1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kế toán quản trị chi phí xây dựng của công ty cổ phần cầu 14

88 411 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 802,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phí có vai trò rất lớn trong các khâu của quá trình quản lý xây dựng một công trình, hạng mục công trình cầu, từ việc lập kế hoạch thông qua việc lập dự toán chi phí đến việc thực hiện,

Trang 2

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Tình Tình hình biến động tài sản, nguồn vốn của Công ty Cổ phần Cầu 14 qua 3 năm 2011- 2013 Error: Reference source not foundBảng 3.2: Tình hình biến động tài sản, nguồn vốn của Công ty Cổ phần Cầu 14 qua 3 năm 2011, 2012, 2013 Error: Reference source not foundBảng 3.3: Dự toán nhân công trực tiếp công trình gói thầu A2 An Sương - An Lạc giai đoạn khoan cọc nhồi mố A2 đến trụ T6 .Error: Reference source notfound

Bảng 3.4: Dự toán nhân công trực tiếp công trình gói thầu A2 An Sương - An Lạc giai đoạn khoan cọc nhồi mố A2 đến trụ T6 .52Bảng 3.5: Dự toán máy thi công chính công trình gói thầu A2 An Sương- An Lạc giai đoạn khoan cọc nhồi mố A2 đến trụ T6 53Bảng 3.6: Dự toán nhiên liệu sử dụng cho máy thi công chính công trình gói thầu A2 An Sương- An Lạc giai đoạn khoan cọc nhồi mố A2 đến trụ T6 54Bảng 3.7: Dự toán chi phí sản xuất chung công trình gói thầu A2 An Sương- An Lạc 55Bảng 3.8: Sổ cái TK621 công trình gói thầu A2 giai đoạn khoan cọc nhồi mố A2 đến trụ T6 58Bảng 3.9: Sổ cái TK622 công trình gói thầu A2 giai đoạn khoan cọc nhồi từ mố A2 đến trụ T6 Error: Reference source not foundBảng 3.10: Sổ cái TK623 công trình gói thầu A2 giai đoạn khoan cọc nhồi từ

Trang 3

Bảng 3.15: Chi phí nhân công trực tiếp công trình gói A2 An Sương- An Lạc năm 2013 Error: Reference source not foundBảng 3.16: Chi phí máy thi công công trình gói A2 An Sương- An Lạc năm 2013 Error: Reference source not foundBảng 3.17: Chi phí sản xuất chung trình gói A2 An Sương- An Lạc giai đoạn khoan cọc nhồi Error: Reference source not foundBảng 3.18: Tổng hợp chi phí công trình An Sương- An Lạc giai đoạn khoan cọc nhồi mố A2 đến trụ T6 Error: Reference source not found

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 6

PHẦN I

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Bước sang thế kỉ 21, đặc biệt trong những năm gần đây, Việt Nam đã và

đang tiến hành nhanh chóng việc cải tạo, mở rộng và xây dựng mới nhiều cơ sở

hạ tầng làm thay đổi bộ mặt đất nước và góp phần to lớn việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, từng bước hiện thực hoá quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Do đó việc phát triển hệ thống công trình xây dựng cơ bản ngày càng được chú trọng, trong đó các công ty xây dựng cầu đường đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển, đổi mới hệ thống hạ tầng cơ sở của đất nước, phục vụ nhu cầu sinh hoạt, đi lại, giao thương giữa các địa phương, các vùng, miền của người dân và thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển

Hiện nay có rất nhiều công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nói chung và công ty xây dựng cầu nói riêng do đó để cạnh tranh về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải phụ thuộc rất lớn vào giá đấu thầu các công trình, hạng mục công trình của các công ty xây dựng cầu Giá đấu thầu càng thấp thì khả năng thắng thầu để nhận thi công công trình, hạng mục công trình càng cao Do đó thông tin về chi phí xây dựng giúp nhà quản trị kiểm soát chi phí, có các biện pháp hạ giá thành nhưng vẫn đảm bảo chất lượng công trình, hạng mục công trình từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh thắng thầu Để phục vụ nhu cầu thông tin về chi phí thì kế toán chi phí là công cụ hữu hiệu, không chỉ quan trọng đối với doanh nghiệp mà còn quan trọng đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà đầu tư cạnh tranh, các đối tác Công tác kế toán quản trị chi

Trang 7

phí có vai trò rất lớn trong các khâu của quá trình quản lý xây dựng một công trình, hạng mục công trình cầu, từ việc lập kế hoạch thông qua việc lập dự toán chi phí đến việc thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và ra quyết định của nhà quản lý,

là cơ sở để định giá đúng giá trị công trình, hạng mục công trình và hạch toán kinh tế nội bộ, là căn cứ để xác định kết quả kinh doanh

Là một trong những đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản ngành Giao thông vận tải, Công ty Cổ phần Cầu 14 trực thuộc Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 1, trong quá trình hoạt động của mình đã cho ra đời hàng trăm công trình giao thông lớn, nhỏ tại rất nhiều các địa phương trên cả nước tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội Chính vì vậy, công tác quản lý chi phí xây dựng công trình có nhiệm vụ rất quan trọng Công

ty đã triển khai và áp dụng nhiều các phương pháp và cách thức quản lý khác nhau cho từng hạng mục công trình xây dựng, tuy nhiên vẫn còn những bất cập tồn tại trong thực tế xây dựng cần hoàn thiện Xuất phát từ lý luận và thực tiễn của quản lý sản xuất kinh doanh và yêu cầu đặt ra cho công tác kế toán quản trị

chi phí xây dựng công trình, em lựa chọn đề tài: “ Kế toán quản trị chi phí xây dựng của Công ty Cổ phần Cầu 14” cho bài thực tập khoá luận tốt nghiệp của

Trang 8

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá kiến thức lý thuyết về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng

- Tìm hiểu, đánh giá thực tế công tác kế toán quản trị chi phí của công ty

Cổ phần Cầu 14 qua công trình gói thầu A2 An Sương- An Lạc

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của kế toán quản trị chi phí trong việc xây dựng các công trình của công ty

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Dự toán và thực tế phát sinh chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình của công ty Cổ phần Cầu 14 Do thời gian và điều kiện có hạn nội dung nghiên cứu được thu hẹp lại tại công trình cầu vượt đường bộ gói thầu A2 An Sương- An Lạc năm 2013

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Công trình cầu vượt đường bộ gói thầu A2 An Sương- An Lạc năm 2013

- Không gian: Công ty Cổ phần Cầu 14

- Thời gian thực tập: 1/7/2014 - 28/11/2014; số liệu nghiên cứu sử dụng là

3 năm 2011, 2012, 2013

1.4 Kết quả nghiên cứu dự kiến

- Hiểu hơn về kế toán quản trị chi phí, cụ thể ở công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cầu

- Thấy được thực trạng cụ thể công tác kế toán quản trị chi phí xây dựng của Công ty Cổ phần Cầu 14 cụ thể qua công trình trình cầu vượt đường bộ gói thầu A2 An Sương- An Lạc năm 2013

Trang 9

- Đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp phù hợp để hoàn thiện hơn công tác kế toán quản trị chi phí xây dựng của Công ty Cổ phần Cầu 14.

Trang 10

PHẦN II

TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan tài liệu

2.1.1 Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng

2.1.1.1 Khái quát chung về kế toán quản trị chi phí

a) Bản chất kế toán chi phí, kế toán quản trị và kế toán quản trị chi phí

- Kế toán chi phí là việc xử lý, phản ánh, phân tích và kiểm soát các thông tin về chi phí sản xuất kinh doanh theo từng khoản mục chi phí để tính giá thành chính xác cho từng sản phẩm, dịch vụ

- Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị va quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán

- Theo kế toán tài chính thì chi phí trong doanh nghiệp xây dựng là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác mà các doanh nghiệp xây dựng đã chi ra để tiến hành các hoạt động thực hiện các dự án thi công công trình, hạng mục công trình trong một thời kỳ nhất định

Như vậy chi phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn đã phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh Những chi phí này phát sinh dưới dạng tiền, các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc thiết

bị, được kế toán ghi nhận dựa trên các chứng từ, tài liệu chứng minh nghiệp vụ phát sinh, theo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và thu nhập Mặc dù các chi phí

Trang 11

này gồm nhiều loại, nhiều yếu tố khác nhau nhưng đều được biểu hiện dưới hình thức giá trị.

- Theo kế toán quản trị thì chi phí thi công các công trình, hạng mục công trình là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi tiêu cho quá trình thi công đòi hỏi phải được bù đắp bằng thu nhập Mục đích của kế toán quản trị là cung cấp thông tin thích hợp, kịp thời về chi phí cho việc ra quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp Vì vậy, đối với kế toán quản trị, chi phí không đơn thuần như kế toán tài chính mà còn được nhận diện được thông tin để phục vụ cho việc

ra quyết định khi thực hiện thi công công trình, hạng mục công trình đúng tiến

độ, dự toán đã lập Vì vậy chi phí có thể là hao phí thực tế đã chi ra trong quá trình thực hiện thi công, cũng có thể là chi phí cơ hội khi lực chọn phương án này mà bỏ qua phương án khác

- Kế toán quản trị chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị, nghiên cứu sâu về chi phí của doanh nghiệp theo các góc độ khác nhau như phân loại chi phí, dự toán chi phí, lập báo cáo quản trị chi phí nhằm cung cấp thông tin về chi phí, kế hoạch thực hiện, kiểm soát, đánh giá hoạt động thi công và ra quyết định hợp lý, kịp thời

b) Nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí

- Thu thập, xử lý thông tin, số liệu về chi phí theo phạm vi, nội dung kế toán quản trị chi phí của đơn vị xác định theo từng đối tượng, từng thời kỳ

- Kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán đã lập

- Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo

kế toán quản trị chi phí

- Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết ñịnh của ban lãnh đạo doanh nghiệp

c) Vai trò của kế toán quản trị chi phí

Để làm tốt chức năng quản lí, nhà quản trị phải có thông tin cần thiết để

có thể ra các quết định đúng đắn Kế toán quản trị chi phí là nguồn chủ yếu cung

Trang 12

cấp nhu cầu thông tin đó Vai trò của kế toán quản trị chi phí thể hiện cụ thể như sau:

•Trong giai đoạn lập kế hoạch

Kế toán quản trị chi phí cụ thể hóa các mục tiêu rong kế hoạch hoàn thành

dự toán chi phí sản xuất kinh doanh Kế toán quản trị chi phí cũng cung cấp thông tin về chi phí ước tính để phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị,

do thông tin mà nhà quản trị cần là linh hoạt chứ không thể dựa vào chi phí thực

tế phát sinh được ví dụ khi doanh nghiệp cần quyết định về chào giá đấu thầu hay quyết định chấp nhận các đơn chào hàng từ khách hàng

•Trong giai đoạn tổ chức thực hiện

Để thực hiện tốt chức năng này, nhà quản trị cũng phải có nhu cầu rất lớn đối với các thông tin kế toán quản trị chi phí, chẳng hạn nhà quản trị cần được

kế toán cung cấp thông tin để ra các quyết định kinh doanh đúng đắn trong quá trình điều hành, chỉ đạo thực hiện các quyết định hằng ngày- các quyết định ngắn hạn (quyết định bỏ hay tiếp tục duy trì kinh doanh một bộ phận nào đó ; quyết định tự sản xuất hay mua ngoài; quyết định nên bán nửa thành phẩm hay tiếp tục chế biến…) Ngoài ra các quyết định dài hạn trong quá trình thực hiện các kế hoạch đầu tư dài hạn cũng cần phải có các thông tin cần thiết và đầy đủ

•Trong giai đoạn kiểm tra và đánh giá:

Kế toán quản trị chi phí cung cấp các báo cáo hoạt động giúp ích cho nhà quản trị kiểm soát quá trình thực hiện kế hoạch, kiểm soát chi phí và đạt được hiệu quả kinh doanh tối ưu Các báo cáo về khả năng sinh lời của các bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp về các sản phẩm, dịch vụ hoạc các hoạt động giúp ích cho nhà quản trị lựa chọn kinh doanh sản phẩm dịch vụ hoặc hoạt động nào mang lại lợi nhuận cao Các báo cáo so sánh kết quả thực hiện với dự kiến về doanh thu, chi phí, lợi nhuận là căn cứ để đánh giá hiệu quả của hoạt động quản

lý, giúp ích cho nhà quản trị thực hiện tốt công việc quản trị của mình

Trang 13

•Trong khâu ra quyết định

Phần lớn thông tin do kế toán quản trị chi phí cung cấp nhằm giúp các nhà quản trị ra quyết định Đó là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu quản trị doanh nghiệp, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện đến kiểm tra đanh giá

Để có được quyết định đúng đắn và kịp thời, các nhà quản trị cần phải có các thông tin đầy đủ, đáng tin cậy và thích hợp không có thông tin thì không thể

ra quyết định quản lý Đồng thời, nếu có quá nhiều thông tin nhiễu loạn, không phù hợp thì có thể dẫn đến các quyết định sai lầm vì vậy các thông tin thích hợp

để ra quyết định thường không có sẵn Kế toán quản trị chi phí thực hiện các nghiệp vụ phân tích chuyên môn, chọn lọc những thông tin cần thiết, thích hợp rồi tổng hợp, trình bày chúng theo một trình tự dễ hiểu nhất

Như vậy, kế toán quản trị chi phí giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định không chỉ bằng cách cung cấp thông tin thích hợp, mà còn bằng cách vận dụng các kỹ thuật phân tích vào những tình huống khác nhau, để từ đó nhà quản trị lựa chọn, ra quyết định thích hợp nhất

d) Nguyên tắc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình

- Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình (quản lý chi phí) phải đảm

bảo mục tiêu, hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình và phù hợp với cơ chế thị trường

- Quản lý chi phí theo từng công trình, phù hợp với các giai đoạn đầu

tư xây dựng công trình, các bước thiết kế, loại nguồn vốn và các quy định của Nhà nước

- Tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng công trình phải được tính theo đúng

phương pháp, đủ các khoản mục chi phí theo quy định và phù hợp độ dài thời gian xây dựng công trình Tổng mức đầu tư là chi phí tối đa mà chủ đầu tư được phép sử dụng để đầu tư xây dựng công trình

Trang 14

- Nhà nước thực hiện chức năng quản lý chi phí thông qua việc ban hành,

hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý chi phí

- Chủ đầu tư xây dựng công trình chịu trách nhiệm toàn diện về việc quản

lý chi phí từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc xây dựng công trình đưa vào khai thác, sử dụng

- Những quy đinh tại các nghị định, thông tư do nhà nước ban hành là căn

cứ để Nhà nước cũng như các bên liên quan đên công trình thi công tiến hành thanh, kiểm tra, kiểm toán chi phí đầu tư xây dựng công trình

2.1.1.2 Đặc điểm của hoạt động xây dựng đến kế toán quản trị chi phí

a) Đặc điểm của hoạt động xây dựng

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng gồm các giai đoạn cơ bản:

- Lập hồ sơ tham gia đấu thầu

- Ký kết hợp đồng xây dựng

- Khảo sát xây dựng

- Lựa chọn nhà thầu phụ (nếu có), mua sắm vật tư, thiết bị xây dựng…

- Thực hiện thi công

- Kiểm nghiệm công trình khi hoàn thành

- Quyết toán công trình (thanh lý hợp đồng xây dựng)

b) Đặc điểm của sản phẩm xây dựng

Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất độc lập, tạo nền tàng sản xuất cơ sở vật chất cho xã hội để các ngành kinh tế khác phát triển Thực chất hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành xây dựng là biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm So với các ngành kinh tế khác, ngành xây dựng có những đặc điểm kinh tế, kỹ thuật đặc trưng được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây dựng

và quá trình tạo ra sản phẩm của ngành, cụ thể:

- Sản phẩm xây dựng mang tính chất riêng lẻ, việc tập hợp các chi phí sản xuất, tính giá thành và xác định kết quả thi công xây dựng cũng được tính cho

Trang 15

từng sản phẩm xây dựng riêng biệt; sản xuất xây dựng được thực hiện theo đơn đặt hàng của khách hàng nên ít phát sinh chi phí trong quá trình lưu thông

- Sản phẩm xây dựng cơ bản có giá trị lớn, khối lượng công trình lớn, thời gian thi công tương đối dài nên kì tính giá thường được xác ñịnh theo thời ñiểm khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành

- Thời gian sử dụng sản phẩm xây dựng tương đối dài nên mọi sai lầm trong quá trình thi công thường khó sửa chữa phải phá đi làm lại Sai lầm trong xây dựng cơ bản vừa gây lãng phí, vừa để lại hậu quả có khi rất nghiêm trọng, lâu dài và khó khắc phục Do đó trong quá trình thi công cần phải thường xuyên kiểm tra giám sát chất lượng công trình

- Sản phẩm xây dựng cơ bản được sử dụng tại chỗ, nên khi một công trình xây dựng cơ bản hoàn thành phải chuyển đến thi công ở một công trình khác

Do đó, sẽ phát sinh các chi phí như điều động công nhân, máy móc thi công, chi phí về xây dựng các công trình tạm thời cho công nhân và cho máy móc thi công

- Sản xuất xây dựng cơ bản thường diễn ra ngoài trời, trong quá trình thi công cần tổ chức quản lý lao động, vật tư chặt chẽ đảm bảo thi công nhanh, doanh nghiệp cần có kế hoạch điều độ cho phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành

c) Đặc điểm của chi phí trong doanh nghiệp xây dựng

Ngoài những khoản mục chi phí sản xuất thông thường còn làm phát sinh thêm một số khoản mục chi phí như: chi phí vận chuyển máy thi công đến công trường, chi phí huy động công nhân, chi phí lán trại, nhà ở cho công nhân, chi phí kho nhà xưởng bảo quản vật tư trong quá trình thi công, Vì vậy công tác hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng rất phức tạp, trong đó

có những khoản chi phí chung cần phân bổ đến từng công trình cụ thể, cần có cách thức phân bổ phù hợp để phục vụ công tác quản lý chi phí, giá thành theo công trình

Trang 16

Chi phí thầu phụ cũng là một loại chi phí đặc thù trong xây dựng, chi phí lãi vay, chi phí bảo hành công cần được vốn hóa vào giá trị sản phẩm xây dựng Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp rất đa dạng về chủng loại, kích cỡ, dễ bị hư hỏng tuỳ thuộc vào thời tiết, cần chú ý đến biện pháp bảo quản và kiểm soát chi phí Chi phí nhân công trực tiếp thường chiếm khoảng 13 - 15% trong tổng chi phí sản xuất tuỳ theo từng công trình sử dụng nhiều lao động tay nghề cao hay thấp Chi phí sử dụng máy thi công chiếm tỷ trọng cao hay thấp tuỳ thuộc vào từng công trình thi công bằng máy hay thủ công Trong công tác kế toán chi phí cũng cần dựa vào những đặc điểm này của chi phí để bước đầu có thể đánh giá được mối tương quan của từng khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm của từng công trình phục vụ kiểm soát chi phí

Việc tập hợp chi phí thực phát sinh, đối chiếu với dự toán là một công việc thường xuyên và cần thiết của kế toán để kiểm tra chi phí phát sinh đó có phù hợp với dự toán hay không cũng như để kiểm tra tính hiệu quả trong việc quản trị chi phí

Thời gian thi công kéo dài nên việc thheo dõi chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở công ty xây dựng không chỉ dừng lại ở việc tập hợp và theo dõi chi phí phát sinh trong năm tài chính mà còn phải theo dõi chi phí phát sinh, giá thành và doanh thu lũy kế qua các năm kể từ khi công trình bắt đầu khởi công cho đến thời điểm hiện tại

2.1.1.3 Nội dung của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng

a) Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng

Do đặc thù của ngành xây dựng nên các chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng bao gồm nhiều nội dung kinh tế, công dụng khác nhau, phương pháp tính toán và tập hợp, yêu cầu quản lý đối với mỗi loại chi phí cũng khác nhau

Việc quản lý chi phí không chỉ dựa vào số liệu tổng hợp mà phải dựa trên

cả các yếu tố chi phí riêng biệt để phân tích toàn bộ chi phí sản xuất của từng công trình, hạng mục công trình trong từng thời kỳ nhất định theo nới phát sinh

Trang 17

chi phí Vì vậy dưới goác độ kế toán quản trị để quản lý chặt chẽ việc sử dụng chi phí cũng như tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí một cách hợp lý thì phải phân loại chi phí theo những tiêu thức nhất định.

 Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí

Theo cách phân loại này các chi phí sản xuất có chung nội dung kinh tế được xếp vào một ngày yếu tố chi phí, không phân biệt mục đích, công dụng của chi phí đó Trong doanh nghiệp xây lắp được chia thành các yếu tố chi phí sau:

- Chi phí nguyên vật liệu : Gồm nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ

- Chi phí nhân công : Tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất, công nhân sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý sản xuất ở đội, xưởng sản xuất doanh nghiệp

- Chi phí khấu hao tài sản cố định : Bao gồm khấu hao máy thi công, nhà xưởng máy móc, thiết bị quản lý…

- Chi phí dịch vụ mua ngoài : Như tiền điện, tiền điện thoại, tiền nước hoạt động sản xuất ngoài 4 yếu tố chi phí đã kể trên

Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung chất kinh tế giúp nhà quản lý biết được kết cấu, tỉ trọng của từng yếu tố chi phí chi ra trong quá trình sản xuất lập

dự toán, tổ chức thực hiện dự toán

 Phân loại chi phí theo mục đích và công dụng kinh tế

Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây

lắp được chia thành các khoản sau:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: gồm toàn bộ giá trị nguyên vật

liệu sử dụng trực tiếp cho thi công công trình mà đơn vị xây

lắp bỏ ra (vật liệu chính, vật liệu phụ,…)

Chi phí này không kể vật liệu phụ cho máy móc, phương tiện thi công và những vật liệu tính trong chi phí chung

Trang 18

- Chi phí nhân công trực tiếp: phản ánh chi phí lao động trực tiếp tham gia quá trình hoạt động xây dựng, bao gồm cả những khoản phải trả cho người lao động thuộc quản lý của doanh nghiệp và cho thuê ngoài theo từng công việc không trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên lương công nhân trực tiếp của hoạt động xây dựng.

- Chi phí sử dụng máy thi công: là toàn bộ chi phí trực tiếp phát sinh trong quá trình sử dụng máy thi công để thực hiện khối lượng công việc bằng máy theo phương thức thi công hỗn hợp vừa bằng thủ công vừa bằng máy Các khoản chi phí này bao gồm:

+ Chi phí vật liệu: dùng để chạy máy và sửa máy như xăng, dầu…

+ Chi phí nhân công liên quan đến việc trả lương, các khoản phụ cấp theo lương cho công nhân máy thi công

vụ cho máy thi công

- Chi phí sản xuất chung : bao gồm các khoản chi phí xuất dùng vào việc

quản lý sản xuất chung: bao gồm các phục vụ sản xuất chung ở tổ, đội sản xuất

trong doanh nghiệp xây dựng

+ Chi phí vật liệu: chi phí o dưỡng tài sản cố định, vật liệu văn phòng bảvà những vật liệu dùng cho nhu cầu quản lý chung ở tổ đội sản xuất

+ Chi phí nhân công: các khoản lương, tiền công phụ cấp của nhân viên quản lý ở tổ đội xây dựng, các khoản triach BHXH, BHYT, KPCĐ của công

Trang 19

nhân trực tiếp xây dựng, công nhân máy thi công và nhân viên quản lý, thủ kho, công nhân vận chuyển.

+ Chi phí dụng cụ sản xuất: là những chi phí về công cụ dụng cụ dùng cho nhu cầu quản lý chung ở các tổ đội xây dựng như: khuôn mẫu, dụng cụ bảo hộ lao động,…

+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, tài sản cố định thuê tài chính sử dụng ở các tổ đội xây dựng như: phương tiện vận tải, khấu hao nhà văn phòng…

+ Chi phí dịch vụ mua ngoài:là những chi phí về dịch vụ từ bên ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất chung ở tổ đội xây dựng: chi phí điện nước, chi phí điện thoại…

+ Chi phí bằng tiền khác: là ngoài những chi phí nêu trên mà doanh

nghiệp phải chi ra phục vụ cho hoạt động sản xuất chung ở các tổ đội xây dựng

Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng kinh tế có tác dụng phục vụ cho việc quản lý chi phí theo định mức, là cơ sở cho kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục, là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và định mức chi phí cho kì sau Đây cũng là cách phân loại chủ yếu trong doanh nghiệp xây dựng do phương pháp lập dự toán trong xây dựng cơ bản được lập cho từng đối tượng theo khoản mục chi phí

 Phân loại chi phí theo các đối tượng chịu chi phí.

Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành hai loại:

- Chi phí trực tiếp: là các chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với từng đối tượng chịu chi phí (từng loại sản phẩm được sản xuất, từng công việc được thực hiện ) Các chi phí này được kế toán căn cứ trực tiếp vào các chứng từ phản ánh chúng để tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng liên quan

- Chi phí gián tiếp : Là những chi phí sản xuất liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí, chúng cần được tiến hành phân bổ cho các đối tượng chịu

Trang 20

chi phí theo tiêu thức phân bổ thích hợp Cách phân loại này có tác dụng trong việc xác định phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng tập hợp chi phí một cách hợp lý.

 Phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử chi phí

Do đặc thù của kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho nhà quản trị để

ra quyết định quản lý kịp thời nên việc phân loại chi phí trong kế toán quản trị chi phí còn được phân loại theo cách ứng xử chi phí, theo đó chi phsi được chia thành chi phí khả biến (biến phí), chi phí bất biến ( định phí), chi phí hỗn hợp

- Chi phí khả biến (biến phí): là những chi phí thay đổi về tổng số khi có

sự thay đổi mức hoạt động của doanh nghiệp xây dựng Xét về tổng số, biến phí thay đổi tỷ lệ thuận với khối lượng hoạt động, nhưng trên một đơn vị khối lượng hoạt động thì biến phí có thể là hằng số đối với mọi mức hoạt động Khi mức độ hoạt động của doanh nghiệp gia tăng thì chúng cũng tăng theo tỷ lệ thuận và ngược lại Cụ thể:

+ Tổng biến phí thay đổi tỷ lệ thuận với khối lượng hoạt động thực hiện, còn biến phí cho một đơn vị khối lượng hoạt động không thay đổi, gọi là biến phí tỷ lệ

+ Tổng biến phí tăng nhanh hơn tốc độ tăng của khối luwojng hoạt động, như vậy biến phí trung bình của một đơn vị khối lượng trung bình cũng tăng lên Trường hợp này xảy ra khi cường độ lao động vượt quá bình thường, hiệu lực của các yếu tố sản xuất giảm đihoặc có sự tăng thêm khối lượng hoạt động đòi hỏi phải tăng cường nhiều hơn các yếu tố chi phí s ản xuất

+ Tổng biến phí tăng chậm hơn khối lượng hoạt động kéo theo biến phí trung bình của một khối lượng hoạt động giảm xuống Trường hợp này xảy ra khi tăng khối lượng hoạt động đã tạo điều kiện để sử dụng tốt hơn các yếu tố của quá trình sản xuất

-Chi phí bất biến ( định phí/chi phí cố định): là các chi phí mà tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi về mức độ hoạt động của doanh nghiệp xây

Trang 21

dựng, nhưng chi phí tính cho một khối lượng hoạt động thay đổi và tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động Như vậy dù doanh nghiệp có hoạt động hay không thì vẫn tồn tại định phí, khi doanh nghiệp gia tăng mức độn hoạt động thì định phí trên một đơn vị hoạt động giảm dần.

Chi phí bất biến có thể chia thành hai loại như sau:

+ Định phí tuyệt đối: là những chi phí xét trên tổng số thì không thay đổi khi có sự thay đổi của khối lượng hoạt động khi đó chi phí cho một đơn vị khối lượng hoạt động thay đổi tỷ lệ nghịch trực tiếp với khối lượng hoạt động

+ Định phí cấp bậc: là những chi phí có tính chất tương đối, nó chỉ cố định trong một giới hạn mức độ hoạt động nhất định, sau đó nếu khối lượng hoạt động tăng lên khoản chi phí này sẽ tăng lên một mức nào đó

+ Định phí bắt buộc: là những chi phí có liên quan đến tài sản cố định và cấu trúc cơ bản của một doanh nghiệp Chi phí này có đặc điểm là có bản chất

sử dụng lâu dài nên khi quyết định đầu tư vào tài sản cố định các nhà quản trị cần cân nhắc một cách kỹ lưỡng vì một khi đã quyết định thì doanh nghiệp phải gắn chặt với quyết định đó trong một thời gian dài Đặc điểm nữa của chi phí này là không thể cắt giảm đến không cho dù mức độ hoạt động giảm xuống hoặc khi sản xuất bị gián đoạn Vì vậy cho dù mức độ hoạt động có bị suy giảm hay đình trệ trong một thời kỳ nào đó thì khoản chi phí này nên được giữ nguyên nếu nhà quản trị vẫn muốn theo đuổi và kỳ vọng đạt được mục đích lâu dài của doanh nghiệp

+ Định phí không bắt buộc: là những chi phí có thể thay đổi trong từng kỳ

kế hoạch của nhà quản trị doanh nghiệp Nhà quản trị quyết định số lượng định phí này trong các quyết định của từng kỳ kinh doanh Do đó, đây là chi phí liên quan tới ngắn hạn và ảnh hưởng tới chi phí hằng năm của doanh nghiệp, có thể cắt bỏ khi cần thiết

- Chi phí hỗn hợp là loại chi phí bao gồm cả các yếu tố của định phí và biến phí Chi phí này là định phí ở một mức độ hoạt động nào đó, khi mức độ

Trang 22

hoạt động thay đổi ở mức độ nào đó thì nó thể hiện đặc điểm của biến phí: tiền điện thoại, chi phí thuê máy móc, chi phí nhân công bảo dưỡng máy móc.

b) Lập dự toán chi phí

Dự toán công trình được tính toán và xác định theo công trình xây dựng

cụ thể, trên cơ sở khối lượng các công việc, thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản

vẽ thi công, nhiệm vụ công việc phải thực hiện của công trình, hạng mục công trình và hệ thống định mức xây dựng, giá xây dựng công trình Dự toán công trình là cơ sở để xác định giá gói thầu, giá xây dựng công trình, là căn cứ để đàm phán, ký kết hợp đồng, thanh toán với nhà thầu trong trường hợp chỉ định thầu

Lập dự toán còn có những tác dụng khác nhau như cung cấp thông tin một cách có hệ thống tất cả dự toán của các công trình trong doanh nghiệp; xác định

rõ các mục tiêu cụ thể để làm căn cứ đánh giá việc thực hiện sau này; lường trước những khó khăn tiềm ẩn để có phương án xử lý kịp thời và đúng đắn; liên kết toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp bằng cách hợp nhất các kế hoạch và mục tiêu của các bộ phận khác nhau Chính nhờ vậy, dự toán đảm bảo các kế hoạch và mục tiêu của các bộ phận phù hợp với mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp, đánh giá hiệu quả quản lý và thúc đẩy hiệu quả công việc Căn cứ để lập

dự toán chi phí là dựa vào đơn giá xây dựng cơ bản, giá tính theo một đơn vị diện tích hay công suất sử dụng, định mức các chi phí, phí, lệ phí tính theo tỷ lệ, các tài liệu khác có liên quan

Trình tự lập dự toán chi phí trong doanh nghiệp xây dựng thường bao gồm các nội dung sau:

•Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

- Là dự kiến số lượng và giá trị nguyên liệu vật liệu trực tiếp cần thiết sử dụng trong kỳ

- Căn cứ lập dự toán là: sản lượng sản xuất dự kiến, định mức nguyên vật liệu tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm, đơn giá nguyên vật liệu

Trang 23

- Trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng nhiều loại nguyên vật liệu có đơn giá khác nhau để sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau thì công thức xác định chi phí vật liệu như sau:

Mij là mức hao phí vật liệu j để sản xuất một sản phẩm i

Gi là đơn giá vật liệu loại J ( J = 1, m)

Qi là số lượng sản phẩm i dự toán sản xuất (I = 1, n)

sử dụng

+

Số lượng NVL tồn cuối kỳ theo

dự toán

-Số NVL tồn thực tế đầu kỳ

- Số tiền cần thiết phải chuẩn bị để mua nguyên vật liệu được tính toán dựa vào việc dự báo đơn giá mua nguyên vật liệu dự toán nguyên vật liệu trực tiếp được xây dựng Đơn giá nguyên vật liệu là giá thanh toán với nhà cung cấp

Dự toán mua nguyên vật liệu còn tính thời điểm, và mức thanh toán tiền mua nguyên vật liệu căn cứ vào chính sách bán hàng của nhà cung cấp Đây là cơ sở

để lập dự toán vốn bằng tiền tại doanh nghiệp

•Dự toán chi phí nhân công trực tiếp

- Dự toán nhằm duy trì lực lượng lao động vừa đủ đáp ứng yêu cầu thi công của công trình, tránh tình trạng lãng phí hoặc bị động trong sử dụng lao

Trang 24

động Dự toán này còn là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán về đào tạo, tuyển dụng trong quá trình hoạt động.

- Chi phí nhân công trực tiếp thường là biến phí trong mối quan hệ với khối lượng sản phẩm sản xuất Trong một số ít các trường hợp chi phí nhân công trực tiếp không thay đổi theo mức độ hoạt động, đó là trường hợp ở các doanh nghiệp sử dụng công nhân có trình độ tay nghề cao, không thể trả công theo sản phẩm Để lập dự toán này, doanh nghiệp phải tính toán dựa vào số lượng nhân công, quỹ lương, cách phân phối lương và nhiệm vụ của doanh nghiệp

- Căn cứ lập dự toán là: sản lượng sản xuất dự toán, định mức lao động trực tiếp bao gồm định mức thời gian lao động trực tiếp và định mức giá của một giờ lao động trực tiếp để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Chi phí nhân công trực tiếp được xác định:

Trang 25

Với:

Mi là mức hao phí lao động trực tiếp loại j

Gj là đơn giá lương của lao động loại j

Qi là khối lượng công việc i dự đoán phải thi công theo thiết kế

Số liệu về chi phí nhân công phải trả còn là cơ sở để lập dự toán tiền mặt

•Dự toán chi phí sử dụng máy thi công

- Dự toán chỉ tiêu này chủ yếu xác định số ca máy cần dùng cho thi công,

số ca máy phụ thuộc vào khối lượng công việc phải thi công bằng máy hay định mức thời gian làm bằng máy cho mỗi đơn vị khối lượng công việc Trong xây dựng thường sử dụng định mức sản lượng cho mỗi ca ngày

Số ca máy cần có để

hoàn thành khối lượng =

Khối lượng thi công bằng máy theo thiết kế

Định mức sản lượng một ca máy cần sử dụngHay dự toán chi phí máy thi công = ∑i=n QiGi

1

Với: Qi là khối lượng ca máy làm việc thứ i

Gi là định mức đơn giá ca máy làm việc thứ i

•Dự toán chi phí sản xuất chung:

- Là dự kiến các chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất phát sinh trong phạm vi phân xưởng, chi phí sản xuất chung bao gồm cả chi phí bất biến và chi phí khả biến Dự toán được xây dựng có tính đến cách ứng xử chi phí

c) Tổ chức tập hợp chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình

Từ đặc điểm đặc trưng của hoạt động kinh doanh của công ty xây dựng và sản phẩm của ngành xây dựng, các khoản chi phí sản xuất được tập hợp theo dõi cho từng công trình, hạng mục công trình cụ thể, và chia thành các khoản mục sau:

- Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Trang 26

- Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp

- Tập hợp chi phí máy thi công

- Tập hợp chi phí sản xuất chung

Cách tổ chức tập hợp chi phí này giúp cho kế toán và các nhà quản trị dễ dàng theo dõi các chi phí phát sinh của từng đối tượng công trình, hạng mục công trình trong quá trình thi công kéo dài và chia thành nhiều giai đoạn phức tạp

d) Kiểm soát chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình

Nhà quản trị trong mọi trường hợp để đảm bảo hiệu quả hoạt động, sau khi đã lập kế hoạch và đã triển khai thực hiện chi phí thì phải đồng thời kiểm soát chi phí đó

•Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

- Biến động của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể được kiểm soát gắn liền với các nhân tố giá và lượng có liên quan

- Phân tích biến động giá: Là chênh lệch giá nguyên vật liệu trực tiếp thực

tế với giá nguyên vật liệu trực tiếp theo dự toán để xây lắp ra một khối lượng công tác nhất định

Ảnh hưởng biến động giá có thể là âm hoặc dương Nếu ảnh hưởng âm chứng tỏ giá vật liệu thực tế thấp hơn giá vật liệu dự toán đặt ra Tình hình này được đánh giá tốt nếu chất lượng vật liệu đảm bảo Ngược lại, ảnh hưởng dương thể hiện giá vật liệu tăng so với dự toán

- Phân tích biến động về lượng: Là chênh lệch giữa lượng nguyên vật liệu trực tiếp thực tế với lượng nguyên vật liệu trực tiếp theo dự toán để sản xuất lượng sản phẩm nhất định Biến động về lượng phản ánh tiêu hao vật chất thay đổi như thế nào và ảnh hưởng đến tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ra sao

- Nếu biến động về lượng là kết quả dương thể hiện vật liệu sử dụng thực

tế nhiều hơn so với dự toán, còn nếu kết quả âm thể hiện lượng vật liệu sử dụng tiết kiệm hơn so với dự toán Nhân tố lượng sử dụng thường do nhiều nguyên nhân, gắn với trách nhiệm của đối tượng thi công

Trang 27

•Kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp

- Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí lương và các khoản trích theo lương tính vào chi phí như BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp thi công xây lắp Do đó, biến động của chi phí nhân công trực tiếp gắn liền với các yếu tố về giá và lượng

- Phân tích ảnh hưởng nhân tố giá: Là chênh lệch giữa giá giờ công lao động trực tiếp thực tế với dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về giá của giờ công lao động để sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp

- Biến động giá thường do các nguyên nhân gắn liền với việc trả lương, tình hình thị trường cung cấp lao động, chính sách nhà nước… Nếu ảnh hưởng tăng (giảm) giá là thể hiện sự lãng phí hay tiết kiệm chi phí nhân công trực tiếp, thì việc kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp không còn cho phép ta làm rõ bộ phận chịu trách nhiệm, làm ảnh hưởng đến công tác quản lý chi phí và giá thành Nếu giá giảm so với dự toán nhưng chất lượng vẫn đảm bảo thì sự biến động đó

là tốt và ngược lại

- Phân tích ảnh hưởng nhân tố lượng: Là chênh lệch giữa số giờ lao động trực tiếp thực tế với dự toán để thi công xây dựng một hạng mục công việc nhất định Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về số giờ công để sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp

- Ảnh hưởng của nhân tố thời gian lao động do nhiều nguyên nhân: Có thể là trình độ và năng lực của người lao động thay đổi, do điều kiện trang bị máy móc thiết bị, chính sách lương của doanh nghiệp Biến động do nhiều nguyên nhân khác nhau tác động đến chi phí sản xuất theo các khoản mục và theo nhân tố giá, nhân tố lượng giúp người quản lý phát hiện, xem xét các yếu tố

đã gây ra biến động nhằm đưa ra biện pháp đúng đắn và kịp thời để chấn chỉnh hoặc phát huy các nhân tố đó theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp

•Kiểm soát chi phí sử dụng máy thi công:

- Chi phí máy thi công là toàn bộ các chi phí về vật liệu, nhân công và các chi phí khác có liên quan đến sử dụng máy thi công

Trang 28

- Chi phí sử dụng máy thi công được chia thành 2 loại

+ Chi phí thường xuyên: Là những chi phí phát sinh trong quá trình sử dụng máy thi công, được tính thẳng vào giá thành của ca máy, như tiền lương của công nhân trực tiếp điều khiển ca máy, chi phí về nhiên liệu, vật liệu dùng cho xe máy thi công, khấu hao và sửa chữa thường xuyên xe máy, tiền thuê máy thi công,…

+ Chi phí tạm thời: Là những chi phí phải phân bổ dần theo thời gian sử dụng máy thi công (như chi phí tháo lắp, vận chuyển, chạy thử máy thi công) Phân tích biến động giá: Là chênh lệch giữa đơn giá ca máy thực tế thi công với đơn giá theo dự toán Nếu tính trên một khối lượng công tác thì nó phản ánh giá cả một đơn giá ca máy để hoàn thành một hạng mục công trình xây dựng đã thay đổi như thế nào so với dự toán

- Phân tích biến động về lượng: Là chênh lệch giữa số ca máy thực tế thi công xây dựng với số ca máy theo dự toán để thi công các hạng mục công trình: Nếu biến động về lượng là kết quả dương thể hiện số ca máy thực tế sử dụng lớn hơn dự toán, còn nếu kết quả là âm thể hiện lượng ca máy tiết kiệm so với dự toán Lượng ca máy tiết kiệm được coi là kết quả tốt trong quá trình quản lý chi phí doanh nghiệp nếu chất lượng công trình tốt đạt yêu cầu kỹ thuật, số ca máy tiết kiệm được do đã tăng ca, tăng giờ trong quá trình thi công Khi tìm hiểu nguyên nhân biến động về lượng ca máy thi công cần xem xét khối lượng công việc thi công xây dựng thực tế có phát sinh tăng giảm so với dự toán

•Kiểm soát chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung của hoạt động xây dựng là những chi phí có liên quan đến việc tổ chức, phục vụ và quản lý thi công của các đội ở các công trình xây dựng Chi phí sản xuất chung là chi phí tổng hợp bao gồm nhiều khoản chi phí khác nhau thường có mối quan hệ gián tiếp với với các đối tượng xây dựng như: tiền lương nhân viên quản lý đội xây dựng, khoản trích BHXT, BHYT, KPCĐ được tính theo tỷ lệ quy định trên tiền lương của công nhân trực tiếp thi

Trang 29

công, công nhân sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý đội (thuộc biên chế của doanh nghiệp), khấu hao tài sản cố định dùng cho hoạt động của đội và những chi phí khác liên quan đến hoạt động chung của xây dựng.

e) Kiểm tra đánh giá thực hiện chi phí công trình, hạng mục công trình

 Phân tích tình hình thực hiện dự toán

Quy trình lập báo cáo tình hình thực hiện dự toán chi phí qua các bước sau:

- Bước 1: Tập hợp các chi phí phát sinh

- Bước 2: Tổng hợp chi phí và tính đơn giá thực tế (giá thành đơn vị) của hạng mục công trình

- Bước 3: Lập báo cáo tình hình thực hiện chi phí

 Lập báo cáo phục vụ cho việc kiểm tra và đánh giá chi phí

- Báo cáo chi phí sản xuất

- Báo cáo chênh lệch chi phí

- Báo cáo chi phí sản phẩm

- Báo cáo thực hiện kế hoạch

- Báo cáo kết quả kinh doanh của từng bộ phận

 Phân tích thông tin chi phí phục vụ cho việc ra quyết định

Các nhà quản trị doanh nghiệp thường phải đứng trước sự lựa chọn từ nhiều phương án kinh doanh khác nhau Mỗi phương án là một tình huống khác nhau có số lượng, khoản mục chi phí và thu thập khác nhau, chúng chỉ có chung đặc điểm là đều gắn liền với các thông tin kế toán, do đó đòi hỏi các nhà quản trị phải xem xét, cân nhắc để ra quyết định đúng đắn nhất

Quá trình phân tích thông tin chi phí thích hợp để làm căn cứ ra quyết định kinh doanh gồm 03 bước:

- Tập hợp tất cả các thông tin liên quan đến các phương án cần xem xét

- Nhận diện chi phí và loại trừ những thông tin không thích hợp

- Phân tích các thông tin còn lại

Trang 30

2.1.2 Cơ sở thực tiễn

2.1.2.1 Sự ra đời của kế toán quản trị chi phí

Trên thế giới, kế toán quản trị xuất hiện từ lâu, có quá trình hình thành và phát triển gắn liền với phát triển của xã hội loài người và sự thay đổi của nền kinh tế xã hội, từ kinh tế tập trung đến kinh tế hàng hóa và sự phát triển mạnh

mẽ của nền kinh tế thị trường ngày nay Kế toán nói chung được biết đến từ lâu nhưng kế toán quản trị chi phí lại phát triển muộn và ngắt quãng Tới tận thế kỷ

Trang 31

thứ XIX kế toán quản trị chi phí hiện đại thực sự đạt được các bước tiến mới, đóng vai trò quan trọng trong quá trình quản lý hoạt động của doanh nghiệp.

2.1.2.2 Kinh nghiệm vận dụng kế toán quản trị chi phí

a) Trên thế giới

Trên thế giới, kế toán quản trị chi phí được các nhà quản trị doanh nghiệp

hế sức quan tâm Công tác kế toán quản trị chi phí có các bước tiến dài và có nhiều thành tựu nổi bật cho việc đem lại hiệu quả hoạt động cho các doanh nghiệp

Một số nước có hệ thống kế toán quản trị chi phí phát triển mạnh mẽ nhất

cả về lý luận và thực tiễn như Mỹ, Nhật, các nước châu Âu như Anh, Pháp, Đức,

… Ở các nước này, kế toán quản trị chi phí được nghiên cứu chặt chẽ, từ khâu lập dự toán, triển khai và đánh giá kết quả hoạt động Không những thế, các nước này còn sử dụng rất đa dạng các phương pháp tính, kiểm soát chi phí, như phương pháp chi phí tiêu chuẩn, phương pháp ABC, …

Ở châu Á, kế toán quản trị chi phí cũng đang có sự phát triển, tập trung ở các nước đang phát triển như Trung Quốc, Singapo, Ấn Độ… Tại đây các lý thuyết về kế toán quản trị chi phí còn đơn giản, việc vận dụng còn mang tính lạc hậu, áp đặt Phương pháp phân tích chi phí- khối lượng- lợi nhuận chủ yếu được

áp dụng tại đây

b) Ở Việt Nam

Tại Việt Nam kế toán quản trị là một thuật ngữ tương đối mới mẻ, chỉ được chứng minh cụ thể nhất trong Luật Kế toán vào ngày 17/06/2003 Tuy nhiên hiện nay kế toán quản trị chỉ được biết đến chủ yếu về mặt lý thuyết, được giảng dạy ở một số trường Đại học có đào tạo ngành kế toán và quản trị kinh doanh Trên thực tế mặc dù Bộ Tài chính đã ban hành thông tư số 53/2006/BTC

Trang 32

hướng dẫn thực hiện kế toán quản trị nhưng chưa có chi tiết cách thức thực hiện nên chưa có điều kiện và nhận thức đầy đủ để triển khai vận dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp.

Ở các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nói riêng, kế toán quản trị chi phí bước đầu đã nhận được sự quan tâm của ban lãnh đạo doanh nghiệp Tuy nhiên, có thể nhận thấy, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số tồn tại cụ thể làm cản trở việc tổ chức và vận dụng kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng

- Bộ máy kế toán chỉ tập trung phục vụ kế toán tài chính, còn kế toán quản trị chưa thực sự được quan tâm

- Chi phí xây dựng tại các doanh nghiệp hiện nay chủ yếu được phân loại theo mục đích, công dụng của chi phí chủ yếu phục vụ kế toán tài chính chưa sử dụng các cách phân loại phục vụ cho kế toán quản trị

- Về lập dự toán, các doanh nghiệp chỉ lập dự toán tài chính không lập

dự toán tác nghiệp, dự toán báo cáo tài chính…

- Các doanh nghiệp chỉ sử dụng các chứng từ mang tính bắt buộc chứ chưa thiết kế các chứng từ phù hợp với kế toán quản trị

- Các báo cáo được lập hầu hết là các báo cáo kế toán tài chính phục vụ cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp còn việc lập các báo cáo kế toán quản trị còn ít và sơ sài

Có một số công trình nghiên cứu về vấn đề kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp nhưng chỉ dừng lại ở các bài luận văn hay các bài báo mang nặng tính lý thuyết

Từ thực tiễn trên cho thấy, kế toán quản trị chi phí ở nước ta là một vấn đề còn khá mới, còn nhiều vấn đề cần quan tâm, nghiên cứu và có các giải pháp gắn liền với thực tế sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

Trang 33

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Số liệu thứ cấp sử dụng được thu thập tại các nguồn sau đây:

- Các thông tư, nghị định ban hành có liên quan đến công tác lập dự toán

và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình như Thông tư 04/2010/TT-BXD ban hành ngày 26/05/2010

- Các tài liệu, bảng biểu, thông tin liên quan được cung cấp từ các phòng ban, chủ yếu là từ phòng kế toán, phòng Đấu thầu và quản lý dự án và phòng Đầu tư

- Phỏng vấn cán bộ làm việc tại Công ty Cổ phần Cầu 14

- Các thông tin khác sử dụng tại các Website trên mạng internet, sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án…

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu

Phương pháp so sánh

Trong quá trình phân tích số liệu có sử dụng kết hợp hai phương pháp so sánh tương đối và so sánh tuyệt đối để phân tích những biến động về kết quả kinh doanh, tình hình biến động các chi phí giữa dự toán và thi công công trình xây dựng

Phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp được sử dụng để mô tả quy trình, công tác tổ chức, các hoạt động đang được tiến hành tại Công ty

Phương pháp thay thế liên hoàn

Phương pháp này được sử dụng để phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến chi phí, thấy được sự ảnh hưởng của loại nhân tố nào lớn làm thay đổi chi phí thực tế phát sinh so với dự toán đã được lập

PHẦN III

Trang 34

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Cầu 14

Công ty Cổ phần Cầu 14 có tên viết tắt là Cienco1- JSBC14 thuộc Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 1 tiền thân là công ty Cầu 14 được thành lập ngày 22/05/1972

Địa chỉ trụ sở chính : 144/95 - Phố Vũ Xuân Thiều- Phường Sài Đồng - Quận Long Biên - TP Hà Nội

Nhiều năm qua, Công ty Cổ phần Cầu 14 liên tục hoàn thành vượt mức kế hoạch với mức tăng trưởng mỗi năm Nhiều dự án quốc tế có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, nhiều công trình trọng điểm cấp nhà nước do công ty thi công đã hoàn thành vượt tiến độ, đảm bảo chất lượng cao, mỹ thuật đẹp Trong tiến trình

Trang 35

hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế, Công ty Cổ phần Cầu 14 đã hợp tác nhiều tập đoàn kinh tế lớn như Kajima, Sumitomo, Shimizu, Obayashi, Rinkai, Matsuo, IHI, LG,… để thi công các dự án lớn tại Việt Nam Năm 2001, công ty Cổ phần Cầu 14 là công ty đầu tiên trong ngành xây dựng cơ bản giao thông vận tải Việt Nam áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000.

Qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển, đến nay Công ty Cổ phần Cầu 14

đã thi công và đưa vào sử dụng phục vụ an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế

xã hội và dân sinh được hơn 200 cây cầu lớn nhỏ

Với những đóng góp có hiệu quả và sự phấn đấu bền bỉ kể cả trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc và trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Công ty đã vinh dự được Đảng, Nhà nước và nhiều tỉnh thành ghi nhận tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý, đặc biệt là danh hiệu anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới

Công ty Cổ phần Cầu 14 xác định: duy trì và không ngừng cải tiến kỹ thuật công nghệ, nâng cao chất lượng công trình nhắm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng đến mức cao nhất ở mọi thời điểm Công ty luôn sẵn sàng liên doanh, liên kết và hợp tác với các tổ chức kinh tế, các công ty trong và ngoài nước để thi công các công trình cầu đường có chất lượng cao

3.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và quy trình tổ chức hoạt động kinh doanh của Công ty

a) Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh

Công ty Cổ phần Cầu 14 hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, cụ thể là xây dựng cầu đường Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty xây dựng

có rất nhiều điểm khác biệt với các công ty hoạt động trong các lĩnh vực khác

Tại Công ty hiện nay đang áp dụng hình thức khoán trọn gói, tức là sau khi trúng thầu, Công ty giao lại việc xây dựng các công trình cho các đội xây thông qua việc ký kết “Hợp đồng giao khoán nội bộ”

Trang 36

Sau khi đồng ý với đơn giá giao khoán, đội thi công tiến hành lập bảng tổng hợp dự toán kinh phí thi công, bảng tổng hợp dự toán chi phí trực tiếp bao gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công gửi Công

ty và triển khai thi công

Trên cơ sở dự toán chi phí được lập, đội xây dựng lập bảng tiến độ thanh toán vốn thi công gửi Công ty Đồng thời, trên cơ sở kế hoạch của các đội thi công, Công ty cân đối cấp vốn, biện pháp thi công từng đội, hạn mức theo quy định Đội thi công công trình có trách nhiệm hoàn thành công việc được giao, có thể tự mình huy động các nguồn lực phục vụ thi công như mua vật tư, thuê lao động, máy móc thiết bị,… Hàng tháng, Ban chỉ huy công trình lập báo cáo tình hình thi công các công trình gửi về Công ty và đối chiếu với kế hoạch tiến độ thi công, định mức thiết kế

Định kỳ, Ban chỉ huy công trình và phòng kỹ thuật Công ty gửi các báo cáo về tình hình thi công, khối lượng thực hiện, chất lượng công trình cho Ban giám đốc Chi phí phát sinh liên quan được tập hợp cho từng công trình, hạng mục công trình Khi các công trình, hạng mục công trình đó hoàn thành thì Ban chỉ huy công trình phải quyết toán công trình giao khoán Về nguyên tắc, giá trị quyết toán được duyệt không được vượt giá trị giao khoán

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, do yếu tố khách quan, giá trị quyết toán cao hơn giá trị giao khoán thì Ban chỉ huy công trình phải giải trình trước Hội đồng quản trị công ty

b) Quy trình tổ chức hoạt động kinh doanh

Công ty Cổ phần Cầu 14 là một công ty mang đặc thù của ngành xây dựng cơ bản Do sản phẩm của công ty là các công trình, hạng mục công trình,

có kích thước và chi phí lớn, thời gian thi công kéo dài nên quá trình sản xuất mang tính liên tục đa dạng, kéo dài và phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Mỗi công trình đều có dự toán, thiết kế riêng, địa điểm thi công khác

Trang 37

nhau Vì vậy, quy trình sản xuất kinh doanh của công ty là quá trình liên tục khép kín từ giai đoạn thiết kế đến giai đoạn hoàn thiện và bàn giao công trình.

Các giai đoạn thực hiện công trình xây dựng của công ty được tiến hành tuần tự theo các bước sau:

-Nhận thầu thông qua đấu thầu hoặc giao thầu trực tiếp ( Chỉ định thầu )

- Ký hợp đồng xây dựng với chủ đầu tư công trình ( Bên A)

- Trên cơ sở hồ sơ thiết kế và hợp đồng xây dựng đã được ký kết, công ty

tổ chức quá trình sản xuất thi công để tạo ra công trình hay hạng mục công trình

- Khảo sát địa hình, địa chất để lấy mặt bằng thi công

- Tổ chức lao động, bố trí máy móc chuẩn bị thi công, tổ chức cung cấp vật tư

- Xây dựng, lắp ráp hoàn thiện công trình: tổ chức thi công theo đúng thiết

kế kỹ thuật của công trình Trong quá trình thi công, ở mỗi giai đoạn luôn có sự giám sát và nghiệm thu của chủ đầu tư Khi được sự cho phép của chủ đầu tư thì công trình tiếp tục tổ chức thi công các giai đoạn tiếp theo cho đến khi hoàn thành

- Bàn giao công trình hoàn thành và quyết toán hợp đồng xây dựng với chủ đầu tư: sau khi có biên bản nghiệm thu toàn bộ kỹ thuật công trình, hạng mục công trình, công ty tiến hành bàn giao công trình cho chủ đầu tư đưa vào sử dụng và quyết toán hợp đồng Công ty có trách nhiệm bảo hành công trình, hạng mục công trình theo quy định của Nhà Nước

Trang 38

3.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty

(Nguồn: phòng tổ chức hành chính)

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty Cổ phần Cầu 14

- Hội đồng cổ đông: gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyền lực cao nhất của Công ty, quyết định những vấn đề được Luật pháp

và điều lệ Công ty quy định

Giám đốc

Phòng đấu thầu và quản lý

dự án

Phòng

tổ chức hành chính

Phòng tài chính

kế toán

Ban an toàn lao động

Các đơn vị trực thuộc

Đội thi công số 3

Đội thi công số 4

Đội thi công số 5

Trang 39

- Ban kiểm soát: là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, do Đại hội đồng cổ đông bầu ra Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong điều hành hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính của Công ty.

- Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công

ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông

- Giám đốc: là người đại diện pháp nhân trước pháp luật, chịu trách nhiệm cao nhất về mọi hoạt động của công ty, trực tiếp chỉ đạo hoạt động kinh doanh của công ty, trao đổi và chỉ đạo các phó giám đốc Dưới sự tham mưu của các phó giám đốc, các bộ phận phòng ban, Giám đốc đưa ra các quyết định nhằm quản lý hoạt động kinh doanh của công ty

- Phó giám đốc: là người trợ lý đắc lực của Giám đốc, điều hành hoạt động theo sự phân công hoặc ủy nhiệm của Giám đốc, chịu trách nhiệm trước Giám đốc và pháp luật các phần việc được giao, báo cáo kết quả hoạt động các công việc, lĩnh vực được phân công

- Phòng đầu tư kinh doanh: tham mưu cho Giám đốc các kế hoạch đầu tư kinh doanh từ đó Giám đốc đưa ra quyết định kinh doanh sao cho hiệu quả cao, đồng thời phối hợp với các phòng ban khác để xây dựng các kế hoạch kinh doanh cụ thể, có tính khả thi, đem lại lợi nhuận cao

- Phòng đấu thầu và quản lý dự án:

+ Lập kế hoạch nhân lực và vật tư, thiết bị trình ban lãnh đạo công ty xem xét ký duyệt trước khi tiến hành thi công, phối hợp các phòng ban khác để bố trí nhân lực, vật tư cho từng công trình, dự án sao cho hiệu quả

+ Lập hồ sơ dự thầu, hồ sơ chào bán các công trình mà công ty tham gia.+ Lập biện pháp thi công, dự toán, nghiệm thu khối lượng, quyết toán thi công trình lãnh đạo phê duyệt; kiểm tra, theo dõi tiến độ thi công , chất lượng công trình, thu hồi vốn, an toàn lao động

Trang 40

+ Làm thủ tục hồ sơ mời thầu, mở thầu, chấm thầu trình ban lãnh đạo phê duyệt lực chọn nhà thầu trúng thầu các dự án mà công ty là chủ đầu tư do phòng trực tiếp quản lý.

+ Đánh giá, theo dõi, cập nhật danh sách các nhà thầu phụ

- Phòng tổ chức hành chính: tổ chức bộ máy, công tác nhân sự của công ty; thực hiện công tác tiền lương, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ nhân viên theo chế độ, chính sách của công ty

- Phòng tài chính kế toán: là phòng chức năng tham mưu cho Giám đốc trong lĩnh vực quản lý tài chính – kế toán theo Pháp luật của Nhà nước nhằm khai thác, huy động và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất

- Ban thí nghiệm công trình và an toàn lao động: tham gia kiểm tra, kiểm soát chất lượng các công trình của Công ty; các vấn đề an toàn lao động ở mỗi công trình

- Các đơn vị trực thuộc: là chi nhánh của công ty

- Các đội thi công: Là các đơn vị cơ sở, tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất,

sử dụng và khai thác các nguồn lực đề thực hiện công việc cụ thể tại công trường

Ngày đăng: 28/01/2015, 14:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty Cổ phần Cầu 14 - Kế toán quản trị chi phí xây dựng của công ty cổ phần cầu 14
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty Cổ phần Cầu 14 (Trang 38)
Sơ đồ 3.2: Sơ đồ bộ máy kế toán của Công ty Cổ phần Cầu 14 - Kế toán quản trị chi phí xây dựng của công ty cổ phần cầu 14
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ bộ máy kế toán của Công ty Cổ phần Cầu 14 (Trang 41)
Bảng 3.3 : Dự toán nguyên vật liệu chính công trình gói thầu A2 An  Sương- An Lạc giai đoạn khoan cọc nhồi từ mố A2 đến trụ T6. - Kế toán quản trị chi phí xây dựng của công ty cổ phần cầu 14
Bảng 3.3 Dự toán nguyên vật liệu chính công trình gói thầu A2 An Sương- An Lạc giai đoạn khoan cọc nhồi từ mố A2 đến trụ T6 (Trang 51)
Bảng 3.6: Dự toán nhiên liệu sử dụng cho các loại máy thi công chính - Kế toán quản trị chi phí xây dựng của công ty cổ phần cầu 14
Bảng 3.6 Dự toán nhiên liệu sử dụng cho các loại máy thi công chính (Trang 55)
Bảng 3.7: Dự toán chi phí sản xuất chung của công trình gói thầu A2 An - Kế toán quản trị chi phí xây dựng của công ty cổ phần cầu 14
Bảng 3.7 Dự toán chi phí sản xuất chung của công trình gói thầu A2 An (Trang 56)
Bảng 3.8: Sổ cái TK621 công trình gói thầu A2 giai đoạn khoan cọc nhồi mố - Kế toán quản trị chi phí xây dựng của công ty cổ phần cầu 14
Bảng 3.8 Sổ cái TK621 công trình gói thầu A2 giai đoạn khoan cọc nhồi mố (Trang 58)
Bảng thanh toán khối - Kế toán quản trị chi phí xây dựng của công ty cổ phần cầu 14
Bảng thanh toán khối (Trang 60)
Bảng nghiệm thu khối - Kế toán quản trị chi phí xây dựng của công ty cổ phần cầu 14
Bảng nghi ệm thu khối (Trang 60)
Bảng 3.9: Sổ cái TK622 công trình gói thầu A2 giai đoạn khoan cọc nhồi mố - Kế toán quản trị chi phí xây dựng của công ty cổ phần cầu 14
Bảng 3.9 Sổ cái TK622 công trình gói thầu A2 giai đoạn khoan cọc nhồi mố (Trang 61)
Bảng 3.10: Sổ cái TK623 công trình gói thầu A2 giai đoạn khoan cọc nhồi - Kế toán quản trị chi phí xây dựng của công ty cổ phần cầu 14
Bảng 3.10 Sổ cái TK623 công trình gói thầu A2 giai đoạn khoan cọc nhồi (Trang 65)
Bảng 3.11: Sổ cái TK627 công trình gói thầu A2 giai đoạn khoan cọc nhồi - Kế toán quản trị chi phí xây dựng của công ty cổ phần cầu 14
Bảng 3.11 Sổ cái TK627 công trình gói thầu A2 giai đoạn khoan cọc nhồi (Trang 67)
Bảng 3.12: Báo cáo vật tư mua vào - Kế toán quản trị chi phí xây dựng của công ty cổ phần cầu 14
Bảng 3.12 Báo cáo vật tư mua vào (Trang 68)
Bảng 3.4: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp công trình gói A2 giai đoạn - Kế toán quản trị chi phí xây dựng của công ty cổ phần cầu 14
Bảng 3.4 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp công trình gói A2 giai đoạn (Trang 70)
Bảng 3.16: Chi phí máy thi công công trình gói A2 An Sương- An Lạc giai - Kế toán quản trị chi phí xây dựng của công ty cổ phần cầu 14
Bảng 3.16 Chi phí máy thi công công trình gói A2 An Sương- An Lạc giai (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w