1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng hành vi lây nhiễm hiv aids và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người nghiện chích ma túy tại thành phố bắc giang

99 710 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối liên quan giữa nhóm tuổi của người nghiện chích ma túy với hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm tại thành phố Bắc Giang ..... Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân của chích ma túy tạ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC

-

LƯƠNG THỊ VY

THỰC TRẠNG HÀNH VI LÂY NHIỄM HIV/AIDS

VÀ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI LÂY NHIỄM

Ở NGƯỜI NGHIỆN CHÍCH MA TÖY TẠI THÀNH PHỐ BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC

-

LƯƠNG THỊ VY

THỰC TRẠNG HÀNH VI LÂY NHIỄM HIV/AIDS

VÀ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI LÂY NHIỄM

Ở NGƯỜI NGHIỆN CHÍCH MA TÖY TẠI THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi thu thập là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ nghiên cứu khoa học nào

Thái Nguyên, ngày tháng năm

Học viên

Lương Thị Vy

Trang 4

Các thày, cô Khoa y tế công cộng đã giảng dạy, hướng dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Sở Y tế, Ban Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Bắc Giang đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình hoạc tập

Cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm Y tế Thành phố Bắc Giang, Trạm y Tế phường Trần Nguyên Hãn, Ngô Quyền, Mỹ Độ, Lê lợi Cảm ơn lãnh đạo UBND phường Trần Nguyên Hãn, Ngô Quyền, Mỹ Độ, Lê lợi đã giúp đỡ thu thập thông tin trong khi làm luận

án này

Xin cảm ơn tới gia đình, đồng nghiệp, những người bạn thân thiết đã giúp

đỡ, động viên, khích lệ, chia sẻ khó khăn trong thời gian học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn và hoàn thành khóa học

Xin chân thành cảm ơn !

Bắc Giang, tháng 11 năm 2014

Học viên

Lương Thị Vy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS 3

ễm HIV ở nguời nghiện ma túy 18

1.3 Một số khái niệm 24

1.4 Đường lây nhiễm HIV/AIDS 26

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 31

2.2 Phương pháp nghiên cứu 31

ứu 33

2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 35

2.5 Đạo đức nghiên cứu 37

2.6 Phương pháp xử lý số liệu 37

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

3.1.Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS ở người NCMT tại thành phố Bắc Giang năm 2013 - 2014 38

3.2 Hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người NCMT 40

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người NCMT 48

Trang 6

Chương 4: BÀN LUẬN 54

4.1.Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS ở người NCMT tại thành phố Bắc Giang năm 2013-2014 54 4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người NCMT 58

KẾT LUẬN 61 KIẾN NGHỊ 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

AIDS “ Acquired Immunodeficiency Syndrome”,

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người

Virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người

Xét nghiệm hấp thụ miễn dịch gắn men

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 38

phố Bắc Giang của đối tượng nghiên cứu 39 Bảng 3.3 Nơi ở của người NCMT tại thành phố Bắc Giang 39 Bảng 3.4 Kiến thức của người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang

về hành vi lây nhiễm HIV/AIDS 40 Bảng 3.5 Thời gian, hút hít và tiêm chích ma túy của người NCMT 41 Bảng 3.6 Đặc điểm hành vi tiêm chích ma tuý 41 Bảng 3.7 Tỷ lệ người NCMT không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục

với các đối tượng 44 Bảng 3.8 Mối liên quan giữa nhóm tuổi của người nghiện chích ma túy với

hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm tại thành phố Bắc Giang 44 Bảng 3.9 Mối liên quan giữa nghề nghiệp với hành vi sử dụng chung BKT

của người NCMT túy tại thành phố Bắc Giang 45 Bảng 3.10 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân của chích ma túy tại với

hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm của người NCMT tại thành phố Bắc Giang đến 45 Bảng 3.11 Mối liên quan giữa thời gian tiêm chích ma túy với hành vi sử

dụng chung bơm kim tiêm của người NCMT thành phố Bắc Giang 46 Bảng 3.12 Mối liên quan giữa tần suất tiêm chích ma túy/ ngày với hành vi

sử dụng chung bơm kim tiêm của người nghiện chích ma túy 46 Bảng 3.13 Mối liên quan giữa nhóm tuổi và hành vi sử dụng bao cao su khi quan

hệ tình dục của người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang 47 Bảng 3.14 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của người nghiện chích ma túy với

hành vi sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục thành phố Bắc Giang 47 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân với hành vi sử dụng bao cao

su khi quan hệ tình dục của người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang 48

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm cửa người NCMT từ khi

bắt đầu tiêm chích tại thành phố Bắc Giang 40 Biểu đổ 3.2 Tỷ lệ hành vi quan hệ tình dục của người NCMT tại thành Phố

Bắc Giang 43 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ sử dụng BCS khi quan hệ tình dục của người NCMT 43

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với tính mạng, sức khoẻ con người và tương lai nòi giống của các quốc gia, các dân tộc trên toàn cầu, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự

và an toàn xã hội, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước HIV/AIDS hiện nay đã trở thành đại dịch trên phạm vi toàn thế giới Số người nhiễm HIV và chết do căn bệnh này gây nên ngày càng gia tăng Hàng năm, trên thế giới có hàng triệu người mắc và chết do căn bệnh thế kỷ này Trong những năm gần đây do sự gia tăng của tệ nạn ma tuý, đặc biệt là sự chuyển đổi hình thức sử dụng ma tuý từ hút, hít sang tiêm chích ngày càng tăng đã kéo theo sự bùng phát HIV/AIDS ở nhiều châu lục, đặc biệt là châu Á Số người nghiện chích ma tuý nhiễm HIV chiếm 76% tổng số người nhiễm HIV ở Malaysia; 64% ở Việt Nam; 55% ở Myama và 50% Ở Trung Quốc Ở Việt Nam từ 1 trường hợp bị nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 12/1990 tại thành phố Hồ Chí Minh, chỉ sau đó 8 năm, tháng 12/1998 toàn bộ 61/61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương đều phát hiện có người nhiễm HIV

Theo Bộ Y tế, tính đến hết ngày 31/5/2013, số trường hợp HIV hiện còn sống là 213.413 trường hợp Số bệnh nhân AIDS còn sống là 63.373 trường hợp và hơn 65 nghìn trường hợp tử vong do AIDS Tỷ lệ nhiễm HIV toàn quốc theo báo cáo là 243 người trên 100.000 dân Tỉnh Điện Biên vẫn là địa phương có tỷ lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân cao nhất cả nước (1015,8), tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh (677), thứ 3 là Thái Nguyên (610,6) Tác hại của dịch chủ yếu tập trung vào các nhóm hành vi nguy cơ cao, nhóm nghiện chích ma túy (NCMT), phụ nữ bán dâm (PNBD) [24]

Tại tỉnh Bắc Giang tính đến 31/12/2013 số người nhiễm HIV tích lũy

2548 người, bệnh nhân AIDS là 1637 người và 1015 người tử vong do AIDS Đến nay cả 10 huyện, thành phố với 191/230 xã, phường, thị trấn (83%) có người nhiễm, kể cả các xã vùng sâu, vùng xa [4]

Trang 11

Qua điều tra nghiên cứu thực trạng hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở người nghiện ma tuý tại thành phố (TP) Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, năm 2006 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT chiếm 74,7%, cao hơn so với các tỉnh lân cận Tỷ lệ sử dụng chung BKT trong vòng 1 tháng trước điều tra chiếm 41,67%, tỷ lệ không sử dụng BCS khi quan hệ tình dục chiếm 72% Tỷ lệ người NCMT có kiến thức phòng lây nhiễm HIV không đạt yêu cầu chiếm 36,3% [22]

Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nguy lây nhiễm HIV là sử dụng chung BKT khi tiêm chích và không thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD; Người NCMT trẻ tuổi, tình trạng hôn nhân bất ổn, người NCMT không có nghề nghiệp, người NCMT không nhận được BKT, BCS miễn phí, chưa nhận được các thông tin truyền thông phòng chống HIV/AIDS, ngoài ra còn bị ảnh hưởng bởi trình độ hiểu biết, hoàn cảnh sống, sự ích kỷ của gia đình, cha/mẹ, sự kỳ thị của người thân, bạn bè, làng xóm, sự cấm đoán, bắt bớ của chính quyền địa phương, công an các cấp làm cho người NCMT phải sống lén lút, khó tiếp cận với các chương trình can thiệp hỗ trợ, phòng chống HIV/AIDS Đây chính là những nguyên nhân làm cho tỷ lệ người NCMT tại TP Bắc Giang ngày càng tăng, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người NCMT khó kiểm soát [22]

Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người nghiện chích ma túy ở thành phố Bắc Giang có những hành vi lây nhiễm nào? Yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người nghiện chích ma túy?

Xuất phát từ lý do đó chúng tôi nghiên cứu đề tài “Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang ” nhằm mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS ở người nghiện chích

ma túy tại thành phố Bắc Giang năm 2013 - 2014

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS

1.1.1 Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV /AIDS trên thế giới

Đại dịch HIV/AIDS tuy mới xuất hiện từ những năm đầu của thập kỷ

80 của thế kỷ 20 nhưng đã nhanh chóng lan ra khắp toàn cầu Lúc đầu dịch xảy ra chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển như Bắc Mỹ, Tây Âu, tại những thành phố lớn, ở những người đồng tính luyến ái và tiêm chích ma tuý Đến nay, HIV/AIDS không loại trừ bất cứ nhóm xã hội nào, một quốc gia nào, dù là nước có tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thật tiên tiến như Mỹ, Pháp, Đức hay những quốc gia chậm phát triển như Zimbabwe, Nigeria và hiện tại đại dịch HIV/AIDS đã bắt đầu chuyển trọng điểm từ Châu Phi sang Nam

Á và Đông Nam Châu Á Cho đến nay, đại dịch HIV/AIDS đã, đang phát triển và lây lan rộng khắp trên thế giới [10]

Trải qua hơn 30 năm đấu tranh phòng, chống HIV/AIDS, các quốc gia trên thế giới đã và đang phải đương đầu với một đại dịch có tính chất hết sức nguy hiểm Tính đến cuối năm 2009, UNAIDS và WHO đã công bố có khoảng 46 triệu người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống, 5,8 triệu người mới nhiễm trong năm và 0,5 triệu người tử vong do AIDS trong năm Tại nhiều nước đang phát triển, phần lớn các trường hợp nhiễm mới là thanh niên Khoảng 1/3 trong tổng số những người hiện đang bị nhiễm HIV/AIDS ở độ tuổi 15-24, phần lớn trong số họ không biết mình đang mang vi rút HIV Hàng triệu người hầu như không biết hoặc biết rất ít về HIV/AIDS để tự bảo

vệ mình chống lại căn bệnh này Theo báo cáo của UNAIDS và WHO, khu vực cận Sahara có tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS cao nhất, tiếp đến là Châu Á- Thái Bình Dương [45]

Trang 13

Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trên thế giới ở người lớn, cao nhất là vùng cận Sahara với 8,4% người lớn bị nhiễm HIV/AIDS, tiếp theo là khu vực Caribe, Đông Nam châu Á, khu vực Bắc Mỹ Hình thái lây truyền chủ yếu

ở các khu vực là QHTD khác giới, TCMT và có một vài khu vực hình thức lây truyền chính là QHTD đồng tính nam giới Theo báo cáo của UNAIDS,

ở hầu hết các khu vực nam giới mắc nhiều hơn nữ giới, riêng ở khu vực cận Sahara nữ chiếm tỷ lệ nhiều hơn và hình thái lây nhiễm chủ yếu qua QHTD khác giới [46]

Dora Mbanya và cộng sự khi nghiên cứu về thực trạng HIV ở Cameroon cho biết tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở Cameroon đã dần dần tăng lên từ 0,4% năm 1987 lên 1,2% vào năm 1990 và từ 4% năm 1992 lên đến 7% năm

1997, lên 11% vào năm 2000 và 11,8% năm 2002 và năm 2004, tỷ lệ hiện mắc HIV/AIDS trên toàn quốc ở mức 5,5% Phương thức lan truyền chủ yếu

là tình dục khác giới 90% với các đường máu là 5% Phụ nữ Cameroon bị nhiễm HIV cao hơn nam giới, chiếm khoảng 55% các trường hợp Theo báo cáo của DHS năm 2004 nhiễm trùng HIV được phát hiện ở 6,8% nữ giới, so với 4,1% ở nam giới [44]

HIV/AIDS lan ra Châu Á khá muộn, trường hợp nhiễm HIV đầu tiên tại khu vực này được phát hiện tại Thái Lan vào năm 1985, đến cuối những năm 90, Campuchia, Myanmar và Thái Lan công bố bệnh dịch đáng lo ngại trên toàn đất nước Năm 2001 có tới 1,07 triệu người lớn và trẻ em bị nhiễm HIV tại Châu Á- Thái Bình Dương, đưa tổng số người bị nhiễm HIV tại khu vực lên tới 7,1 triệu người Dịch tễ học lây nhiễm HIV ở khu vực này có nhiều hình thái đặc biệt, tại Thái Lan và Campuchia hình thái lây nhiễm HIV chủ yếu qua QHTD khác giới, nhưng một số nước khác như Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia có hình thái lây nhiễm chủ yếu qua TCMT và lây truyền qua quan hệ tình dục khác giới ngày càng tăng [45]

Trang 14

Tại Trung Quốc, UNAIDS và WHO ước tính có khoảng 1, 5 triệu người bị nhiễm HIV/AIDS, trong đó có 850.000 người lớn, 220.000 là phụ

nữ Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tuổi từ 15 - 24 theo ước tính vào khoảng 0,20% Trong 6 tháng đầu năm 2001 số lượng người bị nhiễm HIV tăng 67,4% so với năm 2000 Đường lây truyền của dịch HIV tại Trung Quốc chủ yếu là do TCMT Vào năm 2000, 7 tỉnh của Trung Quốc đã phải đối mặt với nguy cơ lan tràn dịch HIV, hơn 70% số người TCMT bị HIV dương tính ở một số khu vực như quận Yili ở Xingjiang và quận Ruili ở Vân Nam [40]

* Thực trạng lây nhiễm HIV ở người nghiện ma túy

Mặc dù trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện trong nhóm người đồng tính luyến ái, không phải trong nhóm NCMT, nhưng đến năm

1993 đã có 52 nước trên thế giới công bố có người NCMT nhiễm HIV và đến năm 2010, sự liên quan giữa lây nhiễm HIV với tiêm chích đã được ghi nhận

ở 182 nước [35]

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng một khi có HIV dương tính trong cộng đồng người nghiện chích ma tuý, tỷ lệ nhiễm (xét nghiệm huyết thanh dương tính) rất nhanh trừ khi có biện pháp phòng ngừa thích hợp được

áp dụng ngay lập tức như chương trình tiếp cận cộng đồng, cung cấp BKT sạch, phân phát BCS Thêm vào đó, người NCMT nhiễm HIV lại có những quan hệ tình dục với nhiều người khác làm cho nguy cơ lây lan trong cộng đồng tăng cao

Tỉ lệ phụ nữ bị nhiễm HIV tăng cao hầu hết là do quan hệ tình dục với đàn ông NCMT nhiễm HIV Các tụ điểm tiêm chích giữ vai trò rất quan trọng trong tiến trình lây nhiễm [33]

Tỷ lệ hành vi nguy cơ liên quan đến HIV trong 12 tháng trước đó thường giảm theo tuổi Tỷ lệ người NCMT có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông dùng chung bơm tiêm cao hơn (38%) so với những người NCMT

Trang 15

có trình độ học vấn trung học phổ thông 32% hoặc những người có trình độ học vấn đại học 31% [43]

Nghiên cứu trên 325 người sử dụng ma tuý ở Quảng Tây, Trung Quốc, tác giả Zhang G và cộng sự cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV là 40,9%

(114/279) trong số những người tiêm chích ma tuý và chỉ có 4,3% (2/46) trong những người nghiện ma tuý sử dụng qua đường uống, 76,7% người nghiện ma tuý sử dụng chung bơm kim tiêm Các yếu tố nguy cơ chính liên quan đến lây nhiễm HIV là tiêm chích ma túy qua đường tiêm tĩnh mạch và dùng chung bơm kim tiêm [54]

Tại một số bang của Ấn Độ tỷ lệ nhiễm HIV đang tăng trong nhóm NCMT và tình dục đồng giới nam Ngoài vùng Đông Bắc Ấn Độ, nơi dùng chung bơm kim tiêm “bẩn” là yếu tố nguy cơ phổ biến nhất, HIV dường như đang lan tràn chủ yếu qua quan hệ tình dục không an toàn giữa người bán dâm, khách mua dâm và những bạn tình NCMT của họ [29]

Nghiên cứu của Arshad Altaf và cộng sự về HIV trong số người tiêm chích ma tuý ở Hyderabad và Sukkur, Pakistan cho thấy tuổi trung bình của người tiêm chích ma tuý ở Hyderabad là 36,5 tuổi và 34,6 tuổi ở Sukkur Dùng chung dụng cụ tiêm chích trong lần tiêm cuối cùng được báo cáo là 34 người 8,5% ở Hyderabad và 135 người 33,6% ở Sukkur Ở cả 2 thành phố, các hành vi như dùng ma tuý qua đường tiêm > 10 năm và tiêm 4 lần hoặc > 4 lần/ngày Ở Hyderabad, tỷ lệ hiện hiện nhiễm HIV là 25,4% (101/398) và ở Sukkur, tỷ lệ này là 19,2% (77/402) Phần lớn những người NCMT tại Hyderabad và Sukkur là thất học (53,8% và 51%) Hơn một nửa 54,6% người tiêm chích ma túy ở Sukkur và 45,4% ở Hyderabad đã nghe nói về HIV và AIDS Dùng chung bơm tiêm và nguy cơ lây nhiễm HIV đã được xác định một cách chính xác bởi 59% người tiêm chích ma túy ở Hyderabad và 50 (41%) ở Sukkur Ở Hyderabad và Sukkur, hành vi nguy cơ cao như tiêm

Trang 16

chích ma túy hơn 10 năm và tiêm chích bốn hoặc nhiều lần trong một ngày liên quan ý nghĩa với lan truyền HIV [40]

Những yếu tố nguy cơ chủ yếu liên quan đến lây nhiễm HIV bao gồm việc dùng chung dụng cụ tiêm chích “bẩn” và quan hệ tình dục không

an toàn với nhiều bạn tình chốc lát hoặc với người hoạt động mại dâm Trong năm 2006, ước tính 1/3 số người đang sống với HIV là phụ nữ Tuy nhiên phần lớn số ca nhiễm HIV vẫn liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với hoạt động NCMT [29] [34]

Dùng chung bơm kim tiêm được coi là một thực tế phổ biến trong cộng đồng người sử dụng ma tuý ở Tân Cương và góp phần vào việc lan truyền HIV/AIDS trong số những người tiêm chích ma túy Tỷ lệ hiện mắc HIV có liên quan đáng kể đến việc sử dụng bao cao su trong số những người sử dụng

ma túy (84,2%) chưa bao giờ sử dụng bao cao su so với 6,5% ở những người

sử dụng bao cao su mỗi khi họ có quan hệ tình dục [47]

Tiêm chích ma túy đã được xác định tại 148 quốc gia, dữ liệu về tiêm chích ma túy hiện chưa có ở nhiều quốc gia ở châu Phi, Trung Đông và Mỹ Latinh Sự hiện diện của nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích đã được báo cáo ở

120 trong số các nước này Ước tính tỷ lệ tiêm chích ma túy ở 61 quốc gia, chiếm 77% dân số thế giới trong độ tuổi 15 - 64 Ước tính ngoại suy cho thấy khoảng 15,9 triệu người trên toàn thế giới có thể sử dụng ma tuý theo đường tiêm, số người tiêm chích ma tuý lớn nhất được phát hiện thấy ở Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nga và ở các nước đó tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích lần lượt là 12%, 16%, và 37% Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy là 20 - 40% ở 5 quốc gia và > 40% ở 9 quốc gia Ước tính trên toàn thế giới, khoảng 3 triệu người tiêm chích ma túy có thể dương tính với HIV [41,42]

Số người tiêm chích ma tuý trên toàn thế giới ước tính khoảng 13,2 triệu Trên 10 triệu (78%) người tiêm chích đang sống ở các nước đang phát

Trang 17

triển và đang trong quá trình chuyển đổi (Tây Âu và Trung Á, 3,1 triệu; Nam

Á và Đông Nam Á, 3,3 triệu; Đông Á và Thái Bình Dương, 2,3 triệu) Tỷ lệ hiện mắc HIV ở người tiêm chích ma tuý là trên 20% được báo cáo ở ít nhất

1 trong 25 nước và vùng lãnh thổ: Belarus, Estonia, Kazakhstan, Russia, Ukraine, Italy, Netherlands, Portugal, Serbia and Montenegro, Spain, Libya, India, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Nepal, Thailand, Viet Nam, China, Argentina, Brazil, Uruguay, Puerto Rico, USA and Canada [42],[51]

Gánh nặng của bệnh HIV/AIDS khác nhau đáng kể giữa những người tiêm chích ma túy ở các nước Khoảng 407.000 người tiêm chích ma túy đang sống chung với HIV/AIDS ở Đông Âu và Trung Á và hơn 300.000 ở khu vực Đông và Đông Nam Á Số người tiêm chích ma túy nhiễm HIV lớn nhất sống tại Nga (315.000), tiếp theo là Ukraina (156.500) Số người tiêm chích ma túy

bị nhiễm HIV/AIDS lớn nhất ở các nước châu Á được điều tra là Trung Quốc (88.798) và Indonesia (94.500) [51]

Khu vực cận Sahara Châu Phi đang đối mặt với gánh nặng HIV lớn nhất trên toàn cầu Mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV mới đang giảm nhưng số người chung sống với HIV vẫn tiếp tục tăng, chiếm 68% tổng số người nhiễm HIV toàn cầu Năm 2009 đạt 22,5 triệu người đang sống chung với HIV so với 20,3 triệu người năm 2001 Đặc biệt, tại Nam Phi, năm 2009 có khoảng 11,3 triệu người sống chung với HIV 34% số người sống chung với HIV và 31%

số người nhiễm mới của toàn cầu sống tập trung tại 10 quốc gia của khu vực này Nhiều nghiên cứu trong các quốc gia này chỉ ra rằng QHTD không an toàn, tình dục đồng giới và sử dụng chung BKT khi NCMT là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc lây nhiễm HIV NCMT là hiện tượng tương đối mới ở khu vực cận Sahara Châu Phi, xuất hiện chủ yếu ở các nước Kenya, Mauritius, Nam Phi, Tanzania Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT tương đối cao tại các nước này: 12% ở Nam Phi, 36% tại Nairoby (Kenia) [32]

Trang 18

Tại vùng biển Caribbean, năm 2009 tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở người trưởng thành (15 - 49 tuổi) là 1% cao hơn tất cả các khu vực khác (trừ khu vực cận Sahara Châu Phi)

Năm 2009, Đông Âu và Trung Á có khoảng 1,4 triệu người đang sống chung với HIV, tăng gấp 2 lần so với năm 2001 (760.000 người) Sự tăng nhanh số người nhiễm HIV trong nhóm NCMT là điểm nổi bật của tình hình dịch tại khu vực này, 62% là do TCMT không an toàn và 37% là do quan hệ tình dục khác giới không an toàn [31]

Trung Đông và Bắc Phi, năm 2009 có khoảng 460.000 người đang chung sống với HIV, tăng hơn 2 lần so với năm 2001 (180.000 người) Cộng hòa Hồi giáo Iran có số người NCMT lớn nhất trong khu vực, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT của quốc gia này là 14% (năm 2007) Đặc biệt, trong

số tù nhân bị bắt giữ do NCMT tại Tehran, tỷ lệ nhiễm HIV là 80% cho thấy khả năng lây lan lớn của HIV trong nhóm người này là rất cao [32]

Nghiên cứu trên 10.073 người tiêm chích ma túy ở 20 thành phố ở Hoa

Kỳ năm 2009, Cyprian Wejnert và cộng sự cho biết trong số những người tiêm chích ma túy được xét nghiệm, 9% có kết quả xét nghiệm HIV dương tính, và 45% trong số những người được xét nghiệm dương tính đã không biết mình bị nhiễm HIV

Nghiên cứu về nhiễm trùng ở người tiêm chích ma tuý, Richard S và cho biết tỷ lệ hiện mắc HCV là 76,9%, HBV là 65,7% và HIV là 20,5%, và đối với người tiêm chích ma tuý ≤ 1năm thì tỷ lệ hiện nhiễm HCV là 64,7%, HBV là 49,8%,và HIV là 13,9% Tỷ lệ hiện nhiễm HCV và HBV liên quan tới sử dụng chung bơm kim tiêm và HIV liên quan tới quan hệ tình dục không được bảo vệ [50]

Nghiên cứu về quan hệ tình dục, trao đổi bơm tiêm thứ cấp và sự khác biệt về giới trong nguy cơ lây nhiễm HIV, Riehman KS và cộng sự

Trang 19

cho biết phụ nữ chắc chắn trao đổi bơm tiêm thứ cấp cao hơn so với nam giới và có quan hệ tình dục với người sử dụng ma tuý qua đường tiêm nhiều hơn so với nam [49]

Trong nghiên cứu ở Vancouver, Canada, Patricia M và cộng sự cho thấy tỷ lệ mới mắc tích lũy HIV ở 939 đối tượng trong 48 tháng theo dõi là 13,4% Tỷ lệ mới mắc ở nữ giới cao hơn so với nam giới (16,6% so với 11,7%, p = 0,074) Tiêm chích ma tuý nhiều lần trong ngày, không sử dụng bao cao su thường xuyên khi quan hệ tình dục là yếu tố nguy cơ làm gia tăng

tỷ lệ mới mắc HIV ở người tiêm chích ma tuý [48]

Dịch HIV tại Châu Á vẫn tập trung phần lớn trong nhóm người nghiện chích ma túy, PNMD và khách hàng của họ, nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) Theo ước tính có khoảng 4,5 triệu người ở Châu Á nghiện chích

ma túy, hơn một nửa số đó sống tại Trung Quốc Tại Châu Á, trung bình có khoảng 16% người NCMT đang sống chung với HIV, tỷ lệ này cao hơn ở một

số nước như Myanmar 38%; Thái Lan (30%-50%); Indonesia (trên 50%) Ở Trung Quốc, tỷ lệ người sống chung với HIV trong nhóm NCMT là khoảng 7% - 13% thấp hơn so với năm 2002 (18% - 56%) [29]

Tại Pakistan, tỷ lệ nhiễm HIV đang tăng trong nhóm NCMT Một nghiên cứu tại Karachi cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT đã tăng

từ dưới 1% vào đầu năm 2004 lên 26% vào tháng 3 năm 2005, trong khi một

số nghiên cứu khác cho biết tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT đã lên tới 24% tại Quetta dọc theo biên giới với Afghanistan, 12% tại Sargodha, gần 10% tại Faisalabad và 8% tại Larkana

Đường lây truyền HIV ở Thái Lan trong thời gian gần đây có nhiều thay đổi, virus lan tràn ngày càng nhiều tới những nhóm dân số vốn được coi

là có nguy cơ thấp Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc

Trang 20

đẩy lùi dịch HIV ở Thái Lan, tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm NCMT trong vòng

15 năm qua vẫn cao từ 30% đến 50% [34]

Nghiên cứu trên 142 người nghiện ma tuý ở thành phố Kashgar, Tân Cương, Trung Quốc, Ni Mingjian, KM Wheeler cho biết trong nhóm người sử dụng ma tuý, tỷ lệ hiện hiện nhiễm HIV/AIDS là 24,5% và 17% trong số những người sử dụng ma tuý có trình độ học vấn đại học hoặc dạy nghề Như vậy có thể nói tỷ lệ HIV dương tính ở người NCMT khá thay đổi theo khu vực Những nước phát triển ở Châu Âu và ở Châu Mỹ mặc dù việc xuất hiện HIV trên người NCMT được ghi nhận sớm hơn nhưng có tỷ lệ nhiễm thấp hơn và khá ổn định so với các nước đang phát triển ở Châu Á đặc biệt ở các nước Đông Nam Á Trái lại, HIV xuất hiện trong quần thể người NCMT tại các nước đang phát triển ở Châu Á được ghi nhận chậm hơn nhưng lại có xu

hướng gia tăng nhanh hơn [34]

1.1.2 Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam

Dịch HIV/AIDS ở Việt Nam bao gồm nhiều hình thái dịch khác nhau trên toàn quốc và vẫn tập trung chủ yếu ở ba nhóm quần thể có hành vi lây nhiễm HIV cao như người tiêm chích ma túy, nam tình dục đồng giới và phụ

nữ mại dâm

Trên thực tế việc lây truyền HIV qua bạn tình - từ những nam giới có hành vi lây nhiễm sang bạn tình nữ của họ - là nguyên nhân chính dẫn đến việc giảm đều tỷ suất nam/nữ của các trường hợp mới nhiễm HIV được báo cáo trong vài năm gần đây [14]

* Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV ở người nghiện ma tuý

Theo kết quả IBBS vòng 2, tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm trong 6 tháng qua khá cao (15% - 37%) ở tất cả các địa phương tiến hành khảo sát, trừ Hải Phòng 7% Tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm trong 6 tháng qua cao nhất là

ở Đà Nẵng 37.2% và Lào Cai 35,3% [15]

Trang 21

Theo IBBS 2009, tỷ lệ nam TCMT thường xuyên sử dụng bao cao su (BCS) với bạn tình thường xuyên (vợ và người yêu) trong 12 tháng qua dao động từ 15% ở Đà Nẵng đến 56% ở Quảng Ninh Mặc dù tỷ lệ thường xuyên

sử dụng bao cao su với PNMD có cao hơn tỷ lệ sử dụng BCS với bạn tình thường xuyên (từ 38% ở TP HCM đến 74% ở Hải Phòng) nhưng tỷ lệ này vẫn

là thấp ở các tỉnh tham gia khảo sát So với kết quả điều tra năm 2006, điều tra năm 2009 cho thấy tỷ lệ nam TCMT thường xuyên sử dụng BCS với bạn tình thường xuyên cao hơn ở hầu hết các tỉnh/thành, cụ thể là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và An Giang nhưng lại có xu hướng thấp đi ở Đà Nẵng

và TP HCM, tỷ lệ này giảm từ tương ứng từ 25% va 36% xuống 15% [11]

Hành vi lây nhiễm HIV tại Việt Nam đến nay chủ yếu là qua con đường máu do sử dụng chung BKT trong NCMT, chiếm trên 70% vào năm 1994, sau đó ổn định ở mức trên 50%, năm 2009 là 55% và tháng 9 năm 2010 là khoảng 50%

Năm 2009, tại đa số các tỉnh/thành phố khu vực phía Bắc và Bắc Trung

Bộ, hành vi lây nhiễm HIV vẫn chủ yếu là từ con đường NCMT (trên 60%) Tuy nhiên, tại các tỉnh khu vực phía Nam, đặc biệt các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long, HIV lại lây truyền chủ yếu qua đường tình dục và tỷ lệ này ngày càng tăng (năm 2005 là 35%, năm 2009 lên tới 68%) Tỷ lệ nhiễm HIV do NCMT chỉ chiếm dưới 20% (năm 2009 là 13%) tại các tỉnh này [37]

Nghiên cứu các yếu tố tương quan đến hành vi lây nhiễm HIV ở người nghiện chích ma túy tại tỉnh Vĩnh Long năm 2007, Khưu Văn Nghĩa và cộng sự cho thấy tuổi càng cao và càng nhiều bạn tình có tương quan với việc sử dụng BCS không thường xuyên; nhưng trình độ học vấn cao hơn thì sử dụng BCS thường xuyên hơn Tương tự, tuổi, trình độ học vấn và kiến thức HIV/AIDS cao

có xu hướng ít dùng chung BKT trong khi nhận thức rõ về tình trạng nhiễm HIV của bản thân và thời gian tiêm chích dài có tương quan với việc dùng chung

Trang 22

BKT nhiều hơn Tham dự câu lạc bộ tương quan với việc sử dụng bao cao su (BCS) thường xuyên hơn; việc nhận hỗ trợ từ đồng đẳng viên và sống cùng gia đình có xu hướng ít dùng chung bơm kim tiêm (BKT) hơn [20]

Nguyễn Anh Quang nghiên cứu về thực trạng hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV và hiệu quả chương trình trao đổi bơm kim tiêm sạch trong nhóm nghiện chích ma tuý tại tỉnh Hà Tây (2007-2009) cho thấy kết quả điều tra đầu vào và xét nghiệm HIV cho 1.010 người NCMT (năm 2007) có 18,5% người NCMT tại Hà Tây nhiễm HIV Trong số 1.010 đối tượng nghiên cứu nhóm tuổi từ 20 - 29 chiếm 42,4%, nhóm tuổi từ 30 - 39 chiếm 39,6% tiếp đến là nhóm trên 40 tuổi 15,3%, và thấp nhất là dưới 20 tuổi 2,7% Về trình

độ học vấn, tỷ lệ đối tượng có trình độ phổ thông cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất 58,3%, trung học phổ thông 26,9%, tiểu học 12,0%, trình độ trung cấp trở lên chiếm tỷ lệ rất ít 2,4%, đặc biệt có 0,4% đối tượng không biết chữ Đa số người NCMT làm rất nhiều ngành nghề khác nhau trong đó tập trung chủ yếu

là nghề tự do 52,7% và làm ruộng 20,2% Về tình trạng hôn nhân, người NCMT đang có vợ chiếm tỷ lệ 55,8%, chưa có vợ 37,3%, đã ly dị 3,8%, đã ly thân 2,4% và góa vợ 0,2% Về tuổi QHTD lần đầu, có 64,6% trả lời đã QHTD dưới 20 tuổi, trong đó: 4,3% là dưới 15 tuổi; 22,2% từ 15 - 17 tuổi; 38,1% từ

18 - 19 tuổi Còn lại từ 20 - 22 tuổi chiếm tỷ lệ là 16,9% và trên 23 tuổi chiếm 18,5% Về thời gian TCMT, có 86,2% đối tượng tham gia nghiên cứu có thời gian sử dụng TCMT trên 2 năm, 10,2% người NCMT từ 1 đến 2 năm và dưới

1 năm là 3,6% Về hành vi sử dụng BCS của người NCMT khi QHTD trong tháng qua, chỉ có 34,5% người chủ động sử dụng BCS khi QHTD với vợ/người yêu Khi QHTD với bạn tình bất chợt không trả tiền thì tỷ lệ sử dụng BCS có cao hơn 60,8%, nhưng vẫn ở mức thấp Tuy nhiên khi QHTD với GMD chỉ có 48,7% người NCMT tự ý thức sử dụng BCS [21]

Trang 23

Nguyễn Duy Phúc và cộng sự khi nghiên cứu trên 400 nam giới NCMT tại tỉnh Đồng Nai năm 2010 cho thấy có 50% có kiến thức về HIV Tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm (BKT) trong 6 tháng qua là 14% Tỷ lệ luôn sử dụng BCS với phụ nữ mại dâm (PNMD) trong 12 tháng qua là 59% Phân tích hồi qui đa biến cho thấy NCMT có tuổi từ 25 trở lên, thu nhập dưới 2 triệu/tháng, thời gian tiêm chích từ 5 năm trở lên, có kiến thức cần thiết về HIV có nguy

cơ nhiễm HIV cao hơn [22]

Nghiên cứu của Nguyễn Cao Tài và cộng sự 2013 tại Mèo Vạc Hà Giang cho thấy người NCMT mù chữ và học vấn thấp dùng bao cao su trong quan hệ tình dục chiếm 25% Tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm ở nhóm có trình

độ phổ thông trung học là 8,5% và nhóm có trình độ tiểu học và mù chữ là 10,53%.Tỷ lệ nhiễm HIV ở người NCMT thường xuyên dùng bao cao su trong quan hệ tình dục là 5,43%, nhóm không sử dụng bao cao su là 20,53% Người NCMT từ 5 năm trở lên có HIV dương tính chiếm 31,00% cao gấp 3 lần so với nhóm dưới 5 năm [26]

Nghiên cứu về một số yếu tố liên quan đến hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trên người nghiện ma tuý ở thành phố Bắc Giang, Trịnh Thị Sang cho biết tỷ lệ người NCMT sử dụng chung BKT trong vòng 6 tháng trước điều tra giảm từ 40,63% xuống còn 17,50%, CSHQ 56,92% Tỷ lệ người NCMT dùng chung BKT trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra này cũng giảm từ 41,67% xuống còn 15,94% Tỷ lệ người NCMT dùng chung BKT trong lần gần nhất giảm từ 36,46% xuống còn 12,81% Tỷ lệ người NCMT dùng chung thuốc/dụng cụ pha thuốc trong vòng 6 tháng trước điều tra giảm từ 51,04% xuống còn 37,19% Trong vòng 1 tháng giảm từ 43,6% xuống còn 16,3% Tỷ

lệ người NCMT làm sạch BKT đã tăng từ 36,25% lên 80,39% Tỷ lệ người NCMT có sử dụng BCS trong 12 tháng qua khi QHTD với vợ/người yêu đã

Trang 24

tăng từ 7,3% lên 43,37% Tỷ lệ người NCMT có sử dụng BCS trong lần quan

hệ gần nhất chiếm 37,14% cao hơn 28,49% [23]

Tỷ lệ người NCMT sử dụng BCS trong QHTD với GMD tăng từ 53,62% lên 72% Tỷ lệ người NCMT sử dụng BCS trong lần QHTD với bạn tình bất chợt không thay đổi trước và sau can thiệp chiếm 73,33% Chủ động gợi ý dùng BCS khi QHTD với nhóm này là người NCMT chiếm 87,27% cao hơn 70,27% Khả năng tiếp cận với BCS miễn phí tăng từ 64,80% lên 80,36% Tỷ lệ người NCMT thực hành đúng tăng từ 34,92% lên 82,24% Tỷ

lệ người NCMT hiểu biết đúng về các đường lây truyền HIV tăng từ 63,7% lên 92,2% [23]

Nghiên cứu trên 200 nam nghiện chích ma tuý tại Cà Mau năm 2012, Nguyễn Thanh Long cho biết tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nam NCMT là 7,5%, tương tự ở Vĩnh Long 7,3%, cao hơn Đà Nẵng 4,0% và Huế 3,5%, Quảng Trị 2%, nhưng thấp hơn kết quả điều tra tại Bình Dương 17,8% và Nghệ An 15,5% Tỷ lệ đối tượng dùng chung bơm kim tiêm tương đối cao 22,5% Tỷ lệ nam NCMT có quan hệ tình dục với gái mại dâm trong 12 tháng qua là 5,0% 100% nam NCMT thỉnh thoảng sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với gái mại dâm trong 12 tháng qua [19]

Nghiên cứu hành vi và các yếu tố lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý (NCMT) tại tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn Hùng cho biết hầu hết người NCMT sử dụng Hêrôin 98,89% Tỷ lệ không sử dụng bao cao su (BCS) trong tất cả các lần quan hệ tình dục với vợ hoặc chồng là 60,6%, với gái mại dâm (GMD) 29,17% Có 7,8% có sử dụng chung bơm kim tiêm (BKT) trong các lần tiêm chích Hầu hết người NCMT đều đã nghe về HIV/AIDS; 39,6% không tự cho mình có nguy cơ lây nhiễm HIV; 55,7%

Trang 25

người NCMT đã từng xét nghiệm HIV; 84,7% đã từng nhận được BKT trong

6 tháng trước điều tra [18][24]

Theo kết quả giám sát trọng điểm 2011, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm nam TCMT và PNMD tương ứng là 13,4% và 3%; kết quả IBBS 2009 cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM là 16,7% Phân bố các trường hợp nhiễm HIV theo sát sự phân bố của 3 nhóm nhóm quần thể vốn tập trung phần lớn tại các trung tâm đô thị nhưng cũng xuất hiện ở khu vực ngoài đô thị

Tính không đồng nhất của dịch HIV trên nhóm nam TCMT thể hiện ở sự giao động tỷ lệ hiện nhiễm trên nhóm này ở các tỉnh khác nhau Tỷ lệ hiện nhiễm cao nhất trên nhóm này được ghi nhận ở Điện Biên, một tỉnh phía Tây bắc (45.7%), trong khi tỷ lệ hiện nhiễm thấp nhất được xác định là ở Hòa Bình – thuộc khu vực trung Bắc bộ (1,1%) Ở 7 tỉnh/thành phố (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, TP HCM, Cần Thơ, Đà Nẵng và An Giang) tiến hành nghiên cứu IBBS vào năm 2006 và 2009, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm nam TCMT chỉ tăng duy nhất ở TP HCM, còn ở các địa phương khác tỷ lệ này giảm hoặc ổn định Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm nam TCMT ở TP HCM tăng từ 34% lên 46%, tuy nhiên tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm mới tiêm chích giảm từ 28% vào năm 2006 xuống 5% vào năm 2009, cho thấy bằng chứng ban đầu về việc giảm tỷ lệ mới nhiễm

Kết quả giám sát trọng điểm HIV năm 2012 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý tiếp tục có xu hướng giảm, năm 2012 tỷ lệ này là 11,6% (so với năm 2011 là 13,4%) Tất cả các vùng trong cả nước tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý đều giảm, tuy nhiên có sự khác nhau giữa các khu vực [15]

Trang 26

Cũng như ở các nơi khác trên thế giới, tình hình dịch HIV trong nhóm NCMT ở Việt Nam lan truyền rất nhanh và vượt qua mọi khoảng cách địa lý khác nhau Mặc dù tình hình dịch ở các tỉnh có khác nhau nhưng nhìn chung tỷ

lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT tại Việt Nam cao chủ yếu do việc dùng chung BKT đã qua sử dụng trong khi các dịch vụ dự phòng vẫn còn hạn chế [10]

Ở mức độ quốc gia, tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao nhất là trong nhóm những người NCMT, chiếm tỷ lệ 34% Tỷ lệ hiện nhiễm trong những người NCMT ở Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh và Hải Phòng còn cao hơn rất nhiều Phụ nữ bán dâm có tỷ lệ hiện nhiễm HIV đứng cao thứ nhì với 6,5%

Tỷ lệ này còn cao hơn ở các thành phố Hải Phòng, Hồ Chí Minh, Hà Nội và Cần Thơ [11]

Tuy nhiên, phân bố tỷ lệ người nhiễm HIV theo các đường lây giữa các vùng miền qua các năm có sự khác nhau rõ rệt

Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hoà về tình trạng nhiễm HIV, HBV và HCV và yếu tố liên quan ở một số nhóm nguy cơ cao tại Hà Nội, cho thấy tỷ

lệ nhiễm HIV ở nhóm NCMT là 43,0% năm 2008; 37,7% năm 2009 và 30 - 5% năm 2010 và có xu hướng giảm dần Nghiên cứu cũng xác định được một

số yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng lây nhiễm ở nhóm NCMT, PNBD: thời gian tiêm chích ma tuý càng dài thì tỷ lệ nhiễm HIV càng cao; NCMT nhiễm HIV cao nhất ở nhóm tuổi 30-39 và NCMT nhiễm HIV cao nhất ở đối tượng

có hoàn cảnh hôn nhân đặc biệt như li thân, li dị, goá [16]

Như vậy, hành vi lây nhiễm HIV/AIDS ở nhóm nghiên chích ma túy tập trung ở nhóm nam giới nghiện chích ma túy, sau đó do quan hệ tình dục của những người này với gại mại dâm Tiếp đó từ gái mại dâm lây sang cho các đối tượng là khách làng chơi rồi cuối cùng là vợ, con của họ Như vậy, từ chỗ ban đầu là HIV chỉ tập trung ở các đối tượng TCMT sau đó lan rộng ra khắp cộng đồng, người ta gọi đây là mô hình lan truyền qua bốn làn sóng liên tiếp

Trang 27

nguời nghiện ma túy 1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm HIV của người nghiện chích ma túy

Người NCMT có quyền được tiếp cận và nhận các dịch vụ hỗ trợ sức khỏe phù hợp với nhu cầu cá nhân để được sống khỏe mạnh giống như những người khác (UNAIDS, 2010) Tuy nhiên, có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến nỗ lực duy trì hành vi an toàn của nhóm NCMT Những yếu tố này không chỉ liên quan đến cá nhân họ như kiến thức, thái độ, thu nhập mà còn liên quan đến tính sẵn có, khả năng tiếp cận được, khả năng tự trang trải được các chi phí đối với các chương trình phòng chống HIV/AIDS

Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi làm tăng khả năng nhiễm HIV ở người NCMT là chủ đề được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm Davies và Peters, trong một mẫu nghiên cứu 346 đối tượng nghiện chích ma túy tại thành phố Edinburgh, Scotland cho rằng những người nghiện chích sớm không có nghề nghiệp ổn định có tiền sử bị giam giữ có nguy cơ mắc HIV cao hơn những người khác [55]

Lima, Friedmam và cộng sự tiến hành một cuộc điều tra trên 123 đối tượng nghiện chích ma túy tại Rio de Janeio Kết quả nghiên cứu cho thấy các khả năng làm tăng lây nhiễm HIV gồm: thời gian tiêm chích lớn hơn 5 năm và chưa chủ định áp dụng các biện pháp tự bảo vệ phòng,chống HIV/AIDS [56] Theo nghiên cứu đánh giá hiệu quả can thiệp tiếp cận cộng đồng trong nhóm người NCMT tại TPBG năm 2007 – 2010, 2013 cho thấy hầu hết người NCMT có sử dụng hoặc TCMT ở lứa tuổi còn rất trẻ (dưới 20) thậm chí mới

11 tuổi Khoảng 43% người NCMT có thâm niên TCMT trên 5 năm Thời gian trung bình của một người hút, hít ma túy là 6,4 năm Thời gian trung bình

từ lần đâu hút, hít chuyển sang TCMT khoảng 1,3 năm Có nhiều trường hợp TCMT ngay từ lần đầu khi sử dụng ma túy Lý do dẫn đến NCMT chủ yếu là do

Trang 28

bạn bè rủ rê, sau đó chán đời, thất tình, do buôn bán heroin, đặc biệt có trường hợp do ý thích của người NCMT Heroin là loại ma túy mà người NCMT hay sử dụng nhất, chiếm tỷ lệ trên 94% cho cả 2 vòng điều tra [23]

Hầu hết người tiêm chích ma túy có quan hệ tình dục chiếm 84% trong vòng 12 tháng Tuổi trung bình khi quan hệ tình dục lần đầu tiên vào khoảng 19,5 tuổi Phần lớn người NCMT có quan hệ tình dục với bạn tình ngoài hôn nhân Tuy nhiên không có trường hợp nào được ghi nhận có QHTD với bạn tình là người đồng tính nam Nhóm bạn tình thường xuyên (vợ, chồng, người yêu) là nhóm có tỷ lệ QHTD cao nhất chiếm trên 68% Khoảng ½ số người NCMT có QHTD với PNBD trong cùng thời gian và 25% người NCMT cho biết có QHTD với bạn tình bất chợt

* Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm

Theo kết quả phân tích của một số yếu tố liên quan đến hành vi lây nhiễm HIV của người nghiện chích ma túy, cho thấy có một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng chung BKT của người NCMT:

Về nhóm tuổi, trong lần TCMT gần nhất, ở nhóm tuổi từ 30 tuổi trở xuống có tỷ lệ sử dụng chung BKT cao gấp 3,1 lần so với người NCMT trên

30 tuổi;

Theo kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI tại Việt Nam 2005-2006, cho thấy khoảng một nửa số người NCMT bắt đầu dùng ma túy trước 20 tuổi tại TP.HCM, Cần thơ và An Giang, khoảng 1/5 số người NCMT có thời gian TCMT ít hơn 1 năm Và không có

sự khác biệt trong các hành vi lây nhiễm khi tiêm chích giữa những người mới tiêm chích với những người có thời gian TCMT dài hơn Điều này có nghĩa là ngay từ khi mới chích, họ đã đối diện với nguy cơ lây nhiễm HIV do hành vi dùng chung bơm kim tiêm [9]

Trang 29

Những người NCMT không nhận được BKT miễn phí có hành vi sử dụng chung BKT cao gấp 18 lần người NCMT nhận được BKT miễn phí

Những người NCMT có tần suất TCMT dưới 2 lần/ ngày có hành vi sử dụng chung BKT cao gấp 2,9 lần những người NCMT có tần suất TCMT trên

2 lần/ngày

Về trình độ học vấn, ở nhóm học từ lớp 9 trở lên có trong vòng 6 tháng

có hành vi sử dụng bơm kim tiêm cao gấp hơn 2 lần nhóm học dưới lớp 9

Về tình trạng hôn nhân, ở nhóm người không sống cùng vợ hoặc gia đình có hành vi sử dụng chung BKT cao gấp 3,08 lần so với nhóm người sống cùng vợ/gia đình

Về thời gian TCMT, nhóm TCMT dưới 5 năm có hành vi sử dụng chung BKT cao gấp 1,23 lần so với nhóm TCMT trên 5 năm

* Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi không sử dụng BCS trong QHTD với bạn tình

Trong quan hệ với PNMD: Ở nhóm tuổi nhỏ hơn hoặc bằng 30 tuổi có

hành vi không sử dụng BCS khi QHTD với PNMD cao gấp 1,87 lần so với nhóm trên 30 tuổi Những người NCMT không được nhận BCS miễn phí có hành vi không sử dụng bao cao su trong QHTD cao gấp 10,5 lần so với người NCMT có nhận được BCS miễn phí; Những người NCMT có kiến thức hiểu biết sai về HIV/AIDS có hành vi không sử dụng bao cao su trong QHTD cao gấp 3,1 lần so với người NCMT có kiến thức hiểu biết đúng về HIV/AIDS [23]

Trong QHTD với bạn tình bất chợt: Những người không nhận

được BCS miễn phí có hành vi không sử dụng BCS trong QHTD cao gấp

45 lần so với nhóm người NCMT nhận được BCS miễn phí; Những người NCMT không cho rằng mình có nguy cơ lây nhiễm HIV có hành vi không

sử dụng BCS trong QHTD với bạn tình bất chợt cao gấp 8 lần người NCMT cho rằng mình có nguy cơ lây nhiễm HIV [23]

Trang 30

Theo kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI tại Việt Nam 2005-2006, cho thấy tỷ lệ sử dụng BCS thấp trong nhóm NCMT khi QHTD cả với bạn tình thường xuyên và PNMD Để phòng tránh lây nhiễm HIV từ nhóm NCMT cho các quần thể khác như vợ của họ hay PNMD, cần thiết phải có những hành động thúc đẩy việc sử dụng BCS hiệu quả hơn nữa cho nhóm quần thể này Rất ít người NCMT sử dụng BCS thường xuyên khi hộ có QHTD với bạn tình thường xuyên , chỉ khảng từ 16% đến 36% [9]

1.2.2 Về phía gia đình và xã hội

Việc triển khai hoạt động can thiệp tại cộng đồng để làm giảm hành vi lây nhiễm HIV trong đối tượng có nguy cơ cao là công việc khó khăn, phải thực hiện tốt từ việc vận động được sự ủng hộ của chính quyền cấp tỉnh đến cấp xã và phải vận động được đối tượng đích tham gia vào các hoạt động can thiệp

Hiện nay, một số hoạt động phòng, chống HIV/AIDS thiếu tính thường xuyên ở một số địa bàn nên kết quả hoạt động can thiệp chưa cao, nội dung

và hình thức đôi khi chưa phù hợp, trong khi đó các CTV, ĐĐV còn thiếu và yếu, nhất là ĐĐV số lượng ít, trình độ thấp, điều kiện địa hình khó khăn, thường xuyên biến động và hầu hết vẫn còn sử dụng ma túy, các ĐĐV thường xuyên được tập huấn, nhưng do trình độ thấp và hay thay đổi nên hiệu quả của chương trình can thiệp chưa cao

Kỳ thị và phân biệt đối xử với HIV/AIDS tuy đã được cải thiện, nhưng vẫn còn nặng nề Nhiều gia đình vẫn dấu và không công nhận tình trạng NCMT, một số gia đình còn cản trở hoặc từ chối sự hỗ trợ của chương trình cấp phát BKT Việc tiếp cận quản lý đối tượng nguy cơ cao rất khó khăn do đối tượng sợ lộ… và người NCMT là cán bộ công chức do danh dự, tương lai nên không tiếp cận với chương trình can thiệp [6]

Trang 31

1.2.3 Về tiếp cận các chương trình can thiệp giảm tác hại

Để giảm sự lây nhiễm HIV/AIDS trong nhóm người NCMT, đòi hỏi phải cải thiện và mở rộng các dịch vụ chăm sóc y tế cho họ, song song với việc tăng cường phố hợp mạnh mẽ giữa các nhà hoạch định, chính sách, các

cơ quan Chính phủ, phi Chính phủ, các cán bộ y tế, những người sử dụng ma túy và cộng đồng dân cư Triến khai chương trình can thiệp giảm tác hại trong nhóm nghiện chích ma túy đặc biệt quan trọng, không những bảo vệ cho cá nhân người NCMT bảo vệ cho gia đình họ mà còn bảo vệ cho cả cộng đồng trước những đại dịch HIV/AIDS

Việt nam có rất nhiều mô hình can thiệp giảm tác hại đối với người

NCMT như: tiếp cận cộng đồng; cấp phát BKT, BCS; điều trị nghiện các

chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone, tư vấn xét nghiệm tự nguyện Tuy nhiên độ bao phủ vẫn còn nhiều khoảng trống Đối tượng NCMT vẫn chưa thực sự tiếp cận được các chương trình này [6]

Tiếp cận chương trình cấp phát BKT, BCS

Về chương trình bơm kim tiêm trong điều tra giám sát hành vi và các chỉ số sinh học kết quả cho thấy có sự dao động lớn về tỷ lệ người TCMT được tiếp cận với bơm kim tiêm miễn phí giữa các tỉnh thành Tại Cần Thơ và An Giang, tỷ lệ tiếp cận tăng gấp ba lần giữa hai năm 2006, 2009 Khoảng 23% người TCMT tại

Hà Nội báo cáo nhận được bơm kim tiêm miễn phí trong năm 2009, tỷ lệ này là 11% tại Tp HCM và 2% tại Đà Nẵng Tỷ lệ tiếp cận với chương trình bơm kim tiêm miễn phí giảm mạnh tại TP HCM, từ mức 35% năm 2006 Mặc dù việc tiếp cận với bơm kim tiêm miễn phí vẫn còn thấp ở các tỉnh trọng điểm, phần đông người TCMT báo cáo rằng họ có thể mua hoặc nhận bơm kim tiêm mỗi khi cần Tỷ

lệ tiếp cận dao động trong khoảng 64% tại Lào Cai đến 99% tại các tỉnh thành nghiên cứu Tại hầu hết các tỉnh thành, trên 80% người TCMT báo cáo có khả năng

tiếp cận được bơm kim tiêm sạch khi cần [38]

Trang 32

Theo báo cáo cáo tổng kết công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2013 cho thấy kết quả những khó khăn và thách thức trong công tác can thiệp giảm tác hại Các hoạt động phân phát bơm kim tiêm và bao cao su trong năm 2013 bắt đầu gặp nhiều khó khăn do kinh phí cắt giảm Mặt khác, các hoạt động can thiệp giảm tác hại dựa vào đội ngũ tuyên truyền viên đồng đẳng là chính nhưng các phần lớn các dự án quốc tế hiện nay đang cắt giảm kinh phí chi trả lương cho đội ngũ này Do đó đã ảnh hưởng chung đến hoạt động can thiệp giảm tác hại [6]

Tiếp cận chương trình điều trị methadone

Chương trình điều trị methadone tuy được quan tâm nhiều hơn nhưng với mục tiêu đạt 80.000 người nghiện chích ma túy được điều trị methadone vào năm 2015 sẽ khó đạt được, hiện nay việc mở rộng các điểm điều trị methadone vẫn còn rất chậm, các tỉnh chưa chủ động bố trí nhân lực cho triển khai chương trình này, trong khi các dự án đang có lộ trình cắt giảm kinh phí, không hỗ trợ trang thiết bị và nhân lực cho địa phương [6]

Tính đến ngày 31/12/2013 chương trình được triển khai tại 30 tỉnh, thành phố với 80 điểm điều trị cho 15.542 bệnh nhân Năm 2013 số tỉnh triển khai chương trình methadone tăng lên 10 tỉnh, tăng thêm 20 điểm điều trị, số người NCMT được điều trị methadone tăng 26,8% so với năm 2012 Hoạt động của chương trình methadone hiện nay còn phụ thuộc nhiều vào dự án, rất ít tỉnh chủ động cho nguồn nhân lực, đặc biệt sắp xết bố trí nhân lực cho chương trình này còn hạn chế [6]

Tỉnh Bắc Giang đã triển khai chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone từ tháng 10/ 2013, đến tháng 9/2014 đã điều trị cho khoảng 330 bệnh nhân trên toàn tỉnh Tuy nhiên việc điều trị hiện nay còn rất khó khăn, không đủ thuốc cho người nghiện chích ma túy điều trị Người NCMT được điều trị rất thấp Không được tiếp cận chương trình điều

Trang 33

trị methadone nên người NCMT vẫn phải sử dụng ma túy bằng đường tiêm chích Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm HIV của người NCMT tại tỉnh Bắc Giang

1.3 Một số khái niệm

1.3.1 Khái niệm về HIV

HIV là cụm từ viết tắt từ các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh: Human Immuno Deficience virut Dịch ra tiếng Việt là suy giảm miễn dịch ở người

Đó là loại virut khi xâm nhập vào cơ thể người sẽ tấn công trực tiếp hệ thống miễn dịch làm cơ thể giảm sức đề kháng và dễ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội và ung thư

1.3.2 Khái niệm về AIDS

AIDS viết tắt của cụm từ tiếng Anh: “Acquired Immunodeficiency Syndrome”, hay SIDA viết tắt từ tiếng Pháp: “Syndrome d’Immunodéficience Acquise” có nghĩa là: “Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải” do nhiễm HIV (Human Immunodeficiency Virus) HIV tấn công và tiêu huỷ dần các tế bào miễn dịch, làm suy giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể AIDS là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV, khi cơ thể không còn khả năng chống đỡ nên dễ mắc thêm nhiều loại bệnh cơ hội dẫn đến tử vong [10]

1.3.3 Khái niệm về ma túy

Ma tuý là những chất khi đưa vào cơ thể sẽ tác động vào hệ thần kinh trung ương, gây biến đổi nhận thức, cảm giác, chức năng của hệ thống não bộ Nếu sử dụng nhiều lần sẽ dẫn đến tình trạng bị lệ thuộc về cơ thể hoặc tâm thần hoặc cả hai Người sử dụng ma túy do không kiểm soát được bản thân sẽ có những hành vi gây hậu quả nặng nề cho chính mình, gia đình và xã hội [23]

Nghiện ma tuý: Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), nghiện ma tuý là

tình trạng lệ thuộc về mặt tâm thần hoặc thể chất hoặc cả hai khi một người sử dụng ma tuý lặp đi lặp lại theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ ma

Trang 34

tuý và tình trạng lệ thuộc này làm thay đổi cách cư xử, bắt buộc đương sự luôn cảm thấy sự bức bách phải dùng ma tuý để có được những hiệu ứng ma tuý về mặt tâm thần của ma tuý và thoát khỏi sự khó chịu, vật vã do thiếu ma tuý Tình trạng lệ thuộc này có thể kèm theo hiện tượng quen ma tuý hoặc

không, và một người có thể bị lệ thuộc vào nhiều lọai ma tuý

1.3.4 Khái niệm về hành vi lây nhiễm, tụ điểm, tiêm chích ma túy

Hành vi dễ làm lây nhiễm HIV như quan hệ tình dục không an toàn, dùng chung BKT

Tụ điểm: là vị trí người NCMT tụ tập để tiêm chích và hút, hít như:

công viên, bến xe, đường phố, nhà trọ

Tiêm chích ma tuý: là những người sử dụng ma tuý qua đường tiêm

chích, nghĩa rộng của thuật ngữ này nhằm chỉ những người đã có tiền sử sử dụng ma tuý qua đường tiêm chích hoặc những người thỉnh thoảng tiếp tục tiêm chích cho đến những người lệ thuộc hoàn toàn vào việc tiêm chích vài lần một ngày Những người tiêm chích có thể sử dụng những loại thuốc hợp pháp hoặc bất hợp pháp, những loại thuốc kích thích (như amphetamines hay cocaine), những thuốc giảm đau (như heroin hay benzodiazepines) hay những loại thuốc khác như steroids Họ có thể tiêm trực tiếp vào ven hay vào bắp [23]

* Đồng đẳng viên: là những người tự nguyện tập hợp thành một nhóm

để thực hiện công tác tuyên truyền, vận động và giúp đỡ những người cùng cảnh ngộ

* Các biện pháp can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV: bao

gồm tuyên truyền viên, vận động, khuyến khích sử dụng BKT, BCS, điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và các biện pháp can thiệp giảm tác hại khác nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện hành vi an toàn để phòng ngừa lây nhiễm HIV

Trang 35

1.4 Đường lây nhiễm HIV/AIDS

* Phân loại nhiễm HIV: có 2 loại HIV

- HIV1: giống 1 loại virut ở khỉ Chimpazel tại Gabong HIV1 lây nhiễm trên toàn cầu được tìm thấy vào năm 1983

- HIV2: giống 1 loại virut ở loài khỉ Sooty Mangabey tại Tây phi HIV2 gây nhiễm chủ yếu ở khu vực Châu phi được tìm thấy vào năm 1986

* HIV tồn tại trong cơ thể người

- Trong máu tế bào limpho T và tinh dịch

- Trong nước bọt, nước tiểu, nước mắt, mồ hôi, sữa mẹ, màng ối, dịch não tủy, dịch khớp, dịch âm đạo…

- Ở xác chết bệnh nhân AIDS trong vòng 24h

- Ở các giọt máu khô đọng ở kim tiêm 2 đến 7 ngày

* HIV tồn tại trong môi trường

HIV tồn tại ở môi trường không lâu ở bên ngoài thậm chí dễ bị chết Thời gian tồn tại bên ngoài của HIV phụ thuộc vào nhiều yếu tố như bản thân dịch HIV bài tiết ra theo loại dịch gì và các yếu tố nhiệt độ ánh sáng như nhiệt

độ cao, trong các hóa chất sát khuẩn thông thường như Javen 1%

* Các đường lây nhiễm HIV

HIV có thể tìm thấy trong máu và các sản phẩm của máu, tinh dịch, âm đạo, nước bọt, nước mắt, dịch não tủy, dịch khớp, sữa mẹ Tuy nhiên chỉ có 3 con đường lây truyền được xác định là:

- Lây truyền qua đường tình dục

Là con đường lây truyền khá phổ biến Do HIV có nhiều trong tinh dịch, dịch âm đạo và máu của người nhiễm HIV Các kiểu quan hệ tình dục

có xâm nhập dù khác giới hay đồng giới đều có khả năng lây nhiễm HIV nếu một trong hai người bị nhiễm vi rút này Khi giao hợp có thể gây ra các xây xước nhỏ trên niêm mạc sinh dục ở cả nam và nữ Chính các tổn thương đó là

Trang 36

cửa ngõ để HIV xâm nhập một cách dễ dàng vào cơ thể Nếu giao hợp qua hậu môn thì khả năng gây bệnh sẽ cao hơn bởi niêm mạc hậu môn, trực tràng mỏng hơn nhiều so với niêm mạc âm đạo, do đó dễ bị xây xước hơn Càng giao hợp với nhiều người, xác suất gặp người nhiễm HIV càng cao nên càng

dễ có khả năng lây nhiễm HIV Tuy nhiên rất nhiều người chỉ quan hệ chỉ có

1 lần cũng bị mắc bệnh Sự hiện diện của những thương tổn do bệnh lây truyền qua đường tình dục thông thường gây nên (như giang mai, lậu…) virut HIV sẽ dễ dàng xâm nhập qua những vết loét, vết xây xước, tổ chức bị viêm tấy do bệnh lây truyền tình dục gây ra Có nhiều bạn tình thay đổi cùng thời gian sẽ tăng nguy cơ và xác suất bị lây nhiễm HIV, khả năng lây nhiễm thấp hơn so với giao hợp qua âm đạo nhưng nếu trong miệng có vết xây xước hay chảy máu chân răng thì HIV có khả năng lây nhiễm

- Lây truyền qua đường máu

HIV có trong máu nên khi một người nhiễm HIV qua đường tiêm chích máu có chứa HIV sẽ đọng lại ở trên bơm kim tiêm Nếu dụng cụ này không được xử lý hoặc không được khử trùng đúng cách người khác dùng phải thì virút theo đường tiêm xâm nhập vào cơ thể

HIV cũng có thể lây truyền qua việc dùng chung các dụng cụ y tế: như châm cứu, dao kéo mổ, dùng chung các hoạt động hàng ngày có thể dính máu như: xăm mình, xuyên lỗ tai, dùng chung bàn chải đánh răng, chữa răng mà không được tiệt trùng đúng cách… tuy nhiên có rất ít các trường hợp lây nhiễm qua các dụng cụ này

Truyền máu hay các sản phẩm của máu hoặc ghép các bộ phận cơ thể của người bị nhiễm HIV cho bệnh nhân

Tỷ lệ người nhiễm HIV cao nhất qua đường máu là do sử dụng chung dụng cụ tiêm chích chưa được khử trùng đúng cách để tiêm chích ma tuý vị

họ tiêm thẳng vào tĩnh mạch

Trang 37

- Lây truyền từ mẹ sang con

Mẹ bị nhiễm HIV truyền sang con không được hiểu là bệnh di truyền mà HIV lây truyền từ mẹ sang con thông qua các con đường như:

Qua quá trình đẻ, HIV có trong nước ối, dịch tử cung, dịch âm đạo của

mẹ đã lây truyền vào người bé qua vết sây xát hoặc niêm mạc miệng, mắt, mũi của bé

Qua sữa mẹ khi mẹ cho trẻ bú, là khi núm vú bị sây xát, trẻ mọc răng hoặc có tổn thương ở miệng Tuy nhiên việc lây lan qua đường sữa mẹ thường ít gặp vì số lượng HIV có trong sữa mẹ ít

* Các đường không lây truyền HIV

HIV tồn tại trong các dịch của cơ thể như dịch âm đạo, tinh dịch, nước mắt, nước ối… tuy nhiên người ta đã nghiên cứu và đưa ra kết luận rằng HIV truyền chủ yếu qua ba con đường đã nêu ở phần các con đường lây truyền, trên thực tế người ta chưa phát hiện nhiễm HIV qua những tiếp xúc thông thường như:

Bắt tay, xoa bóp, ôm hôn; nói chuyện, hắt hơi, ho; ngồi chung bàn ghế, mặc chung quần áo, ăn chung bát đĩa, cốc chén, đi chung nhà vệ sinh, tắm chung bể bơi, muỗi và côn trùng

* Quá trình xâm nhập và phát triển HIV/AIDS trong cơ thể người

+ Điều kiện xâm nhập

Có vi rút HIV

Có lượng HIV đủ lớn

+ Cách xâm nhập và phát triển của HIV trong cơ thể

HIV xâm nhập cơ thể, tấn công ngay bạch cầu, đặc biệt là tế bào lympho T4 - là thành phần quan trọng nhất trong hàng ngũ bạch cầu, đóng vai trò như một tổng chỉ huy có nhiệm vụ điều phối, huy động, kìm hãm toàn bộ hệ miễn dịch của cơ thể HIV sử dụng chính chất liệu di truyền của bạch cầu để sinh

Trang 38

sôi nảy nở Chính vì vậy mà khi cơ thể bị vi rút tấn công hệ miễn dịch càng huy động nhiều bạch cầu đến để kháng cự thì HIV lại càng sinh sôi lên gấp bội Cuối cùng hệ miễn dịch bị vô hiệu hoá và cơ thể không còn được bảo vệ nữa, mọi mầm bệnh mặc sức hoành hành gây nên nhiều chứng bệnh nguy hiểm dẫn đến tử vong

+ Thời gian ủ bệnh

Cũng giống như một số bệnh thông thường khác, HIV khi vào cơ thể cũng trải qua thời gian bị bệnh rồi mới chuyển sang giai đoạn AIDS Thời gian ủ bệnh của HIV khá dài Kể từ khi phát hiện ra người đầu tiên bị AIDS vào năm 1981, người ta quan sát vô số trường hợp và kết luận rằng thời gian

để vi rút HIV sinh ra bệnh là khoảng từ 2 đến 10 năm Trong thời gian ủ bệnh này người nhiễm HIV vẫn sống khoẻ mạnh bình thường, nếu không xét nghiệm thì cũng không biết mình có mang vi rút HIV

+ Các giai đoạn và các triệu chứng biểu hiện AIDS

Có nhiều cách để phân ra các giai đoạn của AIDS Tiến triển từ nhiễm HIV đến AIDS là một quá trình kéo dài Do vậy các biểu hiện lâm sàng rất phức tạp và tùy thuộc vào các giai đoạn khác nhau Có thể chia AIDS thành 4 thời kỳ

Giai đoạn nhiễm HIV cấp (thời kỳ cửa sổ)

Sau khi đã xâm nhập vào cơ thể, số lượng vi rút HIV tăng lên trong máu, tạo ra giai đoạn nhiễm HIV cấp Trong đó có khoảng 80% trường hợp là không có triệu chứng gì ở giai đoạn đầu từ khi bị lây nhiễm cho đến khoảng 6 tháng đầu Chỉ 20% có các triệu chứng rất thông thường Các triệu chứng thường gặp của thời kỳ này là viêm họng, sốt, đau nhức đầu, có ban, đau cơ khớp, mất ngủ…một số trường hợp có rối loạn cảm giác và nổi hạch Các triệu chứng lâm sàng sẽ khỏi sau vài tuần Thường từ 2 - 6 tuần

Trang 39

Thời kỳ cửa sổ là khi số lượng HIV tăng lên song số lượng kháng thể sau một thời gian mới sinh ra và số lượng ít nên khi xét nghiệm HIV trong thời gian này là âm tính Thời kỳ này thường kéo dài vài tuần đến 3 tháng, có trường hợp sẽ lâu hơn

Giai đoạn nhiễm HIV không có triệu chứng

Giai đoạn này thường kéo dài từ 1 năm đến dưới 10 năm Thời gian ngắn hay dài tùy thuộc vào nhiều yếu tố, như lứa tuổi, giới tính, tâm lý, dinh dưỡng, sức khỏe của người bệnh nhiễm HIV

Giai đoạn AIDS toàn phát

Đây là giai đoạn cuối của nhiễm HIV Phần lớn bệnh nhân sẽ chết trong vòng 2 - 3 năm

Có các triệu chứng chính sau: ỉa chảy kéo dài trên 1 tháng; sụt cân trên

10 % trọng lượng cơ thể; viêm phổi, ho khan, ho dai dẳng khó thở, sốt kéo dài, nấm tưa ở họng; viêm màng não, U lympho; các tổn thương da và niêm mạc kéo dài; viêm da kéo dài; xuất hiện các u ác tính; nổi hạch toàn thân

Trang 40

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

+ Tiêu chuẩn lựa chọn: Là người NCMT, có tiêm chích ma túy trong vòng một tháng trước cuộc điều tra, tiếp cận được tại các vị trí được chọn tại thời điểm nghiên cứu, đồng ý tham gia nghiên cứu

+ Tiêu chuẩn loại trừ: Người NCMT không có khả năng hiểu và trả lời câu hỏi; Sau khi tham gia, đã nảy sinh bất kỳ tình huống nào, mà theo ý kiến của điều tra viên là có thể vi phạm thoả thuận tham gia điều tra

- Các đối tượng cộng đồng liên quan đến người NCMT trong nghiên cứu bao gồm: Phó chủ tịch UBND phường phụ trách văn xã; Lãnh đạo Trung tâm Y tế thành phố Bắc Giang; Trạm Trưởng/phó trạm Y tế; Đồng đẳng viên, người NCMT

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại thành phố Bắc Giang tại 4 phường: Trần Nguyên Hãn, Ngô Quyền, Lê Lợi và Mỹ Độ thuộc thành phố Bắc Giang Đây

là các phường có tụ điểm nghiện chích ma túy chiếm tỷ lệ cao nhất ở thành phố Bắc Giang

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 11/2013 đến tháng 8/2014

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, nghiên cứu định lượng kết hợp với nghiên cứu định tính

định lượng

Nhằm mô tả thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người nghiện chích

ma túy tại thành phố Bắc Giang

Ngày đăng: 28/01/2015, 13:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
24. Bùi Văn Sơn (2000), Một số đặc điểm dịch tễ học HIV /AIDS và yếu tố liên quan đến nhiễm HIV ở người nghiện chích tại Thái Nguyên, LuËn v¨n thạc sỹ y học, Tr-ờng Đại học Y khoa Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ học HIV /AIDS và yếu tố liên quan đến nhiễm HIV ở người nghiện chích tại Thái Nguyên
Tác giả: Bùi Văn Sơn
Năm: 2000
27. UNAIDS (2007), Cập nhật tình hình dịch AIDS năm 2007 – một số kết luận cơ bản http://www.unaids.org, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cập nhật tình hình dịch AIDS năm 2007" – "một số kết luận cơ bản
Tác giả: UNAIDS
Năm: 2007
28. UNAIDS (2008), Cập nhật tình hình dịch AIDS khu vực Bắc Mỹ, Tây và Trung Âu, http://www.unaids.org, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cập nhật tình hình dịch AIDS khu vực Bắc Mỹ, Tây và Trung Âu
Tác giả: UNAIDS
Năm: 2008
29.UNAIDS (2008), Cập nhật tình hình dịch AIDS khu vực Châu Á , http://www.unaids.org, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cập nhật tình hình dịch AIDS khu vực Châu Á
Tác giả: UNAIDS
Năm: 2008
30. UNAIDS (2008), Cập nhật tình hình dịch AIDS khu vực Châu Mỹ La Tinh, http://www.unaids.org, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cập nhật tình hình dịch AIDS khu vực Châu Mỹ La Tinh
Tác giả: UNAIDS
Năm: 2008
31. UNAIDS(2008), Cập nhật tình hình dịch AIDS khu vực Đông Âu và Trung, http://www.unaids.org, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cập nhật tình hình dịch AIDS khu vực Đông Âu và Trung
Tác giả: UNAIDS
Năm: 2008
32. UNAIDS(2008), Tình hình dịch HIV khu vực Trung Đông và Bắc Phi , http://www.unaids.org, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: UNAIDS(2008)", Tình hình dịch HIV khu vực Trung Đông và Bắc Phi
Tác giả: UNAIDS
Năm: 2008
33. UNAIDS (2008), Tình hình nhiễm HIV/AIDS trong toàn quốc đến tháng 8 năm 2008, http://www.unaids.org, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm HIV/AIDS trong toàn quốc đến tháng 8 năm 2008
Tác giả: UNAIDS
Năm: 2008
34.UNAIDS (2008), Tóm tắt tình hình dịch AIDS toàn cầu, http://www.unaids.org, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt tình hình dịch AIDS toàn cầu
Tác giả: UNAIDS
Năm: 2008
35. UNAIDS (2008), Tóm tắt tình hình dịch các khu vực trên thế giới , http://www.unaids.org, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt tình hình dịch các khu vực trên thế giới
Tác giả: UNAIDS
Năm: 2008
36. Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy mại dâm (2010), Tiếp cận cộng đồng là chiến lược dự phòng HIV: mục tiêu và hành động, Nghiên cứu giáo dục sức khoẻ,7, tr.533 - 546 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận cộng đồng là chiến lược dự phòng HIV: mục tiêu và hành động
Tác giả: Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy mại dâm
Năm: 2010
38. Viện Vệ sinh dịch tễ học Trung ương (2009) , Kết quả Giám sát Kết hợp Hành vi và các Chỉ số Sinh học HIV/STI (IBBS) tại Việt Nam, Vòng II – 2009. Lấy từ www.nihe.org.vn/uploads/IDU%20VN.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: ết quả Giám sát Kết hợp Hành vi và các Chỉ số Sinh học HIV/STI (IBBS) tại Việt Nam, Vòng II – 2009
39. Viện Vệ sinh dịch tễ học Trung ương ( 2012), Kết quả điều tra năm 2012 về hành vi nguy cơ cao của đối tượng NCMT tại 10 tỉnh của Việt Nam.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra năm 2012 về hành vi nguy cơ cao của đối tượng NCMT tại 10 tỉnh của Việt Nam
40. Arshad Altaf, Naeem Saleem (2009), High prevalence of HIV infection among injection drug users (IDUs) in Hyderabad and Sukkur, Pakistan, J Pak Med Assoc, Vol. 59, No. 3, March 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: High prevalence of HIV infection among injection drug users (IDUs)
Tác giả: Arshad Altaf, Naeem Saleem
Năm: 2009
41. Bradley M Mathers (2008), Global epidemiology of injecting drug use and HIV among people who inject drugs: a systematic review, Lancet, Volume 372, Issue 9651, Pages 1733 - 1745, 15 November 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global epidemiology of injecting drug use and HIV among people who inject drugs: a systematic review, Lancet
Tác giả: Bradley M Mathers
Năm: 2008
42. Carmen Aceijas, Gerry V. Stimson (2004), Global overview of injecting drug use and HIV infection among injecting drug users, AIDS 2004, Vol 18 No 17, pg :2295–2303 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global overview of injecting drug use and HIV infection among injecting drug users, AIDS 2004
Tác giả: Carmen Aceijas, Gerry V. Stimson
Năm: 2004
43. Cyprian Wejnert, PhD, Huong Pham (2012), HIV Infection and HIV- Associated Behaviors Among Injecting Drug Users — 20 Cities, United States, 2009, Weekly. March 2, 2012 / 61(08);133-138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: HIV Infection and HIV-Associated Behaviors Among Injecting Drug Users — 20 Cities, United States, 2009
Tác giả: Cyprian Wejnert, PhD, Huong Pham
Năm: 2012
44. Dora Mbanya1, Martyn Sama (2008), Current Status of HIV/AIDS in Cameroon: How Effective are Control Strategies?, Int. J. Environ. Res.Public Health 2008, 5(5) 378-383 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Current Status of HIV/AIDS in Cameroon: How Effective are Control Strategies
Tác giả: Dora Mbanya1, Martyn Sama
Năm: 2008
45. Gregory J.D, Tim Brown, Denial T (1998), HIV/AIDS in the Asia Pacific Region: an epidemilogical overview, AIDS, 12, pp. 1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: HIV/AIDS in the Asia Pacific Region: an epidemilogical overview, AIDS
Tác giả: Gregory J.D, Tim Brown, Denial T
Năm: 1998
48. Patricia M. Spittal (2002), Risk factors for elevated HIV incidence rates among female injection drug users in Vancouver, JAMC • 2 AVR. 2002;166 (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Patricia M. Spittal (2002)," Risk factors for elevated HIV incidence rates among female injection drug users in Vancouver
Tác giả: Patricia M. Spittal
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3. Nơi ở của người NCMT tại thành phố Bắc Giang - thực trạng hành vi lây nhiễm hiv aids và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người nghiện chích ma túy tại thành phố bắc giang
Bảng 3.3. Nơi ở của người NCMT tại thành phố Bắc Giang (Trang 48)
Bảng 3.2.  /AIDS của người nghiện chích ma túy tại thành phố  Bắc Giang của đối tượng nghiên cứu - thực trạng hành vi lây nhiễm hiv aids và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người nghiện chích ma túy tại thành phố bắc giang
Bảng 3.2. /AIDS của người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang của đối tượng nghiên cứu (Trang 48)
Bảng 3.4. Kiến thức của người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang - thực trạng hành vi lây nhiễm hiv aids và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người nghiện chích ma túy tại thành phố bắc giang
Bảng 3.4. Kiến thức của người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang (Trang 49)
Bảng 3.6. Đặc điểm hành vi tiêm chích ma tuý - thực trạng hành vi lây nhiễm hiv aids và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người nghiện chích ma túy tại thành phố bắc giang
Bảng 3.6. Đặc điểm hành vi tiêm chích ma tuý (Trang 50)
Bảng 3.8. Mối  liên  quan giữa nhóm tuổi của người nghiện chích ma túy  với - thực trạng hành vi lây nhiễm hiv aids và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người nghiện chích ma túy tại thành phố bắc giang
Bảng 3.8. Mối liên quan giữa nhóm tuổi của người nghiện chích ma túy với (Trang 53)
Bảng 3.7. Tỷ lệ người NCMT không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục - thực trạng hành vi lây nhiễm hiv aids và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người nghiện chích ma túy tại thành phố bắc giang
Bảng 3.7. Tỷ lệ người NCMT không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục (Trang 53)
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa nghề nghiệp với hành vi sử dụng chung - thực trạng hành vi lây nhiễm hiv aids và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người nghiện chích ma túy tại thành phố bắc giang
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa nghề nghiệp với hành vi sử dụng chung (Trang 54)
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân của chích ma túy tại  với  hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm của người NCMT tại thành phố Bắc - thực trạng hành vi lây nhiễm hiv aids và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người nghiện chích ma túy tại thành phố bắc giang
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân của chích ma túy tại với hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm của người NCMT tại thành phố Bắc (Trang 54)
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa thời gian tiêm chích ma túy với hành vi sử  dụng chung bơm kim tiêm của người NCMT thành phố Bắc Giang - thực trạng hành vi lây nhiễm hiv aids và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người nghiện chích ma túy tại thành phố bắc giang
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa thời gian tiêm chích ma túy với hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm của người NCMT thành phố Bắc Giang (Trang 55)
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa tần suất tiêm chích ma túy/ ngày với hành vi - thực trạng hành vi lây nhiễm hiv aids và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người nghiện chích ma túy tại thành phố bắc giang
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa tần suất tiêm chích ma túy/ ngày với hành vi (Trang 55)
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa nghề nghiệp của người nghiện chích ma túy với  hành vi  sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục thành phố Bắc Giang - thực trạng hành vi lây nhiễm hiv aids và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người nghiện chích ma túy tại thành phố bắc giang
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa nghề nghiệp của người nghiện chích ma túy với hành vi sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục thành phố Bắc Giang (Trang 56)
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa nhóm tuổi và hành vi  sử dụng bao cao su khi  quan hệ tình dục của người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang - thực trạng hành vi lây nhiễm hiv aids và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người nghiện chích ma túy tại thành phố bắc giang
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa nhóm tuổi và hành vi sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục của người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang (Trang 56)
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân với hành vi sử dụng bao cao  su khi quan hệ tình dục của người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang - thực trạng hành vi lây nhiễm hiv aids và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người nghiện chích ma túy tại thành phố bắc giang
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân với hành vi sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục của người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w