1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tổng quan RAU MÁ NGỌ Vị thuốc quý cho người bệnh trĩ

25 607 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rau má ngọ hay còn gọi là rau sông chua dây, thồm lồm gai, giang bản quy. Tên khoa học Plygonum perfoliatum L, thuộc họ rau răm Polygonaceae, phân họ Polygonoidea, bộ Polygoneae, phân bộ Polygoninae , chi Polygonum và phân chi Echinocaulon. Dân gian sử dụng rau má ngọ trong chữa trị bệnh trĩ. Để hiểu rõ hơn về cây thuốc quý này, bài biết dưới đây cung cấp nhưng thông tin hữu ích về thành phần hóa học cũng như những hoạt tính sinh học của Rau má ngọ.

Trang 1

TỔNG QUAN RAU MÁ NGỌ 1.1 Vài nét về họ Rau răm (Polygonaceae) [4]

Họ Rau răm hay còn gọi là họ Nghể, họ Kiều mạch có danh pháp khoa học là Polygonaceae, là nhóm thực vật hai lá mầm, chứa khoảng 50 chi và 1.120 loài cây thân thảo, cây bụi và cây thân gỗ với các cơ quan sinh sản đơn tính xuất hiện trên cùng một cây hay trên hai cây khác nhau Một số thành viên trong họ này được biết đến như kiều mạch, chút chit, đại hoàng, nghể, rau răm, hà thủ ô đỏ, hoa ti gôn, rau

má ngọ Họ này được đặt tên theo hình dạng hạt; chẳng hạn hạt của cây đại hoàng

có tiết diện ngang là một hình tam giác Trong hệ thống Cronquist, họ Polygonaceae được đặt trong bộ của chính nó, nhưng các hệ thống phân loại mới hơn lại coi họ này như là một phần của bộ Caryophyllales Họ này có mặt rộng khắp nơi trên thế giới trong các khu vực ôn đới, và trong khu vực nhiệt đới thì có ít số lượng loài hơn

(1) Hoa Ti-gôn -Antigonon leptopus (2)Kiều mạch- Fagopyrumesculentum Moench

(3) Nghể hoa đầu - Polygonum capitatum (4) Nghể Trung quốc - Polygonum chinense

Hình 1: Hoa của một số loài thuộc họ Rau răm

Trang 2

Ở Việt Nam có gần 60 loài, hầu hết là cỏ mọc hoang dại, vài loài làm rau ăn (rau Răm), cây lương thực (Tam giác mạch), hoa kiểng (Ti-gôn), cây thuốc (Hà thủ

ô đỏ), chỉ có 1 loài cây đại mộc là cây Nho biển

Họ này được chia thành hai họ chính:

Phân họ Polygonoideae được đặc trưng bởi sự thiếu vằng của tổng bao và sự

có mặt của bè chìa (các bao (vỏ, màng bọc) phát triển từ các lá kèm ở các gốc lá đính kèm) Một số bẹ chìa có các tua có lông Phân họ này bao gồm khoảng 21 chi

và 800 loài

Phân họ Erigonoideae với khoảng 330 loài, chỉ thấy tại khu vực Tân Thế gới Trong danh sách dưới đây, ba cột đầu tiên là 43 chi mô tả bởi Brandbyge

trong “The Families and Genera of Vascular Plants” Cột thứ tư là một danh sách

không đầy đủ các chi đã được công nhận trong các công trình gần đây

Oxyria Oxytheca

Persicaria Podopterus Polygonella Polygonum Pteropyrum Pterostegia Reynoutria Rheum Rumex Ruprechtia Stenogonum Symmeria Systenotheca Triplaris

Acanthoscyphus Aconogonon Afrobrunnichia Bistorta

Homalocladium Johanneshowellia Knorringia

Parapteropyrum Pteroxygonum Rubrivena Sidotheca

Bảng 1: Danh sách các chi thuộc họ Rau răm (Polygonaceae)

Trang 3

1.2 Rau má ngọ (Plygonum perfoliatum L)

1.2.1 Đặc điểm thực vật [1][20] [21]

Rau má ngọ hay còn gọi là rau sông chua dây, thồm lồm gai, giang

bản quy Tên khoa học Plygonum

perfoliatum L, thuộc họ rau răm Polygonaceae, phân họ Polygonoidea,

bộ Polygoneae, phân bộ Polygoninae , chi Polygonum (Steward 1930), và phân

chi Echinocaulon

Hình 2: Cây rau má ngọ

Rau má ngọ là một loại cỏ thân bò hay leo mọc thành các bụi rậm, khi sống lâu năm có thể lên đến độ cao 6 m Rễ xơ và nông Thân thon dài, phân nhánh, và

có màu xanh, theo thời gian nó trở thành gỗ và có màu đỏ Gai quặp xuống, dài 1-2

mm và được tìm thấy trên thân cây, cuống lá, và gân lá cấp 1 và cấp 2 Chân gai nở rộng ra Lá cây mọc xen kẽ nhau, có hình kiêng (tam giác) với cuống lá dài, phiến lá mỏng, có lớp màng, có phấn, màu lục nhạt, dài và rộng 2,5cm đến 7,5cm Bẹ chìa hình lá bao quanh thân trông như thân chui qua lá, do đó có tên perfloliatum Cuống

lá nhìn chung có chiều dài giống như phiến lá

Hoa mọc thành cụm dài 2 cm với cụm có 10 đến 15 bông hoa nhỏ Qủa có hình cầu, có 3 rãnh dọc Hạt là quả bế đen bóng (quả bế là dạng "đơn lá noãn" tạo thành từ một lá noãn và không nứt nghĩa là không mở ra khi chín

Hình 3: Hoa của rau má ngọ

Các quả bế chứa một hạt và nó gần như lấp đầy vỏ quả, nhưng không bám chặt vào nó) có đường kính khoảng 3 mm và được bao bọc bởi bao hoa màu trắng

Trang 4

hoặc màu hồng (chiều dài 3-4mm) Đến độ chín, bao hoa dày hơn và trở thành màu xanh và nhiều thịt

Rau má ngọ có thể nhầm lẫn với loài P arifolium L., P sagittatum L., P convolvulus L

Hình 4: Lá của P arifolium L (a), P sagittatum L (b), P convolvulus L.(c)

1.2.2 Phân bố, thu hái và chế biến [20]

Rau má ngọ là loài bản địa Châu Á và xuất hiện ở nhiều nơi như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Bhutan, Nepal, Siberia, Philippines, Malaysia, Thái Lan, và Việt Nam Nó cũng báo cáo tìm thấy ở Thổ Nhĩ Kỳ (Guener 1984) Tại Hoa Kỳ, rau má ngọ được tìm thấy ở Pennsylvania, Maryland, Delaware, West Virginia, Virginia, Oregon, New York, New Jersey, Ohio, và Washington, DC, và gần đây nhất Connecticut đã được thêm vào danh sách

Rau má ngọ mọc hoang dại thường thấy ở ven đường, cạnh khu rừng rậm, đường sắt, vườn ươm, ven rừng, đồng cỏ và ven bờ sông, suối, đầm lầy Loài thực vật này phát triển tốt nhất tại các địa điểm nhiều nắng như cạnh rừng và những nơi

ẩm thấp có thể thoát nước tốt Tuy nhiên, nó cũng có thể chụi được điều kiện ánh sáng yếu và cực kỳ khô hoặc đất ẩm ướt Ở Việt Nam nó được tìm thấy ở những khu vực ẩm thấp như Ba Vì, Hà Nội, vùng đồng bằng cũng như vùng núi

Rau má ngọ là một loài tự thụ phấn thỉnh thoảng thụ phấn chéo Qủa chín vào khoảng giữa tháng 9 đến tháng 11 ở hầu hết các khu vực ở phía đông Bắc Mỹ (Hill et al 1981; Lehtonen 1994), nhưng theo Okay (1997), quả loài này chín từ cuối tháng sáu đến đầu tháng mười một ở Virginia Hạt giống của loài vật này được phân tán phần lớn là nhờ sự di cư của các loài chim và động vật có vú (chipmunks,

Trang 5

sóc, và nai) , cũng như các hoạt động của con người (Mountain năm 1989; Okey 1997,1999)

Người ta dùng toàn cây hay có khi chỉ dùng lá và rễ, dùng tươi hoặc phơi khô

1.2.3 Tác dụng dược lý

Theo Đông y, rau má ngọ có vị đắng, chua, tính bình Vào các kinh Can, thận Có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tiêu thũng, tức phong chỉ khái (trừ phong, chống ho) Thường dùng chữa ho gà, hoàng đản (vàng da), sốt rét, kiết lỵ, tiểu tiện buốt, tiểu tiện lẫn máu, trĩ, khí hư Ngoài công dụng làm thuốc chữa bệnh, rau má ngọ còn dùng để làm mềm ngà voi và xương (để uốn nắn và nhuộm màu); Trong nông nghiệp còn có thể dùng để diệt trừ sâu bọ.[1]

Theo Y học cổ truyền Trung Quốc, rau má ngọ đã được sử dụng rộng rãi để ngăn ngừa và chữa bệnh cho người trong hơn một thiên niên kỷ ở các nước phương Đông Bởi vì, rau má ngọ có độc tính thấp và hiệu quả chữa bệnh tốt Polygonum perfoliatum L thường được sử dụng như một thuốc giải độc, hạ sốt, thuốc lợi tiểu, giảm sưng tấy và thuốc chống ho, và cũng được sử dụng để điều trị viêm thận, ho gà

và eczema.[12]

Một số bài thuốc có sử dụng rau má ngọ:[2]

Chữa ho gà: Dùng rau má ngọ 30 g, sao với rượu, thêm chút đường phèn, sắc

lấy nước, chia ra 2 lần uống trong ngày có thêm ngư tinh thảo (rau diếp cá) 20 g, cùng sắc uống

Chữa xơ gan cổ trướng: Dùng rau má ngọ 20 g, nhân trần 15 g, kim tiền thảo

10 g, phượng vĩ thảo (cỏ seo gà) 10 g, mộc hương 10 g, đại phúc bì 10 g, hoàng liên

6 g, thổ phục linh 12 g; sắc lấy nước, chia 3 lần uống trong ngày

Chữa phù do viêm thận mạn: (1) Dùng rau má ngọ 20 g, đông qua tử (hạt bí

đao) 15 g, đông qua bì (vỏ bí đao) 20 g, xa tiền tử (hạt mã đề) 15 g, bạch mao căn (rễ cỏ tranh) 20 g, hải kim sa (bòn bong) 10 g; sắc lấy nước, chia ra 3 lần uống trong ngày

Trang 6

Chữa trĩ, hậu môn lở loét: Dùng rau má ngọ 20 - 30 g, lòng lợn một lượng

thích hợp, hầm lên ăn trong bữa cơm

Chữa viêm da dị ứng: Dùng rau má ngọ 30 g, dã cúc hoa 30 g, phượng vĩ

thảo (cỏ seo gà) 20 g Sắc nước uống mỗi ngày một thang Sắc 3 nước; 2 nước đầu hợp lại chia ra 2 -3 lần uống trong ngày; nước thứ 3 dùng để rửa chỗ da bị bệnh

Chữa viêm nang lông: Dùng rau má ngọ 20 g, bồ công anh 15 g, sắc nước

uống trong ngày Thuốc bôi ngoài: Dùng rau má ngọ 2 phần, ô tặc cốt (mai mực) 1 phần, hai thứ tán thành bột mịn, trộn với dầu vừng, dùng bông chắm thuốc bôi lên chỗ bị bệnh 3 - 4 lần trong ngày

Chữa viêm da đầu do tăng tiết bã nhờn: Dùng rau má ngọ 100 g, lá thông

đuôi ngựa 30 g Tất cả rửa sạch thái nhỏ, sắc lấy nước để gội đầu hàng ngày hoặc cách ngày

1.2.4 Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học

1.2.4.1 Flavonoids

Flavonoids là sắc tố thực vật tan trong nước có chất chống oxy hóa và các

đặc tính kháng viêm Zhang cho biết chất flavonoid có thể bảo vệ chống lại ung thư phổi bằng cách ngăn chặn sự hình thành các mạch máu của các khối u phát triển và lây lan

Phân lập từ Polygonum perfoliatum L, người ta thu được các chất flavonoid sau:

Bảng 2: Một số Flavoide phân lập từ Polygonum perfoliatum L

cấu tạo

Tài liệu tham khảo

Trang 9

Hình 5: Công thức hóa học các flavonoide có trong

Trang 10

Kaempferol: Một số nghiên cứu dịch tễ học đã tìm thấy một mối liên hệ giữa

việc tiêu thụ các thực phẩm có chứa kaempferol và nguy cơ giảm phát triển một số bệnh như ung thư và các bệnh tim mạch Rất nhiều nghiên cứu tiền lâm sàng đã cho thấy kaempferol và một số glycosides của kaempferol có một loạt các tác dụng dược

lý, bao gồm cả các hoạt động chống oxy hóa, chống viêm, kháng khuẩn, chống ung thư, bảo vệ tim mạch, vệ thần kinh, đái tháo đường, antiosteoporotic, estrogen / antiestrogenic, giải lo âu, giảm đau, chống dị ứng.[8]

Quercetin: là một flavonoid chiết xuất từ thực vật được tìm thấy trong trái

cây, rau quả, lá và các loại ngũ cốc Quercetin hoạt động như một chất kháng histamine và một chất chống viêm, và có thể giúp bảo vệ chống lại bệnh tim và ung thư Quercetin có thể giúp ổn định các tế bào giải phóng ra histamine trong cơ thể

và do đó có tác dụng chống viêm Trong ống nghiệm, quercetin ngăn chặn các tế bào miễn dịch giải phóng histamin, hóa chất gây ra phản ứng dị ứng Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu nghĩ rằng quercetin có thể giúp giảm các triệu chứng dị ứng, bao gồm chảy nước mũi, chảy nước mắt, nổi mề đay, và sưng mặt và môi Tuy nhiên, không có bằng chứng rằng nó hoạt động ở người [link]

Quercetin-3-O- β -D-glucuronide, cô lập từ Polygonum perfoliatum L., đã

được đánh giá hiệu quả chống virus chống lại virus cúm A và hoạt động chống viêm trong cơ thể ở chuột, và nó đã được sử dụng để đánh giá chất lượng

của P perfoliatum L Nghiên cứu in vivo, uống quercetin-3-O- β -D-glucuronide

ức chế đáng kể phù nề tai gây ra bởi benzen dimethyl và tính thấm phúc mạc gây ra

bởi acid acetic ở chuột, và quercetin-3-O- β -D-glucuronide cũng cho thấy có hoạt tính ức chế chống lại vi rút cúm A (FLUAV) Hàm lượng của quercetin-3-O- β -D-

glucuronide trong 28 mẫu từ các vùng khác nhau của Trung Quốc là từ 0,06% đến

2,09% Phương pháp đơn giản và nhạy để phân tích định lượng quercetin3O β

-D-glucuronide đã được phát triển bằng cách sử dụng sắc ký lỏng cao hiệu suất (HPLC) cùng với phát hiện mảng photodiode.[7]

Rutin: Ở người, nó gắn với ion sắt Fe2+ ngăn không cho nó liên kết với hydrogen peroxide, nếu không sẽ tạo ra gốc tự do có hoạt tính cao có thể gây hại cho các tế bào Đây cũng là một chất chống oxy hóa Hơn nữa, nó đã được chứng

minh để ức chế in vitro các yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu trong nồng độ

subtoxic, do đó nó hoạt động như một chất ức chế sự hình thành mạch Phát hiện này cho thấy khả năng kiểm soát một số bệnh ung thư có liên quan Rutin ức chế tiểu cầu kết tập, cũng như làm giảm tính thấm của mao mạch, làm cho máu lưu

Trang 11

thông dễ dàng Rutin cho thấy hoạt động chống viêm trong một số động vật và trong

ống nghiệm mô hình Rutin ức chế hoạt động của aldose reductase Aldose

reductase là một loại enzyme thường hiện diện trong mắt và các nơi khác trong cơ thể Nó giúp biến đổi glucose thành rượu đường sorbitol Các nghiên cứu gần đây cho thấy rutin có thể giúp ngăn ngừa cục máu đông , do đó, có thể được sử dụng để điều trị những bệnh nhân có nguy cơ cơn đau tim và đột quỵ Một số bằng chứng cũng cho thấy rutin có thể được sử dụng để điều trị bệnh trĩ , varicosis , và mao mạch

Isorhamnetin là không có nhiều nghiên cứu như quercetin Tuy nhiên, một

số ít nghiên cứu cho rằng isorhamnetin có lợi ích sức khỏe do nó có thể làm giảm nguy cơ ung thư, cải thiện sức khỏe tim mạch và giảm bớt các biến chứng bệnh tiểu đường Hiệu quả chống ung thư của isorhamnetin đã được chứng minh trong cơ thể

và thử nghiệm trong ống nghiệm Thử nghiệm trong ống nghiệm với các tế bào ung thư phổi, các tế bào ung thư gan và các tế bào ung thư thực quản cho thấy isorhamnetin gây ra quá trình apoptosis của các tế bào này Một thí nghiệm trong cơ thể sống với những con chuột được tiêm với isorhamnetin cho thấy trọng lượng khối

u giảm Giúp cải thiện chức năng nội mô thông qua tác động chống oxy hóa và làm giảm quá trình oxy hóa của HDL, kết quả là làm giảm nguy cơ xơ cứng động mạch Một số nghiên cứu đã tập trung vào khả năng của isorhamnetin để làm giảm bớt các biến chứng bệnh tiểu đường , chẳng hạn như đục thủy tinh thể bệnh tiểu đường, peroxy lipid và lượng đường trong máu cao

Hyperoside đã được chứng tỏ là có đặc tính cytoprotective (là quá trình mà

các hợp chất hóa học bảo vệ các tế bào chống lại các tác nhân có hại), chống lại oxidative-stress bằng cách loại bỏ các gốc hydroxyl được tạo ra bởi các phản ứng Fenton (FeSO4) + H2O2) trong tế bào và tăng cường hoạt động của enzym chống oxy hóa.[22]

Theo nhiều công trình nghiên cứu, ngoài chức năng chống lại quá trình oxy

hóa, catechin còn đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp cơ thể phòng ngừa

được các căn bệnh mãn tính như tiểu đường, loãng xương Chất catechin chứa thành phần giúp làm tăng sự tiêu hao năng lượng và đốt cháy mỡ Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng chất catechin có tác dụng chống lại hội chứng chuyển hóa bằng việc làm tăng độ nhạy của insulin và giảm béo bụng nhờ vào việc phân bố hợp lí các chất béo Theo một nghiên cứu của Nhật được tiến hành bởi Tomonori Nagao công

bố năm 2005 trên tờ Dinh Dưỡng của Mĩ thì việc tiêu thụ chất catechin từ trà xanh ở

Trang 12

những người bị bệnh tiểu đường loại 2 đem đến nhiều kết quả khả quan: giảm kích

cỡ vòng bụng, làm tăng nồng độ dẫn xuất của chất adiponectine (loại hoocmon được sản sinh bởi mô mỡ), làm tăng độ nhạy của insulin và kiểm soát đường huyết Chất catechin đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn bệnh loãng xương Ứng suất oxy hóa và tình trạng viêm âm ỉ trong quá trình lão hóa là yếu tố quyết định gây nên những bất ổn của hệ xương Nhờ vào các thành phần chống viêm và chống oxy hóa

mà chất catechin có khả năng ức chế được quá trình lão hóa

Trang 13

Acid cafferic là một chất chống oxi hóa mạnh Nhiều nghiên cứu đã được

tiến hành để phát triển các loại thuốc dựa trên acid caffeic và được sử dụng trong

Trang 14

điều trị bệnh hen suyễn và dị ứng (Koshihara et al, 1984; Murota & Koshihara, 1985) Các hiệu lực kháng khuẩn của axit caffeic và các sản phẩm oxy hóa của nó

đã được nghiên cứu trên bốn loại vi khuẩn, Staphylococcus aureus, Streptococcus faecalis, Salmonella typhimurium và Escherichia coli Khả năng diệt khuẩn xuất hiện chỉ sau khi quá trình oxy hóa acid caffeic dưới điều kiện kiềm (Cuq & Jaussan, 1991) Acid Caffeic có hiệu quả ức chế lipoxygenase và do đó ức chế sự sinh tổng hợp leukotrienes, tham gia vào hòa miễn dịch và nhiều loại bệnh như hen suyễn, viêm và dị ứng Nó chặn sự kết tụ tiểu cầu bằng cách ức chế sản xuất thromboxane A2, có thể gây co thắt phế quản (Koshiharaet al, 1984.; Murota & Koshihara, 1985) Axit caffeic đã được sử dụng rộng rãi như là một thuốc ức chế trên nhiều cơ quan và các hệ tế bào

Axit galic có đặc tính kháng nấm và chống virus Axit galic hoạt động như

một chất chống oxy hóa và giúp bảo vệ các tế bào chống lại sự ảnh hưởng của oxy hóa Axit galic chống lại các tế bào ung thư, mà không làm hại các tế bào khỏe mạnh Axit galic được sử dụng một chất làm se từ xa trong trường hợp xuất huyết nội bộ Axit galic cũng được sử dụng để điều trị albumin và tiểu đường Một số thuốc mỡ để điều trị bệnh vẩy nến và bệnh trĩ bên ngoài có chứa axit galic Axit galic cũng được sử dụng để làm thuốc nhuộm và mực Axit galic không liên kết với protein và do đó không có hương vị làm se

Acid ellagic đã được nghiên cứu trong những năm 1960, chủ yếu là cho các

hiệu ứng của nó trên đông máu Một số nghiên cứu trên động vật đã tìm thấy rằng axit ellagic có thể ức chế sự tăng trưởng của khối u của da, thực quản và phổi, cũng như các khối u khác gây ra bởi các chất gây ung thư Một nghiên cứu gần đây trong nuôi cấy tế bào phát hiện ra rằng axit ellagic có thể tác động chống lại các chất giúp các khối u hình thành trên các mạch máu mới Các nhà nghiên cứu Italy nhận thấy rằng axit ellagic có thể làm giảm tác dụng phụ của hóa trị ở nam giới bị ung thư tiền liệt tuyến, mặc dù nó không làm chậm tiến triển của bệnh hoặc cải thiện sự sống còn

Acid protocatechuic là một hợp chất polyphenolic chiết xuất từ Hibiscus

sabdariffa L có khả năng loại bỏ các gốc tự do, bảo vệ chống lại sự thiệt hại của quá trình oxy hóa gây ra bởi tert-butylhydroperoxide trong tế bào gan chuột Acid protocatechuic được đánh giá có khả năng ức chế hoạt động enzyme xanthine oxidase và lipoxygenase trong ống nghiệm và có hoạt tính chống oxy hóa và chống viêm trong cơ thể. 23]

Ngày đăng: 27/01/2015, 20:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Hoa của một số loài thuộc họ Rau răm - Tổng quan RAU MÁ NGỌ  Vị thuốc quý cho người bệnh trĩ
Hình 1 Hoa của một số loài thuộc họ Rau răm (Trang 1)
Hình 2: Cây rau má ngọ - Tổng quan RAU MÁ NGỌ  Vị thuốc quý cho người bệnh trĩ
Hình 2 Cây rau má ngọ (Trang 3)
Hình 3: Hoa của rau má ngọ - Tổng quan RAU MÁ NGỌ  Vị thuốc quý cho người bệnh trĩ
Hình 3 Hoa của rau má ngọ (Trang 3)
Hình 4: Lá của P. arifolium L. (a), P. sagittatum L. (b), P.  convolvulus L.(c) - Tổng quan RAU MÁ NGỌ  Vị thuốc quý cho người bệnh trĩ
Hình 4 Lá của P. arifolium L. (a), P. sagittatum L. (b), P. convolvulus L.(c) (Trang 4)
Bảng 2: Một số Flavoide phân lập từ Polygonum perfoliatum L - Tổng quan RAU MÁ NGỌ  Vị thuốc quý cho người bệnh trĩ
Bảng 2 Một số Flavoide phân lập từ Polygonum perfoliatum L (Trang 6)
Hình 5: Công thức hóa học các flavonoide có trong - Tổng quan RAU MÁ NGỌ  Vị thuốc quý cho người bệnh trĩ
Hình 5 Công thức hóa học các flavonoide có trong (Trang 9)
Hình 6: Công thức hóa học các acide phenoic có trong Polygonum - Tổng quan RAU MÁ NGỌ  Vị thuốc quý cho người bệnh trĩ
Hình 6 Công thức hóa học các acide phenoic có trong Polygonum (Trang 13)
Hình 7: Công thức hóa học của Emodin và Physcion - Tổng quan RAU MÁ NGỌ  Vị thuốc quý cho người bệnh trĩ
Hình 7 Công thức hóa học của Emodin và Physcion (Trang 16)
Hình 8: Công thức hóa học của Phenylpropanoid - Tổng quan RAU MÁ NGỌ  Vị thuốc quý cho người bệnh trĩ
Hình 8 Công thức hóa học của Phenylpropanoid (Trang 17)
Bảng 5: Các saponin phân lập từ Polygonum perfoliatum L. - Tổng quan RAU MÁ NGỌ  Vị thuốc quý cho người bệnh trĩ
Bảng 5 Các saponin phân lập từ Polygonum perfoliatum L (Trang 18)
Hình 9: Công thức hóa học các Saponin có trong Polygonum perfoliatum L. - Tổng quan RAU MÁ NGỌ  Vị thuốc quý cho người bệnh trĩ
Hình 9 Công thức hóa học các Saponin có trong Polygonum perfoliatum L (Trang 19)
Hình 10: CTHH của Indican - Tổng quan RAU MÁ NGỌ  Vị thuốc quý cho người bệnh trĩ
Hình 10 CTHH của Indican (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w