Luận văn tốt nghiệp Tăng cung kích cầu hàng hóa cho thị trường chứng khoán việt nam (nguyễn Thị Hoài Thương ĐHTM) tính của TTCK trong việc huy động vốn dài hạn. 1.3. Đặc điểm của TTCK. TTCK được đặc trưng bởi hình thức tài chính trực tiếp người cần vốn và có khả năng cung ứng vốn đều được trực tiếp tham gia vào thị trường, giữa họ không có các trung gian tài chính. TTCK là thị trường gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Tất cả mọi người đều được tự do tham gia vào thị trường. Không có sự áp đặt về giá cả trrên TTCK mà giá cả ở đây được xác định trên quan hệ cung cầu của thị trường và phản ánh các thông tin có liên quan đến chứng khoán. TTCK về cơ bản là một thị trường liên tục, sau khi các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp nó có thể được mua bán nhiều lần trên thị trường thứ cấp. TTCK đảm bảo cho những người đầu tư có thể chuyển các chứng khoán mà họ nắm giữ thành tiền bất cứ lúc nào họ muốn. 1.4. Phân loại TTCK. 1.4.1. TTCK sơ cấp. Khái niệm TTCK sơ cấp: TTCK sơ cấp là thị trường cho việc phát hành mới các chứng khoán, là nơi mua và bán các chứng khoán đã được phát hành trước đó. Một thị trường được gọi là sơ cấp nếu người phát hành chứng khoán nhận được tiền từ việc bán chứng khoán. Như vậy thị trường sơ cấp là một thị trường cung cấp vốn, qua hoạt động của thị trường những nguồn tiền nhàn rỗi trong dân chúng và các tổ chức kinh tế xã hội có thể được chuyển thành vốn đầu tư dài hạn cho người phát hành chứng khoán. Đặc điểm TTCK sơ cấp: + Đây là thị trường cung cấp vốn, qua hoạt động của thị trường của nguồn tiền nhàn rỗi trong nhân dân và các tổ chức kinh tế xã hội có thể làm tăng vốn đầu tư trên thị trường. + TTCK sơ cấp hoạt động không liên tục, chỉ hoạt động khi có các đợt phát hành chứng khoán. 1.4.2. TTCK thứ cấp. Khái niệm TTCK thứ cấp Việc mua bán lại những chứng khoán đã phát hành trên thị trường sơ cấp, là hoạt động của TTCK thứ cấp. TTCK thứ cấp là nơi mua đi bán lại các loại chứng khoán Đặc điểm TTCK thứ cấp: + Thị trường có tính chất cạnh tranh hoàn hảo nghĩa là thông qua việc mua bán chứng khoán được thực hiện chủ yếu thông qua cạnh tranh. Mặt khác giá chứng khoán hình thành trên cở sở cung cầu, không một người hoặc một tổ chức nào có quyền áp đặt, hoặc định gía độc đoán theo ý của mình. + TTCK thứ cấp là thị trường liên tục bởi thị trường này tạo ra cở hội để mua chứng khoán bất cứ lúc nào miễn là các chứng khoán được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) hoặc được giao dịch trên thị trường phi tập trung.
Trang 1ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN
Tăng cung – kích cầu hàng hóa cho thị trường
chứng khoán Việt Nam
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Môn: Thị trường chứng khoán Sinh viên: Nguyễn Thị Hoài Thương
Lê Thị Hằng Ngân
Hà Nội – 2014
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Việc ra đời Thị trường chứng khoán ngày 20/07/2000 đánh dấubước pháttriển quan trọng của nền kinh tế Việt Nam Đến nay sau gần 5năm hoạt động số tàikhoản giao dịch chứng khoán của khách hàng được mởgần 20.000 tài khoản Tănggấp 7 lần Trong đó có hơn 200 nhà đầu tưchuyền nghiệp (chiếm 0,95%), 190 nhàđầu tư nước ngoài (chiếm 0,75%).Điều này cho thấy thị trường chứng khoán ViệtNam trong thời gian quachưa có nhiều nhà đầu tư chuyên nghiệp và nhà đầu tưnước ngoài tham gia,chủ yếu là các nhà đầu tư trong nước do đó quy mô giao dịchcòn rất nhỏ lẻ Mục tiêu của thị trường chứng khoán Việt Nam từ nay đếnnăm2010 là: tiếp tục ổn định và phát triển thị trường chứng khoán, góp phầnpháttriển nền kinh tế, đồng thời thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệpNhànước Đặc biệt nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động thịtrường, hạn chếtối đa các ảnh hưởng tiêu cực, bảo vệ lợi ích của người đầutư, thúc đẩy quá trình tự
do hoá Tài Chính và hội nhập thị trường Tài Chínhquốc tê Để thực hiện được cácmục tiêu trên thì việc mở rộng, phát triểnquy mô thị trường chứng khoán tập trung
ở Việt Nam có ý nghĩa quyết định.Đặc biệt “tăng cung – kích cầu” hoàng hoá chothị trường chứng khoán làhết sức quan trọng không những trước mắt mà còn cả vềlâu dài ở nước ta.Để tìm hiểu kỹ và sâu sắc hơn về vấn đề này em chọn đề tài
“Tăng cung –kích cầu hàng hóa cho thị trường chứng khoán Việt Nam” để
nghiên cứu Em xin trân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo: Lê ThịHằng Ngân - giảng viên bộ môn Thị trường chứng khoán đã giúp đỡ emtrong quátrình nghiên cứu và hoàn thành bài tiểu luận này Với sự hiểu biếthạn hẹp của mộtsinh viên, cộng với thời gian eo hẹp nên không tránh khỏi những sai sót trong việcnghiên cứu cũng như hoàn thành bài tiểu luận, em kính mong sự tham gia góp ýcủa các thầy, cô để em có thể hoànthành tốt hơn những đề tài sau.Em xin trânthành cảm ơn
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN I- TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 Nguồn gốc ra đời của thị trường chứng khoán Vào khoảng giữa thế kỷ
XV ở tại những trung tâm buôn bán của Phương Tây, các thương gia thường tụ tập
ở các quán cafe để thương lượng việc mua bán, trao đổi các loại hàng hoá (nôngsản, khoáng sản, ngoại tệ và giá khoán động sản…) đặc biệt là trong các cuộcthương lượng này, các thương gia chỉ dùng lời nói để trao đổi với nhau không cóhàng hoá, ngoại tệ, giá khoán động sản hay bất kỳ một loại giấy tờ nào Nhữngcuộc thương lượng này nhằm thống nhất với nhau các hợp đồng mua bán, trao đổi,
Trang 3thực hiện ngay kể cả những hợp đồng thực hiện vào thời điểm 3 tháng, 6 tháng, 1năm Những cuộc trao đổi này lúc đầu chỉ là một nhóm nhỏ, dần dần số người tănglên Đến thời trung cổ, phiên chợ riêng này trở thành một thị trường và thời gianhọp chợ rút xuống hàng tuần và sau đó là hàng ngày Trong các phiên họp chợ họthống nhất với nhau những quy ước cho các cuộc thương lượng Dần dần các quyước đó được tu bổ hoàn chỉnh thành những quy tắc có tính chất bắt buộc đối vớingười tham gia Từ đó thị trường chứng khoán bắt đầu hình thành Buổi họp đầutiên của giai đoạn này diễn ra vào năm 1453 ở Bruges (Bỉ) với cái tên là “mậu dịchtrường” Mậu dịch trường gồm 3 nội dung: -Mậu dịch trường hàng hoá -Mậu dịchtrường ngoại tệ -Mậu dịch trường giá khoán động sản Đến năm 1547 Mậu dịchtrường tại Bruges bị suy sụp Thị trường được chuyển đến Auves (Bỉ) Mậu dịchtrường ở đây phát triển nhanh và từ kinh nghiệm của nó, các mậu dịch trường trênthế giới bắt đầu phát triển Các mậu dịch trường lần lượt được hình thành ởLondon (thế kỷ XVIII), ở Pháp, Đức, Italia và Bắc Âu với ít nhiều cải tiến tuỳ theotừng điều kiện ở mỗi quốc gia Sau một thời gian hoạt động, mậu dịch trườngkhông còn đáp ứng đủ nhu cầu các giao dịch với 3 nội dung hoàn toàn khác nhau
vì vậy giao dịch hàng hoá được tách ra thành khu vực thương mại, giao dịch ngoại
tệ tách ra thành thị trường hối đoái, giao dịch giá khoán động sản tách ra thành thịtrường chứng khoán và các giao dịch hợp đồng trong tương lai được tách ra thànhcác thị trường tương lai Như vậy thị trường chứng khoán được xuất hiện từ thế kỷ
XV sự hình thành thị trường chứng khoán cùng đồng thời với thị trường hối đoái
và các thị trường khác
1.2 Khái niệm thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán (TTCK) làmột bộ phận của thị trường tài chính được chuyên môn hoá về mua bán các loạichứng khoán cả ngắn hạn , dài hạn và trung hạn Có thể hiểu TTCK là nơi chứngkhoán được phát hành và trao đổi TTCK là một bộ phận của thị trường vốn do đặctính của TTCK trong việc huy động vốn dài hạn
1.3 Đặc điểm của TTCK - TTCK được đặc trưng bởi hình thức tài chínhtrực tiếp người cần vốn và có khả năng cung ứng vốn đều được trực tiếp tham giavào thị trường, giữa họ không có các trung gian tài chính - TTCK là thị trường gầnvới thị trường cạnh tranh hoàn hảo Tất cả mọi người đều được tự do tham gia vàothị trường Không có sự áp đặt về giá cả trrên TTCK mà giá cả ở đây được xácđịnh trên quan hệ cung cầu của thị trường và phản ánh các thông tin có liên quanđến chứng khoán - TTCK về cơ bản là một thị trường liên tục, sau khi các chứngkhoán được phát hành trên thị trường sơ cấp nó có thể được mua bán nhiều lần trênthị trường thứ cấp TTCK đảm bảo cho những người đầu tư có thể chuyển cácchứng khoán mà họ nắm giữ thành tiền bất cứ lúc nào họ muốn
Trang 41.4 Phân loại TTCK
1.4.1 TTCK sơ cấp - Khái niệm TTCK sơ cấp: TTCK sơ cấp là thị trườngcho việc phát hành mới các chứng khoán, là nơi mua và bán các chứng khoán đãđược phát hành trước đó Một thị trường được gọi là sơ cấp nếu người phát hànhchứng khoán nhận được tiền từ việc bán chứng khoán Như vậy thị trường sơ cấp
là một thị trường cung cấp vốn, qua hoạt động của thị trường những nguồn tiềnnhàn rỗi trong dân chúng và các tổ chức kinh tế xã hội có thể được chuyển thànhvốn đầu tư dài hạn cho người phát hành chứng khoán - Đặc điểm TTCK sơ cấp: +Đây là thị trường cung cấp vốn, qua hoạt động của thị trường của nguồn tiền nhànrỗi trong nhân dân và các tổ chức kinh tế xã hội có thể làm tăng vốn đầu tư trên thịtrường + TTCK sơ cấp hoạt động không liên tục, chỉ hoạt động khi có các đợt pháthành chứng khoán
II- VAI TRÒ, CHỨC NĂNG VÀ MỤC TIÊU CỦA TTCK.
2.1 Vai trò của TTCK Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực với sự rađời của tổ chức thương mại quốc tế (WTO), của liên minh Châu Âu, của các khốithị trường chung, đòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ vàhiệu quả cao Thực tế phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đã khẳng địnhvai trò quan trọng của TTCK trong phát triển kinh tế: Một là, TTCK, với việc tạo
ra các công cụ có tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn,chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế Yếu tố thông tin
và yếu tố cạnh tranh trên thị trường sẽ bảo đảm cho việc phân phối vốn một cách
có hiệu quả Thị trường tài chính là nơi tiên phong áp dụng công nghệ mới và nhạycảm với môi trường thường xuyên thay đổi Thực tế trên TTCK, tất cả các thôngtin được cập nhật và được chuyển tải tới tất cả các nhà đầu tư, nhờ đó họ có thểphân tích và định giá cho các chứng khoán Chỉ những công ty có hiệu quả bền
Trang 5vững mới có thể nhận được vốn với chi phí rẻ trên thị trường TTCK tạo ra một sựcạnh tranh có hiệu quả trên thị trường tài chính, điều này buộc các ngân hàngthương mại và các tổ chức tài chính phải quan tâm tới hoạt động của chính họ vàlàm giảm chi phí tài chính Việc huy động vốn trên TTCK có thể làm tăng vốn tự
có của các công ty và giúp họ tránh các khoản vay có chi phí cao cũng như sự kiểmsoát chặt chẽ của các ngân hàng thương mại TTCK khuyến khích tính cạnh tranhcủa các công ty trên thị trường Sự tồn tại của TTCK cũng là yếu tố quyết định đểthu hút vốn đầu tư nước ngoài Đây chính là các yếu tố bảo đảm cho sự phân bổ cóhiệu quả các nguồn lực trong một quốc gia cũng như trong phạm vi quốc tế Hai là,TTCK góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn, thông qua việc buộc cáctập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra công chúng, giải toả sự tập trungquyền lực kinh tế của các tập đoàn, song vẫn tập trung vốn cho phát triển kinh tế.Việc tăng cường tầng lớp trung lưu trong xã hội, tăng cường sự giám sát của xã hộiđối với quá trình phân phối đã giúp nhiều nước tiến xa hơn tới một xã hội côngbằng và dân chủ Việc giải toả tập trung quyền lực kinh tế cũng tạo điều kiện cạnhtranh công bằng hơn, qua đó tạo hiệu quả và tăng trưởng kinh tế Ba là, TTCK tạođiều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý doanh nghiệp Khi quy mô củadoanh nghiệp tăng lên, môi trường kinh doanh trở nên phức tạp hơn, nhu cầu vềquản lý chuyên trách cũng tăng theo TTCK tạo điều kiện cho việc tiết kiệm vốn vàchất xám, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước Cơchế thông tin hoàn hảo tạo khả năng giám sát chặt chẽ của TTCK đã làm giảm tácđộng của các tiêu cực trong quản lý, tạo điều kiện kết hợp hài hoà giữa lợi ích củachủ sở hữu, nhà quản lý và những người làm công Bốn là, hiệu quả của quốc tếhoá TTCK Việc mở cửa TTCK làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trườngquốc tế Điều này cho phép các công ty có thể huy động được nguồn vốn rẻ hơn,tăng cường đầu tư từ nguồn tiết kiệm bên ngoài, đồng thời tăng cường khả năngcạnh tranh quốc tế và mở rộng các cơ hội kinh doanh của các công ty trong nước.Năm là, TTCK tạo cơ hội cho Chính phủ huy động các nguồn tài chính mà khôngtạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo các công cụ cho việc thưc hiện chính sách tàichính tiền tệ của Chính phủ Sáu là, TTCK cung cấp một dự báo tuyệt vời về cácchu kỳ kinh doanh trong tương lai Việc thay đổi giá chứng khoán có xu hướng đitrước chu kỳ kinh doanh cho phép Chính phủ cũng như các công ty đánh giá kếhoạch đầu tư cũng như việc phân bổ các nguồn lực của họ TTCK cũng tạo điềukiện tái cấu trúc nền kinh tế
2.2 Chức năng của TTCK TTCK thực hiện các chức năng chủ yếu sau: Chức năng huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế Thật vậy, chúng ta đã biết sự hoạtđộng của TTCK tạo ra một cơ chế chuyển các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu.Thị trường cung cấp phát hành phương tiện huy động vốn trong dân cư cho cácdoanh nghiệp, được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như đầu tư phát triển
Trang 6-sản xuất, xây dựng cở sở vật chất mới Khi mua chứng khoán do các công ty pháthành số tiền nhàn rỗi của các nhà đầu tư đã được đưa vào sản xuất kinh doanh vàqua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội - Chức năng cung cấp khả năng thanhkhoản cho các chứng khoán Nghĩa là, TTCK là nơi các chứng khoán được muabán, trao đổi bởi vậy nhờ các TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứngkhoán mà họ sỡ hữu thành tiền hoặc các loại chứng khoán khác mà họ muốn Đây
là một chức năng quan trọng đảm bảo cho TTCK hoạt động một cánh năng động
và có hiệu quả - Chức năng đánh giá giá trị của doanh nghiệp và tình hình của nềnkinh tế Ở đây, TTCK là nơi đánh giá giá trị của một doanh nghiệp và tình hình củanền kinh tế một cách tổng hợp và chính xác thông qua chỉ số giá chứng khoán trênthị trường Từ đó tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệuquả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm - Chứcnăng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô TTCK là nơi cung vàcầu vốn dài hạn gặp nhau Trên TTCK giá cả các chứng khoán phản ánh phát triểncác doanh nghiệp nói riêng và các ngành kinh tế nói chung, giá chứng khoán tănglên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng và ngược lại khi giáchứng khoán giảm sẽ cho thấy dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Chính vì vậy,TTCK được gọi là “phong vũ biểu” của nền kinh tế và là công cụ quan trọng giúpChính phủ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô
2.3 Mục tiêu của TTCK TTCK luôn hướng tới những mục tiêu nhất định,nhìn chung có 3 mục tiêu lớn đặt ra đối với TTCK - Hoạt động có hiệu quả + MộtTTCK có hiệu quả là một thị trường có tính hiệu quả về mặt thông tin và cơ chếgiao dịch Để đạt được điều này TTCK cần phải đảm bảo được hình thành trên thịtrường giá cân bằng cung và cầu, phản ánh được tức thời các thông tin liên lạc cóthể ảnh hưởng tới giá cả
+ Cơ chế và các thủ tục giao dịch chứng khoán cần được tiêu chuẩn hoá để
có thể thực hiện tốt một số lượng lớn các giao dịch một cách thông suốt TTCKđảm bảo tính thanh khoản cao giúp cho nhà đầu tư có thể mua và bán chứng khoánbất kỳ lúc nào họ muốn
+ Chi phí giao dịch trên thị trường phải được tối thiểu hoá, đảm bảo nhữnglợi ích thu được từ đầu tư chứng khoán không bị chi phí giao dịch ăn mòn Muốnvậy, hệ thống giao dịch chứng khoán được tổ chức sao cho tiết kiệm nhất về mặtchi phí
+ TTCK phải được tổ chức một cách thuận tiện cho những người sử dụng,
có như vậy mới thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia vào thị trường
Trang 7- Điều hành công bằng Điều hành công bằng TTCK là việc đảm bảo sự bìnhđẳng giữa người tham gia vào thị trường muốn vậy thực hiện điều hành công băngTTCK cần đảm bảo:
+ Các cơ quan điều hành thị trường phải xác lập các quy chế đảm bảo sựcạnh tranh tự do, bình đẳng trên thị trường Các nhà đầu tư và các tổ chức có liênquan đến chứng khoán được tự do tham gia và rút lui khỏi thị trường
+ Bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư thông qua việc duy trì thị trường hoạtđộng lành mạnh, chống lại các trường hợp lũng đoạn thị trường và bóp méo giágây ra thiệt hại cho nhà đầu tư
- Phát triển ổn định TTCK Để đảm bảo cho TTCK phát triển ổn định vàlành mạnh cần chú trọng phát triển và loại trừ các khả năng xảy ra, khủng hoảngcủa thị trường do mất khả năng thanh khoản hoặc do biến động giá cả quá lớn.Trên TTCK do nhiều khi người mua hoạt động biết rõ người bán và khả năngthanh toán của họ nên có thể gây ra khủng hoảng của toàn bộ thị trường Để giảiquyết vấn đề này cần có một cơ chế giao dịch đảm bảo thông suốt, thành lập các tổchức tài trợ chứng khoán hỗ trợ thị trường nhằm ngăn ngừa khả năng, mất khảnăng thanh khoản đối với các TTCK của các công ty vẫn hoạt động tốt
III- CƠ CẤU VÀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA TTCK.
3.1 Cơ cấu của TTCK Nghiên cứu về cơ cấu TTCK là phân tích xemTTCK bao gồm những bộ phận nào và tìm hiểu mối quan hệ giữa các bộ phận đó -Căn cứ vào tính chất các chứng khoán được giao dịch trên thị trường chứng khoán
có thể dược chia thành thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu và thị trường pháisinh
+ Thị trường cổ phiếu là thị trường nơi các cổ phiếu được phát hành và giaodịch Thị trường cổ phiếu gồm thị trường cổ phiếu sơ cấp và thị trường cổ phiếuthứ cấp + Thị trường trái phiếu là thị trường nơi các trái phiếu được phát hành vàgiao dịch Thị trường trái phiếu bao gồm thị trường trái phiếu sơ cấp và thị trườngtrái phiếu thứ cấp
+ Thị trường các sản phẩm phái sinh bao gồm thị trường các hợp đồng tươnglai, các hợp đồng lựa chọn
- Căn cứ vào luân chuyển các nguồn vốn: TTCK được chia thành thị trường
sơ cấp và thị trường thứ cấp
Trang 8+ Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các loại chứng khoán lần đầuđược phát hành Sự hoạt động của thị trường sơ cấp tạo ra một “kênh” thu hút huyđộng nguồn tiền nhàn rỗi của dân chúng chuyển thành vốn đầu tư cho nền kinh tế.Thông qua thị trường này nhà phát hành được thực hiện việc bán các chứng khoánmới cho nhà đầu tư thu được tiền về tăng thêm một lượng vốn mới.
+ Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hànhtrên thị trường sơ cấp Sự hoạt động của thị trường thứ cấp tạo ra khả năng dễdàng, thuận tiện trao đổi chứng khoán tthành tiền Trên thị trường, diễn ra việcmua bán chứng khoán giữa các nhà đầu tư, tiền thu được từ việc bán chứng khoánkhông thuộc về nhà phát hành mà thuộc về nhà đầu tư bán chứng khoán nhường lạiquyền sỡ hữu chứng khoán cho các nhà đầu tư khác
3.2 Các nguyên tắc hoạt động của TTCK
- Nguyên tắc cạnh tranh tự do: TTCK phải hoạt động trên cơ sở cạnh tranh
tự do Nghĩa là các nhà phát hành, các nhà đầu tư tự do tham gia và rút khỏi thịtrường Giá cả trên thị trường phản ánh quan hệ cung cầu về chứng khoán và thểhiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty
- Nguyên tắc giao dịch công bằng: có nhiều người tham gia TTCK vớinhững mục đích khác nhau Để đảm bảo lợi ích cho những người này, TTCK phảihoạt động dựa trên nguyên tắc giao dịch công bằng, những người tham gia thịtrường đều bình đẳng trong việc thực hiện những quy định này
- Nguyên tắc công khai: để hoạt động của TTCK có hiệu quả và công bằngthì các tin tức có tác động đến sự thay đổi giá cả của TTCK cần phải công khaicung cấp cho các nhà đầu tư nhằm tạo cơ hội đầu tư như nhau, đồng thời cũng làbiện pháp quan trọng để ngăn chặn các hành vi gian lận trong kinh doanh chứngkhoán, lũng đoạn trên thị trường Các thông tin được công khai thông qua cácphương tiện thông tin đại chúng của SGDCK, các công ty chứng khoán và các tổchức có liên quan khác
- Nguyên tắc trung gian mua bán: trên TTCK, các giao dịch được thực hiệnthông qua các tổ chức môi giới để đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch làchứng khoán thực tế và pháp, tránh sự giả mạo, lừa đảo trong giao dịch Các công
ty chứng khoán bằng việc thực hiện các nghiệp vụ của mình đảm nhận vai trò trunggian cho cung và cầu chứng khoán gặp nhau
Trang 9CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA THỊTRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Như đã biết, TTCK là một thể chế tài chính bậc cao của nền kinh tế thịtrường, nhưng ở nước ta nó còn đang ở trinh độ sơ khai và quy mô bé Sau hơn hainăm xây dựng và trưởng thành bắt đầu từ tháng 7 năm 2000, TTCK Việt Nam mớichỉ bước đầu tạo lập một thị trường vốn mới và là bước đột phá trong tiến trình đổimới nền kinh tế thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng, phát triển và hoàn thiện thểchế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam theo hướng hội nhập với khuvục và quốc tế Đối với nước ta - một nước non trẻ, nền kinh tế đang bước đầu pháttriển, hội nhập kinh tế quốc tế nên TTCK bước đầu đã mở một kênh huy động vốnmới cho nền kinh tế Việt Nam Mặc dù thời gian ra đời của TTCK còn quá ngắn đểđánh giá một cách chính xác những hoạt động của thị trường này Cùng với sự nỗlực của các cơ quan quản lý vận hành TTCK hoạt động từ TW đến địa phương đãtạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của TTCK Qua đó chúng ta có thể thấyđược những gì đã đạt được và những điểm còn hạn chế trong hoạt động của TTCKhiện nay
I- TÌNH HÌNH CUNG CẦU CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THỜI GIAN QUA
1.1 Cung chứng khoán trên thị trường: Việc ra đời trung tâm giao dịchchứng khoán TP Hồ Chí Minh ngày20 tháng 7 năm 2000 đã đánh dấu một bướcphát triển rất quan trọng của thịtrường chứng khoán Việt Nam Từ một thị trườngban đầu chỉ có 4 loại cổphiếu với số lượng: 38.708.000 cổ phiếu, tổng giá trị niêmyết là 387,008 tỷđồng và hai loại trái phiếu với tổng giá trị niêm yết 600 tỷ đồng,nay đã đưatổng giá trị hàng hoá niêm yêt trên toàn thị trường đạt trên 20.000 tỷđồng Trong gần năm năm hoạt động của thị trường, số tài - khoản giao dịchchứngkhoán của khách hàng được mở tại các công ty Chứng khoán là gần20.000, tănggấp 7 lần Trong đó, có hơn 200 nhà đầu tư có tổ chức (chiếm tỷlệ 0,95%) và gần
190 nhà đầu tư nước ngoài chiếm (0,87%), điều này chothấy thị trường chứngkhoán Việt Nam trong thời gian qua chưa có nhiều nhàđầu tư chuyên nghiệp vànhà đầu tư nước ngoài tham gia mà chủ yếu là cácnhà đầu tư cá nhân trong nước
Do vậy qui mô giao dịch còn rất nhỏ bé Tuy nhiên, nếu xem xét về khả năng cungứng chứng khoán cho thịtrường thì còn rất hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng.Mặc dù hàng hoátrên thị trường tuy đã tăng về số lượng nhưng thực tế là chưanhiều, chưa đadạng chỉ có 2 loại hàng hoá là cổ phiếu và trái phiếu, trong đó chủyếu là tráiphiếu chính phủ Còn cổ phiếu hiện tại tổng cộng chỉ có được 30 công tyniêmyết cổ phiếu Trên một khía cạnh nào đó, với con số 30 có thể coi đó làsựthắng lợi và cố gắng lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam, nhưng 30 làcon
số quá nhỏ bé so với số lượng các doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốnvà nếu so
Trang 10với tổng số doanh nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế thì con số đó lạicàng khôngđáng kể Mặt khác, phần lớn các công ty niêm yết có qui mô rấtnhỏ, sản phẩm củacác công ty này giá thành còn cao nên khả năng cạnh tranhthấp ở cả thị trườngtrong nước và xuất khẩu, dẫn đến chất lượng nguồn cung ứng chứng khoán trên thịtrường chưa cao, sức cầu chứng khoán thấp là điềukhông tránh khỏi
1.2 Về khả năng cầu chứng khoán : So với thời gian đầu, số lượng nhà đầu
tư, khối lượng giao dịch vàtổng giá trị thị trường được tăng dần song cũng rất hạnchế Trên thị trườngchứng khoán Việt Nam hiện tại chủ yếu các nhà đầu tư cá nhânvốn ít, sự hiểubiết về chứng khoán và thị trường chứng khoán còn rất hạn chế nêntrong đầutư còn dè dặt, đầu tư theo phong trào, theo tin đồn, và còn rất ít các nhàđầu tưchuyên nghiệp có tổ chức, đầu tư với qui mô lớn và dài hạn Chỉ có0,87%nhà đầu tư nước ngoài, hoạt động mua bán chứng khoán của họ cũng còngặpmột số khó khăn như: Trong các văn bản pháp qui hiện hành chưa qui địnhrõkhái niệm nhà đầu tư nước ngoài, chưa có sự thống nhất về tỷ lệ tham gia củabênnước ngoài khi đầu tư cổ phiếu ở thị trường sơ cấp và khi mua bán giaodịch trênthị trường thứ cấp… Mặt khác, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam cóqui mô nhỏ,thiếu vốn kinh doanh nên không có khả năng tham gia đầu tư trênthị trường chứngkhoán Một số ít doanh nghiệp kinnh doanh có hiệu quả cóvốn nhà rỗi, có thể sửdụng để đầu tư kiếm lời song do đầu tư vào chứngkhoán là một lĩnh vực đầu tưmạo hiểm, độ rủi ro cao và còn mới mẻ đối vớicác doanh nghiệp nước ta nên nhiềudoanh nghiệp không mạnh dạn tham giađầu tư vào thị trường chứng khoán dẫn đếnsức mua cầu chứng khoán trên thịtrường còn thấp
II- MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN:
Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng khả năng cung cầuchứng khoántrên thị trường chứng khoán Việt Nam còn thấp, có nhiềunguyên nhân, có thể nêu
ra những nguyên do chủ yếu, đó là:
+ Sự hiểu biết của công chúng đầu tư về chứng khoán và thị trườngchứngkhoán còn hạn chế nên chưa tin tưởng vào thị trường chứng khoán nhưtính côngbằng, khả năng thanh toán của thị trường… Do vậy, thị trường chưathu hút đượcnhiều nhà đầu tư
+ Các yếu tố để đảm bảo cho sự vận hành an toàn, công bằng, minhbạch, và
có hiệu quả của thị trường như qui chế về công khai thông tin, cơ chếquản lí, giámsát hoạt động thị trường… còn nhiều bất cập nên chưa tạo đượcniềm tin cho cácnhà đầu tư
Trang 11+ Các chính sách hỗ trợ và khuyến khích nhà đầu tư trong nước vànướcngoài tham gia vào thị trường chứng khoán chưa đồng bộ, chưa thực sựhấp dẫn cácnhà đầu tư + Thị trường chưa có sự tham gia của các công ty, các tập đoàn kinhtếmạnh nên chất lượng nguồn cung ứng chứng khoán trên thị trường cònthấp, cầuchứng khoán không cao
+ Thị trường còn thiếu vắng các tổ chức tài chính mạnh về cầu chứngkhoánnhư Quỹ đầu tư chứng khoán, các công ty Tài chính…
+ Môi trường pháp lí cho hoạt động thị trường chứng khoán chưa đầyđủ,đồng bộ, thậm chí còn mâu thuẫn nhau
+ Khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp còn rất hạn chế, nhiềudoanhnghiệp chưa có chiến lược đầu tư hoặc huy động vốn đầu tư dài hạnqua thị trườngchứng khoán nên khả năng cung chứng khoán trên thị trườngthấp
+ Việc mở rộng đối tượng được cung cấp tín dụng ưu đãi của Nhànước vớilãi suất thấp cũng làm cho các doanh nghiệp này ỷ lại Nhà nướckhông phát hànhtrái phiếu ra thị trường
+ Chưa có nhiều công ty chứng khoán mạnh để giúp các doanhnghiệp pháthành chứng khoán ra thị trường và tạo thị trường cho khách hàngở khắp các địaphương trên cả nước
+ Các Ngân hàng Thương mại chưa đảm nhận được vai trò vừa làtrung gianTài chính, vừa là nhà đầu tư có tổ chức trên thị trường chứngkhoán
Những vấn đề trên đang cản trở rất lớn đến khả năng cung cầu chứngkhoán trên thịtrường chứng khoán ở nước ta những năm qua
III- ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM THỜI GIAN QUA:
3.1- Những mặt đạt được trong hoạt động của TTCK Việt Nam trong thờigian qua TTCK ra đời đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển nhanhchóng và tham gia hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới Trong đó hoạt độngcủa TTCK đạt được một số kết quả đáng khích lệ Một là, trong bối cảnh nền kinh
tế hiện nay nước ta đã phải đối mặt với những khó khăn, thử thách trước nhữngvấn đề đặt ra trong quá trình mở cửa, TTCK ra đời đã đánh dấu một bước tiến mớitrong quá trình phát triển thị trường tài chính Việt Nam, thể hiện quyết tâm xâydựng thể chế kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta Hai là, về cơbản nước ta đã xây dựng được một hệ thống văn bản pháp luật và hướng dẫn hoạt
Trang 12động, quản lý thị trường tương đối đầy đủ,đảm bảo cho sự vận hành năng động củaTTCK Như thông báo số 91/ TP/TW, ngày 28/9/1991 của thường vụ Bộ chính trị
về việc chuẩn bị thành lập TTCK ở Việt nam, Nghị định số 48/ 1998/NĐ-CP ngày11/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về TTCK và chứng khoán, quyết định số128/1998/QĐ - UBCK5 ngày 1/8/1998 của Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán Nhànước (UBCKNN) về quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm giao dịch chứngkhoán (TTGDCK), đây là hệ thống văn bản pháp luật cơ sở bước đầu cho hoạtđộng TTCK Việt Nam Chúng ta đã có thêm nhiều bộ luật mới, tiến hành sửa đổi,
bổ sung hoàn chỉnh hệ thống luật hiện hành
Đây là môi trường pháp luật thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của TTCK
Ba là, hoạt động TTCK Việt Nam đã tổ chức và vận hành được TTGDCK tậptrung bán tự động với hơn 600 phiên giao dịch hoàn toàn suôn sẻ kể từ ngày30/07/2004 Hệ thống giao dịch của TTGDCK ban đầu cho phép đấu lệnh 500.000lệnh/phiên với thời hạn giao dịch là 4 ngày (T+4), cho đến nay đã được nâng cấplàm giảm thời gian thanh toán xuống 3 ngày (T+3) Bốn là, hoạt động quản lý,vậnhành thị trường của UBCKNN và TTGDCK TP.HCM đã có nhiều cải tiến và từngbước hoàn thiện trên cơ sở rút kinh nghiệm từ hoạt động thực tiễn UBCKNN đã
đề ra biện pháp, chính sách, biện pháp thích hợp kịp thời nhằm đảm bảo thị trường hoạt động ổn định, công khai, công bằng và hiệu quả Bên cạnh đó, UBCKNN tham gia, phối hợp với Bộ tài chính trong việc xây dựng các chính sách, chế độ phát triển TTCK trong dài hạn như “định hướng phát triển TTCK ”, “lộ trình phát triển thị trường vốn ” Tại thị trường giao dịch chứng khoán TP.HCM đã đạt được đáng kể, thực hiện được 900 phiên giao dịch với tổng khối lượng chứng khoán đạt tổng giá trị giao dịch 13.082 tỷ đồng Thời gian đầu TTGDCK áp dụng biên độ dao động giá (+/-) 2 sau đó tăng lên (+/-) 7 và (+/-) 3%, dự kiến năm
2003 sẽ áp dụng biên độ dao động giá là (+/-) 5 nhằm ổn định thị trường
và bảo vệ các nhà đầu tư trong thời kỳ hoạt động ban đầu của TTCK Năm là, với sự tham gia của các chủ thể trên TTCK như TTGDCK, công
ty niêm yết (CTNY), công ty chứng khoán (CTCK), các nhà quản lý và các nhà đầu tư đã bắt đầu trưởng thành một bước, tham gia vào thị trường với vai trò ngày càng tích cực và hiệu quả Trong năm 2004 hoạt động của TTCK Việt Nam có sự đóng góp của 10 công ty cổ phần được cấp phép phát hành, một công ty phát triển vốn và đăng ký niêm yết cổ phiếu cho 11 công ty, nâng tổng giá trị cổ phiếu trên TTCK lên 17.000
tỷ đồng Ngoài ra trong thị trường trái phiếu đã thực hiện được 40 đợt
Trang 13đấu thầu qua TTGDCK và bảo lãnh phát hành trái phiếu cổ phần đạt 1.362 tỷ đồng Đến nay có 41 loại trái phiếu niêm yết trên TTCK trong
đó có 39 loại trái phiếu Chính Phủ và 2 trái phiếu doanh nghiệp với tổng giá trị trái phiếu niêm yết trên thị trường đạt 4.276,338 tỷ đồng Tính đến ngày 30 tháng 07 năm 2004 số tài khoản giao dịch chứng khoán của khách hàng mở tại các công ty chứng khoán là trên 20.000 trong đó có hơn 200 nhà đầu tư có tổ chức và 191 nhà đầu tư nước ngoài Sáu là, hiện nay TTCK từng bước có sự phát triển, so với thời gian đầu khá khiêm tốn đến nay đã có được 30 CTNY và 9 CTCK tham gia vào TTCK Việt Nam Điều đáng chú ý là một số công ty niêm yết đã hoặc đang có đề án phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn mở rông sản xuất kinh doanh thông qua TTCK Để huy động được vốn thì mở cửa TTCK là cơ hội quan trọng để thu hút được nguồn vốn đầu tư, nhất là vốn nước ngoài TTCKVN tuy có điểm xuất phát chậm hơn nhưng cũng
đã nhận được sự hưởng ứng của một số nhà đầu tư nước ngoài, thúc đẩy
sự tham gia của các nhà đầu tư trong nước Bên cạnh đó, cũng tiến hành
mở rộng phạm vi hoạt động của TTCK ra rộng khắp, ngoài Hà Nội và TP.HCM, hiện nay TTCK được mở rộng ra các tỉnh như Hải Phòng, Đà Nẵng, Đồng Nai, Bình Dương, Long An Bảy là, Nhà nước ta đã chú trọng tới công tác và đào tạo và tuyên truyền sâu rộng trong công chúng, cung cấp những kiến thức cơ bản cũng như hiểu biết về chứng khoán và TTCK làm cho hoạt động này ngày càng phát triển rộng rãi và mạnh mẽ Tám là, hầu hết các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá cùng với
sự tham gia của các doanh nghiệp kinh doanh, của các công ty tham gia vào sản xuất theo chiều hướng tốt Vì vậy các công ty chứng khoán đang được triển khai, mở rộng phạm vi hoạt động Ngoài ra, cơ cấu doanh thu của các công ty chứng khoán đã có sự thay đổi đáng kể nó làm tiền đề cho sự phát triển của TTCK Việt Nam còn non trẻ Với những thành tựu
đã đạt được trong tình hình hoạt động của TTCK trong thời gian qua
đã thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, đồng thời đưa kinh tế của đất nước phát triển theo kịp và hoà nhập vào thị trường thế giới
3.2- Những mặt còn hạn chế trong hoạt động TTCK Được mở cửa ngay từ khi thị trường mới đi vào hoạt động khi mà các nhà đầu
Trang 14tư và các nhà quản lý còn quá ít kinh nghiệm thì việc TTCK phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập là một điều tất yếu Nên bên cạnh những mặt đạt được trong hoạt động của TTCK vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định trong tình hình kinh tế hiện nay Trước hết, nói về hoạt động của TTCK phải nói về các quy định của nhà nước đối với hoạt động này, được quy định bằng các văn bản pháp lý Cho đến nay, văn bản pháp lý cao nhất của TTCK Việt Nam là nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của Chính
phủ được soạn thảo và ban hành trong điều kiện TTCK ở Việt Nam chưa đi vào hoạt động, do vậy sau khi đưa TTCK vào vận hành một số nội dung trong nghị định không còn phù hợp với hoạt động của thị trường hiện nay cũng như với nôị dung mới của Luật doanh nghiệp Mặt khác các quy định này chưa rõ ràng làm cho các nhà đầu tư thường hiểu sai lệch về các quy định hoặc hệ thống pháp luật của nước ta chưa có văn bản giải thích rõ những trường hợp vi phạm nghị định 48 của Chính Phủ Mặc dù trong quá trình vận hành thị trường UBCKNN đã ban hành, sửu đổi, bổ sung các quy định pháp luật cho phù hợp với các yêu cầu của thị trường nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ưng được đòi hỏi của hoạt động TTCK Thứ hai, loại hàng hoá hoạt động trên TTCK tuy đã tăng nhưng chưa nhiều, chưa đa dạng về chủng loại Như chúng ta đã biết trên thị trường hiện nay chỉ có 2 loại hàng hoá là cổ phiếu và trái phiếu Sự biến động của 2 loại hàng hoá này rất phức tạp trên TTCK làm cho hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết có tỷ lệ doanh thu cao nhưng quy mô vốn lại nhỏ, sản phẩm của các công ty có khả năng cạnh tranh nhưng còn khiêm tốn trên thị trường nhất là thị trường ngoài nước Thực tế cho thấy, qua hơn hai năm hoạt động chỉ
số giao dịch chứng khoán phong phú TTCK đã bộc lộ sự biến động thăng trầm và thể hiện tính đặc trưng cơ bản của quy luật thị trường Trong giai đoạn đầu, khi mới ra đời TTCK Việt Nam đã phát triển quá nhanh, giá cổ phiếu tăng lên một cách “chóng mặt”, nhiều nhà đầu tư hám lợi đã bỏ tiền mua cổ phiếu ở mức giá quá cao (giá ảo).