Rau má ngọ hay còn gọi là rau sông chua dây, thồm lồm gai, giang bản quy. Tên khoa học Plygonum perfoliatum L, thuộc họ rau răm Polygonaceae, phân họ Polygonoidea, bộ Polygoneae, phân bộ Polygoninae , chi Polygonum và phân chi Echinocaulon. Dân gian sử dụng rau má ngọ trong chữa trị bệnh trĩ. Để hiểu rõ hơn về cây thuốc quý này, bài biết dưới đây cung cấp nhưng thông tin hữu ích về thành phần hóa học cũng như những hoạt tính sinh học của Rau má ngọ.
Trang 1TỔNG QUAN RAU MÁ NGỌ 1.1 Vài nét về họ Rau răm (Polygonaceae) [4]
Họ Rau răm hay còn gọi là họ Nghể, họ Kiều mạch có danh pháp khoa học là Polygonaceae, là nhóm thực vật hai lá mầm, chứa khoảng 50 chi và 1.120 loài cây thân thảo, cây bụi và cây thân gỗ với các cơ quan sinh sản đơn tính xuất hiện trên cùng một cây hay trên hai cây khác nhau Một số thành viên trong họ này được biết đến như kiều mạch, chút chit, đại hoàng, nghể, rau răm, hà thủ ô đỏ, hoa ti gôn, rau
má ngọ Họ này được đặt tên theo hình dạng hạt; chẳng hạn hạt của cây đại hoàng
có tiết diện ngang là một hình tam giác Trong hệ thống Cronquist, họ Polygonaceae được đặt trong bộ của chính nó, nhưng các hệ thống phân loại mới hơn lại coi họ này như là một phần của bộ Caryophyllales Họ này có mặt rộng khắp nơi trên thế giới trong các khu vực ôn đới, và trong khu vực nhiệt đới thì có ít số lượng loài hơn
(1) Hoa Ti-gôn -Antigonon leptopus (2)Kiều mạch- Fagopyrumesculentum Moench
(3) Nghể hoa đầu - Polygonum capitatum (4) Nghể Trung quốc - Polygonum chinense
Hình 1: Hoa của một số loài thuộc họ Rau răm
Trang 2Ở Việt Nam có gần 60 loài, hầu hết là cỏ mọc hoang dại, vài loài làm rau ăn (rau Răm), cây lương thực (Tam giác mạch), hoa kiểng (Ti-gôn), cây thuốc (Hà thủ
ô đỏ), chỉ có 1 loài cây đại mộc là cây Nho biển
Họ này được chia thành hai họ chính:
Phân họ Polygonoideae được đặc trưng bởi sự thiếu vằng của tổng bao và sự
có mặt của bè chìa (các bao (vỏ, màng bọc) phát triển từ các lá kèm ở các gốc lá đính kèm) Một số bẹ chìa có các tua có lông Phân họ này bao gồm khoảng 21 chi
và 800 loài
Phân họ Erigonoideae với khoảng 330 loài, chỉ thấy tại khu vực Tân Thế gới Trong danh sách dưới đây, ba cột đầu tiên là 43 chi mô tả bởi Brandbyge
trong “The Families and Genera of Vascular Plants” Cột thứ tư là một danh sách
không đầy đủ các chi đã được công nhận trong các công trình gần đây
Oxyria Oxytheca
Persicaria Podopterus Polygonella Polygonum Pteropyrum Pterostegia Reynoutria Rheum Rumex Ruprechtia Stenogonum Symmeria Systenotheca Triplaris
Acanthoscyphus Aconogonon Afrobrunnichia Bistorta
Homalocladium Johanneshowellia Knorringia
Parapteropyrum Pteroxygonum Rubrivena Sidotheca
Bảng 1: Danh sách các chi thuộc họ Rau răm (Polygonaceae)
Trang 31.2 Rau má ngọ (Plygonum perfoliatum L)
1.2.1 Đặc điểm thực vật [1][20] [21]
Rau má ngọ hay còn gọi là rau sông chua dây, thồm lồm gai, giang
bản quy Tên khoa học Plygonum
perfoliatum L, thuộc họ rau răm Polygonaceae, phân họ Polygonoidea,
bộ Polygoneae, phân bộ Polygoninae , chi Polygonum (Steward 1930), và phân
chi Echinocaulon
Hình 2: Cây rau má ngọ
Rau má ngọ là một loại cỏ thân bò hay leo mọc thành các bụi rậm, khi sống lâu năm có thể lên đến độ cao 6 m Rễ xơ và nông Thân thon dài, phân nhánh, và
có màu xanh, theo thời gian nó trở thành gỗ và có màu đỏ Gai quặp xuống, dài 1-2
mm và được tìm thấy trên thân cây, cuống lá, và gân lá cấp 1 và cấp 2 Chân gai nở rộng ra Lá cây mọc xen kẽ nhau, có hình kiêng (tam giác) với cuống lá dài, phiến lá mỏng, có lớp màng, có phấn, màu lục nhạt, dài và rộng 2,5cm đến 7,5cm Bẹ chìa hình lá bao quanh thân trông như thân chui qua lá, do đó có tên perfloliatum Cuống
lá nhìn chung có chiều dài giống như phiến lá
Hoa mọc thành cụm dài 2 cm với cụm có 10 đến 15 bông hoa nhỏ Qủa có hình cầu, có 3 rãnh dọc Hạt là quả bế đen bóng (quả bế là dạng "đơn lá noãn" tạo thành từ một lá noãn và không nứt nghĩa là không mở ra khi chín
Hình 3: Hoa của rau má ngọ
Các quả bế chứa một hạt và nó gần như lấp đầy vỏ quả, nhưng không bám chặt vào nó) có đường kính khoảng 3 mm và được bao bọc bởi bao hoa màu trắng
Trang 4hoặc màu hồng (chiều dài 3-4mm) Đến độ chín, bao hoa dày hơn và trở thành màu xanh và nhiều thịt
Rau má ngọ có thể nhầm lẫn với loài P arifolium L., P sagittatum L., P convolvulus L
Hình 4: Lá của P arifolium L (a), P sagittatum L (b), P convolvulus L.(c)
1.2.2 Phân bố, thu hái và chế biến [20]
Rau má ngọ là loài bản địa Châu Á và xuất hiện ở nhiều nơi như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Bhutan, Nepal, Siberia, Philippines, Malaysia, Thái Lan, và Việt Nam Nó cũng báo cáo tìm thấy ở Thổ Nhĩ Kỳ (Guener 1984) Tại Hoa Kỳ, rau má ngọ được tìm thấy ở Pennsylvania, Maryland, Delaware, West Virginia, Virginia, Oregon, New York, New Jersey, Ohio, và Washington, DC, và gần đây nhất Connecticut đã được thêm vào danh sách
Rau má ngọ mọc hoang dại thường thấy ở ven đường, cạnh khu rừng rậm, đường sắt, vườn ươm, ven rừng, đồng cỏ và ven bờ sông, suối, đầm lầy Loài thực vật này phát triển tốt nhất tại các địa điểm nhiều nắng như cạnh rừng và những nơi
ẩm thấp có thể thoát nước tốt Tuy nhiên, nó cũng có thể chụi được điều kiện ánh sáng yếu và cực kỳ khô hoặc đất ẩm ướt Ở Việt Nam nó được tìm thấy ở những khu vực ẩm thấp như Ba Vì, Hà Nội, vùng đồng bằng cũng như vùng núi
Rau má ngọ là một loài tự thụ phấn thỉnh thoảng thụ phấn chéo Qủa chín vào khoảng giữa tháng 9 đến tháng 11 ở hầu hết các khu vực ở phía đông Bắc Mỹ (Hill et al 1981; Lehtonen 1994), nhưng theo Okay (1997), quả loài này chín từ cuối tháng sáu đến đầu tháng mười một ở Virginia Hạt giống của loài vật này được phân tán phần lớn là nhờ sự di cư của các loài chim và động vật có vú (chipmunks,
Trang 5sóc, và nai) , cũng như các hoạt động của con người (Mountain năm 1989; Okey 1997,1999)
Người ta dùng toàn cây hay có khi chỉ dùng lá và rễ, dùng tươi hoặc phơi khô
1.2.3 Tác dụng dược lý
Theo Đông y, rau má ngọ có vị đắng, chua, tính bình Vào các kinh Can, thận Có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tiêu thũng, tức phong chỉ khái (trừ phong, chống ho) Thường dùng chữa ho gà, hoàng đản (vàng da), sốt rét, kiết lỵ, tiểu tiện buốt, tiểu tiện lẫn máu, trĩ, khí hư Ngoài công dụng làm thuốc chữa bệnh, rau má ngọ còn dùng để làm mềm ngà voi và xương (để uốn nắn và nhuộm màu); Trong nông nghiệp còn có thể dùng để diệt trừ sâu bọ.[1]
Theo Y học cổ truyền Trung Quốc, rau má ngọ đã được sử dụng rộng rãi để ngăn ngừa và chữa bệnh cho người trong hơn một thiên niên kỷ ở các nước phương Đông Bởi vì, rau má ngọ có độc tính thấp và hiệu quả chữa bệnh tốt Polygonum perfoliatum L thường được sử dụng như một thuốc giải độc, hạ sốt, thuốc lợi tiểu, giảm sưng tấy và thuốc chống ho, và cũng được sử dụng để điều trị viêm thận, ho gà
và eczema.[12]
Một số bài thuốc có sử dụng rau má ngọ:[2]
Chữa ho gà: Dùng rau má ngọ 30 g, sao với rượu, thêm chút đường phèn, sắc
lấy nước, chia ra 2 lần uống trong ngày có thêm ngư tinh thảo (rau diếp cá) 20 g, cùng sắc uống
Chữa xơ gan cổ trướng: Dùng rau má ngọ 20 g, nhân trần 15 g, kim tiền thảo
10 g, phượng vĩ thảo (cỏ seo gà) 10 g, mộc hương 10 g, đại phúc bì 10 g, hoàng liên
6 g, thổ phục linh 12 g; sắc lấy nước, chia 3 lần uống trong ngày
Chữa phù do viêm thận mạn: (1) Dùng rau má ngọ 20 g, đông qua tử (hạt bí
đao) 15 g, đông qua bì (vỏ bí đao) 20 g, xa tiền tử (hạt mã đề) 15 g, bạch mao căn (rễ cỏ tranh) 20 g, hải kim sa (bòn bong) 10 g; sắc lấy nước, chia ra 3 lần uống trong ngày
Trang 6Chữa trĩ, hậu môn lở loét: Dùng rau má ngọ 20 - 30 g, lòng lợn một lượng
thích hợp, hầm lên ăn trong bữa cơm
Chữa viêm da dị ứng: Dùng rau má ngọ 30 g, dã cúc hoa 30 g, phượng vĩ
thảo (cỏ seo gà) 20 g Sắc nước uống mỗi ngày một thang Sắc 3 nước; 2 nước đầu hợp lại chia ra 2 -3 lần uống trong ngày; nước thứ 3 dùng để rửa chỗ da bị bệnh
Chữa viêm nang lông: Dùng rau má ngọ 20 g, bồ công anh 15 g, sắc nước
uống trong ngày Thuốc bôi ngoài: Dùng rau má ngọ 2 phần, ô tặc cốt (mai mực) 1 phần, hai thứ tán thành bột mịn, trộn với dầu vừng, dùng bông chắm thuốc bôi lên chỗ bị bệnh 3 - 4 lần trong ngày
Chữa viêm da đầu do tăng tiết bã nhờn: Dùng rau má ngọ 100 g, lá thông
đuôi ngựa 30 g Tất cả rửa sạch thái nhỏ, sắc lấy nước để gội đầu hàng ngày hoặc cách ngày
1.2.4 Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học
1.2.4.1 Flavonoids
Flavonoids là sắc tố thực vật tan trong nước có chất chống oxy hóa và các
đặc tính kháng viêm Zhang cho biết chất flavonoid có thể bảo vệ chống lại ung thư phổi bằng cách ngăn chặn sự hình thành các mạch máu của các khối u phát triển và lây lan
Phân lập từ Polygonum perfoliatum L, người ta thu được các chất flavonoid sau:
Bảng 2: Một số Flavoide phân lập từ Polygonum perfoliatum L
cấu tạo
Tài liệu tham khảo
Trang 9Hình 5: Công thức hóa học các flavonoide có trong
Trang 10Kaempferol: Một số nghiên cứu dịch tễ học đã tìm thấy một mối liên hệ giữa
việc tiêu thụ các thực phẩm có chứa kaempferol và nguy cơ giảm phát triển một số bệnh như ung thư và các bệnh tim mạch Rất nhiều nghiên cứu tiền lâm sàng đã cho thấy kaempferol và một số glycosides của kaempferol có một loạt các tác dụng dược
lý, bao gồm cả các hoạt động chống oxy hóa, chống viêm, kháng khuẩn, chống ung thư, bảo vệ tim mạch, vệ thần kinh, đái tháo đường, antiosteoporotic, estrogen / antiestrogenic, giải lo âu, giảm đau, chống dị ứng.[8]
Quercetin: là một flavonoid chiết xuất từ thực vật được tìm thấy trong trái
cây, rau quả, lá và các loại ngũ cốc Quercetin hoạt động như một chất kháng histamine và một chất chống viêm, và có thể giúp bảo vệ chống lại bệnh tim và ung thư Quercetin có thể giúp ổn định các tế bào giải phóng ra histamine trong cơ thể
và do đó có tác dụng chống viêm Trong ống nghiệm, quercetin ngăn chặn các tế bào miễn dịch giải phóng histamin, hóa chất gây ra phản ứng dị ứng Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu nghĩ rằng quercetin có thể giúp giảm các triệu chứng dị ứng, bao gồm chảy nước mũi, chảy nước mắt, nổi mề đay, và sưng mặt và môi Tuy nhiên, không có bằng chứng rằng nó hoạt động ở người [link]
Quercetin-3-O- β -D-glucuronide, cô lập từ Polygonum perfoliatum L., đã
được đánh giá hiệu quả chống virus chống lại virus cúm A và hoạt động chống viêm trong cơ thể ở chuột, và nó đã được sử dụng để đánh giá chất lượng
của P perfoliatum L Nghiên cứu in vivo, uống quercetin-3-O- β -D-glucuronide
ức chế đáng kể phù nề tai gây ra bởi benzen dimethyl và tính thấm phúc mạc gây ra
bởi acid acetic ở chuột, và quercetin-3-O- β -D-glucuronide cũng cho thấy có hoạt tính ức chế chống lại vi rút cúm A (FLUAV) Hàm lượng của quercetin-3-O- β -D-
glucuronide trong 28 mẫu từ các vùng khác nhau của Trung Quốc là từ 0,06% đến
2,09% Phương pháp đơn giản và nhạy để phân tích định lượng quercetin3O β
-D-glucuronide đã được phát triển bằng cách sử dụng sắc ký lỏng cao hiệu suất (HPLC) cùng với phát hiện mảng photodiode.[7]
Rutin: Ở người, nó gắn với ion sắt Fe2+ ngăn không cho nó liên kết với hydrogen peroxide, nếu không sẽ tạo ra gốc tự do có hoạt tính cao có thể gây hại cho các tế bào Đây cũng là một chất chống oxy hóa Hơn nữa, nó đã được chứng
minh để ức chế in vitro các yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu trong nồng độ
subtoxic, do đó nó hoạt động như một chất ức chế sự hình thành mạch Phát hiện này cho thấy khả năng kiểm soát một số bệnh ung thư có liên quan Rutin ức chế tiểu cầu kết tập, cũng như làm giảm tính thấm của mao mạch, làm cho máu lưu
Trang 11thông dễ dàng Rutin cho thấy hoạt động chống viêm trong một số động vật và trong
ống nghiệm mô hình Rutin ức chế hoạt động của aldose reductase Aldose
reductase là một loại enzyme thường hiện diện trong mắt và các nơi khác trong cơ thể Nó giúp biến đổi glucose thành rượu đường sorbitol Các nghiên cứu gần đây cho thấy rutin có thể giúp ngăn ngừa cục máu đông , do đó, có thể được sử dụng để điều trị những bệnh nhân có nguy cơ cơn đau tim và đột quỵ Một số bằng chứng cũng cho thấy rutin có thể được sử dụng để điều trị bệnh trĩ , varicosis , và mao mạch
Isorhamnetin là không có nhiều nghiên cứu như quercetin Tuy nhiên, một
số ít nghiên cứu cho rằng isorhamnetin có lợi ích sức khỏe do nó có thể làm giảm nguy cơ ung thư, cải thiện sức khỏe tim mạch và giảm bớt các biến chứng bệnh tiểu đường Hiệu quả chống ung thư của isorhamnetin đã được chứng minh trong cơ thể
và thử nghiệm trong ống nghiệm Thử nghiệm trong ống nghiệm với các tế bào ung thư phổi, các tế bào ung thư gan và các tế bào ung thư thực quản cho thấy isorhamnetin gây ra quá trình apoptosis của các tế bào này Một thí nghiệm trong cơ thể sống với những con chuột được tiêm với isorhamnetin cho thấy trọng lượng khối
u giảm Giúp cải thiện chức năng nội mô thông qua tác động chống oxy hóa và làm giảm quá trình oxy hóa của HDL, kết quả là làm giảm nguy cơ xơ cứng động mạch Một số nghiên cứu đã tập trung vào khả năng của isorhamnetin để làm giảm bớt các biến chứng bệnh tiểu đường , chẳng hạn như đục thủy tinh thể bệnh tiểu đường, peroxy lipid và lượng đường trong máu cao
Hyperoside đã được chứng tỏ là có đặc tính cytoprotective (là quá trình mà
các hợp chất hóa học bảo vệ các tế bào chống lại các tác nhân có hại), chống lại oxidative-stress bằng cách loại bỏ các gốc hydroxyl được tạo ra bởi các phản ứng Fenton (FeSO4) + H2O2) trong tế bào và tăng cường hoạt động của enzym chống oxy hóa.[22]
Theo nhiều công trình nghiên cứu, ngoài chức năng chống lại quá trình oxy
hóa, catechin còn đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp cơ thể phòng ngừa
được các căn bệnh mãn tính như tiểu đường, loãng xương Chất catechin chứa thành phần giúp làm tăng sự tiêu hao năng lượng và đốt cháy mỡ Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng chất catechin có tác dụng chống lại hội chứng chuyển hóa bằng việc làm tăng độ nhạy của insulin và giảm béo bụng nhờ vào việc phân bố hợp lí các chất béo Theo một nghiên cứu của Nhật được tiến hành bởi Tomonori Nagao công
bố năm 2005 trên tờ Dinh Dưỡng của Mĩ thì việc tiêu thụ chất catechin từ trà xanh ở
Trang 12những người bị bệnh tiểu đường loại 2 đem đến nhiều kết quả khả quan: giảm kích
cỡ vòng bụng, làm tăng nồng độ dẫn xuất của chất adiponectine (loại hoocmon được sản sinh bởi mô mỡ), làm tăng độ nhạy của insulin và kiểm soát đường huyết Chất catechin đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn bệnh loãng xương Ứng suất oxy hóa và tình trạng viêm âm ỉ trong quá trình lão hóa là yếu tố quyết định gây nên những bất ổn của hệ xương Nhờ vào các thành phần chống viêm và chống oxy hóa
mà chất catechin có khả năng ức chế được quá trình lão hóa
Trang 13Acid cafferic là một chất chống oxi hóa mạnh Nhiều nghiên cứu đã được
tiến hành để phát triển các loại thuốc dựa trên acid caffeic và được sử dụng trong
Trang 14điều trị bệnh hen suyễn và dị ứng (Koshihara et al, 1984; Murota & Koshihara, 1985) Các hiệu lực kháng khuẩn của axit caffeic và các sản phẩm oxy hóa của nó
đã được nghiên cứu trên bốn loại vi khuẩn, Staphylococcus aureus, Streptococcus faecalis, Salmonella typhimurium và Escherichia coli Khả năng diệt khuẩn xuất hiện chỉ sau khi quá trình oxy hóa acid caffeic dưới điều kiện kiềm (Cuq & Jaussan, 1991) Acid Caffeic có hiệu quả ức chế lipoxygenase và do đó ức chế sự sinh tổng hợp leukotrienes, tham gia vào hòa miễn dịch và nhiều loại bệnh như hen suyễn, viêm và dị ứng Nó chặn sự kết tụ tiểu cầu bằng cách ức chế sản xuất thromboxane A2, có thể gây co thắt phế quản (Koshiharaet al, 1984.; Murota & Koshihara, 1985) Axit caffeic đã được sử dụng rộng rãi như là một thuốc ức chế trên nhiều cơ quan và các hệ tế bào
Axit galic có đặc tính kháng nấm và chống virus Axit galic hoạt động như
một chất chống oxy hóa và giúp bảo vệ các tế bào chống lại sự ảnh hưởng của oxy hóa Axit galic chống lại các tế bào ung thư, mà không làm hại các tế bào khỏe mạnh Axit galic được sử dụng một chất làm se từ xa trong trường hợp xuất huyết nội bộ Axit galic cũng được sử dụng để điều trị albumin và tiểu đường Một số thuốc mỡ để điều trị bệnh vẩy nến và bệnh trĩ bên ngoài có chứa axit galic Axit galic cũng được sử dụng để làm thuốc nhuộm và mực Axit galic không liên kết với protein và do đó không có hương vị làm se
Acid ellagic đã được nghiên cứu trong những năm 1960, chủ yếu là cho các
hiệu ứng của nó trên đông máu Một số nghiên cứu trên động vật đã tìm thấy rằng axit ellagic có thể ức chế sự tăng trưởng của khối u của da, thực quản và phổi, cũng như các khối u khác gây ra bởi các chất gây ung thư Một nghiên cứu gần đây trong nuôi cấy tế bào phát hiện ra rằng axit ellagic có thể tác động chống lại các chất giúp các khối u hình thành trên các mạch máu mới Các nhà nghiên cứu Italy nhận thấy rằng axit ellagic có thể làm giảm tác dụng phụ của hóa trị ở nam giới bị ung thư tiền liệt tuyến, mặc dù nó không làm chậm tiến triển của bệnh hoặc cải thiện sự sống còn
Acid protocatechuic là một hợp chất polyphenolic chiết xuất từ Hibiscus
sabdariffa L có khả năng loại bỏ các gốc tự do, bảo vệ chống lại sự thiệt hại của quá trình oxy hóa gây ra bởi tert-butylhydroperoxide trong tế bào gan chuột Acid protocatechuic được đánh giá có khả năng ức chế hoạt động enzyme xanthine oxidase và lipoxygenase trong ống nghiệm và có hoạt tính chống oxy hóa và chống viêm trong cơ thể. 23]