- Thử nghiệm ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng, phân bón qua lá đến sự ra hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng quả cam Vinh trồng tại huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang.. Phân bón
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN DANH ĐỨC
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
NÔNG SINH HỌC VÀ BIỆN PHÁP KĨ THUẬT
ĐỐI VỚI GIỐNG CAM VINH TRỒNG
TẠI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN DANH ĐỨC
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
NÔNG SINH HỌC VÀ BIỆN PHÁP KĨ THUẬT
ĐỐI VỚI GIỐNG CAM VINH TRỒNG
TẠI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THẾ HUẤN
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Danh Đức
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thế Huấn là
người hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Nông học, khoa đào tạo Sau đại học, các thầy cô đã tham gia giảng dạy chương trình cao học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tôi xin chân thành cảm ơn sở Tài nguyên môi trường tỉnh Bắc Giang,
Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang; UBND, phòng Kinh
tế Nông nghiệp huyện, khuyến nông viên của các xã và các hộ gia đình mà tôi tiến hành điều tra, nghiên cứu trên địa bàn huyện Lục Ngạn, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn này
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu trên
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Danh Đức
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Đặc điểm nông sinh học 3
1.1.2 Sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng 4
1.2 Nguồn gốc 4
1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt 5
1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới 5
1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt tại Việt Nam 6
1.4 Tình hình nghiên cứu về cam quýt 11
1.4.1 Một số nghiên cứu về đăc điểm sinh thái học 11
1.4.2 Một số nghiên cứu về đặc điểm thực vật học 14
1.4.3 Một số nghiên cứu về phân bón cho cây cam quýt 24
1.4.4 Một số nghiên cứu về phân bón qua lá và sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho cây cam 29
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Đối tượng nghiên cứu 36
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 36
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 36
2.2.2 Thời gian nghiên cứu: 36
2.3 Vật liệu nghiên cứu 36
2.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 37
2.4.1 Nội dung nghiên cứu 37
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 37
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu và tính toán 41
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất cây ăn quả của huyện Lục Ngạn - Bắc Giang 42
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 42
3.1.2 Tình hình sản xuất cây ăn quả ở Lục Ngạn 44
3.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây ăn quả có múi 46
3.2.1 Các phương pháp nhân giống 46
3.2.2 Kỹ thuật trồng, chăm sóc vườn cam quýt 47
3.3 Sinh trưởng phát triển của cam Vinh tại Lục Ngạn - Bắc Giang 51
3.4 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng cam Vinh ở Lục Ngạn - Bắc Giang 54
3.4.1 Ảnh hưởng của một số chế phẩm bón qua lá đến năng suất, chất lượng cam Vinh 54
3.4.2 Ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến năng suất, chất lượng của cam Vinh 61
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70
1 Kết luận 70
2 Đề nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 73
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV
CAQ
CC
CT
ĐBSCL ĐK NCCAQ FAO
TB
TG
TT
GAP
IPM
: Bảo vệ thực vật : Cây ăn quả : Chiều cao : Công thức : Đồng bằng sông Cửu Long : Đường kính
: Nghiên cứu cây ăn quả : Food and Agricultural Organization of the United National
: Trung bình : Thời gian : Thứ tự : Good Agricultural Practices : Quản lý dịch hại tổng hợp
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình sản suất cây có múi trên thế giới từ 2005-2011 6
Bảng 1.3 Sự phân bố của bộ rễ cam sành theo phương pháp nhân giống 15
Bảng 1.4 Dinh dưỡng trong lá cam 7 -10 tuổi (lá 4 - 7 tháng tuổi/cành
không quả) 29
Bảng 3.1 Cơ cấu cây ăn quả của huyện Lục Ngạn năm 2012 45
Bảng 3.2 Phương pháp nhân giống cam quýt phổ biến tại Lục Ngạn 46
Bảng 3.3 Tình hình chăm sóc và quản lý vườn cây ăn quả có múi của
nhân dân Lục Ngạn -Bắc Giang 49
Bảng 3.4 Thời gian ra lộc và khả năng sinh trưởng các đợt lộc
của cam Vinh tại Lục Ngạn - Bắc Giang 51
Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu về đặc điểm hình thái của cam Vinh tại Lục
Ngạn - Bắc Giang 52
Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu của quả cam Vinh tại Lục Ngạn - Bắc Giang 53
Bảng 3.7 Các yếu tố cấu thành năng suất của cam Vinh tại Lục Ngạn -
Bắc Giang 54
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của một số chế phẩm bón qua lá đến động thái ra
hoa, đậu quả của cam Vinh 55
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của một số chế phẩm bón qua lá đến động thái
rụng quả của cam Vinh 56
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của một số chế phẩm bón qua lá đến chất lượng
quả cam Vinh 59
Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế sử dụng các chế phẩm phân bón lá trên
cam Vinh 60
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến động
thái ra hoa, đậu quả của cam Vinh 62
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến động
thái rụng quả của cam Vinh 63
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến các
yếu tố cấu thành năng suất của cam Vinh 64
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến chất
lượng quả cam Vinh 66
Bảng 3.17 Hiệu quả kinh tế sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng trên
cam Vinh 68
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Động thái rụng quả theo thời gian của các công thức sử dụng
chế phẩm phân bón lá 57 Hình 3.2 Biểu đồ năng suất của các công thức sử dụng phân bón lá 59 Hình 3.3 Biểu đồ hạch toán kinh tế của các công thức sử dụng phân bón lá 61 Hình 3.4 Biểu đồ động thái rụng quả của các công thức sử dụng chất
điều hòa sinh trưởng 64 Hình 3.5 Biểu đồ năng suất quả/cây của các công thức sử dụng chất
điều hòa sinh trưởng 65 Hình 3.6 Biểu đồ hạch toán kinh tế của các công thức sử dụng chất
điều hòa sinh trưởng 68
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây cam (Citrus sinensis) là một trong những loại cây ăn quả có giá trị
kinh tế cao trên thị trường Quả cam ăn tươi có tác dụng bồi bổ sức khoẻ cho con người, hàng năm tạo ra một lượng hàng hoá lớn trên thị trường Cam ở Việt Nam được coi là một trong những loại quả quý vì có mã quả đẹp, vị ngọt, hương thơm nên rất hợp với khẩu vị của người á đông Hiện tại có rất nhiều giống cam ngon như: Cam Sành - Bắc Giang, Cam Vinh - Nghệ An, Cam Đường Canh - Hưng Yên, Cam Sành Hàm Yên - Tuyên Quang, Cam Phố Thượng - Yên Bái…
Lục Ngạn - Bắc Giang là vùng vải hàng hóa lớn, nhưng hiện nay do các yếu tố thị trường nên trồng vải gặp nhiều khó khăn để ổn định và phát triển nghề trồng cây ăn quả của địa phương, nhiều giống cây trong đó có cây cam Vinh đã được du nhập vào Lục Ngạn Với các yếu tố khí hậu, thổ nhưỡng mới
đã ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng được di thực
Để góp phần khai thác hết tiềm năng của giống cam Vinh tại địa phương đây
là nghiên cứu rất cần thiết và ý nghĩa thực tiễn cao
Việc phát triển cây Cam Vinh tại Bắc Giang hiện nay là tự phát, chưa
có các nghiên cứu cụ thể về đặc điểm sinh trưởng phát triển nên chưa có căn
cứ để đánh giá khả năng tính thích nghi của cây Cam Vinh trồng tại vùng sinh thái của Bắc Giang Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật
đối với giống cam Vinh trồng tại huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang”
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học của giống cam Vinh trồng tại huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang
- Thử nghiệm ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng, phân bón qua lá đến sự ra hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng quả cam Vinh trồng tại huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp những thông tin cần thiết về mối quan hệ giữa cây cam Vinh với điều kiện khí hậu, đất đai vùng sinh thái Lục Ngạn, làm cơ sở để xác định khả năng sinh trưởng, phát triển cây cam Vinh ở Lục Ngạn, hoàn thiện quy trình kĩ thuật chăm sóc cây ăn quả có múi, đặc biệt là cây cam, góp phần thúc đẩy phát triển cây cam ở địa phương
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài góp phần xác định cơ sở khoa học cho việc quy hoạch vùng sản xuất cây ăn quả hàng hóa, bước đầu ứng dụng những biện pháp kĩ thuật mới vào sản xuất nhằm tăng hiệu quả kinh tế nông hộ trồng cam ở Lục Ngạn - Bắc Giang
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành ở các xã trồng cam Vinh thuộc huyện Lục Ngạn - Bắc Giang
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Đặc điểm nông sinh học
Cam quýt được xếp vào loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng, ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại (di truyền) và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, khí hậu,
Tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, trong chu kỳ sống một năm, cam quýt thường ra 3 - 4 đợt lộc (lộc Xuân, Hè, Thu và Đông) Quá trình ra lộc ở cam quýt có liên quan khá nhiều đến hiện tượng ra quả cách năm và khả năng điều chỉnh cân đối giữa bộ phận dưới mặt đất và bộ phận trên mặt đất, quá trình ra lộc năm nay sẽ là tiền đề cho sự ra hoa kết quả của năm sau Nếu có các biện pháp
kỹ thuật hợp lý để điều khiển quá trình ra lộc sẽ hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ra quả cách năm, bồi dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, điều chỉnh cân đối giữa các bộ phận dưới và trên mặt đất, hạn chế sâu bệnh hại, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng của cam quýt Từ cơ sở khoa học này, việc nghiên cứu quá trình ra lộc, mối liên hệ của các đợt lộc trong năm nhằm có thêm các thông tin cơ bản - tiền đề của các biện pháp kỹ thuật là cần thiết
Đối với việc sử dụng phân bón lá cho cây cam quýt: Cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm
bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết
Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.2 Sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng
Cây trồng nói chung và cam quýt nói riêng luôn tồn tại cơ chế các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống Các chất điều hòa sinh trưởng khác nhau được tổng hợp với một lượng rất nhỏ ở các cơ quan đến một bộ phận nhất định của cây, từ đó chuyển sang các bộ phận khác để điều tiết hoạt động sinh lý của cây
Gibberellin (GA3) được tổng hợp ở tất cả các bộ phận còn non của cây
và được vận chuyển không phân cực Giberellin có tác dụng nhiều đối với cây
ăn qua như: thúc đẩy phát triển cây non; kích thích mọc mầm; nảy mầm, nảy chồi của hạt; sự ra hoa, ra quả của cây
1.2 Nguồn gốc
Tuy còn nhiều tranh cãi nhưng phần đông các nhà nghiên cứu cho rằng các giống cam quýt được trồng hiện nay có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á (Trần Thế Tục (1980)[6]; (1995) [8], đã vạch đường ranh giới vùng xuất xứ của giống thuộc chi Citrus từ phía đông Ấn Độ (chân dãy núi Hymalaya) qua Úc, miền Nam Trung Quốc, Nhật Bản
Theo Trần Thế Tục 1980 [6] nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc đã có
từ 3.000 - 4.000 năm trước, Hàn Ngạn Trực đời Tống trong “Quýt lục’’ đã ghi chép và phân loại các giống ở Trung Quốc Điều này cũng khẳng định thêm
rằng nguồn gốc của các giống cam, chanh (Citrus sinensis Obeck) và các
giống quýt ở Trung Quốc theo đường ranh giới gấp khúc, Tanaka (1954) [23]
Một số tác giả cho rằng nguồn gốc quýt King (Citrus nobilis Lour) là ở
Miền Nam Việt Nam Thực tế ở Việt Nam từ Bắc chí Nam ở địa phương nào cũng có trồng cam sành với rất nhiều vật liệu giống và tên địa phương khác nhau mà không nơi nào trên thế giới có: cam sành bố hạ, cam sành Hàm Yên, cam sành Yên Bái, cam sen Đình Cả Bắc Sơn
Cũng có một số tác giả khác cho rằng nguồn gốc các loại cây có múi ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới thuộc vùng Châu Á - Thái Bình Dương, mặc dù
có vài loài tìm thấy ở Châu Phi
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt
1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới
Cam quýt nổi tiếng thế giới hiện nay được trồng phổ biến ở những vùng có khí hậu khá ôn hòa thuộc vùng á nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ôn đới ven biển chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương
Các nước trồng cam quýt nổi tiếng hiện nay đó là:
- Địa Trung Hải và Châu Âu bao gồm các nước: Tây Ban Nha, Italia,
Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Isaren, Tunisia, Algeria
- Vùng Bắc Mỹ bao gồm các nước: Hoa Kỳ, Mexico
- Vùng Nam Mỹ bao gồm các nước: Braxin, Venezuela, Argentina, Uruguay
- Vùng Châu Á bao gồm các nước: Trung Quốc và Nhật Bản
- Các hòn đảo Châu Mỹ bao gồm các nước: Jamaica, Cu Ba, Cộng hòa Dominica
Theo thống kê của FAO, năm 2000 tổng sản lượng cam quýt trên thế giới là 85 triệu tấn và phần tiêu thụ khoảng 79,3 triệu tấn, tăng trưởng hàng năm 2,85% Tiêu thụ sẽ tăng lên ở các nước đang phát triển và giảm ở các nước phát triển Cam là thứ quả tiêu thụ nhiều nhất chiếm 73% quả có múi, tập trung ở các nước có khí hậu á nhiệt đới ở các vĩ độ cao hơn 20-220
nam và bắc bán cầu, giới hạn phân bố từ 35 vĩ độnam và bắc bán cầu, có khi lên tới
40 vĩ độ nam và bắc bán cầu Dự báo trong những năm của thập kỷ 2000 mức tiêu thụ quả có múi của thị trường thế giới tăng khoảng 20 triệu tấn
Các nước xuất khẩu cam quýt chủ yếu đó là: Tây Ban Nha, Israel, Ma rôc, Italia Các giống cam quýt trên thị trường được ưa chuộng là: Washington, Navel, Valenxia Late của Ma Rôc, Samouti của Isarel, Maltaises của Tunisia, và các giống quýt Địa trung hải như: Clemention, quýt Đá Danxy
và Unshiu được rất nhiều người ưa chuộng
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 1.1: Tình hình sản suất cây có múi trên thế giới từ 2005-2011 Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn/ha)
Xuất khẩu quả có múi hiện nay ước tính khoảng 10% sản lượng thu hoạch của cây ăn quả có múi Phần lớn lượng quả có múi xuất khẩu là ở vùng Bắc bán cầu, chiếm 62% sản lượng quả có múi xuất khẩu của thế giới
Quả có múi chủ yếu được tiêu thụ ở các nước phát triển, mặc dù tiêu thụ quả có múi bình quân trên đầu người ở các nước đang phát triển đang tăng lên theo thu nhập tăng
1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt tại Việt Nam
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, thích hợp với nhiều loại cây trồng trong đó có các loại cây ăn quả, đặc biệt là các loại cam quýt Theo sử
sách "Vân đài loại ngữ" của Lê Quý Đôn có viết: Nước Việt Nam cũng có rất
nhiều thứ cam: Cam Sen (gọi là Liên Cam), cam Vú (Nhũ cam) loại quả có vá
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
máng và mỡ, vừa chua vừa ngọt; cam sành (Sinh cam) vá dày, vị chua; cam Mật (mật cam) vá máng, vị chua; cam Động Đình quả to, vá dày, vị chua; cam Giấy (chỉ cam) tức là Kim quýt, vá rất máng, sắc hồng, trông mã đẹp, vị chua; quất Trục (cây quýt) ghi trong Thiên Vũ Cống và sách Thu Thư là tài sản rất quý của Nam Phương đem sang Trung Quốc trước tiên
Cam quýt được trồng phổ biến nhiều nơi trên khắp mọi miền của đất nước Theo tổng cục thống kê tính đến năm 2008 cả nước có 87.500 ha với sản lượng 683.300 tấn
* Các vùng trồng cam quýt chính ở Việt Nam
+ Vùng đồng bằng sông cửu long
Theo Trần Thế Tục (1980), các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng và An Giang có vị trí từ 9015’ đến
10030’ vĩ bắc và 1050 đến 106045’ độ kinh đông, địa hình rất bằng phẳng, có
độ cao từ 3 - 5m so với mặt nước biển Các yếu tố khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa và ánh sáng ở vùng này rất phù hợp với việc phát triển sản xuất cây có múi Lịch sử trồng cam quýt ở đồng bằng sông Cửu Long có từ lâu đời nên người dân ở đây rất có kinh nghiệm trồng trọt, chăm sóc loại cây ăn quả
có múi Cam quýt được trồng chủ yếu ở các vùng đất phù sa ven sông hoặc trên các cù lao lớn nhá của sông Tiền, sông Hậu có nước ngọt quanh năm, nơi đây có tập đoàn giống cam quýt rất phong phú như: Cam chanh, cam sành, Bưởi, chanh Giấy, quýt
Cam của Nam Bộ trái lớn, hương vị tuyệt hảo, vượt xa loại cam mang
từ Trung Hoa vào cùng mùa Các giống được ưa chuộng và trồng nhiều hiện nay là: cam sành, cam mật, quýt tiều (quýt hồng), quýt siêm, quýt đường, bưởi đường, bưởi năm roi, bưởi long tuyễn năng suất các giống kể trên ở điều kiện khí hậu, đất đai vùng đồng bằng sông Cửu long tương đối cao
+ Vùng khu 4 cũ
Gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh trải dài từ 180
đến 20030’
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vĩ độ bắc, trọng điểm trồng cam quýt vùng này là vùng Phủ Quỳ - Nghệ An gồm một cụm các Nông trường chuyên trồng cam với diện tích năm 1990 là 600ha Các giống cam ở Phủ Quỳ có khả năng sinh trưởng tốt và năng suất tương đối ổn định Hai giống Sunkiss và Xã Đoài có ưu thế về tiềm năng, năng suất và sức chống chịu sâu bệnh hại trên cả cây và quả
Huyện Hương Khê là một trong những vùng đất miền núi của tỉnh Hà Tĩnh Nhân dân ở đây đã có tập quán trồng bưởi lâu đời, đặc biệt là bưởi Phúc Trạch, một trong những giống bưởi đặc sản ngon nhất hiện nay Ngoài bưởi Phúc Trạch ở vùng này còn có một giống cam quýt rất nổi tiếng đó là cam Bù Cam Bù có quả to, ngon, màu sắc hấp dẫn, chín muộn nên có thể đưa vào cơ cấu cam quýt chín muộn ở nước ta hiện nay Cam Bù có năng suất cao nhờ có
bộ lá quang hợp tốt và số lượng lá/cây lớn, có tính chịu hạn tốt Cam Bù thường được trồng với mật độ cao (600 - 1000 cây/ha) để cho cây chóng giao tán, che phủ đất trống xói mòn và hạn chế ánh sáng trực xạ ở vùng núi thấp
+ Vùng miền núi Phía Bắc
Vùng này có các tỉnh trồng cam với diện tích lớn đó là: Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái Nguyên với điều kiện khí hậu hoàn toàn khác với hai vùng trên, cam quýt được trồng
ở các vùng đất ven sông, suối như: Sông Hồng, Sông Lô, Sông Gâm, Sông Thương, Sông Chảy cam quýt được trồng thành từng khu tập trung 500 ha hoặc trên 1000 ha như ở Bắc Sơn - Lạng Sơn, Bạch Thông - Bắc Cạn, Hàm Yên, Chiêm Hóa - Tuyên Quang, Bắc Quang - Hà Giang, tại những vùng này cam quýt trở thành thu nhập chính của hộ nông dân, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất so với các loại cây trồng khác trên cùng loại đất Do loại hình sinh thái phong phú dẫn đến có nhiều loại cam quýt, đặc biệt ở vùng núi phía bắc
là nơi chứa đựng tập đoàn giống cam quýt đa dạng
Lục Ngạn là một huyện nằm về phía đông của tỉnh Bắc Giang từ lâu đã
là vùng đất rất thích hợp trồng các loại cây ăn quả, đặc biệt nổi tiếng với vải
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thiều Lục Ngạn Trong mấy năm gần đây Lục Ngạn đang có kế hoạch trồng nhiều loại cây ăn quả mới như: hồng Nhân Hậu, táo Đài Loan, thanh long ruột
đỏ, các loại cây ăn quả có múi; đặc biệt cây cam Vinh cho thu nhập cao gấp nhiều lần so với trồng lúa và trồng vải thiều
Cam quýt của nước ta phong phú về chủng loại giống, có nhiều giống nổi tiếng đặc trưng cho vùng Tuy nhiên việc mở rộng diện tích cam quýt còn gặp nhiều khó khăn, đó là do điều kiện thời tiết thất thường, cơ sở hạ tầng yếu kém, tiếp cận thị trường khó khăn, trình độ thâm canh thấp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm chạp do trình độ dân trí không đồng đều giữa các vùng, công tác bảo vệ thực vật chưa được quan tâm chu đáo, công tác tuyển chọn giống và sản xuất cây giống chất lượng chưa được chú trọng đúng mức
Hàng năm diện tích và sản lượng cam quýt ở nước ta tăng nhanh nhưng năng suất còn khá khiêm tốn do điều kiện khí hậu thời tiết, do kỹ thuật chưa được áp dụng v.v Theo kết quả điều tra của Nguyễn Minh Châu, Lê Thị Thu Hồng thì năng suất cam chanh là 105 tạ/ha; quýt 87 tạ/ha; chanh 88 tạ/ha; bưởi
74 tạ/ha; Tuy nhiên cá biệt có trang trại đạt năng suất cam chanh 237 tạ/ha; chanh 128 tạ/ha; quýt 240 tạ/ha; bưởi 177 tạ/ha Lãi suất đối với một ha trồng cam là 84,2 triệu đồng, quýt 54,6 triệu đồng, chanh 43,7 triệu đồng, bưởi 21 triệu đồng Đồng bằng sông Cửu Long có sản lượng lớn nhất toàn quốc nhưng năng suất còn quá thấp so với năng suất của nhiều nước trồng cam trên thế giới (từ 20 - 40 tạ/ha) Tuy nhiên cũng có năng suất điển hình như ở Phủ Quỳ đạt
400 - 500 tạ/ha
Phát triển cam quýt ở nước ta phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước là chủ yếu và một phần dùng cho xuất khẩu Hiện nay với khoảng 60 triệu dân sống ở các thành phố, thị xã, thị trấn, mức tiêu thụ quả đang có xu hướng tăng lên Điều tra tiêu dùng riêng về quả ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2000 đã lên tới 700 nghìn tấn quả tươi các loại được
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tiêu thụ trong năm
Tập quán tiêu thụ quả của nhân dân ta từ xưa đã thành truyền thống Quả là nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của dân đô thị Trong các ngày giỗ chạp, ngày hội, ngày tết, thăm hái lẫn nhau nhân dân cũng dùng đến quả tươi, với mức sản xuất hiện tại mới đạt 48 kg quả các loại bình quân cho một đầu người/năm (kể cả hơn 1-1,5 vạn tấn quả có múi nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam theo số liệu của tổng cục Hải Quan)
Theo Faostat, diện tích, năng suất và sản lượng cây ăn quả có múi ở nước ta từ năm 2000 đến năm 2011 có biến động tương đối
Bảng 1.2
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (ha)
Năng suất /ha)
Sản lượng (tấn)
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thành phần mà quả tươi được phân bố, lưu thông đi các nơi trên mọi miền đất
nước Đây là một động lực phát triển sản xuất cây ăn quả ở nước ta
Nhìn chung, cam quýt là một trong những cây ăn quả rất quan trọng ở Việt Nam Dự báo trong những năm tới, diện tích và sản lượng cam quýt sẽ tiếp tục phát triển; các vùng cam quýt trọng yếu trên cả nước đã và đang tiếp tục chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nhân dân để áp dụng sản xuất theo hướng chuyên canh, tập trung Điều này cho thấy, mặc dù có một số hạn chế
về mặt sinh thái, khoa học kỹ thuật song cam quýt vẫn được quan tâm phát triển mạnh ở Việt Nam
Tóm lại, cam quýt là một trong những cây ăn quả quan trọng ở Việt Nam Diện tích và sản lượng cam quýt không ngừng tăng, đặc biệt trong thời gian qua diện tích trồng cam quýt tăng khoảng 4 lần và sản lượng tăng khoảng
3 lần Điều này cho thấy mặc dù có một số hạn chế về mặt sinh thái, cam quýt vẫn được quan tâm phát triển mạnh ở Việt Nam
1.4 Tình hình nghiên cứu về cam quýt
1.4.1 Một số nghiên cứu về đăc điểm sinh thái học
Cam quýt được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới do có phổ thích nghi rộng, tuy nhiên năng suất cao và chất lượng cam quýt ngon, mẫu
mã quả đẹp khi được trồng ở vùng á nhiệt đới
Cam quýt là cây kém chịu hạn và không chịu được ngập úng do có bộ
rễ cộng sinh với nấm Vì vậy đất trồng cam quýt cần đủ ẩm, thoáng khí, mực nước ngầm sâu dưới 1m là những điều kiện tốt cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ cam quýt Về mặt dinh dưỡng, bên cạnh các nguyên tố đa lượng như N, P, Kali cam quýt còn cần các nguyên tố trung lượng, vi lượng như: Ca, S, Zn, B, Mo, Mn, Mg, Fe, Cu v.v Nếu thiếu hụt một trong các nguyên tố dinh dưỡng trên đều làm cho cam quýt sinh trưởng và phát triển kém, khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh kém, làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm
- Nhiệt độ
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Theo Trần Thế Tục (1980) [6] và nhiều tác giả khác cho rằng cây cam, quýt, chanh, bưởi sinh trưởng được trong phạm vi nhiệt độ từ 12 - 39oC, nhiệt
độ thích hợp nhất từ 23-27oC Tại nhiệt độ thấp -5oC có một số giống có thể chịu được trong thời gian rất ngắn Khi nhiệt độ cao 400C kéo dài trong thời gian dài trong nhiều ngày cam quýt sẽ ngừng sinh trưởng, biểu hiện bên ngoài
là lá rụng, cành khô héo Tuy nhiên cũng có giống chỉ bị hại khi nhiệt độ không khí lên đến 50 - 570
C
Nhìn chung nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cam quýt như: Sự phát lộc, quá trình quang hợp, sự hoạt động của bộ rễ, sự lớn lên của quả.v.v Bằng những nghiên cứu của mình Vũ Công Hậu (1996)[2] cho rằng rễ cam quýt hoạt động tốt khi nhiệt độ tăng dần từ 9 -
23oC Khi nhiệt độ tới 26oC cây hút đạm mạnh Ngoài ra sự chênh lệch nhiệt
độ giữa ngày và đêm lớn làm quả phát triển mạnh, đồng thời có ảnh hưởng đến khả năng tích luỹ, vận chuyển đường bột và axit trong cây vào quả Tuy nhiên, khi nhiệt độ ban đêm quá thấp làm cho hoạt động này kém đi
Những giống có khả năng thích ứng với nhiệt độ thấp thường có phẩm
vị ngon, mã quả đẹp, hấp dẫn, ngược lại những giống chịu nhiệt có phẩm chất kém hơn
Những vùng có mùa hè quá nóng và mùa đông quá lạnh, nhiệt độ bình quân năm >150C, tổng tích ôn từ 2.500 - 3.500 cũng có thể trồng cam quýt Ở các vùng lục địa xa biển không nên trồng cam quýt ở độ cao từ 1.700 - 1.800m so với mực nước biển vì những vùng này mùa đông thường có tuyết rơi và nhiệt độ xuống tới âm 40
C
- Ánh sáng
Cam quýt là cây ưa ánh sáng tán xạ, nơi có cường độ ánh sáng từ 10.000 - 15.000 lux, tương ứng với 0,6 cal/cm2, ứng với ánh sáng lúc 8 - 9h sáng và 4 - 5h chiều hoặc những ngày trời quang mây mùa hè Tuy nhiên để
có được lượng ánh sáng như vậy chúng ta cần bố trí mật độ hợp lý như không
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quá dày cũng không quá thưa, vườn cam quýt nhất thiết phải bố trí nơi thoáng, có thể trồng cây chắn gió đồng thời có tác dụng che bớt ánh sáng để
có ánh sáng trực xạ vào những ngày trời nắng gắt, khi đủ ánh sáng cây sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh
- Ẩm độ và lượng mưa
Cam quýt có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng và ẩm vì vậy cam quýt
là cây ưa ẩm, ít chịu hạn, cần nhiều nước nhất là thời kỳ nảy mầm, cây con và thời kỳ phân hóa mầm hoa, thời kỳ kết quả và quả đang phát triển Trong năm cam quýt cần nước từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Tuy ưa ẩm nhưng cam quýt rất sợ úng đất sẽ bị thiếu oxy, bộ rễ hoạt động sẽ kém vì vậy sẽ làm cho cây rụng lá, hoa, quả
Cam quýt yêu cầu độ ẩm không khí 75% và độ ẩm đất 60%, độ ẩm này không những đảm bảo cho cây sinh trưởng phát triển tốt mà còn cho năng suất cao, phẩm chất quả tốt, mẫu mã quả đẹp, quả to, vá máng Nếu độ ẩm không khí quá cao hoặc quá thấp đều có hại cho cam quýt, ẩm độ không khí quá cao và kèm theo nắng to vào tháng 8, tháng 9 hàng năm thường gây hiện tượng rám nắng và nứt quả
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2000)[4], lượng mưa thích hợp cho các vùng trồng cam quýt trên dưới 2.000mm, Cam cần 1.200 - 1.500mm, quýt cần nhiều hơn từ 1.500 - 2.000mm, chanh cần ít nước hơn quýt, lượng nước trong đất có ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của bộ rễ, lượng nước được coi là đủ khi nước tự do bằng 1% và độ ẩm đất bằng 60% độ ẩm bão hòa đồng ruộng
- Gió
Quy luật hoạt động của gió là một vấn đề cần lưu ý trong việc bố trí các vùng trồng cam quýt Tốc độ gió vừa phải có ảnh hưởng tốt đến việc lưu thông không khí, điều hòa độ ẩm, giảm sâu bệnh hại, cây sinh trưởng tốt Tuy nhiên tốc độ gió có ảnh hưởng đến khả năng đồng hóa của cây, đặc biệt là gió lớn
Ở nước ta, đồng bằng sông Hồng và ven biển miền Trung về mùa mưa thường có gió bão gây đổ cây, gẫy cành, rụng quả làm cho khả năng sinh
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trưởng và năng suất của cây giảm râ rệt Do vậy cần chú ý đến việc trồng các đai rừng chắn gió cho các vườn trồng cam quýt ở những vùng hay có bão lớn
- Đất đai
Ở nước ta, theo Trần Thế Tục (1980)[6] và một số tác giả cho rằng cây cam quýt có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất thịt nặng ở đồng bằng, đất phù sa châu thổ, đất đồi núi, đất phù sa cổ, đất thịt nhẹ, đất cát pha, đất bạc màu Tuy nhiên nếu trồng cam quýt trên đất xấu, nghèo dinh dưỡng cần phải đầu tư thâm canh cao, hiệu quả kinh tế sẽ tốt hơn
Cây cam quýt có thể trồng được trên đất có độ pH từ 4 - 8 nhưng thích hợp nhất là từ 5,5 - 6, điện thế oxy hóa khử Eh > 300mV Ở độ pH này các nguyên tố khoáng cần thiết cho cây cam quýt phần lớn ở dạng dễ tiêu, nếu là đất chua nhất thiết phải bón vôi để nâng cao độ pH cho đất Đất trồng cam quýt cần có độ thoáng cao, nồng độ oxy phải lớn hơn 4% cây mới sinh trưởng và phát triển bình thường, nếu hàm lượng oxy nhá hơn 2% cây sẽ ngừng sinh trưởng Nếu chúng ta đánh giá mức độ thích nghi của đất đối với cam quýt thì đất phù sa cổ là tốt nhất, sau đó đến đất phù sa mới bồi hàng năm, đất Bazan, đất dốc tụ và đất đá phiến sét Không nên trồng cam quýt trên đất thịt nặng, đất
có tầng canh tác mỏng, đất đá ong và đá lộ đầu hoặc những nơi có mực nước ngầm cao mà không thể thoát được nước
Tóm lại, cam quýt có thể sinh trưởng, phát triển tốt ở khắp các miền sinh thái ở Việt Nam, nhưng lý tưởng nhất là khí hậu các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam
1.4.2 Một số nghiên cứu về đặc điểm thực vật học
+ Rễ
a Sự phân bố của rễ: Tùy thuộc vào cây giống ban đầu trồng bằng hạt,
cây ghép hay chiết mà rễ phân bố khác nhau Trồng bằng hạt rễ chính ăn sâu hơn so với trồng bằng cành chiết Ngoài ra, sự phân bố của rễ còn quyết định bởi tuổi cây, tầng canh tác sâu hay cạn, mực nước ngầm cao hay thấp và điều
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
kiện chăm sóc Đặc biệt là tầng canh tác có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng phát triển của rễ Nơi đất thịt xốp, độ màu mỡ cao, không bị đọng nước, mực nước ngầm cao nên rễ thường ăn sâu, trái lại đất sét nặng, bị đọng nước, mực nước ngầm cao hoặc đất đồi nhiều đá phát triển trên tầng mặt thỡ rễ ăn cạn hơn Kết quả khảo sát cho thấy rễ cam quýt là loại rễ ăn cạn phát triển gần tầng đất mặt
Bảng 1.3: Sự phân bố của bộ rễ cam sành theo phương pháp nhân giống
Phương pháp nhân giống
Tầng đất
Bộ rễ cây chiết cành
(%)
Bộ rễ gốc ghép (%)
b Sinh trưởng của bộ rễ: Quan sát hoạt động của rễ Quýt giống chín
sớm địa phương trên 20 năm tuổi, cho thấy trong năm rễ có 3 lần sinh trưởng phát triển và có 3 cao điểm, rễ mọc xen kẽ với bộ phận trên không (cành, mầm) Mùa xuân rễ thường phát triển ít, lần thứ nhất trước lúc bắt đầu ra đợt lộc hè, lần thứ hai thường sau đợt lộc hè, lần thứ ba sau khi đợt lộc thu ngừng sinh trưởng và trái thuần thục
Có thể nói rằng hoạt động của rễ bị ức chế do các bộ phận trên của cây chi phối Lần thứ nhất rễ phát triển sau đợt cây ra hoa, ra lộc và phục hồi sinh trưởng, lần này số lượng rễ ra rất nhiều Lần thứ 2 giữa đợt lộc hè và lộc thu nên số lượng rễ phát triễn ít Lần thứ ba sau khi trái và hạt đã phát dục xong, hàm lượng chất hòa tan trong quả rất cao dần dần chuyển hóa thành đường,
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nên rễ ít bị ức chế, số lượng rễ lúc này có tăng nhiều hơn lần thứ hai Hiện tượng mọc xen trên đứng về mặt sinh lý, đây là sự cân bằng về dinh dưỡng phản ánh trong chiều hướng sinh trưởng các bộ phận của cây
Rễ cây có múi không có tầng lông hút, có nấm cộng sinh làm nhiệm vụ thay cho lông hút Trên các tế bào biểu bì của rễ non có những loại nấm sống trong đất phát triển bao bọc lên cả những khoảng trống giữa tế bào, nấm lấy dinh dưỡng là các hợp chất đường bột của tế bào rễ, ngược lại cung cấp lại cho rễ chất khoáng và chất kích thích đễ phát triển
+ Thân, cành
a Hình thái: Cành cam quýt khi còn non, có lớp biểu bì xanh chứa
diệp lục và khí khổng nên có thể tiến hành quang hợp được như lá Cành lúc đầu có cạnh, khi các tế bào phát triển dần bề ngang và bề dài làm cho cành mất dần cạnh và tròn dần, cùng với mộc thêm hóa diệp lục tố trên cành mất dần
b Sinh trưởng cành: Trong năm có nhiều đợt phát triển cành, căn cứ
vào thời gian ra cành người ta chia làm 4 loại cành: cành xuân, cành hè, cành mùa thu và cành mùa đông
Cành mùa xuân là cành quan trọng nhất, thường chiếm số lượng lớn trong tổng số cành ra trong năm, cành mùa hè phát triển trong điều kiện nhiệt
độ cao, có mưa nên cành phát triển rất mạnh, cành mùa thu phát triển vào mùa thu Ngoài ra ở những vùng có nhiệt độ ấm còn ra cành mùa đông, nhưng số lượng cành mùa đông thường không nhiều Thời vụ những đợt ra cành như sau:
- Cành mùa xuân tháng 2 - 3
- Cành mùa hè tháng 4 - 6
- Cành mùa thu tháng 8 - 9
- Cành mùa đông tháng 11 - 12
c Đặc tính của cành: Khi căn cứ vào nhiệm vụ, cành được phân làm
các loại, cành mang trái (cành quả), cành mẹ, cành vượt và cành dinh duỡng
+ Lá
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Lá cam quýt làm nhiệm vụ quang hợp, tổng hợp các chất dinh dưỡng cho cây ngoài ra lá còn giữ nhiệm vụ hô hấp và dự trữ các chất dinh dưỡng nuôi cây Lá thuộc loại lá đơn, luôn xanh, hàng năm không rụng, trừ những loại trong chi Poncitrus thuộc loại lá kép có ba lá chét Lá mọc xen trên, khoảng cách tùy thuộc giống có thể thưa như cam hoặc khít hơn như quýt Lá cam quýt có đặc tính biến thái ở gần cuống tạo thành eo lá, đây là một đặc điểm để phân loại
Trong năm có nhiều đợt ra lá, sự ra lá có quan hệ mật thiết với những đợt ra đọt cành do đó thường có 4 lần ra lá Lá mùa xuân, lá mùa hè, lá mùa thu và lá mùa đông Lá mùa xuân có số lượng nhiều nhất, như đối với Citrus Ponensis Tanaka lá mùa xuân chiếm 62%, lá mùa hè 23,4%, lá mùa thu 9,8%
và lá mùa đông 4,8% Lá mùa xuân thường dài và hẹp, răng hơi gợn hoặc không râ, màu xanh đậm, lá mùa hè và thu thì ngắn và rộng, răng cưa nổi râ, màu hơi nhạt Tỷ lệ giữa lá, thân cành và rễ thay đổi tùy theo giống Cam Washington navel có tỷ lệ lá 19,4%; rễ 39,2%; thân cành 41,4%; Tỷ lệ 2/4/4 Đối với cam mật thì lá 10,33%, rễ 49,34%, thân cành 40,33%; tỷ lệ là 1/5/4
Tỷ lệ trên còn có thể thay đổi tùy theo điều kiện môi trường và kỹ thuật canh tác
Cây họ cam quýt thường ra hoa đồng thời với cành non và ra tập chung,
số lượng hoa rất nhiều Một cây cam có thể ra tới 60.000 hoa, chỉ cần 1% đậu
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trái cũng có thể đạt năng suất 100 kg/cây Tỷ lệ đậu quả phụ thuộc vào đặc tính di truyền, đặc điểm sinh lý của cây và điều kiện ngoại cảnh Cần chọn cây khoẻ, phù hợp với điều kiện môi trường sinh thái, kỹ thuật chăm sóc tốt, phòng trừ sâu bệnh kịp thời, tăng cường phân hữu cơ, giảm tối đa lượng phân bón vô cơ và thuốc hoá học để tăng tỷ lệ đậu quả và cho sản phẩm trái cây sạch, an toàn, đáp ứng nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng
Các yếu tố sinh thái có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ đậu quả và sự phát dục của quả cam quýt Muốn tỷ lệ đậu quả cao, quả sinh trưởng bình thường, phẩm chất tốt thì trong kỹ thuật trồng trọt cần tác động sao cho bộ lá của cây luôn xanh, chuyển lục đều và không bị rụng lá sớm (tuổi thọ lá dài)
+ Hiện tượng rụng quả
Trong đời sống của cây trồng thường xảy ra hiện tượng rụng hoa, rụng quả, đây là một hiện tượng sinh lý hoàn toàn bình thường của cây, do quá trình hình thành tầng rời ở cuống Sự rụng quả là sự thích ứng của cây khi thiếu dinh dưỡng, nước và hoocmon cho sự sinh trưởng của chúng, buộc chúng phải rụng
đi một lượng nhất định các quả non, để tập trung dinh dưỡng và hoocmon cho những quả khác Sự rụng quả thường mạnh mẽ vào lúc phôi sinh trưởng nhanh
và lúc phình to của quả Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do 2 yếu tố đó
là yếu tố môi trường và yếu tố nội tại
* Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự rụng
Các nghiên cứu về môi trường ảnh hưởng đến sự rụng các bộ phận của cây như: Lá, hoa, quả đã được quan tâm từ lâu Trong triết học Hy Lạp đã có nhận xét: điều kiện ẩm sẽ làm cho cây giữ lá tốt hơn nơi khô hạn Nói chung đất bạc màu lá rụng sớm hơn hoặc cây già lá rụng sớm hơn cây non
Theo Addoicott, Lynch (1957) [12], thì nhiệt độ có ảnh hưởng rõ rệt đến sự rụng, khi cây gặp nhiệt độ thấp sẽ kích thích sự hình thành tầng rời ở cuống, nhiệt độ quá cao thúc đẩy nhanh chóng sự rụng
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Theo Lockhart, J.A(1960)[16], 1961[17] cho rằng ánh sáng liên quan đến
sự rụng theo nhiều cách khác nhau Khi cây thiếu ánh sáng sẽ hình thành tầng rời
ở cuống lá, hoa, quả Theo Heinicke (1919) [14], sự rụng ở cây còn liên quan chặt chẽ đến chế độ chiếu sáng trong ngày, chế độ ánh sáng ngày dài sẽ làm hạn chế sự rụng
Theo Reuther W Smith PE(1973)[20], thì hạn cũng là một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới sự rụng Khi bị hạn các bộ phận của cây sẽ bị rụng vì hạn liên quan đến sự thoái hóa của lá, tuy nhiên nếu thừa nước cũng thúc đẩy sự rụng ở cây
Theo Trần Thế Tục ( 1980)[6], cho rằng rụng quả là do hạn hán, khi mưa đột ngột làm cho tốc độ lớn của quả mạnh hơn so với vá quả do đó làm cho quả nứt và quả bị rụng
Theo Abeles, F.B.and R.E.Holm (1966) [10], thì thành phần khí trong khí quyển cũng ảnh hưởng đến quá trình rụng Hàm lượng oxygen như là một nhân tố thiết yếu liên quan đến sự rụng, do vậy nếu thiếu oxy sẽ kìm hãm sự rụng Vai trò của etylen ảnh hưởng đến quả trình rụng đã được xác nhận Hiện nay do không khí bị ô nhiễm, hàm lượng etylen tăng làm tăng sự rụng hoa, rụng quả trên cây Ngoài ra khí NH3 cũng là một trong những nhân tố điển hình cảm ứng sự rụng của cây
Theo Skoog, F (1940) [22], hàm lượng khí cacbonic (CO2) trong không khí cũng ảnh hưởng đến sự rụng Thông thường CO2 có tác động ngăn cản sự rụng nhưng trong một số thực nghiệm nó lại có tác dụng như một chất cảm ứng rụng
Ngoài ra theo Addicott (1965)[11] sự thiếu hụt một số chất như: N, Zn,
Ca, S, Mg, Bo, Fe sẽ kích thích sự rụng Tuy nhiên khi quá dư thừa các chất trên cũng có thể gây ra sự rụng, đặc biệt là sự dư thừa Zn, Fe, Cl, nhất là khi phun lên lá sẽ làm cho quá trình rụng tăng nhanh
Theo Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch và các cộng sự (2000) [9] khi chúng ta đã hiểu được bản chất của sự rụng chúng ta có thể điều chỉnh
sự rụng các cơ quan có lợi cho sản xuất Muốn kìm hãm sự rụng thì người ta
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thường phun các hợp chất chứa auxin, hoặc gibberellin cho lá hoặc hoa, quả non đồng thời kết hợp với việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cây sinh trưởng và phát triển thuận lợi
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
* Các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến sự rụng
Như chúng ta đã biết quá trình quang hợp giúp cây tích lũy chất khô về các sản phẩm thu hoạch, cung cấp nguyên liệu cho hô hấp và cấu tạo thành tế bào, làm cho thành tế bào vững chắc và ngăn cản sự rụng
Hiệu quả của quang chu kỳ đến quá trình rụng có liên quan đến các phytocrom, qua phytocrom tác động đến quá trình tổng hợp các hoocmon Theo Nitsch (1963)[19] dưới điều kiện ngày dài thì auxin và Gibberellin được tổng hợp nhiều hơn axit abxixic, tổ hợp các chất này làm tăng sinh trưởng và chống lại sự rụng Trong điều kiện ngày ngắn thì cân bằng này theo hướng làm tăng sự rụng
Các yếu tố nội tại đều được sản sinh nhờ tác động của yếu tố môi trường, ví dụ nhiệt độ gây ra sự rụng là do nhiệt độ có ảnh hưởng đến quá trình hô hấp và các quá trình tổng hợp các enzyme Vì vậy việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt là việc làm cần thiết
có tác dụng ngăn cản quá trình rụng của cây
+ Các thời kỳ sinh trưởng phát triển của cam quýt
Cam quýt là cây ăn trái lâu năm, có tuổi thọ và chu kỳ kinh tế dài Để tiện cho việc quản lý và chăm sóc vườn cây qua từng giai đoạn khác nhau Người ta chia sự phát triển của vườn cây ra thành những giai đoạn như sau:
* Thời kỳ kiến thiết cơ bản
Là giai đoạn sau khi trồng đến lúc cây bắt đầu ra hoa và đậu trái Thời
kỳ này dài khoảng 3 năm Đặc điểm của cây trong giai đoạn này chủ yếu là sinh trưởng sinh dưỡng Cây phát triển thân cành liên tục nhiều đợt trong năm, cành sinh trưởng mạnh, to khác, số lượng cành nhiều trong mỗi đợt ra cành, bộ rễ phát triển mạnh Do đó tán cây phát triển rất nhanh
Đây là giai đoạn căn bản để hình thành khung tán cây, là cơ sở để cây cho năng suất cao về sau Do đó, cây cần được chăm sóc tốt để phát triển tối đa rễ,
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thân, cành khỏe mạnh, vững chắc Các biện pháp kỹ thuật được áp dụng trong giai đoạn này như sau:
- Bón đầy đủ phân hữu cơ và vô cơ cung cấp dinh dưỡng cho cây phát triển
- Bón vôi điều chỉnh độ pH thích hợp (ở những vùng có độ pH thấp), làm cá, xới xáo vùng gần rễ cho đất tơi xốp, giúp hệ thống rễ phát triển tối đa
- Tạo tán tỉa cành giúp cho cây có thân tán to, kháe mạnh, cành phân bố hợp lý, nhận đủ ánh sáng
- Phòng trừ sâu bệnh kịp thời
Ngoài ra, còn lưu ý đến hiện tượng ra trái sớm, những cây ra trái sớm cần tiến hành lặt bỏ hoa trái để ít ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây
* Thời kỳ đầu kinh doanh
Từ khi cây bắt đầu cho trái đến khi cây ra trái toàn cây Đặc điểm của thời kỳ này là sinh trưởng dinh dưỡng vẫn còn rất mạnh, cành ra vẫn còn nhiều, tuy nhiên số lần ra trong năm giảm 3 - 4 lần /năm, số lượng cành ra ít hơn, cành ngắn và lá ít hơn Bộ rễ trong giai đoạn này phát triển rất khác Số cành ra trái tăng dần cho đến khi toàn cây ra trái Trong thời kỳ này có thể xuất hiện các vấn đề sau:
- Sự mất cân đối giữa sinh trưởng tán cây và bộ rễ: Thời kỳ này sinh trưởng dinh dưỡng vẫn còn chiếm ưu thế, bộ rễ cũng ở giai đoạn phát triển mạnh, do nhu cầu cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho tán cây và nuôi quả, rễ phát triển ra khỏi mô trồng và đi xuống tầng đất chặt sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của rễ Dẫn đến rễ không cung cấp đủ dinh dưỡng cần thiết cho cây tạo nên sự mất cân đối giữa nhu cầu dinh dưỡng của thân cành lá
và trái và sự cung cấp từ rễ Do đó, cần áp dụng những biện pháp để giúp hệ thống rễ phát triển tốt như bón vôi điều chỉnh độ pH thích hợp, kết hợp xới xáo ngoài tán, bón phân hữu cơ giữ mực nước trong vườn, tủ gốc trong mùa nắng để giữ độ ẩm đất
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Mất cân đối giữa sinh trưỡng dinh dưỡng và ra hoa: Khi bắt đầu vào thời kỳ này sinh trưởng dinh dưỡng vẫn còn mạnh, có thể cây chậm ra hoa cho trái hoặc trên những cây sinh trưởng dinh dưỡng kém, có khuynh hướng
ra hoa nhiều ảnh hưởng đến sinh trưởng thân tán lá của cây
Những trường hợp trên phải tiến hành cắt tỉa khống chế những cành dinh dưỡng, mở tán thông thoáng để cây nhận đầy đủ ánh sáng giúp cây phân hoa mầm hoa tốt hơn Đối với cây ra nhiều hoa thì cắt tỉa bá bớt để thúc đẩy sinh trưởng cành lá
* Thời kỳ khai thác: Là giai đoạn từ khi cây ra hoa toàn cây đến lúc
cho năng suất cao nhất, đây là thời kỳ có ý nghĩa kinh tế nhất của vườn nên thời kỳ này càng dài hiệu quả kinh tế của vườn càng cao, nó phụ thuộc vào các yếu tố quản lý và chăm sóc, thời kỳ khai thác của vườn có thể lên đến 40 -
50 năm Đặc biệt thời kỳ này cây ở giai đoạn thuần thục, tán cây đã ổn định sinh trưởng dinh dưỡng kém, cành nhá, ngắn, ít lá chủ yếu là cành mang trái
Số lần ra cành trong năm ít từ 1 - 2 lần Trong thời kỳ này thường xuất hiện những trường hợp sau:
- Cây giao tán và mau già cỗi
- Hiện tượng sản lượng không ổn định
Nguyên nhân là do sự mất cân đối nghiêm trọng giữa sinh trưởng dinh dưỡng và cung cấp dinh dưỡng cho hoa trái Cành lá ra quá nhiều làm cây giao tán rậm rạp, quang hợp không hiệu quả Chất hữu cơ tạo ra không đủ dự trữ để tiến hành phân hóa mầm hoa, thúc đẩy cây ra hoa, dinh dưỡng không
đủ để cung cấp cho hoa phát triển cung như để nuôi trái sau khi đậu
Cần tiến hành tỉa cành hàng năm không cho cây giao tán, loại bỏ những cành vô hiệu, giúp cành phân bố hợp lý nhận đầy đủ ánh sáng, tỉa bớt trái, cây mang trái vừa đủ giúp trái phát triển tốt và dinh dưỡng còn phải dự trữ để giúp cho cây phân hóa mầm hoa năm sau
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Bón đầy đủ phân bón cho cây nuôi trái, hán chế sự rụng hoa, rung quả
- Bón phân hữu cơ cải tạo đất giúp hệ thống rễ cây phát triển tốt
- Tiến hành phòng trừ sâu bệnh tốt
* Thời kỳ già cỗi: Là giai đoạn khi sinh trưởng và năng suất cây giảm
đến lúc không còn hiệu quả ở nước ta, thời kỳ này thường rất ngắn, đặc điểm thời kỳ này là sinh trưởng dinh dưỡng kém, cành lá phát triển ít nhá, lá ít, tán
lá thưa, cành vượt phát triển nhiều, cây ra hoa và đậu trái thấp, trái nhá, rụng nhiều năng suất thấp
Tóm lại: Chu kỳ sinh trưởng của cam quýt gồm các thời kỳ phát triển căn bản, thời kỳ trước là nền tảng cho thời kỳ sau phát triển do đó cần phải ứng dụng đồng loạt nhiều biện pháp để thúc đẩy cây sinh trưởng phát triển tốt đạt năng suất cao, trong thời kỳ kinh doanh của vườn nếu quản lý và chăm sóc tốt có thể kéo dài chu kỳ kinh tế của vườn cây
1.4.3 Một số nghiên cứu về phân bón cho cây cam quýt
Thực vật nói chung và cam quýt nói riêng, muốn sinh trưởng và phát triển tốt cần phải được cung cấp đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng đa lượng cũng như vi lượng
+Đạm (Nitơ): là nguyên tố vô cùng quan trọng và không thể thiếu được
trong quá trình sinh trưởng đặc biệt trong sự hình thành bộ lá và có vai trò quyết định đến năng suất, phẩm chất của quả Nitơ tham gia vào quá trình hình thành và phát triển cành lá, xúc tiến hình thành các đợt lộc mới trong năm, có tác dụng giữ cho bộ lá xanh lâu Nhiều nghiên cứu cho thấy một quả cam Washington Navel muốn phát triển bình thường cần có 45 lá, cam Chanh cần 50 lá, bưởi Chùm cần 60 lá cho một quả
Tuy nhiên nếu thừa đạm sẽ làm cho lá và lộc sinh trưởng quá tốt, quả lớn nhanh nhưng vỏ dày, quả bị nứt và phẩm chất quả kém, mầu sắc quả đậm hơn, hàm lượng vitamin C có chiều hướng giảm Nhưng nếu thiếu đạm lộc non không phát sinh đúng lúc hoặc ra ít, lá nhỏ, lá mất diệp lục, bị ngả vàng,
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cành quả nhỏ, mảnh và bị rụng lá, quả nhỏ, vỏ mỏng, năng suất giảm
Ở điều kiện thời tiết nước ta cam quýt hấp thu đạm quanh năm, nhưng cây hút đạm mạnh nhất vào các tháng có thời tiết ấm, đồng thời cũng là thời điểm cây cam quýt trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng đến khi thu hoạch Ngoài ra khả năng hút đạm chịu sự tác động của độ pH đất, nếu pH từ 4 - 4,5 cây hấp thu mạnh dạng NO3, pH từ 6-6,5 cây hấp thu mạnh dạng NH4+,
theo Trần Thế Tục và cộng sự (1988) [7]
+ Phân lân (Phospho):
Là nguyên tố dinh dưỡng rất cần cho cây sinh trưởng và phát triển đặc biệt là giai đoạn phân hóa mầm hoa
Phân lân có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng quả, đủ lân lượng axit trong quả giảm, tỷ lệ đường/axit cao, hàm lượng VTMC giảm, vỏ quả mỏng,
mã đẹp, lõi quả chặt, màu sắc quả hơi kém nhưng chuyển màu nhanh
Nếu thiếu lân cành, lá sinh trưởng phát triển kém, rụng nhiều, bộ rễ kém phát triển, do đó năng suất, phẩm chất quả giảm Ở mỗi thời kỳ sinh trưởng và phát triển khác nhau cây có nhu cầu về lượng lân cũng khác nhau,
ví dụ ở giai đoạn kiến thiết cơ bản cây cần lân để phát triển bộ rễ, còn ở thời
kỳ kinh doanh cây cần lân để phân hóa mầm hoa Tuy nhiên nếu dư thừa lân vừa gây lãng phí mà lại làm cho cam lâu chín vàng Hiệu quả của việc bón lân cho cam quýt còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó độ pH đất là quan trọng nhất, đất có pH thấp sẽ làm giảm hiệu lực của phân
+ Kali:
Theo Vũ Công Hậu (1996)[2] kali rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển của cam quýt, đặc biệt là thời kỳ ra lộc non và thời kỳ quả phát triển mạnh Kali ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và phẩm chất quả cam quýt, vì kali tham gia vào quá trình vận chuyển các sản phẩm quang hợp về các cơ quan tích lũy trên cây Nếu cây được cung cấp đầy đủ kali quả to, ngọt, nhanh chín,
có khả năng chịu được lâu dài khi vận chuyển đi xa hoặc cất giữ lâu ngày
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tuy nhiên nếu thừa kali cây sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây còi cọc, đặc biệt nếu quá nhiều kali sẽ gây nên hiện tượng hấp thu caxi, magie kém, quả to nhưng xấu mã, vỏ quả dày, lâu chín
Ngoài các nguyên tố đa lượng N,P,K, các nguyên tố trung lượng và vi lượng cũng có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng phát triển, năng suất
+ Canxi (Ca): được ví như xi măng gắn kết các tế bào lại với nhau
(Miller, 1938.) [18], Hàm lượng Ca trong cây cao sẽ ngăn cản sự rụng ngược lại khi hàm lượng Ca trong cây thấp sẽ tăng sự rụng
+ Kẽm (Zn): rất cần cho sự tổng hợp Triptophan - tiền thân của auxin
Khi thiếu Zn sẽ thiếu auxin và sẽ làm tăng sự rụng (Hambidge, 1941) [13], (Skoog, 1940) [22]
+ Bore: là nguyên tố dùng cho cây ăn quả khá tốt Nó có vai trò quan
trọng trong việc hình thành màng sinh học Đặc biệt khi Bore kết hợp với Ca làm ổn định thành tế bào Thiếu Bore ảnh hưởng lớn đến mô phân sinh và sự nảy mầm của hạt phấn Chính vì vậy, Bore có tác dụng hạn chế rụng quả trên nhiều đối tượng cây trồng trong đó có cây cam Khi thiếu Bore làm cho hàm lượng nước trong quả ít, hình dạng quả không bình thường Để khắc phục có thể phun dung dịch axit boric nồng độ 300g/100l nước
Ngoài ra theo Hambidge (1941) [13], Lưu huỳnh (S) thiếu sẽ làm tăng
sự rụng quả, lá vì làm giảm các axit amin chứa lưu huỳnh ở trong cây, hoặc khi thừa Zn, Fe và các ionI+, Cl- sẽ gây độc cho cây và làm tăng quá trình rụng (Herrett, 1962) [15]
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Khi cây thiếu Cu quả dễ bị nứt, nhất là khi còn xanh Để khắc phục thì cần giữ ẩm cho đất, phun 0,2-0,5% CuSO4 lên lá kết hợp với phun boocdo càng tốt
Khi cây thiếu Fe làm cho lá chồi non bị vàng đi dẫn đến rụng quả khi còn xanh Để khắc phục thì cần cải tạo đất, bón phân hữu cơ, phun phân vi lượng 0,5% FeSO4
Khi thiếu Mo làm cho lá lốm đốm vàng Để khắc phục có thể phun dung dịch chứa 100-150g molybdate natri trong 1.000l nước
Để nâng cao năng suất và chất lượng cam quýt và bón phân như thế nào
và để đạt hiệu quả kinh tế cao, cần phải căn cứ vào những cơ sở khoa học đã được các nhà nghiên cứu khoa học đúc kết Đa phần khi bón phân cần căn cứ vào nhu cầu dinh dưỡng của cây ở các thời kỳ sinh trưởng và phát triển cụ thể Theo các nhà nghiên cứu về việc bón phân cho cam quýt đều cho rằng cơ
sở khoa học của việc bón phân có hiệu quả là dựa vào phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong đất và trong lá, cần căn cứ vào đó để khi cung cấp phân bón cho cây tránh làm sao không xảy ra hiện tượng quá thừa hay quá thiếu vừa gây lãng phí và làm giảm năng suất và chất lượng cây trồng
Ở nước ta phương pháp này đã được tiến hành thử nghiệm và thu được kết quả tốt tại các nông trường cam quýt vùng Phủ Quỳ - Nghệ An từ những năm
1974 và được công nhận đây là một tiến bộ khoa học trong sản suất cam quýt
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng các chất dinh dưỡng trong lá cây có hàm lượng khác nhau, do vậy mà nhu cầu của cây về hàm lượng các chất dinh dưỡng là không giống nhau Bón phân cho cam quýt cần phải có những hiểu biết nhất định để khi bón làm sao không thừa hoặc không thiếu chất dinh dưỡng Nếu thừa hoặc thiếu đều ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng và phát triển của cam quýt Đặc biệt sự thừa đạm là một dấu hiệu xấu Khi hàm lượng dinh dưỡng trong lá thích hợp thì cam sinh trưởng và phát triển tốt, vườn cam
sẽ cho năng suất cao
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 1.4 Dinh dưỡng trong lá cam 7 -10 tuổi (lá 4 - 7 tháng tuổi/cành không quả)
20 mg/kg lá
35
15
15 4,0 0,05
2,1-2,8%
0,09-0,11 0,7-1,4 1,6-2,9 0,16-0,29 0,14-0,19 21-40 36-59 16-24 16-24 4,1-5,9 0,06-0,09
2,4-2,9 % 0,12-0,16 1,2-1,7 3,0-5,5 0,3-0,6 0,2-0,3 50-150 60-120 25-200 25-100 6-16 0,1-0,29
3,0-3,5%
0,17-0,29 1,8-2,3 5,6-6,8 0,7-1,1 0,4-0,5 160-260 130-200 300-500 110-200 17-22 0,3
3,6 % 0,3 2,4 7,0 1,2 0,6
Nguồn: Trích dẫn theo Dương Tấn Lợi (2002) [3]
1.4.4 Một số nghiên cứu về phân bón qua lá và sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho cây cam
1.4.4.1 Nghiên cứu về việc cung cấp phân bón qua lá cho cây cam
Phân bón lá thực chất là các chế phẩm mà trong đó chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng dạng đa lượng, trung lượng và vi lượng, nhằm cung cấp kịp thời cho cây Mỗi chất có vai trò khác nhau đối với cây nhưng nếu thiếu cây trồng sẽ sinh trưởng và phát triển kém, năng suất, chất lượng nông sản giảm
rõ rệt
Theo Hoàng Minh Tấn và cộng sự (2000) [9], trong thế giới thực vật nói chung và cam quýt nói riêng, lá cây ngoài chức năng là thoát hơi nước,
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quang hợp còn có vai trò quan trọng trong việc hấp thu các chất dinh dưỡng cho cây, sự hấp thu này được thực hiện qua lỗ khí khổng và qua các khoảng gian bào, các chất dinh dưỡng được di chuyển theo hướng từ trên xuống dưới với tốc độ 30cm/giờ, chất dinh dưỡng di chuyển một cách tự do trong cây
Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định rằng khi bón phân qua lá dạng hòa tan thì lá cây sẽ hấp thu hết 95% lượng phân Vì vậy việc cung cấp các chất dinh dưỡng dạng vi lượng cho cây thông qua lá là việc làm đem lại hiệu quả rất cao, có thể nói cao gấp 8 - 10 lần so với cung cấp vào đất Ngoài tác dụng bổ sung các chất dinh dưỡng kịp thời cho cây, phân bón lá còn tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi khác như nóng, lạnh, khô, hạn Tuy nhiên, hiệu quả của phân bón lá phụ thuộc vào các giống cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây, loại phân, nồng độ phân, liều lượng và thời gian sử dụng Các loại phân bón lá đang được sử dụng rộng rãi hiện nay là Komix FT, Komix, Superzin K, Thiên nông Poster (Nguyễn Thị Thuận và cộng sự 1966) [5]
Ở những vườn cây ăn quả không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ, thì việc cung cấp các loại phân bón qua lá giúp cho cây sinh trưởng mạnh hơn, ngăn ngừa các bệnh về thiếu dinh dưỡng và giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn
Các loại phân bón lá như Komix FT, Komix Superzin K, Thiên nông, FoFer và Pomior, đã có tác dụng tốt trên một số loại cây trồng như: Rau, cà phê và một số cây ăn quả Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Nhuận, Bùi Thị Mỹ Hồng, Nguyễn Trịnh Nhất Hồng, Huỳnh Văn Tần tại Tiền Giang (1995 - 1996) cho thấy chúng đều có tác dụng hạn chế rụng quả non, góp phần làm tăng năng suất đồng thời không làm ảnh hưởng đến chất lượng và mẫu mã quả
Trong những năm qua, sự ra đời của phân bón lá đã giúp cây trồng ngăn ngừa được các loại bệnh hại trên cây ngay cả trong giai đoạn cây đang
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
sinh trưởng Phân bón lá ngoài cung cấp chất dinh dưỡng cho cây còn có bổ sung thuốc bảo vệ thực vật được áp dụng rộng rãi trong việc trồng cây ăn quả, đặc biệt là họ cây cam quýt Tuy nhiên, hiện nay khi việc áp dụng rộng rãi phương pháp phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp cho cây thì việc sử dụng các dạng phân bón lá cho cây cam quýt là rất cần thiết
Bộ môn Sinh lý thực vật - Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội đã nghiên cứu và tạo được chế phẩm đậu hoa, đậu quả cho nhiều loại cây trồng
và sử dụng có hiệu quả trong sản xuất Chế phẩm dạng bột gồm α-NAA dưới dạng hoà tan trong nước là nguồn auxin bổ xung cho nguồn nội sinh, một số nguyên tố vi lượng cần thiết như B, Cu và còn có thêm một lượng nhỏ nguyên
tố đa lượng N, P, K Phun chế phẩm này đã làm tăng quá trình đậu quả, hiệu quả này được tăng lên khi cung cấp đủ nước và các chất dinh dưỡng cho cây trồng
Tác giả Hoàng Ngọc Thuận (2000)[4] cho biết phân bón lá dạng phức hữu cơ Pomior là một loại phân tổng hợp có chứa các nguyên tố đa, trung và
vi lượng với 20 axit amin cùng với một số chất điều hòa sinh trưởng Loại phân này đã được tiến hành thử nghiệm và đạt hiệu quả cao trên nhiều loại cây trồng Đặc biệt một số kết quả thử nghiệm những năm gần đây Pomior đã thể hiện tác dụng xúc tiến râ rệt đến khả năng sinh trưởng, tăng khả năng ra hoa, tăng khả năng đậu quả, tăng trọng lượng và phẩm chất quả trên cây có múi
1.4.4.2 Một số nghiên cứu về sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho cây cam
Các chất điều hòa sinh trưởng còn được gọi là hoocmon thực vật, nó có tác dụng điều hòa sự sinh trưởng và phát triển của cây Các hoocmon thực vật
là các chất hữu cơ được tổng hợp một lượng nhỏ trong các bộ phận nhất định của cây và vận chuyển đến các bộ phận khác để điều hòa các hoạt động sinh
lý, các quá trình sinh trưởng phát triển và duy trì mối quan hệ hài hòa giữa các
cơ quan, bộ phận thành một thể thống nhất
Do chức năng điều chỉnh sự hình thành cơ quan sinh sản và cơ quan dự trữ hoocmon nên có tác dụng quyết định sự hình thành năng suất thu hoạch