1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân lập một số thành phần hóa học từ cây rau má ngọ (Polygonum perfoliatum L.)

3 286 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 365,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rau má ngọ (thồm lồm gai) có tên khoa học là Polygonum perfoliatum L., thuộc họ rau răm (Polygonaceae). Theo Đông y thồm lồm gai có vị đắng, chua, tính bình vào các kinh can, thận. Có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết trừ phong; thường dùng chữa ho gà, trĩ, vàng da, sốt rét, kiết lỵ, tiểu tiện buốt, khí hư. ...

Trang 1

Phân lập một số thành phần hóa học từ cây rau má ngọ

(Polygonum perfoliatum L.)

Nguyễn Văn Đậu, Đỗ Thị Mai, Đinh Như Chiến

Khoa Hóa học, Trường ĐHKHTN-ĐHQGHN

Email: ngvandau2003@yahoo.com

Keywords: Polygonum perfoliatum L., β-sitosterol, daucosterol, quercetin 3,4-dihydro-5-hydroxy-7-me-thoxy-4-(4'-methoxyphenyl)coumarin

Summary

Stearic acid (1), β-sitosterol (2), daucosterol (3), 3,4-dihydro-5-hydroxy-7-methoxy-4-(4'-methoxyphenyl)coumarin (4) and quercetin (5) were isolated from the aerial parts of Polygonum

perfoliatum L by combination of various chromatography techniques Their structures were identified by NMR spectroscopy method

3,4-dihydro-5-hydroxy-7-methoxy-4-(4'-methoxyphenyl)coumarin(4) was the first time found in the polygonym genus

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Rau má ngọ (thồm lồm gai) có tên

khoa học là Polygonum perfoliatum L., thuộc

họ rau răm (Polygonaceae)

Theo Đông y thồm lồm gai có vị đắng,

chua, tính bình vào các kinh can, thận Có tác

dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết trừ

phong; thường dùng chữa ho gà, trĩ, vàng da,

sốt rét, kiết lỵ, tiểu tiện buốt, khí hư, [1]

Theo tra cứu của chúng tôi, cho đến nay

ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu về

thành phần hóa học của cây thuốc này Bài báo

này thông báo kết quả phân lập một số thành

phần từ cây rau má ngọ và nhận dạng chúng là

axit stearic (1), β-sitosterol (2), daucosterol (3),

3,4-dihydro-5-hydroxy-7-methoxy-4-(4'methoxyphenyl)-coumarin (4) và quercetin (5)

II NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nguyên liệu

Cây rau má ngọ (Polygonum perfoliatum

L.) được thu hái tại Yên Sơn, Ba Vì, Hà Nội

vào tháng 10/2012 và được PGS Trần Văn

Ơn, Trường Đại học Dược Hà Nội giám định

tên khoa học

Hóa chất thiết bị

Bản mỏng silica gel tráng sẵn DC-Alufolien

64 F254 (Merck, Darmstadt, CHLB Đức); silica gel cho cột sắc kí cỡ hạt 63-100 μm Các dung môi (Trung Quốc) được tinh chế trước khi tiến hành sắc kí

Phổ 1H-NMR, 13C-NMR được đo trên máy Bruker DRX500 của Viện Hóa học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Chiết nguyên liệu

Bột khô phần trên mặt đất của cây rau má ngọ (3kg) được ngâm kiệt trong methanol 5 lần, sau

đó lọc lấy dịch chiết và cất loại bỏ dung môi thu được cặn chiết methanol Hòa tan cặn methanol trong nước cất và chiết lần lượt với các dung

môi hexane, dichlomethane, ethyl acetate,

n-buthanol Sau khi loại dung môi dưới áp suất

giảm thu được các cặn chiết n-hexane (94.8g,

hs 3.16%), dichlomethan (8.13g, hs 0.27%),

ethyl acetate (19.31g, hs 0.64%) và n-buthanol

(9.52g, hs 0.31%)

Phân lập các chất

Các cặn chiết n-hexane, dichlomethane và ethyl

acetate được phân tách trên cột sắc kí silica gel với hỗn hợp dung môi-gradient, tăng dần độ phân cực Các chất phân lập được tinh chế tiếp bằng phương pháp kết tinh lại

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả phân lập

Trang 2

Bằng phương pháp sắc ký cột, từ cặn chiết

n-hexane (rửa giải với hỗn hợp n-hexane/ethyl

acetate) thu được chất (1) và (2); từ cặn chiết

dichlomethane (rửa giải với hỗn hợp

n-hexane/acetone) nhận được chất (3); và từ cặn

chiết ethyl acetate (rửa giải với hỗn hợp

dichlomethane/acetone) thu được chất (4) và

(5)

Xác định cấu trúc của các chất phân lập

Axit stearic (1) Hợp chất 1 thu được dưới

dạng tinh thể màu trắng Trong phổ 1H-NMR

(500MHz, CDCl3) xuất hiện tín hiệu của nhóm

methyl ở δH 0.88 ppm (3H, t, J=6.75Hz), tín

hiệu của 14 nhóm methylene (δH 1.294-1.25

ppm), tín hiệu hai nhóm methylene ở δH 2.26

ppm (2H, t, J = 7.75Hz) và ở δH 1.59 (2H,

sextet, J=7.38Hz) Phổ 13C-NMR (125MHz,

CDCl3) chỉ ra tín hiệu của 18 carbon, trong đó

có một carbon của nhóm carboxylic ở δC =

194.562 ppm, một carbon của nhóm

methylene vị trí α đối với nhóm carboxylic tại

δC = 99.042 ppm, và 16 carbon tại δC 14.11

18), 22.70 17), 23.43 16), 25.76

(C-15), 29.06 (C-14), 29.26 (C-13), 29.36 (C-12),

29.48 (C-11), 29.48 (C-10), 29.62 (C-9), 29.66

(C-8), 29.68 (C-7), 29.93(C-6), 38.43(C-5),

43.82 (C-4), 57.23 (C-3)

Như vậy phổ NMR của chất (1) phù hợp

với phổ của một axit no, mạch dài, phân tử có

18 cacbon là axit stearic

OH O

β-sitosterol (2) Tinh thể hình kim màu trắng

Nhiệt độ nóng chảy 135-138oC Chất (2) có Rf

trùng với của β-sitosterol chuẩn trong cùng một

điều kiện sắc kí lớp mỏng Phổ 1H-NMR (500

MHz, CDCl3) của chất (2) cũng khẳng định cấu

trúc này thông qua các pic đặc trưng của

proton-carbinol ở δH 3.68 (1H, m, H-3), proton

methin trong vòng ở δH 5.33 (1H, d, J=5.2 Hz, H-6), sáu nhóm methyl ở δH 0.96 (3H, d, J=7.0

Hz, H-21), 0.84 (3H, t, J=7.0 Hz, H-26), 0.86 (3H, d, J=8.0 Hz, H-27), 0.88 ( 3H, d, J=7.5 Hz, H-29), 0.76 (3H, s, H-18), 1.03 (3H, s, H-19)

Daucosterol (3): Chất rắn màu trắng Nhiệt độ

nóng chảy 283-286oC Phân tích phổ 1H-NMR

và 13C-NMR cho thấy đây là một hợp chất glycoside mà phần aglycone là β-sitosterol (so

sánh với chất 2) và phần đường là D-glucose

với tín hiệu của proton -anome ở δH 4.43 (1H,

d, J=8.0 Hz) và δC ở 102.24 ppm; các proton khác của D-glucose nằm trong khoảng δH

2.04-2.40 ppm Phổ của chất (3) cũng tương đồng

với phổ chuẩn của β-sitosterol 3-O-β-D-glucopyranoside (daucosterol) Cấu trúc này cũng được khẳng định khi so sánh với daucosterol chuẩn trong cùng một điều kiện sắc

kí lớp mỏng

3,4-dihydro-5-hydroxy-7-methoxy-4-(4'-methoxyphenyl)coumarin (4) Chất (4) là tinh

thể màu trắng, kết tinh trong hỗn hợp

n-hexane/acetone Phổ 1H-NMR (500 MHz, acetone-d6) cho tín hiệu của 4 proton dạng AA’XX’đối xứng của vòng thơm hai lần

thế-para, ở δH 6.8 (2H, dd, J=9.0 và 2.5 Hz, H-3’& H-5’) và 7.07 (2H, dd, J=8.5 và 2.5 Hz, H-2’ & H-6’); 2 proton thơm khác ở vị trí thế metha với

nhau ở δH 6.32 (1H, d, J=2.5 Hz, H-6) và 6.24 (1H, d, J= 2.5 Hz, H-8) Ngoài ra còn có các tín

hiệu của một nhóm hydroxyl ở δH = 8.9 ppm (C5) và 2 nhóm methoxy ở δH 3.71 và 3.73 ppm (C4’ & C7), của nhóm metylen ở 2.93 (1H, dd,

Trang 3

J=16 & 2.0 Hz, H-3a ) và 3.10 ppm (1H, dd,

J=16 &7.0 Hz, H-3b) và của methin gắn với

vòng thơm ở 4.57 ppm (1H, t, J=7.0 Hz, H-4)

Phổ 13C-NMR (125 MHz, acetone-d6) cho tín

hiệu của 17C, δC 34.49 (C-4), 37.99 (C-3),

94.42 (C-8), 98.62 (C-6), 106.35 (C-4a), 114.78

(C-3',5'), 128.68 (C-2',6'), 135.12 (C-1'), 154.57

8a), 156.16 5), 159.54 4'), 161.33

(C-7), 167.96 (C-2)

Dựa vào sự phân tích phổ nêu trên, chất (4)

phù hợp với cấu tạo

3,4-dihydro-5-hydroxy-7-methoxy-4-(4'-methoxyphenyl)coumarin

O O

O

OH

O

2 3

4 5

6 7 8

1'

4' 3' 2' 5'

4a

8a 6'

Chất (4) lần đầu tiên được tìm thấy trong chi

Polygonum

Quercetin (5) thu được ở dạng tinh thể màu

vàng, nhiệt độ nóng chảy 314-3160C Phổ 1

H-NMR (500 MHz, acetone-d6) cho các tín hiệu

của 2 proton vòng thơm ở δH 6.26 (1H, d, J=2.0

Hz, H-6) và δH 6.52 (1H, d, J=2.0 Hz, H-8) ở vị

trí meta với nhau thuộc vòng A Các proton ở

vòng B, tín hiệu ở δH 7.82 (1H, d, J=2.0 Hz,

H-2’) và ở δH 7.69 (1H, dd, J=2.0, 8.5 Hz, H-6’)

là của 2 proton ở vị trí meta với nhau; proton

H-5’ nằm cạnh H-6’ nên tín hiệu của nó xuất hiện

ở δH 6.99 (1H, d, J=8.5 Hz, H-5’) Phổ 13

C-NMR cho tín hiệu của 15 carbon Phổ 1H-NMR

và 13C-NMR của chất (5) tương đồng với các

phổ tương ứng của quercetin Điều này được

khẳng định thêm khi so sánh chất (5) cùng với

quercetin chuẩn trong cùng một điều kiện sắc kí lớp mỏng

O

OH HO

OH OH

OH O

8

7 6

3

2 1'

2' 3' 4'

5' 8a

4a

Tài liệu tham khảo

1 Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, (2004), tr

111-112

2 Zhang RL , Sun XC, Li WX , WU LJ,

Huang J, Sun BH; Isolation and idebtification

of chemical constituents of Polygonum perfoliatum; Shenyang Pharm Univ, 2008,

105-107

3 Xingzhong Sun, and Albert Sneden; Department of Chemistry, Virginia Commonwealth University, Richmond,

Virginia, USA ; Neoflavonoids from Polygonum perfoliatum; Planta Medica, January 12, 1999

4 WANG Qiong, CHEN Li, TIAN Ying, LI Bin, SUN Qi-Hong, DONG Jun-Xing;

perfoliatum L; Bulletin of the Academy of

Military Medical Sciences l; 2009-03

5 WANG Ding-yong, LU Jiang-Hong;

Chemical constituents in roots of Polygonum perfoliatum L.; Subtropical Plant Science;

2004-02

Ngày đăng: 27/01/2015, 20:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w