sáng chế được tài trợ để phát triển thì các quỹ ĐTMH càng có nhiều khả năng thu được những khoản lợi nhuận lớn Và cứ theo qui luật này thì kết quả của việc gia tăng vốn đầu tư mạo hiểm thì khoa học kỹ thuật và công nghệ càng phát triển
1.7.2) Thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
Bên cạnh vai trò khuyến khích sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ, vốn đầu tư mạo hiểm còn đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội Với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế vốn đầu tư mạo hiểm đã tạo ra một kênh huy
Trang 17động vốn mới, tận dụng tất cả các nguồn lực tài chính cả ở trong nước lẫn ngoài nước, từ đó giúp cho các tổ chức, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội lựa chọn nguồn tài trợ cho các dự án của mình Các quỹ đầu tư mạo hiểm thu hút một lượng vốn nhàn rỗi từ các tập đoàn công nghiệp, các định chế tài chính trung gian (Ngân hàng, Công ty bảo hiểm, Quỹ hưu trí,…) để tài trợ vốn cho các doanh nghiệp để đầu tư phát triển Và sự phát triển của các doanh nghiệp này không chỉ đem lại lợi nhuận cho chính bản thân doanh nghiệp và các quỹ đầu tư mạo hiểm, mà điều đó còn góp phần rất lớn vào việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, qua đó giải quyết được rất nhiều vấn đề xã hội khác
Một nền kinh tế phát triển khi có sự hỗ trợ tích cực cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển khoa học công nghê Tuy nhiên, cần phải có một nguồn tài chính đủ mạnh và chấp nhận rủi ro để tài trợ cho các hoạt động này Việc ra đời của vốn đầu tư mạo hiểm đã mở ra một cơ hội mới cho những người muốn “làm giàu” từ ý tưởng sáng tạo, người ta có động lực để kinh doanh nhiều hơn, sáng tạo nhiều hơn và giá trị mang đến cho xã hội cũng được tăng lên Với sự kết hợp của nguồn tài chính lớn từ các nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận rủi ro để thu về một lợi nhuận lớn hơn, một sự quản lý chuyên nghiệp, có hiệu quả từ các nhà quản lý quỹ
và các ý tưởng mới về sản xuất kinh doanh, về khoa học công nghệ đã tạo nên sự thành công từ việc tài trợ của vốn đầu tư mạo hiểm
1.7.3) Ổn định và phát triển thị trường tài chính
Sự tham gia của quỹ đầu tư mạo hiểm sẽ tạo ra một kênh tài trợ vốn mới cho nền kinh tế, góp phần làm đa dạng và phát triển thị trường tài chính theo hướng hoàn thiện và ổn định
¾ Bổ sung thêm một kênh tài trợ vốn mới
Với sự hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm tạo sẽ tận dụng được nguồn lực tài
chính trong lẫn ngoài nước Quỹ thu hút vốn nhàn rỗi từ các công ty lớn, các tổ
chức tài chính và phi tài chính (ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm nhân thọ ) để đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh
nghiệp nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
Trang 18¾ Tạo thêm hàng hóa cho thị trường chứng khoán
Thông qua việc thoát vốn tốt nhất và phổ biến nhất của các quỹ đầu tư mạo hiểm
là bán chứng khoán của doanh nghiệp nhận đầu tư ra công chúng thông qua thị trường chứng khoán (IPO), quỹ sẽ góp phần làm phong phú và đa dạng hàng hoá cho thị trường chứng khoán cả về số lượng lẫn chất lượng, quỹ đầu tư vào càng nhiều công ty, khi đến giai đoạn IPO sẽ tạo thêm nhiều hàng hóa mới, giúp các nhà đầu có nhiều cơ hội lựa chọn cho danh mục đầu tư của mình, thu hút thêm nhà đầu
tư mới, đặc biệt là làm tăng tính thanh khoản cho thị trường, làm cho thị trường chứng khoán ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn Như vậy, có một sự hỗ trợ qua lại
giữa thị trường chứng khoán và hoạt động của vốn mạo hiểm
¾ Tác dụng ổn định thị trường tài chính của quỹ còn thể hiện ở vai trò chia sẽ
áp lực vay vốn đối với hệ thống ngân hàng
Với một khối lượng doanh nghiệp ngày càng tăng nhanh và hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển khoa học kỹ thuật ngày càng lớn mạnh thì nguồn vốn từ ngân hàng sẽ khó đáp ứng hết nhu cầu vốn ngày càng cao Quỹ đầu tư mạo hiểm với nguồn vốn và chiến lược đầu tư dài hạn góp phần tăng cường khả năng huy động những nguồn vốn dài hạn và ổn định, giảm mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào nguồn vốn tín dụng ngắn hạn do hệ thống ngân hàng cung cấp góp phần làm cân đối
về vốn trong nền kinh tế
1.7.4) Hỗ trợ cho sự phát triển của doanh nghiệp
Các quỹ đầu tư mạo hiểm ngoài việc cung cấp vốn còn là sự hỗ trợ phi tài chính hiệu quả cho các doanh nghiệp Nó là một quá trình đóng vai trò chất xúc tác nhằm tăng cường khả năng của doanh nghiệp Đây chính là sự khác biệt giữa vốn mạo hiểm và các nguồn vốn tài trợ khác
Nguồn vốn:
Đây là lợi ích cơ bản nhất, quan trọng nhất mà các doanh nghiệp - đặc biệt là các doanh nghiệp mới khởi sự, nhận được từ nguồn vốn mạo hiểm, bởi vì các nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận một mức rủi ro cao để có được một mức lợi nhuận
Trang 19mong đợi vượt trội nên họ chấp nhận đầu tư vào các doanh nghiệp này và đầu tư dưới nhiều hình thức khác nhau
Khả năng chuyên môn về quản lý:
Trước khi cung ứng vốn vào một dự án của doanh nghiệp, nhà đầu tư mạo hiểm đã dành nhiều thời gian và năng lực nghiên cứu khả năng thành công của
dự án Một trong những nhân tố chủ yếu của quá trình đầu tư mạo hiểm là phải đảm bảo đội ngũ quản lý có năng lực Các nhà tư bản mạo hiểm tham gia lập kế hoạch chiến lược, phân tích thị trường, đánh giá rủi ro/lợi nhuận, và tăng cường bổ sung vào công tác quản lý
Kiến thức về các ngành nghề kinh doanh:
Dựa trên kinh nghiệm có được từ việc đầu tư ở các thị trường, các ngành nghề trước đây mà quỹ đầu tư mạo hiểm có thể chia sẻ cho các doanh nghiệp các kiến thức hữu ích về kinh doanh, từ đó giúp doanh nghiệp xác định được chiến lược kinh doanh tối ưu cho mình
Thông tin:
Quỹ đầu tư mạo hiểm giữ vai trò của một người cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp Các nhà tư bản mạo hiểm có khả năng tập hợp thông tin với chi phí thấp hơn các doanh nghiệp, họ thu thập thông tin dựa trên số lượng lớn các nhà đầu tư, tận dụng được lợi thế về qui mô các ngành kinh tế, tạo lập được một mạng lưới các nguồn thông tin tham khảo, các nhà cung cấp dịch vụ và các mối liên hệ với các ngành nghề,… thông tin thu được từ một dự án thường hữu ích cho một dự
án tiếp theo
Uy tín:
Với tính chuyên nghiệp của mình việc quỹ đầu tư vào các doanh nghiệp
sẽ góp phần tích cực làm gia tăng uy tín cũng như danh tiếng của doanh nghiệp Vì
để có thể nhận đầu tư từ các quỹ, các doanh nghiệp sẽ phải trãi qua một quá trình kiểm tra toàn diện, đáp ứng được các tiêu chuẩn cao của quỹ về quản trị doanh nghiệp, tính minh bạch, khả năng sinh lời,… sự tham gia của quỹ đầu tư mạo hiểm vào các doanh nghiệp sẽ cung cấp một tín hiệu đáng tin cậy về khả năng thành công
Trang 20của doanh nghiệp, nâng cao tính hấp dẫn của doanh nghiệp đối với các nhà quản trị tài năng, các nhà cung cấp, các khách hàng và các nhà đầu tư khác
Tập trung vào việc tối đa hóa giá trị doanh nghiệp:
Quỹ là một cổ đông của doanh nghiệp, lợi ích của quỹ gắn liền với sự thành công của doanh nghiệp Do đó, quỹ có động lực rất mạnh mẽ trong việc hỗ trợ, tư vấn giúp cho các doanh nghiệp tối đa hóa giá trị của mình
1.8 ) Hoạt động vốn đầu tư mạo hiểm trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.8.1) Hoạt động vốn đầu tư mạo hiểm trên thế giới
Loại hình đầu tư vốn mạo hiểm đã ra đời từ khá lâu và hoạt động rộng khắp trên phạm vi toàn thế giới Ở các nước phát triển hình thức đầu tư vốn mạo hiểm đã trở nên quen thuộc
- Mỹ là quốc gia tiên phong trên thế giới về đầu tư vốn mạo hiểm, với ý tưởng hỗ trợ vốn để hình thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ có ý tưởng sáng tạo và
có tiềm năng trên thị trường, công ty đầu tư vốn mạo hiểm đầu tiên ở Mỹ do hiệu trường đại học MIT thành lập từ năm 1946, quỹ này đã hỗ trợ công ty công nghệ nổi tiếng trên thế giới DEC Một số công ty danh tiếng cũng được hình thành và phát triển từ vốn đầu tư mạo hiểm như: Microsoft, Apple, Yahoo Vào cuối năm
1990, tổng số vốn đầu tư mạo hiểm tại Mỹ là 36 tỷ USD với 664 quỹ đang hoạt động Hiện nay tại Mỹ đã hình thành một thị trường vốn mạo hiểm khổng lồ, với hàng chục nghìn các nhà đầu tư mạo hiểm thường góp vốn vào các công quỹ đầu tư mạo hiểm, có khả năng tài trợ cho nhiều dự án, đặc biệt là những dự án nghiên cứu
và phát triển công nghệ cao Nhiều quỹ đã phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán và nêu ra yêu cầu khá cao đối với các nhà đầu tư tham gia, ví dụ phải có tài sản ít nhất 1 triệu USD và vốn góp bị giữ trong quỹ ít nhất hai năm Qui mô vốn đầu
tư mạo hiểm ở Mỹ cũng không ngừng gia tăng, tổng số vốn đầu tư mạo hiểm ở Mỹ
là 6,2 tỷ USD (năm 1995) tăng lên 12,5tỷ USD (năm 1998) và đến năm 1999 là 45
tỷ USD, năm 2000 đã tăng lên 105 tỷ USD và số vốn vào năm 2006 đạt 137 tỷ USD Nhà cung cấp vốn đầu tư mạo hiểm ở Mỹ chủ yếu từ Quỹ hưu trí, ngoài ra
Trang 21- Đầu thập niên 90 nguồn vốn từ các quỹ đầu tư gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi, gọi chung là các nước
có nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là tại các nước Châu Á và Đông Âu Trong tổng số
400 quỹ đang hoạt động tại các nước đang phát triển thì có khoảng 250 quỹ hoạt động tại Châu Á và Đông Âu Tổng giá trị cổ phiếu của các quỹ ở 2 khu vực này vào năm 1995 lên đến 7tỷ USD so với 300triệu USD khởi điểm vào những năm đầu thập niên Thông thường các quốc gia lớn nhận được vốn mạo hiểm nhiều hơn quốc gia nhỏ khác Trung Quốc chiếm gần 2/3 tổng số nguồn vốn mạo hiểm tại các nước Châu Á đang phát triển
- EU: Trong EU, Anh là nước thành công hơn cả trong đầu tư mạo hiểm Đầu tư mạo hiểm xuất hiện ở nước Anh hồi thập niên 70, đến nay đã chiếm 40% tổng vốn đầu tư mạo hiểm của EU Năm 1999, nước Anh có gần 250 doanh nghiệp đầu tư mạo hiếm với tổng số vốn đạt 11,9 tỷ USD Chính phủ Anh đã ban hành Luật Uỷ thác Đầu tư mạo hiểm, trong đó ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân đầu tư vào Quỹ uỷ thác để Quỹ tiến hành đầu tư mạo hiểm
- Ở Đức, tổng số vốn đầu tư mạo hiểm năm 1998 chỉ là 1,1 tỷ USD, nhưng đến 2001 đã đạt 5,6 tỷ USD Chính phủ Đức thành lập Quỹ Đầu tư mạo hiểm nước Đức Chính phủ Đức bảo hiểm đến 75% các khoản lỗ và lợi nhuận của Quỹ từ các doanh nghiệp bị giới hạn trần nên Quỹ thiếu động cơ và hoạt động không thành công
Trang 22- Tình hình đầu tư tại các nước có nền kinh tế chuyển đổi ở Trung và Đông
Âu có phần khác so với các nước đang phát triển Châu Á Vào cuối năm 1995, nguồn vốn khoản 3tỉ USD và đang gia tăng một cách nhanh chóng khi các nền kinh
tế ở các quốc gia này đi vào ổn định Ba nước Ba lan, Hungary, CH Sec chiếm gần 2/3 tổng số cổ phiếu của các quỹ trong vùng Ba lan chiếm 40%, Rumani và Ukraina mỗi nước chiếm khoản 10%, sau đó là Nga 4% Điều này cho thấy, nếu nền kinh tế lớn nhưng quá trình chuyển đổi nền kinh tế diễn ra chậm và ít thành công thì cũng thu hút vốn mạo hiểm ít hơn
- Vào năm 1992, sự gia tăng nhanh chóng luồng vốn đẩu tư mạo hiểm mới ở Châu Á diễn ra một cách nhanh chóng, đặc biệt là các quốc gia Châu Á đang phát triển do luồng vốn đổ vào Trung Quốc rất lớn Nếu vào năm 1991 chỉ tăng 15,4triệu USD so với năm 1990, thì năm 1992 tăng đến 542,8 triệu USD, tức khoản 35 lần Luồng vốn này tiếp tục tăng cao những năm sau đó, riêng chỉ có năm 1993 là tốc độ giảm nhưng vẫn cao hơn so với tốc độ tăng của năm 1992 Trên toàn Châu Á, bao gồm cả Nhật Bản và các con rồng Châu Á, sự gia tăng nguồn vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm mới ở năm 1995 là 6,3tỉ USD so với 4,9tỉ USD năm 1994 Tuy nhiên, có
sự gia tăng không đồng đều giữa các quốc gia Ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore
và Đài Loan gia tăng rất cao trong khi ở Hồng Kông lại giảm, tuy nhiên, tổng vốn vẫn ở mức gần 1,7tỷ USD
- Ở Nhật Bản: ngành đầu tư vốn mạo hiểm ở Nhật Bản bắt đầu vào năm
1963 Những thể chế, biện pháp, chính sách và những luật lệ về vốn mạo hiểm đều được mô phỏng theo mô hình của Mỹ Mặc dù có những sự giống nhau như vậy nhưng vốn mạo hiểm ở Nhật Bản lại phát triển theo một phương hướng hoàn toàn khác Sự phát triển vốn mạo hiểm ở Nhật Bản có thể được chia thành bốn giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên của sự phát triển vốn mạo hiểm ở Nhật Bản bắt đầu vào năm 1963, Chính phủ Nhật Bản cho phép việc sử dụng những quỹ công cộng để thành lập 3 công ty tư vấn và đầu tư những doanh nghiệp vừa và nhỏ (Small and Medium Business Investment & Consultation Co.Ltd) ở Tokyo, Nagoya và Osaka Đến tháng 3 năm 1996, 3 SBIC này đã đầu tư vào 2500 doanh nghiệp, trong đó có
Trang 2378 doanh nghiệp đã phát hành ra công chúng Phần lớn cổ phiếu của những SBIC này được nắm giữ bởi chính quyền địa phương, những ngân hàng, những công ty bảo hiểm, sở giao dịch chứng khoán, những doanh nghiệp tư nhân và những văn phòng thương mại Mặc dù chúng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ những doanh nghiệp vừa và nhỏ đang tồn tại bằng cách cung cấp vốn ổn định và dài hạn, nhưng nó cũng có vai trò hạn chế trong việc cung cấp vốn cho những doanh nghiệp mới khởi sự
Sự xuất hiện vốn mạo hiểm tư nhân (1970 đến 1973): năm 1972, công ty vốn mạo hiểm tư nhân đầu tiên, Kyoto EnterpriseDevelopment (KED), được thành lập với sự đầu tư của 43 doanh nghiệp nổi tiếng Mô hình của KED là theo mô hình của tổ chức vốn mạo hiểm đầu tiên ở Mỹ, American Research and Development Cũng trong năm 1972, The Nippon Enterprise Development (NED) được thành lập bởi một nhóm gồm 39 công ty Tính tổng cộng từ năm 1972 đến 1974 đã có 8 công
ty vốn mạo hiểm tư nhân đã ra đời bởi những ngân hàng lớn như Sumitomo, Mitsubishi, Daiichi Kangyo và những công ty chứng khoán như Yamaichi và Nikko Nói cách khác, những định chế tài chính lớn ở Nhật Bản đã thành lập những công ty con vốn mạo hiểm
Sự bùng nổ vốn mạo hiểm lần thứ hai (1982 đến 1986): những người đóng vai trò chính trong sự bùng nổ vốn mạo hiểm lần 2 này là các ngân hàng và các công ty chứng khoán Mục đích chính của họ là sử dụng những khoản đầu tư mạo hiểm để tạo mối quan hệ với những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ và nhằm cung cấp những dịch vụ khác Từ năm 1982 đến 1984 đã có 37 công ty vốn mạo hiểm được thành lập, phần lớn trong đó thuộc quyền sở hữu của những ngân hàng hoặc những công ty chứng khoán lớn Những nhà tư bản mạo hiểm Nhật Bản không tìm kiếm lãi vốn, họ có một động lực khác, họ muốn phát triển những mối quan hệ ngân hàng dài hạn với những doanh nghiệp mà họ tài trợ Tuy nhiên, sự bùng nổ vốn mạo hiểm lần hai cũng giảm sút vì sự suy thoái gây ra bởi sự tăng giá đồng yên trong năm 1986 và 1987
Sự bùng nổ vốn mạo hiểm lần 3 (1994 đến 2000): lần này Chính phủ Nhật
Trang 24Bản đã áp dụng những biện pháp mới nhằm tạo điều kiện cho việc hỗ trợ những doanh nghiệp mới khởi sự Năm 1995, sự sửa đổi của luật về những biện pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho những doanh nghiệp mới và việc ban hành luật thành lập những doanh nghiệp vừa và nhỏ đã làm cho những doanh nghiệp này có thể dễ dàng nhận được sự hỗ trợ về tài chính cũng như về thông tin Những điều luật mới này đã khuyến khích sự hình thành của nhiều công ty vốn mạo hiểm hơn
Hiện nay, những công ty con vốn mạo hiểm thuộc những định chế tài chính lớn như ngân hàng, các công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm chiếm khoảng 70% toàn bộ ngành công nghiệp vốn mạo hiểm ở Nhật Bản Phần còn lại là những công
ty vốn mạo hiểm độc lập với quy mô nhỏ và một số công ty vốn mạo hiểm nước ngoài hoạt động ở Nhật Bản Những công ty vốn mạo hiểm lớn chiếm ưu thế trong việc đầu tư và phần lớn là chúng thuộc những định chế tài chính
Với những biện pháp tích cực trên, Chính phủ Nhật Bản đã góp phần tích cực vào việc thúc đẩy thị trường vốn mạo hiểm phát triển ngày càng năng động với quy mô ngày càng lớn
- Trung Quốc là một điển hình cho sự thành thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm
từ nguồn vốn của chính phủ tài trợ Có 4 hình thức vốn mạo hiểm ở Trung Quốc là: Vốn mạo hiểm được Chính phủ tài trợ, Công ty vốn mạo hiểm trách nhiệm hữu hạn, các Liên doanh, Quỹ phát triển khoa học Hiện tại, phần lớn các công ty mạo hiểm được Chính phủ cung cấp vốn hoặc Chính phủ quản lý Tuy nhiên, hai loại hình công ty vốn mạo hiểm còn lại đang phát triển rất nhanh chóng và là mũi nhọn cho
sự phát triển trong tương lai Bên cạnh đó, các liên doanh chiếm 10% trong tổng
số các công ty vốn mạo hiểm, và các tập đoàn lớn trong nước như Stone, Legend, Zhong Guang Cun Sciece and Hair đã gia nhập vào lĩnh vực vốn mạo hiểm Trong
số các công ty nhận được vốn đầu tư mạo hiểm, 28% đang ở giai đoạn ban đầu, 53,6% đang ở giai đoạn phát triển và 18,4% đang ở giai đoạn trưởng thành Một số công ty thành công có khả năng sẽ cổ phần hoá Các công ty vốn mạo hiểm tập trung ở 2 khu vực Hơn 90% các công ty này được đặt ở miền Đông Trung Quốc
Và 89% số công ty vốn mạo hiểm chọn các dự án công nghệ cao trong lĩnh vực
Trang 25khoa học hoặc chọn các công ty công nghệ cao non trẻ, có nhiều tiềm năng Vào cuốn năm 2001 thị trường vốn mạo hiểm ở Trung Quốc có khoảng 150 công ty với
số vốn hơn 1 tỷ USD Với những bước phát triển nhanh về kinh tế, về môi trường đầu tư và vai trò ủng hộ của chính phủ thì hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm ở Trung Quốc ngày càng phát triển và tạo được sự quan tâm của các nhà đầu tư mạo hiểm quốc tế
- Ở Singapore, đã có những tín hiệu cho thấy, chính phủ Singapore tận dụng tiềm năng phát triển của loại thị trường vốn mạo hiểm này, họ đã và đang nỗ lực thiết lập trung tâm để nguồn vốn đầu tư mạo hiểm được luân chuyển Khởi đầu từ năm 1985, với sự hoạt động rất tích cực của Uỷ ban Phát triển Kinh tế, nhằm thúc đẩy sự vận động của lĩnh vực tài chính này, đến nay, ước tính có tới 82 quỹ đầu tư mạo hiểm ở Singapore với tổng số vốn lên tới 8,8 tỷ SGD (5,28 tỷ USD), đã thực hiện 341 khoản đầu tư có trị giá 921 triệu SGD, trong đó 17% dành cho 50 công ty của Singapore Trong số 50 công ty này, thì có tới 34 công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ, 16 là những công ty mới thành lập
Có thể nói hoạt động của các quỹ là khá sôi động với phạm vi rất rộng, trãi qua nhiều quốc gia và châu lục
1.8.2) Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Để ngành vốn mạo hiểm lớn mạnh, điều cốt yếu là phải có nhiều doanh nghiệp có tiềm năng, đang cần vốn để đầu tư, đổi mới, và có nhiều nguồn cung cấp các ý tưởng đổi mới Do đó, khu vực kinh tế tư nhân cần được hỗ trợ phát triển mạnh mẽ, lĩnh vực công nghệ cao, trọng điểm đặc biệt phải được chú trọng, tập
trung phát triển
Những nước có ngành công nghiệp vốn mạo hiểm phát triển đều là những nước có thị trường chứng khoán tồn tại khá lâu trước khi có sự ra đời của các quỹ đầu tư mạo hiểm Bên cạnh đó họ còn thành lập thị trường riêng dành cho các công
ty vừa và nhỏ, công ty mới thành lập có tiềm năng (chẳng hạn ở Nhật Bản)
Cần có một cơ chế hiệu quả để dẫn vốn từ các nhà đầu tư mạo hiểm đến các doanh nghiệp Hình thức câu lạc bộ những nhà đầu tư đã xuất hiện từ rất
Trang 26lâu Hầu hết các nước đều thiết lập Hiệp Hội vốn mạo hiểm, một trung tâm để nguồn vốn mạo hiểm được luân chuyển thuận tiện trong khu vực (Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan…)
Kinh nghiệm của Mỹ cho thấy, điều quan trọng là phải phát triển các nguồn tài chính cho vốn mạo hiểm, chẳng hạn như các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí và các nhà đầu tư tư nhân Ví dụ: cho phép các tổ chức như các Quỹ hưu trí hoặc các công ty bảo hiểm được đầu tư kinh doanh vốn mạo hiểm (Những sửa đổi trong Luật Đảm bảo An ninh cho những người hưu trí của Mỹ)
Ngoài ra cũng cần phải đẩy mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng các công ty tư vấn, giúp doanh nghiệp trong việc tiếp cận các quỹ đầu tư mạo hiểm
Môi trường pháp lý cần vững chắc, qui định về sổ sách kế toán gọn nhẹ, đáp ứng so với các thông lệ tốt nhất của quốc tế, để không gây trở ngại cho các chuyên gia quản lý người nước ngoài và tạo thuận lợi cho sự đầu tư của khu vực tư nhân
Chính phủ thường có nhiều biện pháp khuyến khích, ưu đãi áp dụng cho các quỹ đầu tư mạo hiểm Một số nước như Indonesia, Malaysia… miễn thuế đối với thu nhập vốn từ việc bán các công ty nhận vốn đầu tư và cổ tức từ các công ty nhận vốn đầu tư Nhiều nền kinh tế như Hông Kông, Nhật, Ấn Độ, Đài Loan, Hàn Quốc đã cho phép người nước ngoài sở hữu 100% vốn của các công ty quản lý quỹ Riêng tại Trung Quốc, năm 2002 tỷ lệ này là 33% và đến năm 2005 tăng lên 49% Ở Bỉ chính phủ đầu tư cổ phần để đầu tư trực tiếp vào các hãng kinh doanh vốn mạo hiểm, hoặc vào các doanh nghiệp nhỏ Hay chính phủ cho vay cung cấp các khoản vay với lãi suất thấp, dài hạn hoặc có thể không phải trả lãi cho các hãng kinh doanh vốn mạo hiểm hoặccác doanh nghiệp nhỏ (Chương trình cho vay tài chính để phát triển Doanh nghiệp của Đan Mạch)
Bên cạnh đó chính phủ cũng có thể sử dụng các kích thích bằng tài chính như các khuyến khích bằng thuế cho những nhà đầu tư vào các doanh nghiệp nhỏ hoặc quỹ đầu tư mạo hiểm trong (Chương trình đầu tư cho Doanh nghiệp vốn mạo hiểm của Anh) Bảo lãnh một phần cho những tổn thất của các khoản đầu tư mạo hiểm có mức độ rủi ro cao( ở Phần Lan)
Trang 27Bên cạnh sự tồn tại và phát triển của mô hình quỹ hải ngoại, các nước cũng chú trọng đến việc thành lập mô hình quỹ nội địa, các công ty đầu tư tư nhân trong nước Một nhân tố quan trọng nữa đóng góp vào sự thành công của việc thu hút vốn mạo hiểm ở một số nước Châu Á chính là chính phủ đã tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài qua việc đảm bảo lợi ích cho nhà đầu tư, có chính sách thiết thực và giữ đúng lời hứa khi kêu gọi đầu tư…
Tóm lại, để hỗ trợ cho việc phát triển thị trường vốn mạo hiểm, chính phủ nhiều nước trên thế giới đã có các loại chương trình đầu tư mạo hiểm khác nhau với 3 hình thức chủ yếu là: đầu tư vốn trực tiếp (đầu tư cổ phần, vốn vay của chính phủ), đưa ra các chính sách khuyến khích về tài chính (khuyến khích thuế, bảo lãnh vay, bảo lãnh cổ phần) hoặc tạo cơ chế thông thoáng cho các nhà đầu tư mạo hiểm hoạt động
Nắm bắt được những đặc trưng, tính chất, cơ cấu và những hiệu quả mà vốn đầu tư mạo hiểm mang đến cho các doanh nghiệp sẽ cho chúng ta một cái nhìn toàn diện hơn về nguồn vốn tài trợ đầy tiềm năng này Đồng thời nghiên cứu thị trường vốn đầu tư mạo hiểm trên thế giới sẽ giúp cho chúng ta có những bài học kinh nghiệp trong việc phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm Việt Nam
Trang 28CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG VỐN ĐẦU TƯ MẠO HIỂM Ở VIỆT NAM
2.1) Thực trạng hoạt động của vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam
- Ngày 11/1/2007 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO, sự kiện này đã mở ra một bước tiến mới cho nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển Với những lợi thế của một nền kinh tế đang phát triển, có nhiềm tiềm năng cho những cơ hội phát triển là một mảnh đất khá màu mỡ để thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
- Thực tế cho thấy khối doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam đang rơi vào tình trạng khát vốn do bị những hạn chế tiếp cận với các nguồn vốn đầu tư Trong những năm qua mặc dù đầu tư nước ngoài đã đóng góp một phần khá quan trọng cho nhu cầu khát vốn của các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp mới khởi sự với những ý tưởng sáng tạo về khoa học công nghệ thì việc tiếp cận vốn đầu tư vẫn còn nhiều khó khăn Hiện nay, đối với nước ta vấn đề phát triển khoa học công nghệ là rất quan trọng để tạo ra những bước tiến vượt bậc nhằm đi tắt đón đầu trong lĩnh vực này Vì vậy khuyến khích và tạo mọi điều kiện để các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này phát triển có ý nghĩa rất lớn Tuy nhiên, với ngân sách và tiềm lực tài chính còn hạn hẹp thì các doanh nghiệp này cần phải có một sự tài trợ vốn thật sự hiệu quả
- Kể từ khi thực hiện chính sách cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, cũng như những thay đổi trong qui định về thành lập doanh nghiệp thì số lượng các doanh nghiệp ở Việt Nam tăng lên đáng kể, hiện nước ta có khoảng 300.000 doanh nghiệp (trong số đó khoảng 90% là doanh nghiệp vừa và nhỏ) và theo kế hoạch đến năm 2010 con số này sẽ là 500.000 doanh nghiệp Như vậy nhu cầu về vốn đã, đang
và sẽ là một vấn đề đáng quan tâm đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong thời hội nhập
Trang 29- Các quỹ ĐTMH hoạt động tại Việt Nam ngoài những đặc điểm chung của các quỹ ĐTMH trên thế giới thì khi hoạt động tại Việt Nam nó còn mang những đặc điểm riêng do môi trường kinh doanh tại Việt Nam mang đến Môi trường kinh doanh nước ta chịu sự tác động mạnh mẽ của hai nhân tố chính đó là nhân tố nội tại nền kinh tế và chính sách điều hành vĩ mô của chính phủ
- Nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển của khu vực Châu
Á, đang trong xu thế hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới với tư cách là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới - WTO Xuất phát điểm của nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế chủ yếu dựa vào kinh tế nông nghiệp, điều này giống với các quốc gia trong vùng Đông Nam Á và hiện nay nước ta đang trên đường CNH- HĐH Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh thị trường
- Để phân tích tình hình hoạt động của vốn ĐTMH ở thị trường Việt Nam chúng ta có thể chia làm 3 giai đoạn:
• Giai đoạn từ 1991 đến 2002: đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên của một số quỹ ĐTMH vào thị trường Việt Nam, nhưng sau đó hầu hết các quỹ này đã rút khỏi Việt Nam do hoạt động không hiệu quả
• Giai đoạn từ 2002 đến 2006: có những dấu hiệu tích cực từ nền kinh tế, thị trường chứng khoán từng bước phát triển, cơ hội đầu tư ở Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn và đã có sự xuất hiện trở lại của các quỹ ĐTMH với qui mô vốn lớn hơn đầu tư vào thị trường Việt Nam
• Giai đoạn 2007 đến nay: nhiều quỹ đầu tư nước ngoài xuất hiện tại Việt Nam, các quỹ này tập trung đầu tư theo những lĩnh vực khác nhau
Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2002:
- Sau Đại Hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986), nền kinh tế Việt Nam từng bước chuyển sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Các doanh nghiệp nhà nước cũng như các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều được nhà nước bảo hộ quyền và các lợi ích hợp pháp Công cuộc đổi mới nến kinh tế đã mang lại những thành tựu quan trọng và tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển
Trang 30- Đại Hội Đảng lần thứ VII (tháng 06/1991) với việc ra đời đường lối “chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2000” đã tạo ra những dự báo tích cực về tăng trưởng vĩ mô và môi trường kinh doanh tại Việt Nam Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút khá lớn dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn 1991-1995 Và cùng với luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn đầu tư mạo hiểm cũng nhanh chóng có mặt tại Việt Nam nhằm tìm kiếm
cơ hội đầu tư vào các dự án có tiềm năng cao như triển vọng của dự báo kinh tế
• Từ năm 1991-1995: Vốn đầu tư mạo hiểm chảy vào Việt Nam tăng dần, các nhà đầu tư lạc quan về khả năng sinh lời của các dự án đầu tư do làn sóng công nghiệp hóa đang lan rộng tại khu vực Đông Nam Á đã tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thu hút FDI vào các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam, sự kỳ vọng của nhà đầu tư về một thị trường chứng khoán sớm ra đời theo dự định của chính phủ là một nhân tố thúc đẩy việc gia tăng vốn mạo hiểm trong giai đoạn này
Hình 1: Qui mô vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam từ 1991 đến 2002
Nguồn: Asia Venture Capital Journal
• Từ năm 1996-1999: không có sự tăng trưởng đáng kể về vốn mạo hiểm ở thi trường Việt Nam Với suy nghĩ cho rằng ở một đất nước có tiềm năng tăng trưởng cao và rất nhiều cơ hội đầu tư như ở Việt Nam thì việc sử dụng số vốn
Trang 31đã huy động được sẽ là điều không mấy khó khăn, nhưng thực tế qua một thời gian
hoạt động thì mọi việc lại không dễ dàng như vậy và dường như các quỹ này đã
nhận ra rằng họ không biết đầu tư vào đâu với số tiền đã huy động Ngoài ra, cuộc
khủng hoảng tài chính năm 1997 càng làm cho việc thu hút vốn mạo hiểm trở nên
khó khăn hơn Riêng năm 1999, vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam tăng khá mạnh
do các quỹ đang có mặt tại Việt Nam tiếp tục rót vốn vào trước việc chính phủ ban
hành hàng loạt các quy định khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn vào
các công ty tư nhân trong nước Bên cạnh đó, thông tin về khai trương trung tâm
giao dịch chứng khoán đầu tiên của Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh vào năm 2000
góp phần gia tăng dòng vốn mạo hiểm vào Việt Nam
Bảng 1: Các quỹ ĐTMH tại Việt Nam từ 1991 đến 1996
Qui mô (Triệu USD)
2 TempletonVietnamOpportunities Fund 1993 113
6 Vietnam Frontier Investments Ltd 1995 17
7 Vietnam Enterprise Investments Ltd 1995 17
8 Southeast Asian Frontier Fund 1996 12.5
- Nguồn: Mekong Private Sector Development Facitily
Với gần 400 triệu USD huy động được từ bên ngoài, các quỹ đã nhanh chóng
bắt tay vào tìm đối tác ở Việt Nam, thẩm định dự án và tiến hành bỏ vốn đầu tư
Tuy nhiên, sau một thời gian mặc dù đã đầu tư vào nhiều lĩnh vực nhưng đến cuối
năm 1999, các quỹ này chỉ đầu tư được khoảng 172.71 triệu USD, chiếm chỉ
46.23% trên tổng số vốn mà các quỹ đã huy động được
Trang 32Bảng 2:Tình hình sử dụng vốn của các quỹ ĐTMH đến cuối năm 1999
STT Tên Quỹ Vốn (USD) Vốn đã đầu tư
2 Beta Vietnam Fund 52.200.000 34.446.000 65.99
3 Beta Mekong Fund 17.900.000 4.222.000 23.59
5 Vietnam Frontier Fund 53.100.100 37.300.000 70.24
6 Lazard Vietnam Fund 59.000.000 10.000.000 19.95
7 Templeton Vietnam Fund 110.000.000 22.000.000 20.00
Tổng Cộng 373.580.000 172.708.396 46.23
- Nguồn :The VietNam Bussiness Journal
• Từ năm 1996 đến 2002 không có một quỹ đầu tư mạo hiểm mới nào tiếp
tục đi vào hoạt động tại thị trường Việt Nam, trong khi ở các nước khác trong khu
vực vốn đầu tư mạo hiểm lại tăng lên và có dấu hiệu phục hồi sau cuộc khủng
hoảng kinh tế
• Từ năm 2000 đến 2002: qui mô vốn đầu tư mạo hiểm đã có sự sụt giảm
đáng kể tại thị trường Việt Nam (từ 318 triệu USD năm 1999 xuống còn 157 triệu
USD vào năm 2000), đây cũng là giai đoạn mà nhiều quỹ đầu tư mạo hiểm đã rút
khỏi thị trường Việt Nam sau một thời gian hoạt động không đạt kết quả như mong
đợi
Templeton và Lazard Fund, ngay từ giai đoạn đầu 2 quỹ này đã quyết định
rời bỏ cuộc chơi Với mục tiêu là nhắm vào những dự án lớn, hai quỹ này chỉ có thể
đầu tư vào một vài dự án với qui mô vốn nhỏ Khó khăn trong việc khai thác và tìm
kiếm các cơ hội đầu tư đã khiến cho các nhà lãnh đạo của những tổ chức này quyết
định cơ cấu lại đồng vốn, một phần trả lại cho các cổ đông, một phần chuyển qua
các quỹ khác để tiếp tục đầu tư ở Đông Nam Á,…chẳng hạn như Lazard đã phải
bán lại 6,6 triệu USD phần vốn của họ trong liên doanh sản xuất đường với tập đoàn
Trang 33Nagarjuna cho bên liên doanh và 6,6 % phần vốn trong công ty cơ điện lạnh REE (dưới hình thức cổ phần ) cho Dragon Capital với trị giá khoảng 1 triệu USD
Bảng 3: Số lượng quỹ ĐTMH ở Châu Á từ 1992 đến 2002
1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Australia 33 43 53 54 62 66 85 124 168 169 175
Nguồn:The 2004 Guide to Venture Capital in Asia
Frontier Vietnam Fund cũng không nằm ngoài trường hợp đó, tuy trong
thời gian đầu, Frontier Vietnam Fund đã đầu tư được 37,3 triệu USD trong tổng số 53,1 triệu USD huy động được vào rất nhiều dự án Nhưng sau một thời gian dài làm ăn không có hiệu quả, Frontier Vietnam Fund đã quyết định rút khỏi Việt Nam Tuy nhiên, các quỹ này vẫn cử người ở lại theo dõi các dự án đang còn sinh lợi và
dự án có khả năng chưa thu hồi vốn, đến tháng 7 -2004 Frontier Vietnam Fund đã quyết định chuyển nhượng khoảng vốn đầu tư khoảng 30 triệu USD còn lại trong các doanh nghiệp Việt Nam để giải thể và đóng quỹ
Khác với ba quỹ trên, bốn quỹ còn lại hoạt động với thời gian dài hơn Trong những năm đầu, các quỹ này đã xây dựng được các danh mục đầu tư cho riêng mình
và tiến hành bỏ vốn đầu tư dưới hai hình thức chủ yếu là góp vốn trực tiếp và cho
Trang 34vay chuyển đổi (convettible loan ) – là hình thức vay dược các ngân hàng địa phương đảm bảo và các quỹ có quyền chuyển số tiền cho vay thành vốn cổ phần ở một thời điễm được ấn định trước trong hợp đồng Ngoài ra, hình thức cho vay chuyển đổi này cũng được các quỹ sử dụng nhằm đối phó với các chính sách giới hạn số lượng cổ phần bán cho người nước ngoài
Vietnam Fund – quỹ có mặt sớm nhất tại Việt Nam – tính đến 1998 đã đầu
tư dược 41,04 triệu USD trong tổng số 54.38 triệu USD huy động được (chiếm khoảng 75,47% vốn của quỹ ) vào cổ phần của hai ngân hàng thương mại và một số công ty lớn khác của Việt Nam, nhưng nhiều khó khăn nảy sinh đã buộc các nhà quản lý quỹ đã phải án binh bất động Bước đầu, những nhà quản lý của quỹ đã quyết định trả lại 17,8 triệu USD chưa đầu tư được cho các cổ đông để giảm chi phí cho việc quản lý số tiền chưa được đầu tư cho công ty quản lý quỹ Ngoài ra, quỹ cũng nhận được khoản thanh lý từ 3 dự án lớn là: John Suisse(Asia) với 2.070.891USD, Maritime Bank với 2.301.164USD và Dragon Property (HN Plaza) với 4.902.294USD Vietnam Fund cũng đã đầu tư vào 2 công ty tư nhân là Huy Hoàng, Hừng Sáng và Ngân hàng VP Bank Tuy nhiên do những sai lầm trong hoạt động kinh doanh của 2 công ty này đã làm cho Vietnam Fund gặp nhiều khó khăn trong việc thu hồi vốn, và hoạt động của quỹ kém hiệu quả
Lazard Fund với số vốn huy động vào Việt Nam 59 triệu USD thì chỉ có 10
triệu USD được đầu tư (chỉ được 16%) Quyết định rút khỏi Việt Nam đã
buộc Lazard Fund bán lại phần vốn trong liên doanh sản xuất đường của tập đoàn Nagarjuna (Ấn Độ) và bán cổ phần của họ trong công ty cơ điện lạnh REE cho Dragon Capital
Beta Fund (gồm Beta VN Fund và Beta Mekong Fund) là còn tiếp tục định
hướng làm ăn lâu dài tại Việt Nam Quỹ đầu tư được 50 triệu USD trên tổng số vốn gần 80 triệu USD đã huy động (khoản 62%) vào 17 dự án như:Vinataxi, Saigon Water Park, Pacific R.I.M, trường Quốc Tế TPHCM,…thế nhưng do nhiều nguyên nhân như thiếu cách thức thu hồi vốn, chính sách nhà nước, không đánh giá đúng tiềm năng thực sự cũng như tinh thần hợp tác của các đối tác Việt Nam đã làm cho
Trang 35quỹ không còn hăng hái tìm kiếm những cơ hội đầu tư mới và dần rút khỏi Việt Nam
Vietnam Enterprise Investments Ltd (do công ty Dragon Capital quản lý)
đây là quỹ duy nhất còn hoạt động tại thị trường Việt Nam cho đến nay Quỹ có qui
mô vốn nhỏ nhưng hoạt động khá sôi nổi, quỹ không nhắm đến những dự án có qui
mô lớn mà mục tiêu chủ yếu là những dự án có qui mô vừa và nhỏ đang làm ăn có hiệu quả
Như vậy, trong giai đoạn từ 1991 đến 2002 có thể nói hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam không đạt được thành công Các quỹ sau thời gian đi vào hoạt động không hiệu quả đã dần rút khỏi thị trường Việt Nam
Về nguyên nhân bên ngoài có thể thấy rằng các nước trong khu vực đã dần dần hồi phục sau cuộc khủng hoảng nên các quỹ đầu tư mạo hiểm sau một thời gian không thu được kết quả ở Việt Nam đã bắt đầu rút vốn và chuyển hướng đầu tư sang các nước trong khu vực
Nhưng nếu xét về nguyên nhân từ nền kinh tế trong nước có thể thấy rằng:
• Do thị trường chứng khoán mới ra đời ở Việt Nam và dừng như chưa thể vận hành mạnh mẽ để thật sự trở thành kênh thu hồi vốn cho các quỹ
• Do số lượng doanh nghiệp nhà nước còn khá nhiều, sự phát triển của các công ty tư nhân còn hạn chế và bị chèn ép, chưa được sự hỗ trợ mạnh mẽ để phát triển
• Do cơ chế pháp lý ở Việt Nam còn rất nhiều hạn chế cho loại hình đầu
tư mới này
Giai đoạn 2002 đến 2006:
- Ngày 22/04/2002 với sự ra đời của MeKong Enterprise Fund (MEF)-Do MeKong Capital quản lý với tổng số vốn đầu tư 18.5 triệu USD đã đánh dấu sự phục hồi của thị trường vốn mạo hiểm tại thị trường Việt Nam Các nhà đầu tư của quỹ bao gồm: Ngân hàng phát triển Châu Á(ADB), Quỹ Phát Triển Bắc Âu (NDF), Văn phòng vụ kinh tế Thụy Sĩ (SECO), quỹ hợp tác công nghiệp Phần Lan
Trang 36(Finnfund), công ty đầu tư vào các nước đang phát triển của Bỉ(BIO),… Đây là quỹ đầu tư mạo hiểm chuyên đầu tư vào các doanh nghiệp tư nhân có tiềm năng ở khu vực sông MeKong gồm: Việt Nam, Lào và Capuchia, quỹ chủ yếu tập trung đầu tư vào các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ, đặc biệt là quỹ sẽ ưu tiên đầu tư vào những công ty xuất khẩu tận dụng được lợi thế cạnh tranh của vùng
Hình 2: Vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam từ 2002 đến 2006
Nguồn :Asia Venture capital Journal
- Ngày 11/11/2003, Vina Capital –Công ty quản lý của Quỹ đầu tư tư nhân Vietnam Opportunity Fund(VFF) đã chính thức đi vào hoạt động tại thị trường Việt Nam Số vốn ban đầu của quỹ là 10 triệu USD, dự kiến sẽ tăng lên 50 triệu USD trong vòng 3 năm tiếp theo và được thành lập bởi các thành viên: Milleniu, Partners (New York), Deustche Bank Securities, HongKong’a Sun Wah Group, Pacific Alliance Group Đối tượng mà quỹ nhắm đến để đầu tư là các doanh nghiệp đang hoạt động kém hiệu quả, quỹ sẽ tham gia vào quá trình tái cơ cấu để nâng cao giá trị
và phát triển doanh nghiệp sau đó tiến hành bán lại hoặc đưa ra niêm yết trên thị trường chứng khoán
- Ngày 28/08/2003 công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (VietFund Management-VFM) ra đời, VFM có số vốn pháp định là 8 tỷ Đồng, trụ
sở đặt tại TPHCM do các nhà đầu tư là ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) đóng góp 70% vốn và Dragon capital đóng góp 30% Ngoài nguồn
Trang 37vốn tự có, VFM sẽ huy động thêm nguồn vốn từ bên ngoài từ các tổ chức tài chính, các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước để tham gia đầu tư vào nền kinh tế, chủ yếu là thông qua thị trường chứng khoán
- Tháng 8/2004 quỹ đầu tư mạo hiểm IDG Venture Vietnam đã chính thức đi vào hoạt động, trong giai đoạn đầu IDGVV sẽ tiến hành khảo sát nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam và sẽ tiến hành đầu tư 100triệu USD vào khoản 30-40 doanh nghiệp có triển vọng kinh doanh tốt với mức dự tính như sau: 30% vốn cho ngành viễn thông và công nghệ không dây, 25% vốn cho công nghiệp phần mềm, 15% vốn cho ngành công nghệ sinh học và phần vốn còn lại (30%) cho các ngành khác
- Năm 2006, vốn đầu tư mạo hiểm có sự tăng trưởng đáng kể, từ 500triệu USD năm 2005 tăng lên 2.300triệu USD năm 2006 Và sự xuất hiện của quỹ Vietnam Holding có số vốn 112 triệu USD cũng làm giới tài chính chú ý, 60% nguồn vốn của quỹ này được huy động từ các nhà đầu tư Thụy Sĩ Tháng 09/2006
thủ tướng Đan Mạch đã cắt băng khánh thành khai trương quỹ đầu tư Private Equity New Markets (PENM) được quản lý bởi ngân hàng BankInvest Đan Mạch
– quản lý khối tài sản 23tỷ USD, trong đó dành 3tỷ USD đầu tư vào các nước đang phát triển Ngoài ra, trong năm 2006 cũng xuất hiện một số quỹ đầu tư ở Việt Nam như: DWS Vietnam Fund của ngân hàng Deutsche Bank, BIDV-Vietnam Partners' Vietnam Investment Fund, Dragon Capital Management's Vietnam Growth Fund Limited , Korea Investment Trust Management's Vietnam Growth Fund, Golden Bridge Financial Group's Vina Blue Ocean Fund
Từ 2007 đến nay: với sự xuất hiện của khá nhiều quỹ đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam, từ Hàn Quốc có các quỹ: Korea WW CHN Viet MC EQ, MA Maps Oppo Viet & CHN, Tongyang Vietnam, KITM WW Vietnam Real Est; từ Singapore: DBS Indochina Fund, Lion Capital Vietnam Fund và Fullerton Vietnam Fund; từ Malaysia có quỹ: Hwang/DBS Indochina Fund; từ Anh có quỹ: Indochina Capital Vietnam, và từ Liechtenstein có quỹ T.I.M Vietnam Tiger Fund
Hiện tại số quỹ đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam khá nhiều khoảng 56 quỹ (xem chi tiết phần phụ lục 3), và phân loại theo hình thức đầu tư như sau:
Trang 38• Đầu tư chủ yếu vào cổ phần tư nhân: 3 quỹ
• Đầu tư công nghệ cao và đầu tư mạo hiểm: 3 quỹ
• Đầu tư vào bất động sản: 7 quỹ
• Đầu tư vào cổ phiếu niêm yết, các công ty cổ phần và các khoản đầu
tư cơ hội: 43 quỹ
Như vậy, tuy có khá nhiều quỹ đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam nhưng quỹ mang tính chất đầu tư vốn mạo hiểm thì lại rất ít (3/56 quỹ)
2.2) Vì sao các quỹ đầu tư mạo hiểm lại hoạt động không thành công như mong đợi tại thị trường Việt Nam ?
- Việt Nam được đánh giá là một thị trường đầy tiềm năng cho hoạt động đầu
tư vốn mạo hiểm, tuy nhiên thị trường vốn mạo hiểm tại Việt nam thời gian qua đã không đạt được những kết quả như người ta từng mong đợi Ta thấy rằng, các quỹ đầu tư vốn mạo hiểm đang hoạt động ở Việt Nam đều là quỹ hải ngoại nên khi tham gia vào thị trường Việt Nam các quỹ này còn bị hạn chế về số vốn và ngành nghề đầu tư Các quỹ chủ yếu tập trung đầu tư vào những doanh nghiệp đã trưởng thành chứ không phải là những doanh nghiệp mới khởi sự, do đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam rất khó tiếp cận được nguồn vốn tài trợ này
- Theo đúng đặc điểm của vốn mạo hiểm thì thời điểm doanh nghiệp phát hành IPO là thời điểm mà doanh nghiệp sẽ tiến hành công cuộc thoát vốn của các quỹ, trong khi ở Việt Nam đây là giai đoạn để các quỹ tiến hành đầu tư vào các doanh nghiệp Như vậy, giữa cung vốn đầu tư mạo hiểm của các quỹ và cầu vốn đầu tư mạo hiểm của các doanh nghiệp Việt Nam chưa tìm được một điểm chung để
có thể phát huy được hiệu quả thật sự của kênh tài trợ vốn này
- Sự hạn chế về hiệu quả hoạt động của vốn đầu tư mạo hiệm tại Việt Nam xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau mà qua tìm hiểu ta có thể nhận thấy bên cạnh những thuận lợi mà thị trường Việt Nam có được vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề làm hạn chế hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm
Trang 392.2.1) Những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của vốn ĐTMH:
• Việt Nam có ưu thế về môi trường đầu tư, được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao, ổn định
• Việt Nam là một thị trường mới, rất có nhiều tiềm năng để khai thác một tỉ suất sinh lợi cao, đặc biệt là cho các nhà đầu tư mạo hiểm
• Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã trở thành điểm đến của rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài bởi những chính sách mở của thông thoáng hơn, từng bước cải thiện môi trường pháp lý, môi trường đầu tư và các doanh nghiệp trong nước ngày càng năng động hơn
• Thực hiện chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, số lượng doanh nghiệp gia tăng mạnh mẽ trong thời gian qua, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ đã mở ra rất nhiều cơ hội cho các quỹ đầu tư lựa chọn
Bảng 4: Thống kê số lượng doanh nghiệp Việt Nam từ 2000 đến 2007
• Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào, có nguồn nhân công giá rẻ cũng như yếu tố giá thành trong sản xuất và nghiên cứu thấp nên sẽ giảm được chi phí hoạt động
• Đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao, hiện có một lực lượng các chuyên gia, các nhà khoa học là người Việt Nam ở nước ngoài Đây là một lực lượng hùng hậu, có trình độ đã và đang làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao trên thế giới, họ có mong muốn được tham gia xây dựng và chuyển giao công nghệ về Việt Nam, được tham gia làm việc và đóng góp sức lực, trí tuệ cho sự phát triển của công nghệ Việt Nam
• Sự phát triển và từng bước hoàn thiện để TTCK phát triển bền vững trong thời gian vừa qua là những dấu hiệu tích cực cho nền kinh tế
Trang 40Ngày 20/07/2000 TTGDCK TP.HCM đã chính thức đi vào hoạt động, ngày 11//05/2007 thủ tướng chính phủ đã ký ban hành nghị định 599/QĐ-TTg chuyển TTGDCK TP.HCM thành SGDCK TPHCM Sau 8 năm với sự tăng trưởng của thị trường và hội nhập với thị trường chứng khoán thế giới cho đến nay TTCK VN đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ Tính đến hết ngày 31/12/2007 toàn thị trường đã có 62 công ty chứng khoán thành viên của Sở với tổng số vốn đăng ký là 9.960 tỷ đồng Các thành viên hầu hết đều được cấp giấy phép hoạt động cho các nghiệp vụ như môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành và tư vấn đầu tư Và một bước tiến mới của SGDCK TP.HCM là kể từ ngày 30/07/2007 thực hiện khớp lệnh liên tục
Ngày 08/03/2005 TTGDCK Hà Nội chính thức khai trương hoạt động đã đánh dấu một bước tiến mới của thị trường chứng khoán Việt Nam
2.2.2) Những khó khăn, trở ngại làm cho thị trường vốn ĐTMH ở Việt Nam không phát triển mạnh:
2.2.2.1) Nguyên nhân nội tại nền kinh tế:
+ Việt Nam hiện là một nước đang phát triển với một điểm xuất phát là một nước nông nghiệp lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề Nền kinh tế vẫn còn dựa vào nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ chiếm một tỉ trọng chưa cao Qui mô các ngành kinh tế của Việt Nam còn khá nhỏ bé so với quốc tế và các nước trong khu vực
+ Với chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đã được triển khai nhưng còn gặp nhiều trở ngại Một thời gian dài đa số các doanh nghiệp điều là doanh nghiệp nhà nước nên các quỹ đầu tư mạo hiểm có rất ít cơ hội để đầu tư Trong thời gian triển khai việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước chúng ta gặp phải những khó khăn về:
• Xác định giá trị doanh nghiệp chưa đúng gây nên thất thoát và lãng phí tài sản nhà nước trong và sau quá trình cổ phần hóa
• Việc xử lý các khoản nợ còn tồn đọng gây nhiều khó khăn
• Chất lượng định giá doanh nghiệp của nhiều tổ chức cung ứng dịch vụ thẩm