Nhiều công trình nghiên cứu tâm lý đã chỉ ra rằng giao tiếp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự hình thành và phát triển tâm lí, nhân cách của mỗi con người. Ngay từ khi sinh ra nếu con người bị tách khỏi xã hội loài người thì họ không thể tiếp thu, lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người.Vì vậy giao tiếp là điều kiện thiết yếu của mọi hoạt động , cùng với hoạt động , giao tiếp là phương thức tồn tại của xã hội loài người. Do đó giao tiếp , kĩ năng giao tiếp có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về mặt lí luận và thực tiễn .Nghiên cứu giao tiếp, kĩ năng giao tiếp cung cấp cho chúng ta những tri thức khoa học để phân tích, lí giải những hiện tượng có thực trong cuộc sống . Giao tiếp có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hiệu quả hoạt động , hình thành phẩm chất, năng lực, kĩ năng nghề nghiệp .Thông qua giao tiếp mỗi cá nhân sẽ tích cực chủ động trong công việc của mình. Đối với Sinh viên học tại các trường chuyên nghiệp thì Giao tiếp lại càng có vai trò quan trọng trong học tập .Sự giao tiếp giữa Sinh viên với Sinh viên và Sinh viên với Giảng viên, thông qua đó các vấn đề được trao đổi một cách dễ dàng và thuận lợi hơn. Sinh viên phải thường xuyên trao đổi, liên hệ với các bạn cùng lớp, cùng trường và sinh viên để chiếm lĩnh lấy tri thức vì thế tầm quan trọng của giao tiếp lại càng được khẳng định.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Nhiều công trình nghiên cứu tâm lý đã chỉ ra rằng giao tiếp đóng vai trò
vô cùng quan trọng trong sự hình thành và phát triển tâm lí, nhân cách củamỗi con người Ngay từ khi sinh ra nếu con người bị tách khỏi xã hội loàingười thì họ không thể tiếp thu, lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử của xã hộiloài người.Vì vậy giao tiếp là điều kiện thiết yếu của mọi hoạt động , cùng vớihoạt động , giao tiếp là phương thức tồn tại của xã hội loài người Do đó giaotiếp , kĩ năng giao tiếp có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về mặt lí luận và thựctiễn Nghiên cứu giao tiếp, kĩ năng giao tiếp cung cấp cho chúng ta những trithức khoa học để phân tích, lí giải những hiện tượng có thực trong cuộc sống Giao tiếp có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hiệu quả hoạt động ,hình thành phẩm chất, năng lực, kĩ năng nghề nghiệp Thông qua giao tiếpmỗi cá nhân sẽ tích cực chủ động trong công việc của mình Đối với Sinh viênhọc tại các trường chuyên nghiệp thì Giao tiếp lại càng có vai trò quan trọngtrong học tập Sự giao tiếp giữa Sinh viên với Sinh viên và Sinh viên vớiGiảng viên, thông qua đó các vấn đề được trao đổi một cách dễ dàng và thuậnlợi hơn Sinh viên phải thường xuyên trao đổi, liên hệ với các bạn cùng lớp,cùng trường và sinh viên để chiếm lĩnh lấy tri thức vì thế tầm quan trọng củagiao tiếp lại càng được khẳng định
Với những lí do trên tôi đã chọn đề tài: “Kĩ năng giao tiếp với bạn trong học tập của sinh viên K14 khoa Mầm non- Cao đẳng Vĩnh Phúc”
để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng kĩ năng Giao tiếp với bạn trong học tập củasinh viên khoa K14 khoa Mầm non- Cao đẳng Vĩnh Phúc, nhằm nâng caohiệu quả của giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên khoa Mầm non,
Trang 2góp phần nâng cao kết quả học tập cũng như chất lượng đào tạo của K14 khoaMầm non – Cao đẳng Vĩnh Phúc.
3 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Kĩ năng Giao tiếp với bạn của Sinh viên K14 khoa mầm non – Cao đẳngVĩnh Phúc
3.2 Khách thể nghiên cứu
Sinh viên K14 khoa Mầm non – Cao đẳng Vĩnh Phúc
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của kĩ năng Giao tiếp với bạntrong học tập củaSinh viên
4.2 Phân tích thực trạng mức độ hình thành kĩ năng Giao tiếp với bạn tronghọc tập của sinh viên K14 khoa Mần non – Cao đẳng Vĩnh Phúc
4.3 Phân tích một số nguyên nhân của thực trạng trên
4.4 Biện pháp nhằm nân cao kĩ năng Giao tiếp trong với bạn học tập của sinhviên K14 khoa Mầm non- Cao đẳng Vĩnh Phúc
5 Phạm vi nghiên cứu:
Khách thể khảo sát: sinh viên K14 :56 SV
Địa điểm nghiên cứu lớp Mầm non K14A khoa Mầm non- Cao đẳngVĩnh Phúc
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 2/2012 đến 5/2012
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sưu tầm các tài liệu, sách báo, thông tin đại chúng, truyền thông có liênquan đến giao tiếp và kĩ năng Giao tiếp
Phân tích, tổng hợp, khái quát, xây dựng thành cơ sở lí luận của đề tài.6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp quan sát
Trang 36.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Đây là phương pháp chủ yếu nhằm thu thập số liệu cần thiết phục vụ cho việcchứng minh giả thuyêt nghiên cứu của đề tài
6.2.3.Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được thực hiện thoong qua trao đổi trực tiếp vơi một số SV
, cũng như trao đổi trực tiếp với một số giảng viên có nhiều kinh nghiệm
trong việc giúp đỡ sinh viên hình thành kỹ năng giao tiếp
6.2.4.Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để phân tích thực trạngvấn đề nghiên cứu
Trang 4CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI BẠN TRONG HỌC
TẬP CỦA SINH VIÊN
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu kỹ năng, kỹ năng giao tiếp trên thế giới
Ngay từ thời cổ đại của Arixôt (384- 322 TCN) trong cuốn sách “ Bàn
về tâm hồn “, cuốn sách đầu tiên của loài người bàn về tâm lý học đã quantâm đến kỹ năng hoạt động nói chung Theo ông nội dung của phẩm hạnh là
“Biết định hướng, biết làm việc, biết tìm tòi”; điều đó có nghĩa là con người
có phẩm hạnh là con người có kỹ năng làm việc ”[3]
Đến những năm đầu thế kỷ XX, tâm lý học hành vi ra đời với đại diện
là J Watson, B.F.Sknner, E.L.Thordai cũng đã bàn tới vấn đề rèn luyện kỹnăng trong việc hình thành hành vi.[23]
Nhìn chung các nhà tâm lý học phương Tây khi nghiên cứu kỹ năngcủa con người thường chú trọng vào mục đích làm sao có thể tăng được năngsuất lao động một cách tối đa nhất Có lẽ vì vậy nên họ giành nhiều tâm huyếtcủa mình để tìm hiểu kỹ năng lao động của người công nhân trong quá trìnhvận hành máy móc
Các nhà nghiên cứu Xô Viết cũng giành nhiều thời gian vào việc nghiên cứu
về kỹ năng trong đó có KNGT như A.X.Makarenco, N.K.Crup.Những côngtrình nghiên cứu nàyscai, P.A.Rudic…Đặc biệt, dưới ánh sáng của thuyết hoạtđộng hàng loạt những công trình nghiên cứu về kỹ năng, kỹ xảo đã được công
bố Đó các nghiên cứu của B.F.Lomov, E.N.Kabannova, Miller, V.L.Zucova.Những công trình nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu được con đường hìnhthành kỹ năng cũng như điều kiện để hình thành kỹ năng (tri thức và kinhnghiệm) của chủ thể hoạt động Theo họ, muối hình thành kỹ năng trong một
Trang 5lĩnh vực nào đó, trước hết phải cung cấp các tri thức về hoạt động đó chongười học.[32]
Một số tác giả khác lại quan tâm tới việc phân loại kỹ năng và các đặcđiểm cụ thể của thể của chúng như A.V.Petrovsy, Cruchetxki, N.D.Levittov.Khi chia kỹ năng ra thành kỹ năng bậc thấp và kỹ năng bậc cao các tác giảnhấn mạnh tới kỹ năng bậc cao của những hành động phức tạp, trong nhữnghoàn cảng không ổn định.Theo họ kỹ xảo đã có là thành phần của kỹ năng [3] Xavier Rogier lại xem kỹ năng như là một biểu hiện của năng lực vàkhông có một kỹ năng nào tồn tại dươi dạng thuân khiế ,mọi kỹ năng đềuđược biểu hiện thông qua những nội dung cụ thể Theo tác giả kỹ năng đượcphân ra thành hai nhóm:nhóm kỹ năng nhận thức và nhóm kỹ năng hoạt độngtay chân [26]
Còn nhà tâm lý học V.P.Dakharov đã giành nhiều công sức để phân loạicác nhóm kỹ năng giao tiếp Trong trắc nghiệm giao tiếp của mình ông đã đưa
ra 10 nhóm kỹ năng giao tiếp Đó là sự nhận định khá rõ rành, mạch lạc;nghiên cứu của ông tới nay vẫn còn giá trị lớn, đặc biệt trắc nghiệm này hiệnnay vẫn được sử dụng tại Việt Nam.[24]
Dưới góc độ của tâm lý học quản lý, với mục đích năng cao hiệu quả củacông tác tổ chức và công tác quản lý, các nhà nghiên cứu cũng đã tập chung
đi sâu nghiên cứu kỹ năng giao tiếp trong quản lý Tuy xuất phát từ nhũnghướng đi khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất ở quan điểm cho rằng
kỹ năng, kỹ năng giao tiếp không phải tự dưng mà có, muốn hình thành được
kỹ năng nói chung, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp của người quản lý thì chủ thểcần phải có tri thức về lĩnh vực đó và cần phải tích cực tham gia vào hoạtđộng
Như vậy việc nghiên cứu kỹ năng nói chung, kỹ năng giao tiếp nói riêngcủa các tác giả nước ngoài ở một mức nào đó đã thu được nhứng hiệu quảnhất định Kết quả cung cấp cho chúng ta nhuwngc tri thức khao học trong
Trang 6việc nhìn nhận vai trò cụ thể của kỹ năng đối với một hoạt động, với một kĩnhvực lao động nhất định trong xã hội.
1.1.2 Nghiên cứu kỹ năng, kỹ năng giao tiếp tại Việt Nam
Tại Việt Nam trong đề tài nghiên cứu về kỹ năng, KNGT khá nhiều Đặcbiệt trong nhứng năm gần đây các tác giả bắt đầu đi sâu nghiên cứu về KNGTtrong một số lĩnh vực, nghề nghiệp cụ thể
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn “ Tâm lý học đại cương ” 1995, đã quan niệmTri thức- Kỹ năng – Kỹ xảo là điều kiện cần thiết để hình thành kỹ năng hoạtđộng lao động Trong bài viết : “ Tình người,giao tiếp và văn hóa giao tiếp”;
1998 tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa tình người, văn hóa và giao tiếp,tác giả viết: “ Văn hóa giao tiếp có quan hệ mật thiết với kỹ năng giao tiếp, cómột số kỹ năng giao tiếp đặc trưng của con người cũng như kỹ năng chỉnhsửa các ấn tượng ban đầu của mình về người khác khi mới quen họ, kỹ năngbước vào giao tiếp với người khác một cách không có định kiến Những kỹnăng này không có sẵn, mà phải thông qua học tập và rèn luyện” [28]
Tác giả Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh đặc biệt đi sâu nghiên cứu cấu trúccủa ba nhóm kỹ năng giao tiếp sư phạm đó là nhóm kỹ năng định hướng giaotiếp, nhóm kỹ năng định vị, nhóm kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp.Theo tác giả các kỹ năng này có mối quan hệ chặt chẽ và chi phối lẫn nhau[14]
Bên cạnh đó nhiều tác giả cũng đi sâu nghiên cứu KNGT trong hoạt động
sư phạm như tác giả Nguyễn Hoàng Anh, Nguyễn Như An, Nguyễn BảoNgọc
Hoàng Anh trong nghiên cứu: “ Kỹ năng trong giao tiếp sư phậm củasinh viên” đã nêu ra 3 nhóm kỹ năng giao tiếp như sau :
- Nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp
- Nhóm kỹ năng điều khiển bản thân
- Nhón kỹ năng điều khiển đối phương
Trang 7Trong những năm gần đây các công trình nghiên cứu về KNGT khá phongphú, đa dạng có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu như sau:
-“ Tìm hiểu một số kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên”, của tác giảNguyễn Thanh Bình; khoa tâm lý - giáo dục, ĐHSP HN Tác giả khẳng địnhtầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp đối với việc nâng cao hiệu quả giờ lênlớp, kích thích lĩnh hội tri thức và khêu gợi lòng khao khát hiểu biết ở họcsinh kỹ năng giao tiếp là một trong những điều kiện đảm bảo cho sự thànhcông của sinh viên trong thực tập sư phạm, đồng thời góp phần hình thành,phát triển và hoàn thiện nhân cách của người thầy giáo trong tương lai [34] Nghiên cứu: “ ký năng giao tiếp của cán bộ quản lý sở giao dịch Hà Nộitại ngân hàng Công Thương Việt Nam” , 2004 của tác giả Nguyễn Thi TuyếtMai đã đề cập tới nhóm kỹ năng giao tiếp cơ bản mà mỗi người cần có khitham gia vào công việc của mình như: Kỹ năng thiết lập mối quan hệ tronggiao tiếp, kỹ nằn cân bằng nhu cầu trong giao tiếp, kỹ năng nghe đói tượng ởcác vị trí lãnh đạo Hướng nghiên cứu chú ý nhiều tới tầm quan trọng của kỹnăng giao tiếp trong công tác quản lý, nghiên cứu trên khá hạn hẹp về kháchthể [38]
- Ngoài ra còn một loạt đê tài khác như: Thực trạng kỹ năng giao tiếpcủa cán bộ chính trị trong hoạt động tuyên truyền ở đợn vị cơ sở quân độihiện nay”, 2006; tác giả Nguyễn Hoàng Lân- Học viện chính trị quân sự; “Xây dựng trắc nghiệm đánh giá kỹ năng giao tiếp nghiệp vụ trinh sát an ninh”của tác giả Võ Sỹ Lục, Bộ Công An; “ Một số kỹ năng giao tiếp trong côngtác vận động kế hoạch hóa giao đình của cộng tác viên dân số”, 2007; của tácgiả Nguyễn Thị Thu Hiền… Điểm qua một số đề tài phía trên chúng ta thấymối đề tài khai thác KNGT ở các cạnh khác nhau Chủ thể của các kỹ năng lạikhá đa dạng ở nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực trong cuộc sống Chính vì sựkhác biệt đó sẽ quy định sự hình thành và phát triển KNGT mang đặc trưngcủa
Trang 8Với đề tài này chúng tôi đi sâu nghiên cứu mức độ hình thành KNGT vớibạn trong học tập của sinh viên K14 khoa mầm non – Cao đẳng Vĩnh Phúc.
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm giao tiếp
Sống trong xã hội con người không chỉ quan hệ với thế giới sự vật hiệntượng bằng hoạt động có đối tượng mà còn có quan hệ giữa con người vớicon người và xã hội – đó là quan hệ giao tiếp Nhưng thực ra thế nào là quan
hệ giao tiếp ?
Căn cứ cách tiếp cận vấn đề mỗi tác giả đưa ra cách hiểu riêng của mình
về giao tiếp Nhưng nhìn chung nhưng quan niệm này đều có những đong gópnhất định cho việc làm rõ bản chất của giao tiếp Sau khi tổng hợp các loại tàiliệu đã tổng hợp thu được theo chúng tôi có thể phân ra cách tiếp cận vấn đềgiao tiếp của các nhà tâm lý theo những hướng tiếp cận sau:
- Hướng tiếp cận thứ nhất: chú trọng đến sự tác động, sự truyền và tiếp
nhận thông tin giữa người với người Đại diện cho hướng nghiên cứu này là
nhà tâm lý học người Mỹ Osgood C.E, nhà tâm lý học người Anh M.Argyle,nhà tâm lý học xã hội người Séc Ia.Ianoouseek [8]
Quan niệm của các nhà tâm lý theo hướng tiếp cận này coi giao tiếp như
là một quá trình thông tin Quá trình này bao gồm việc thực hiện và duy trìliên hệ giữa các cá nhân ở một chừng mực nào đó có thể nói giao tiếp như làquá trình thông tin hay đơn giản là sự liên lạc
- Hướng tiếp cận thứ 2: Có xu thế mở rộng khái niệm giao tiếp, đồng nhất
giao tiếp với giao lưu Vì thế theo xu hướng này giao tiếp là một hiện tượng tâm lý có chung cả ở người và động vật Đại diện cho quan điểm này là tác
giả B.V.Xocolov, J Bremont (1971) và R Chakin [10] Trong cuốn sách vănhóa nhân cách B.V.Xocolov viết: “ Giao tiếp là sự tác động lẫn nhau giữanhững con người và giữa những động vật nuôi trong nhà”, nếu thu hẹp hơn có
Trang 9thể hiểu: “ Giao tiếp là mới quan hệ giữa con người với động vật nuôi trongnhà.
Như vậy theo các định nghĩa này có thể làm mất đi bản chất xã hội củagiao tiếp, không thấy được sự khác nhau về chất giữa giao tiếp của con ngườivới sự thông báo ở động vật
Hướng tiếp cận thứ ba: Xem giao tiếp là quá trình hiện thực hóa các mối
quan hệ giữa người với người, trong quá trình đó diễn ra sự trao đổi thông tin sự nhận thức lẫn nhau; kết quả là tâm lý cả hai đều phát triển Vì thế các
tác giả theo hướng này phủ nhận viêc tồn tại giao tiếp trong thế giới động vật.Theo hướng nghiên cứu này có các tác giả tiêu biểu như: L.X.Vuwgôtxki,X.L.Rubinstenin, L.V.Bueva [10]…
Như vậy trong tâm lý học việc đưa ra các khái niệm chung về giao tiếpvẫn còn nhiều vấn đề phải tranh cãi Hiện nay đa số tác giả đều đồng tình vớicách tiếp cận về giao tiếp theo hướng thứ 3 Theo chúng tôi cách tiếp cận giaotiếp theo hướng này là đầy đủ và chính xác hơn cả
Ở Việt Nam có hai thuật ngữ thường dùng để chỉ khái niệm giao tiếp đó
là giao lưu và giao tiếp Tuy vậy xin được nhấn mạnh rằng về mặt câu chữ thì
có sự khác biệt nhưng nội hàm của chúng thì hoàn toàn thống nhất Phần lớncác nhà tâm lý học Việt Nam đều đòn tình với cách tiếp cận khái niệm bề giaotiếp theo hướng thứ ba
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “ Giao lưu là hoạt động xác lập và vânhành các mối quan hệ người – người để hiện thực háo các mối quan hệ xã hộigiữa con người vơi nhau”[9]
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn nhấn mạnh: “ Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lýgiữa người với người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin,
về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau hay nóicách khác đi giao tiếp là quá trình xác lập và vận hành mối quan hệ người –
Trang 10người, hiện thực hóa các mối quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thểkhác” [31]
Còn tác giả Lê Khanh khẳng định: “ Giao tiếp là quá trình xác lập và thựcthi các mối quan hệ người – người, hiện thực hóa các mối quan hệ xã hội giữachủ thể này và chủ thể khác, trong đó con người thông báo cho nhau nhữngthông tin trao đổi cho nhau những hiểu biết, xúc cảm qua đó họ hiểu nhauđồng cảm và chia sẻ với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình phát triểntâm lý mỗi người” [17];
Tác giả Trần Thị Minh Đức định nghĩa “ Giao tiếp là sự tiếp xúc trao đổithông tin giữa người với người thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, tư thế, trangphục”[8]…
Với cách hiểu giao tiếp theo hướng thứ ba, giao tiếp có những đặc điểmchủ yếu sau:
- Giao tiếp mang tính chủ thể: Giao tiếp bao giờ cũng được thực hiện bởicác cá nhân cụ thể Mỗi người vừa là chủ thể vừa là đối tượng của quá trìnhgiao tiếp
- Giao tiếp mang tính nhận thức và tính tự nhận thức: thông qua giao tiếpcon người tăng cường vốn kiến thức của bản thân và học hỏi kinh nghiệm củangười khác Đồng thời đó là nhận thức về mình một cách sâu sắc hơn thôngqua sự phản hồi của người khác
- Giao tiếp mang tính truyền cảm: Trong quá trình giao tiếp có sự lantruyền về tâm trạng cảm xúc
- Giao tiếp mang bản chất xã hội: Giao tiếp là một hiện tượng xã hội, giaotiếp chỉ xảy ra trong xã hội loài người, một hiện tượng đặc thù của con người,
là hoạt động vận hành, xác lập mối quan hệ người – người để hiện thực háocác mối quan hệ xã hội Suy cho đến cùng động cơ giao tiếp, mục đích giaotiếp, công cụ giao tiếp đều do xã hội quy định , công cụ quan trọng nhất đểgiao tiếp của con người là ngôn ngữ mang bản chất xã hội Chính xã hội loài
Trang 11người đã làm nảy sinh và quy đinh giao tiếp của con người với con người,không có giao tiếp nào ngoài xã hội loài người.
- Giao tiếp mang tính lịch sử: Giao tiếp mang tính lịch sử phát triển của xãhội loài người, giao tiếp có nội dung cụ thể, diễn ra trong một khoảng thờigian và không gian, hoàn cảnh nhất định Phương tiện giao tiếp chịu sự chiphối của sự phát triển xã hội và mang tính chủ thể [31]
Như vậy giao tiếp là công cụ đắc lực cho hoạt động, là yếu tố cơ bản đểthiết lập mối quan hệ giưa chủ thể và đối tượng, giữa người với người, tạo ra
cơ sở cho sự tồn tại của con người, để hiểu biết lẫn nhau, hợp tác với nhaunhằm hướng tới mục đích lao động, học tập, vui chơi, giải trí vì thế giao tiếp
có những chức năng sau đây:
- Chức năng thông tin: Thông qua quá trình giao tiếp con người truyền đạtcho nhau những nội dung mà cả hai cùng quan tâm, chhia sẻ kinh nghiệmcũng như vốn hiểu biết Đặc biệt nhờ có ngôn ngữ và sự hỗ trợ của cácphương tiện khoa học kỹ thuật mà chức này ngày càng được phát huy
- Chức năng điều khiển điều chỉnh: Thông qua giao tiếp mỗi người khôngchỉ nhận thức về đối tượng giao tiếp mà còn nhận thức fduowcj chính mình –
tự nhận thức để từ đó có sự điều khiển, điều chỉnh cảm xúc hành vi sao chophù hợp với hoàn cảnh, với đối tượng, với các đặc điểm tâm sinh lý và tuổitác nhằm đạt được mục đích tốt nhất
- Chức năng giáo dục và phát triển nhân cách: Nhờ giao tiếp mà vốn kiếnthức kinh nghiệm của mỗi người ngày càng phong phú hơn, con người tiếptục hoàn thiện bản thân và nhân cách của mình thông qua sự ảnh hưởng củanhân cách người khác và chính sự học hỏi của các nhân
1.2.2 Khái niệm kỹ năng
Trong tâm lý học khái niệm kỹ năng được nhiều tác giả quan tâm nghiêncứu Tuy khái niệm kỹ năng được soi chiếu và luận bàn dưới góc độ khác
Trang 12nhau nhưng nhìn chung khái niệm kỹ năng được định nghĩa thiên về hai quanniệm như sau:
- Quan niệm thứ nhất: Kỹ năng được định nghĩa thiên về mặt kỹ thuật củathao tác hay hành động, hoạt động Theo quan điểm này có tác giả V.X.Radic,V.A Cruchextki, A.G Covaliov, Trần Trọng Thủy…[23] Các tác giả nàythống nhất quan điểm cho rằng kỹ năng là phương tiện hành động mà conngười nắm vững được tri thức về hành động theo đúng yêu cầu của nó
- Quan điểm thứ hai: Kỹ năng được xem xét nghiêng về măt năng lựccủa con người Theo quan điểm này, kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tínhmềm dẻo, tính linh hoạt sáng tạo vừa có tinhs mục đích Đại diện cho quanđiểm này có các tác giả: N Lêvitôv, K.K Platonôv, Nguyễn Quang Uẩn,Nguyễn Công Hoàn [23] Các tác giả này cho rằng kỹ năng thể hiện năng lựcthực hiện một hành động có kết quả với chất lượng cần thiết và thời giantương ứng, trong điều kiện xác định
Theo chúng tôi quan điểm thứ hai về kỹ năng chính xác hơn bởi lẽ, kỹnăng là thuật ngữ chỉ mức độ thành thạo áp dụng tri thức trong hành động,trong các thao tác hành động Nói cách khác kỹ năng chính là năng lực củachủ thể vận dụng những hiểu biết những tri thức về phương thức thực hiệnhành động phù hợp với những điều kiện hiện có nhằm đạt được mục đích đềra
1.2.3 Khái niệm kỹ năng giao tiếp
Khái niệm kỹ năng giao tiếp đã được nhiều tác giả đưa ra khi đề cập tớicác nhóm khách thể khác nhau
Theo tác giả Hoàng Thị Anh: “ Kỹ năng giao tiếp sư phạm là kỹ năng giaotiếp được vận dung trong quá trình tiếp xúc giữa giáo viên và học sinh tronghoạt động giảng dạy và giáo dục Đó là khả năng nhận thức nhanh chóngnhững biểu hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lý bên trong của học sinh
và bản thân giáo viên, là kỹ năng sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi
Trang 13ngôn ngữ, biết cách tổ chức, điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp nhằmđạt được mục đích giáo dục.[38]
Theo tác giả Nguyễn Văn Đính trong cuốn “Giáo trình tâm lý và nghệ thuậtgiao tiếp, ứng xử trong kinh doanh du lịch” quan niệm kỹ năng giao tiếp đó làkhả năng nhận biết nhanh nhạy những biểu hiện tâm lý bên ngoài, đoán biếtnhững đặc điểm tâm lý bên trong của con người Đồng thời biết sử dụng cácphương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ, biết cách định hướng, điều chỉnh, điềukhiển quá trình giao tiếp đạt tới mục đích nhất định”
Từ việc phân tích và tìm ra đặc điểm của KNGT, theo chúng tôi KNGT
được hiểu như sau: Kỹ năng giao tiếp là năng lực sử dụng hệ thống phương
tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, là khả năng nhận biết nhanh nhạy những biểu hiện tâm lý bên ngoài, đoán biết được những đặc điểm tâm lý bên trong của đối tượng giao tiếp để làm sao có thể định hướng, điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp đạt được mục đích nhất định
1.2.4 Khái niệm kỹ năng giao tiếp trong học tập
1.2.4.1 Khái niệm học tập
“Học” là khái niệm dùng đẻ chỉ việc học diễn ra theo phương thứcthường ngày, còn “ học tập” là khái niệm để chỉ việc học diễn ra theo phươngthức đặc thù, nhằm lĩnh hội những hiểu biết mới, kỹ năng kỹ xảo mới Haynói rõ hơn học tập là đặc thù của con người, được điều khiển bởi một mụcđích tự giác là lĩnh hội tri thức và những kyc năng kỹ xảo tương ứng nhằmhình thành phát triển tâm lý, nhân
cách người học
Tóm lại học tập là hoạt động lấy đối tượng là tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
tương ứng cái đích mà học tập vươn tới là chiếm lĩnh tri thức kỹ năng, kỹ xảo
và cả phương pháp giành tri thức đó Thông qua đó làm thay đổi chính bản thân của chủ thể, điều đó chỉ thực sự có được khi người học tiền hành học tập với tinh thần tự giác, chủ động, tích cực.
Trang 141.2.4.2 Khái niệm kỹ năng giao tiếp trong học tập của sinh viên mầm non
Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm kỹ năng giao tiếp của các tác giả như đãtrình bày ở mục 1.2.3.1 và khái niệm học tập ở mục 1.2.4.1 khái niệm cơ bản
mà đề tài này cần phải làm rõ đó là KNGT trong HĐHT của SV khoa mầmnon – Cao đẳng Vĩnh Phúc Kỹ năng giao tiếp trong học tập của sinh viên làkhả năng nhận thức nhanh chóng những biểu hiện tâm lý bên ngoài và diễnbiến tâm lý bên trong của sinh viên, giảng viên và các đối tượng ở các phòngban chức năng khác, là kỹ năng sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phingôn ngữ , biết cách tổ chức, điều khiển, điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằmđạt mục đích học tập
Như vậy một SV có KNGT trong HĐHT trước hết sinh viên đó phải cóvốn kiến thức về chuyên ngành họ đang theo học, biến vốn kiến thức đó thànhcác nội dung giao tiếp cụ thể để từ đó có thể mở rộng thêm tri thức trông quaviệc tiếp xúc trao đổi với bạn bè Ngoài ra SV đó còn phải nắm được một sốquy luật về tâm lý của con người diễn ra trong quá trình giao tiếp Mặt khác,
họ còn nhận biết được diễn biến tâm lý như nhu cầu, mong muốn, tâm trạngcủa đối tượng, xác định đúng vị trí chức năng của mình trong hoạt động giaotiếp Hơn nữa chủ thể giao tiếp phải biết cách lôi cuốn, thu hút, chủ độngtrong quá trình giao tiếp, biết kiềm chế bản thân và đối tượng, từ đó có tácđộng phù hợp để tạo ra sự đồng cảm với đối tượng giao tiếp Một SV cóKNGT là SV biết làm chủ trạng thái tình cảm, biết lắng nghe, có khả năngthuyết phục và ứng xử thích hợp trong những tình huống giao tiếp khác nhau
1.3 Các nhóm kỹ năng giao tiếp trong học tập của sinh viên Mầm non – Cao đẳng Vĩnh Phúc.
1.3.1 Kỹ năng tiếp xúc và thiết lập mối quan hệ trong hoạt động học tập của sinh viên Mầm non.
HĐHT ở bậc cao đẳng tạo cho SV môi trường chung để giao tiếp đó làlớp, khoa, trường, các tổ chức đoàn thể Chính điều này giúp cho SV dễ dàng
Trang 15thiết lập mối quan hệ theo cả hai chiều: chiều ngang giữa SV và SV, chiềudọc giữa SV và giảng viên Tuy vậy để KNTX và TLMQH hình thành ở mức
độ cao mỗi SV cần phải tìm hiểu đặc điểm tâm lý, thói quen, ngôn ngữ củatừng đối tượng cụ thể để lựa chọn cách gây cảm tình tốt nhất
Để tạo ra mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè mỗi SV tâm lý cần:
- Tạo ra không khí thoải mái khi tiếp xúc
- Sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với người nghe, thểhiện sự tôn trọng, sự thân thiện vui vẻ với bạn bè
- Tìm hiểu nhu cầu, mong muốn sở thích của bạn để lựa chọn cách ứng
xử phù hợp
- Sẵn sàng chia sẻ buồn vui, hỗ trợ khó khăn trong mọi hoạt động đặcbiệt là hoạt động học tập
- Luôn có tâm trạng thoải mái tự tin khi giao tiếp
- Biết sử dụng kiến thức khoa học kiến thức chuyên nghành thành đề tàihấp dẫn trong khi giao tiếp với bạn bè
Việc tạo dựng và duy trì mối quan hệ tốt đẹp của một SV với các SVkhác phần lớn phụ thuộc vào đặc điểm của một SV cụ thể trong hoạt động họctập Quy luật hình thành tình cảm cho thấy mọi người thường có cảm tình rồidẫn đến yêu mến một SV có khả năng học tập tốt, thông minh, ngoan ngoãn
1.3.2 Kỹ năng lắng nghe
Chăm chú nghe một người nói khác gì ta nhiệt liệt khen họ “tuyệt quá,chưa bao giờ tôi được nghe ai nói hay như vậy.” Lắng nghe trong giao tiếp thểhiện thái độ tôn trọng đối tượng, đó là biểu hiện của việc huy động mọi giácquan để làm sao có thể nghe hiểu một cách tốt nhất: tai nghe, mắt nhìn, tayviết…Thông qua việc lắng nghe mỗi SV có thể thu thập được một lượng trithức vô cùng phong phú và bổ ích, nhiều khi tri thức đó không có trong sách
vở Vì vậy, để thu được hiệu quả cao trong học tập một SV biết “nghe” chưa
đủ họ cần phải xây dựng cho mình kỹ năng lắng nghe – sự lắng nghe Kỹ
Trang 16năng lắng nghe ở từng sinh viên ở các mức độ khác nhau Ở mức độ 1: SV cóthể nhắc lại những kiến thức mà bạn mình muốn nói Ở mức độ 2: SV có thểdiễn đạt một cách chính xác ý mà bạn muốn nói thông qua nội dung học tập.
Ở mức độ 3: SV có thể hiểu những ý sâu xa nhất qua trao đổi kiến thức củabạn
Trong HĐHT kỹ năng lắng nghe được coi là một trong những kỹ năng
cơ bản của giao tiếp Đặc biệt đối với SV mầm non học kỹ năng này còn đượcxác định như một trong những kỹ năng nghề nghiệp sau này được dùng nhiềutrong tiếp xúc với học sinh và phụ huynh Nhưng trước khi trở thành một kỹnăng nghề nghiệp mỗi SV mầm non phải rèn luyện cho mình cách lắng nghetích cực Lắng nghe tích cực giúp chúng ta xác định nhu cầu, tâm trạng, mức
độ quan tâm của đối tượng
Lắng nghe tích cực là khả năng tập trung chú ý cao độ tới điều mà đốitượng đang trình bày, đang thể hiện qua hành vi cử chỉ Nghe không chỉ bằngtai, mà còn bằng mắt và bằng cả tâm hồn của người nghe Cần có đi cùng với
sự quan sát tinh tế và những hành vi đáp ứng hợp lý như cái gật đầu, câu nóitóm tắt và phản hồi cảm xúc của người nói Để có thể lắng nghe một cách tốtnhất sinh viên cần phải theo dõi một cách chăm chú, không chú ý tới nhữngchủ đề không liên quan tới vấn đề đang được đề cập Vì thế khi mô tả cáchnghe tích cực Dainow và Bailey đã từng nói: “ cách mô tả nghe tích cực lànghĩ rằng nghe có kỷ luật”
Có 3 mục đích trong việc lắng nghe một cách tích cực là: lắng nghe thuthập được thông tin, lắng nghe để giải quyết vấn đề, lắng nghe để thấu cảm
- Lắng nghe để thu thập thông tin
Trong khi nghe giảng để thu thập thông tin có hiệu quả mỗi sinh viênnên hạn chế các vấn đề bằng cách đặt ra câu hỏi đâu là vấn đề chính, vấn đềquan trọng để tập trung chú ý vào những thông tin mà sinh viên đó cần biết.Muốn thu thập thông tin tốt, sinh viên cần biết lựa chọn thông tin: Trong số
Trang 17những thông tin mà sinh viên đã đưa ra thông tin nào mang tính cập nhật,đáng chú ý, thông tin nào chỉ có tác dụng mô phỏng, minh họa cho các thôngtin chính Cần chắt lọc thông tin khi lắng nghe và kết hợp với việc ghi chép.Khi ghi chép phải biết lập dàn ý và sắp xếp theo ý chính, ý phụ trong một chủđề.
- Lắng nghe để giải quyết vấn đề
Để không quên những điều sinh viên nói hoặc sinh viên khác trao đổimỗi sinh viên phải học cách ghi nhanh các ý, các vấn đề cần lưu ý Theo dàn
ý ghi được mỗi sinh viên cần tập cách biết tổng kết thông tin của người nói,biết phân tích để đưa ra thông tin phản hồi lại bạn bè về quan điểm của mìnhđối với những vấn đề đó
Không chỉ dừng lại ở việc ghi chép mỗi sinh viên phải dùng tư duy củamình để liên hệ xem thông tin vừa thu được có liên hệ gì với những thông tin
mà họ biết từ trước để có được những ý tưởng sáng tạo giải quyết vấn đề
- Lắng nghe để thấu cảm
Ở mục đích này SV phải biết đặt mình vào vị trí đối tượng giao tiếp Sinhviên có thể biểu lộ sự khuyến khích người khác nói thông qua những hành vi,
cử chỉ, thông cảm, sự thấu hiểu vấn đề họ đang nói bằng những cái gật đầu,
nụ cười, ánh mắt chia sẻ Nhưng điều đó không có ý nghĩa là SV không nênnói, mà ở đây khi thích hợp sinh viên nên sử dụng những câu hỏi, những câugiải thích để hiểu sâu hơn về suy nghĩ của bạn bè
Lắng nghe tích cực của SV thể hiện ở;
+ Tư thế hướng về phía người nói
+ Chú ý, quan sát mọi cử chỉ hành vi thái độ SV khác
+ Tư tưởng tập trung, không phân tán, không suy nghĩ về những điềukhác
+ Đôi khi có sự phản hồi bằng những cái gật đầu, một câu nói đáp lại ngắngọn, nghe có phản hồi thể hiện sự tập trung chú ý của người nghe về những
Trang 18câu hỏi, từ đó có thể đánh giá sinh viên đó có hiểu vấn đề hay không, hiểuđung hay sai, hiểu vấn đề tới đâu Ngoài ra sự phản hồi của SV trong khi nghegiảng còn giúp SV tóm được ý người nói, suy nghĩ phân tích liên hệ đánh giá
để rút ra kết luận của bản thân
1.3.3 Kỹ năng tự chủ cảm xúc hành vi
Giao tiếp là một quá trình tích cực bởi lẽ mỗi người đều bị thúc đẩy bởinhững động cơ, nhu cầu, quan điểm riêng do vậy không phải lúc giữa các chủthể giao tiếp cũng tìm được sự đồng thuận, thống nhất trước một vấn đề Khi
có sự đối lập, mâu thuẫn giữa các nhu cầu, động cơ, ý kiến…thì khả năng tựchủ cảm xúc hành vi sẽ tránh cho chúng ta những sai lầm đáng tiếc, duy trìđược các mối quan hệ Vì thế, có thể nói làm chủ được cảm xúc và hành vicủa mình trước mọi tình huống là điều kiện quan trọng dẫn tới thành côngtrong khi giao tiếp
HĐHT trong môi trường đại học mặc dù không thường xuyên xuất hiệnnhững tình huống xung đột, gay gắt, tuy vậy tri thức và chân lý khoa học lạiđòi hỏi sự chính xác, rạch ròi nên vẫn xuất hiện những bất đồng mâu thuẫngiữa SV có quan điểm đối lập Những lúc đó không có giải pháp nào hiệu quảhơn việc mỗi SV tự rèn luyện cho mình khả năng bình tĩnh, làm chủ bản thân
Kỹ năng làm chủ cảm xúc hành vi trong HĐHT của SV thể hiện rõ nhất trongcác giờ xemina, thảo luận Khi có những ý kiến trái chiều nhau, nếu SVkhông có năng lực tự chủ kiểm soát hành vi và lời nói của mình rất dễ cónhững lời nói lăng mạ, những hành vi thiếu văn hóa… gây tổn thương tới cácmối quan hệ Kỹ năng tự chủ cảm xúc hành vi đòi hỏi SV phải hiểu đượcđúng các trạng thái cảm xúc của mình, có thể điều khiển nó trong mọi tìnhhuống rèn luyện cách giữ bình tĩnh, thái độ ôn hòa trong các tình huống bấtthường để không rơi vào tình trạng “vô thức” Một SV có kỹ năng tự chủhành vi cảm xúc của bản thân và biết cách điều khiển nó sao cho phù hợp vớihoàn cảnh và đạt được mục đích giao tiếp trong quá trình học tập
Trang 191.3.4 Kỹ năng thuyết phục đối tượng giao tiếp
Trong HĐHT mà cụ thể HĐHT của SV mầm non học cơ sở để mỗi SV cóthể thuyết phục người khác chính là việc họ nắm vững hệ thống tri thứcchuyên ngành cũng như những tri thức có liên quan để tạo thành lập luận và
lý lẽ sắc bén của mình, tham gia trao đổi với mọi người, góp phần tích cựclàm cho hệ thống bài học thêm sâu sắc Kỹ năng thuyết phục đối tượng giaotiếp thể hiện rõ nhất trong hoạt động xemina, hoạt động thực hành, hoạt độngnghiên cứu khoa học, hoạt động đoàn thể và thể hiện ít hơn trong hoạt độngnghe giảng
Để đạt được kết quả cao trong khi giao tiếp thể hiện trong hoạt động họctập, mỗi SV cần rèn luyện cho mình khả năng thuyết phục theo các bước sau:
- Phác thảo chiến lược thuyết phục: Xác định mục đích cần thuyết phục.Phân tích đối tượng cần thuyết phục ( SV khác họ quan tâm tới điều gì?) Họmuốn nghe gì? Sự hiểu biết tâm trạng, thái độ của họ? Trên cơ sở đó kết hợpmục đích sự hiểu biết của SV khác, SV có thể xây dựng vấn đề để tạo ra mộtcách thuyết phục hợp lý
- Xây dựng nội dung vấn đề cần thuyết phục: Muốn phần trình bày củamình thu hút được các sinh viên khác, trước khi trình bày một vấn đề sinhviên phải phác thảo ra giấy, xắp xếp các ý cần trình bày Đưa ra những điểmchính cần thảo luận, nhấn mạnh phần mình hiểu rõ Sử dụng một vài kỹ thuật
để gây tính thuyết phục, tính xác thực về thông tin trong lời nói bằng số liệuthống kê Trong khi trình bày tạo ra mẩu chuyện ngắn, có ý nghĩa hấp dẫnngười nghe, đưa ra những lời trích dẫn của những người nổi tiếng, sử dụngnhững câu chuyện hài hước trí tuệ Tuy nhiên phải thận trọng trách xúc phạmngười nghe; nên dùng bảng biểu, hình ảnh, đèn chiếu để minh hoạ
- Trình bày vấn đề một cách thuyết phục: Nên lựa chọn cách dẫn dắt vấn
đề thế nào để gây sự quan tâm lớn nhất Có thế bắt đầu bằng những ví dụ thực
tế, những khó khăn của bản thân Trình bày bằng ngôn ngắn gọn, dễ hiểu,
Trang 20logic, xúc tích Nhấn mạnh vấn đề quan trọng, điểm cần lưu ý So sánh đánhgiá những thông tin đưa ra với các thông tin đã có Trả lời rõ ràng, mạch lạcmọi câu hỏi và ý kiến thắc mắc của người nghe.
Một SV có kỹ năng thuyết phục đối tượng là SV thể hiện được khả năng nắm vữngtri thức và sử dụng những thành thạo các tri thức đã học để đưa lý thuyết vào thựchành thông qua việc thuyết phục và bảo vệ quan điểm của mình với những ngườixung quanh Tuy vậy, để thuyết phục được người khác SV đó phải luôn xác định
rõ ràng về những điểm sau: Những luận điểm khoa học nào mà họ cần đưa ra đểchứng minh cho vấn đề mà mọi người đang còn tranh cãi? Đối tượng mà họ cầnthuyết phục là ai? Nhằm mục đích gì ? Để đạt được kết quả như mong muốn họcần phải tiến hành ra sao?
Có lẽ khác một số kỹ năng khác, kỹ năng thuyết phục đối tượng giao tiếp thể hiệntrong cả cách ăn mặc, ngôn ngữ nói, cử chỉ, thái độ của chủ thể tham gia giao tiếpđến việc vận dụng các tri thức, kinh nghiệm đã có vào việc thuyết phục ngườikhác Vì thế, kỹ năng thuyết phục có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi một
SV, nó tạo cho họ những cơ hội để chiếm được cảm tình của mọi người, được mọingười yêu mến, coi trọng
Tóm lại , tuy có sự phân chia một cách tương đối giữa các kỹ năng thành phần củaKNGT trong HDHT nhưng giữa các kỹ năng này lại có mối liên hệ mật thiết vớinhau; kỹ năng này là cơ sở đề hình thành nên kỹ năng kia Giữa chúng có mốiquan hệ phụ thuộc bổ xung cho nhau vì vậy khi phát triển kỹ năng giao tiếp trongHĐHT của sinh viên cần phải xem xét các nhóm kỹ năng này trong một chỉnh thểthống nhất Một sinh viên muốn đạt kết quả cao trong học tập không thể có kỹnăng này mà không có các kỹ năng còn lại Cụ thể muốn tạo lập và xây dựng nêncác mối quan hệ trước hết mỗi SV phải biết quan tâm tới nhu cầu, sở thích củangười khác, biết lắng nghe các bạn; thể hiện thành ý và thái độ tôn trọng ngườikhác qua việc lắng nghe Lắng nghe có hiệu quả cung cấp các thông tin quan trọngcho quá trình diễn đạt, kết quả của việc diễn đạt phụ thuộc rất lớn vào chất lượng
Trang 21thông tin đưa ra Trong khi đó ngoài yêu câù vê tính linh hoạt mêm dẻo cũng nhưkhả năng tư chủ cảm xúc hành vi thì khả năng diên đạt tôt, mạch lạc, ngắn gọn, dễhiểu lại là cơ sở để hình thành nên kỹ năng thuyết phục Người có được khả năngthuyết phục người khác rất dễ chiếm được cảm tình của mọi người vì vậy khả năngthiết lập và duy trì các mối quan hệ gặp nhiều thuận lợi, có hiệu quả cao.
Trang 22CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Địa bàn và khách thể nghiên cứu
- Địa bàn nghiên cứu: Khoa mầm non thuộc trường cao đẳng Vĩnh Phúc đượcchính thức thành lập vào năm 1997 Nhưng ở khoa có các mảng hoạt động dạy vàhọc hết sức đa dạng
- Khách thể nghiên cứu của đề tài gồm 56 sinh viên k14 thuộc hệ đào tạochính quy thuộc khoa mầm non – Cao đẳng Vĩnh Phúc
Khách thể nghiên cứư là SV được phân bố như sau:
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứư lý thuyết
Phương pháp nghiên cứu tài liệu có ý nghĩa là xem xét các thông tin có sẵntrong tài liệu để rút ra những thông tin cần thiết nhằm đáp ứng mục tiêu nghiêncứu của đề tài nhất định
Trong khóa luận này, trên cơ sở phân tích những tài liệu có liên quan đến kỹnăng, hoạt động học tập, kỹ xảo, giao tiếp, kỹ năng giao tiếp trong hoạt động họctập của sinh viên chúng tôi đã đưa ra hệ thống khái niệm với bạn trong học tập”
2.2.2 Phươnng pháp điều tra bảng hỏi
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đó là phương pháp xác định sơ bộnhững thông tin cần thiết thu được cho đề tài nghiên cứu, nhằm mục đích giúpngười nghiên cứu tìm hiểu sâu một vấn đề nhất định
Trang 23Trong nghiên cứu này tôi đã xây dựng bản hỏi nhằm mục đích khảo sát mức độhình thành kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập với bạn của sinh viên mầmnon bao gồm 4 nhóm kỹ năng sau:
Bảng hỏi thứ nhất dành cho khách thể nghiên cứu là sinh viên bao gồm 13câu, cấu trúc của bảng hỏi chia thành 4 phần
- Phần 1 gồm: 3câu (từ câu 1 cho tới câu số 2) với mục đích tìm hiểu nhậnthức của họ về kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập
- Phần 2 gồm: 4 câu (câu 3, 4 , 5 và câu 6) với mục đích tìm hiểu thực trạngmức độ hình thành của 4 kỹ năng giao tiếp cụ thể
- Phần 3: câu 7 với mục đích tìm hiểu các yếu tố nguyên nhân ảnh hưởng vàmức độ ảnh hưởng của chúng tới việc hình thành và rèn luyện từng loại kỹnăng giao tiếp cụ thể
Trên cơ sở xây dựng bảng hỏi lấy ý kiến từ SV để tìm ra được thực trạng,những khó khăn giao tiếp trong học tập với bạn của SV để từ đó tìm hiểunhững kiến nghị và mong muốn của họ với lớp, khoa, trường nhằm nâng cao
kỹ năng giao tiếp của sinh viên mầm non
2.2.3 Phương pháp quan sát
Chúng tôi sử dụng phương pháp này với mục đích làm sáng tỏ các nội dungnghiên cứu và hỗ trợ cho các phương pháp khác trong quá trình thu thập thông tin.Chúng tôi đã tiến hành quan sát các giờ thảo luận, nghe giảng, xemina và một sốgiờ thực hành tại cơ sở để làm rõ một số vấn đề: cách trình bày một vấn đề của SV
Trang 24trước lớp, khả năng nghe giảng, thảo luận qua đó có những nhận định khách quanhơn về các KNGT được hình thành ở SV mầm noa HĐHT.
2.2.4 Phương pháp thống kê toán học
Để đánh giá được mức độ hình thành kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tậpcủa sinh viên mầm non qua phiếu điều tra bằng bảng hỏi, chúng để xử lý và phântích số liệu nghiên cứu của đề tôi tiến hành xử lý số liệu Trong quá trình phân tíchthông tin, đề tài sử dụng các công thức thống kê toán học để tính tỉ lệ phần trăm,điểm trung bình; và kiểm định hệ số tương quan
2.3 Tổ chức nghiên cứu đề tài
- Từ tháng 12/ 2011 đến tháng 01/ 2012: Thu thập tài liệu văn bản liên quanđến đề tài, phân tíh khái quát hóa văn bản để xây dựng đề cương nghiên cứu chitiết
- Từ tháng 02 đến 05/ 03/ 2012: Xây dựng và viết cơ sở lý luận của đề tài, hoànthành bảng hỏi
- Từ 05/ 03 đến 05 / 04 / 2012: Điều tra, khảo sát, thu thập số liệu và xử lý sốliệu
- Từ ngày 06/ 04 đến ngày 10/ 05 /2012: Phân tích kết quả nghiên cứu dựa trêncác số liệu và thông tin thu được
- Từ ngày 11 đến ngày 15/05/2012 chỉnh sửa, in ấn nộp đề tài
Trang 25CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng kỹ năng giao tiếp trong học tập của sinh viên mầm non
KNGT là một trong những kỹ năng sống quan trọng đối với tất cả mọi ngườitrong đó có sinh viên mầm non Trong điều kiện và thời gian cho phép, đề tàinghiên cứu này chúng tôi tập trung đi sâu tìm hiểu 4 nhóm kỹ năng giao tiếp cụ thể
đó là: Kỹ năng tiếp xúc và thiết ;lập mối quan hệ, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng tựchủ cảm xúc hành vi, kỹ năng thuyết phục
Trước khi khảo sát mức độ hình thành KNGT trong học tập của sinh viênmầm non, chúng tôi tiến hành tìm hiểu nhận thức của họ về vai trò và tầm quantrọng của kỹ nằn này: 91,3% SV được hỏi nhận thức được rằng KNGT có vai tròrất quan trọng trong học tập Họ cho rằng nhờ có KNGT mà học tập trở nên thuậnlợi hơn Mỗi SV có thể dễ dàng trao đổi những vấn đề mình chưa hiểu cũng nhưnhuãng vấn đề mà họ quan tâm với bạn bè Như vậy KNGT đã trở thành một yếu
tố quan trọng ảnh hưởng tới học tập của SV, nhờ đó mà học tập ngày càng có hiệuquả, kết quả học tập thu được ngày càng tiến bộ Hơn nữa trong giao tiếp mầmnon, nhân cách con người được hình thành và phát triển
Sau khi khách thể lựa chọn và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ nhỏ đến lớn đốivới 4 nhóm kỹ năng kể trên Kết quả xử ký số liệu được thể hiện ở bảng 1
Kết quả cho thấy, KNTX & TLMQH được đánh giá quan trọng hơn cả (36,9%SV) với ĐTB = 2,67 (gần giá trị xếp thứ 2 hơn các kỹ năng khác) Theo SV nàyhọc tập chỉ có thể xác lập và vận hành khi họ tạo dựng được nhiều mối quan hệthân thiện cởi mở với bạn bè
Bởi lẽ: “ Mọi viếc khó có thể bắt đầu được nếu chúng ta chẳng có một mới
quan hệ nào cả, kết quả của một hoạt động bất kỳ kể ca việc học tập cũng ảnh
Trang 26hưởng rất lớn từ mối quan hệ xung quanh chúng ta Những SV không tích cựctham gia vào mối quan hệ họ sẽ rất lúng túng trong khi gặp gỡ và troa đổi với mọingười Nhờ có các mối quan hệ SV dễ dàng chia sẻ thông tin, trao đổi công việcvới bạn bè
Bảng 1: Đánh giá của SV về tầm quan trọng của KNGT trong học tập
1 Kỹ nằn tiếp xúc và thiết lập mối quan hệ 36,9 2,67 1,7
“biết lắng nghe” Kết quả nghiên cứu lắng nghe chính là cơ sở để mỗi SV tíchlũy thêm những tri thức quan trọng phục vụ cho việc mở mang tri thức mớiđồng thời đó cũng là hành trang giúp họ trong công việc sau này Trong khi
đó kỹ năng thuyết phục có ĐTB là 4,2 điều này cho thấy SV không có lựachon ưu tiên coa cho kỹ năng này
Để có thể so sánh mức độ hình thành của từng loại KNGT trên thực tếchúng tôi tiến hành tổng kết mức độ hình thành của 4 loại kỹ năng thành phầnnày qua cách tự đánh gái của sinh viên mầm non
Kết quả tự đánh giá của SV mầm non về từng loại KNGT cho thấy, tỷ lệ
SV có mức độ hình thành kỹ năng đạt loại tốt có sự chênh lệch khá lớn ở từng
kỹ năng thành phần của KNGT Tỷ lệ SV đánh giá kỹ năng lắng nghe ở mức
Trang 27độ tốt là cao nhất (37,1%), sau đó là kyc năng tiếp xúc và thiết lập mối quan
hệ (44,2%) và kỹ năng tự chủ cảm xúc
Bảng 2: Tự đánh giá của sinh viên mầm non về từng loại kỹ năng giao tiếp cụ
thể trong hoạt động học tập.(đơn vị %)
ra nhiều yêu cầu hoặc đòi hỏi khắt khe của mỗi SV, để rèn luyện kỹ năng này
SV không phải vân dụng nhiều tới khả năng tư duy Trong khi, đó số SV chorằng mức độ hình thành kỹ năng thuyết phục và kỹ năng tự chủ cảm xúc hành
vi đạt loại thấp hơn các kỹ năng còn lại có thể do: kỹ năng thuyết phục liênquan nhiều tới niều KNGT khác và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Muốnthuyết phục dduocj bạn bè về một vấn đề nào đó, trước hết họ phải là người
am hiểu vấn đề, có kỹ năng diễn đạt tốt Hơn nữa hiệu quả của việc thuyếtphục liên quan tới khả năng và trình độ của mỗi SV cụ thể Sẽ không thể đểcho mọi người đồng tình hay tán đồng ý kiến với mình nếu SV không có hiểubiết, không có năng lực thực sự về về đề đó
Để có thể khẳng định hay phủ định kết quả của việc tự đánh giá mức độhình thành KNGT của SV chúng tôi tiếp tục xem xét mức độ phù hợp trong sựlựa chọn của SV ở cùng nội dung cụ thể
Trang 283.1.1 Kỹ nằng tiếp xúc và thiết lập mối quan hệ
KNTX & TLMQH là một trong những kỹ năng thành phần của kỹ nănggiao tiếp được SV cho là quan trọng nhất Tìm hiểu thực trạng mức độ hìnhthành kỹ năng này chúng tôi tiến hành phân tích các nội dung mà SV thựchiện trong khi tạo lập các mối quan hệ trên đối tượng chính là bạn bè Kết quảthu được thể hiện ở bảng 3
Phân tích những nội dung SV thường thực hiện trong quá trình TX &TLMQH với bạn bè cho thấy tỷ lệ SV rất đồng ý cao hơn so với tỷ lệ SVđồng ý thực hiện các nội dung nói trên
Ba nội dung có tỷ lệ rất đòng ý thực hiện cao nhất “ giữ đúng chuẩn mựccủa một SV khi giao tiếp với bạn; Sẵn sàng giảng giải hoặc trình bày lại vấn
đề mà bạn mình chưa hiểu rõ, muốn được giúp đỡ họ; Luôn có tâm trạngthoái mái trong khi giao tiếp với bạn bè”
Có tới trên 68,7 % SV rất đồng ý: “ SV luôn có tâm trạng thoái mái trongkhi giao tiếp với bạn bè” Như chúng ta đã biết, tâm trạng của chủ thể giaotiếp có tác động tích cực hoặc tiêu cực tới hiệu quả giao tiếp Nếu như trongquá trình tiếp xúc và thiết lập mới quan hệ SV luôn chú ý tới trạng thaiddtâm lý của mình, để tâm trạng hoàn toàn thoải mái, không lo nghĩ, khôngvướng bận tới các vấn đề khác thì chắc chắn hiệu quả thu được trong khigiao tiếp chắc chắn sẽ cao Tâm trạng thoải mái giúp SV tự tin trong khi giaotiếp, nhờ đó cả đối tượng và chủ thể giao tiếp đều hoạt động tích cực hơn,Ngược lại trong khi tiếp xúc và thiết lập mối quan hệ tâm trạng của SVkhông tốt, luôn bất an, khó chịu, bực tức họ khó có thể kiểm soát được cáchành động cử chỉ và lời nói của mình Vì thế, những mong muốn nhu cầucủa đối tượng không được chú ý tới, gây cho đối tượng cảm nhận không tốthoặc không đúng về họ Trong trường hợp này hiệu quả của quá trình TX &TLMQH khó có thể đạt được, làm ảnh hưởng không tốt tới việc gây dựngtình cảm bạn bè Như vậy với một tỷ lệ khá cao SV lựa chon mức độ rất