Báo cáo tóm tắt kết quả tám đợt giám sát (do các tư vấn Việt Nam thực hiện vào tháng 5, 2008, tại văn phòng dự án Profed) có nhận xét là việc giới thiệu “hệ thống tín chỉ” mới đây tại Việt nam có thể có xung đột tiềm tàng về cách tổ chức các chương trình POHE theo kiểu môđun tuần tự. Thách thức của các trường đại học tham gia vào dự án là phải tổ chức các chương trình POHE trong khuôn khổ luật pháp hiện hành của Việt Nam. Trong đó, khái niệm hiện hành” thường được cho là không thay đổi, thì không phải là trường hợp của Việt Nam nơi các quy định thường xuyên được sửa đổi sau đó, ví dụ như sự thử nghiệm, trao đổi quan điểm và các nghiên cứu tiếp theo. Với sự căng thẳng được nhận thấy giữa hệ thống POHE và hệ thống tín chỉ, bài viết này cố gắng xác định các mục đích của các quy định về hệ thống tín chỉ hiện tại qua việc đánh giá hệ thống dựa trên các đặc điểm chung của các hệ thống tín chỉ. Sau đó, các biện pháp quản lý thực tiễn và của cấp địa phương (ở cấp trường) được dự kiến đưa ra so với những gì được hiểu là theo yêu cầu của các chương trình POHE.
Trang 1Đánh giá khái niệm POHE trong bối cảnh các quy định
tổ chức đào tạo ở các trường ĐH của Việt Nam
Thứ Sáu, 08-05-2009 administrator
Giới thiệu
Báo cáo tóm tắt kết quả tám đợt giám sát (do các tư vấn Việt Nam thực hiện vào tháng 5,
2008, tại văn phòng dự án Profed) có nhận xét là việc giới thiệu “hệ thống tín chỉ” mới đây tại Việt nam có thể có xung đột tiềm tàng về cách tổ chức các chương trình POHE theo kiểu mô-đun tuần tự
Thách thức của các trường đại học tham gia vào dự án là phải tổ chức các chương trình POHE trong khuôn khổ luật pháp hiện hành của Việt Nam Trong đó, khái niệm "hiện hành” thường được cho là không thay đổi, thì không phải là trường hợp của Việt Nam nơi các quy định thường xuyên được sửa đổi sau đó, ví dụ như sự thử nghiệm, trao đổi quan điểm và các nghiên cứu tiếp theo
Với sự căng thẳng được nhận thấy giữa hệ thống POHE và hệ thống tín chỉ, bài viết này cố gắng xác định các mục đích của các quy định về hệ thống tín chỉ hiện tại qua việc đánh giá
hệ thống dựa trên các đặc điểm chung của các hệ thống tín chỉ Sau đó, các biện pháp quản
lý thực tiễn và của cấp địa phương (ở cấp trường) được dự kiến đưa ra so với những gì được hiểu là theo yêu cầu của các chương trình POHE
Hệ thống tín chỉ của Việt Nam
Trong lịch sử, Việt Nam đã áp dụng hệ thống đào tạo theo niên chế, trong đó sinh viên nhập học theo lớp hay khoá học và tốt nghiệp cũng vậy (ví dụ: học khoá ) Hệ thống đào tạo theo niên chế có các đặc điểm quản lý hành chính đơn giản, đáp ứng được các thách thức đào tạo nhưng lại hạn chế tiến độ học tập theo năng lực thực tế của sinh viên Quyết định 25/2006 BGDĐT là Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy hiện hành cho phép sinh viên đa dạng kết quả học tập trong một mức độ nhất định thông qua hình thức “lựa chọn” Quyết định 25 được coi là quy định bắt buộc hiện hành, thay thế cho Quyết định số 04/1999 được ban hành trước đây
“Học chế tín chỉ” được Bộ Giáo dục & Đào tạo giới thiệu tại Việt Nam thông qua Quyết định
số 31/2001/QĐ-BGDĐT về việc thí điểm tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ, tiếp theo là Quyết định 43/2007/QĐ-BGDĐT Quyết định số 43 có thể được áp dụng nếu cần và/hoặc nếu có thể theo đánh giá của nhà trường Quyết định 43 có thể cũng được xem như bản cập nhật của Quyết định 25 hay đúng ra là “mức tham vọng” cần đạt được vào năm 2010 Nhiều hơn cách thức chuyển đổi sang hệ thống tín chỉ
Trang 2Từng trường đại học được hướng dẫn áp dụng quy định trong khuôn khổ luật pháp chung cho phép có sự linh hoạt và mức tự chủ cho nhà trường (theo xu hướng riêng thì có thể thấy mức tự chủ này đang tăng lên, xem ví dụ trong các quy chế đại học dự thảo) Từng trường phải có hướng dẫn thực hiện, bao gồm ít nhất các khía cạnh được nêu rõ trong quy định Với việc đánh giá năng lực riêng của nhà trường, các trường đại học khác nhau sẽ tiến hành theo tiến độ khác nhau Ví dụ, tại trường Đại học Thuỷ lợi, Hiệu trưởng quyết định áp dụng Quyết định 25 cho niên chế 48 (nhập học vào tháng 8/2006) và từ đó cho đến khi có Quyết định 43 Tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, nhà trường sẵn sàng triển khai theo Quyết định 43 vào năm 2010
Hệ thống tín chỉ được áp dụng ở Mỹ, châu Âu và nhiều nước khác với các chức năng cụ thể, rất đa dạng trong thiết kế và với tính sẵn có thay đổi từ nước này sang nước khác Mục đích của hệ thống tín chỉ có thể được mô tả như sau:
Mô tả khối lượng học tập của sinh viên nhằm đạt được các kết quả học tập
trong các giờ học, như một đơn vị đo lường và hợp nhất gồm nhiều hình thức giảng dạy và đánh giá khác nhau giúp mang lại và đánh giá được kết quả học tập của sinh viên
Cho phép các kết quả học tập được minh bạch và được tích luỹ theo môn
học trong một năm học và cho đến khi lấy bằng, thậm chí các sinh viên khác nhau có
thể tích luỹ điểm theo tiến độ khác nhau
Cho phép các sinh viên lựa chọn các khoá học hơn là tham gia vào các chương
trình học dự thính trước, tạo ra sự đa dạng lớn cho sinh viên tốt nghiệp
Việc thực hiện các học phần tương đương cho phép các trường đại học công nhận
chất lượng học thuật của nhau thông qua các thoả thuận liên thông, cho phép nâng
cao tính năng động của sinh viên và do vậy cũng đa dạng hoá sinh viên tốt nghiệp
Mô tả khối lượng công việc của giảng viên khi giảng dạy và đánh giá bằng các
đơn vị thống nhất giống nhau
Cho phép các nhà quản lý đánh giá các yêu cầu đào tạo và khả năng đáp ứng các
yêu cầu và tham gia vào việc phân bổ nguồn lực nhằm tạo điều kiện thuận lợi, mở
rộng, rút gọn hoặc trang bị cho các chương trình đào tạo và/hoặc cho các giảng viên và các đơn vị tổ chức
Khối lượng học tập của sinh viên
Hệ thống niên chế thường coi phần lý thuyết và thực hành có các giá trị riêng biệt và thường được phản ánh trong danh mục môn học như hai cột riêng biệt Các quy định 25 và 43 đưa
ra nhiều hình thức giảng dạy nhưng không có sự phân biệt rõ giữa phần lý thuyết và thực hành, mở ra nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau
Khối lượng học tập trong từng môn học hoặc mô-đun dự kiến thường từ 2 đến 4 tín chỉ
‘Trọng số’ tín chỉ của các mô-đun thường do từng trường quyết định Trên thực tế, việc này
Trang 3được quy định trong chương trình khung cần có sự phê duyệt của Bộ Các quy định không
đề cập đến khối lượng học tập cùng với việc đánh giá sinh viên
Khối lượng học tập của sinh viên được xác định trong các tín chỉ (điều 3, phần 3) thông qua
tỷ lệ quy đổi cho từng hình thức trong giới hạn các hình thức giảng dạy khác nhau Một tiết học được tính là 45 phút theo quyết định 25, và 50 phút theo quyết định 43 Quyết định 25 quy định một tín chỉ thì có 15 tiết học + 15 giờ bài tập trong khi quyết định 43 quy định một tín chỉ thì có 15 tiết học + 30 giờ bài tập Quyết định 43 có nêu là khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình trong hệ thống cũ thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ
Các hình thức giảng dạy và cách quy đổi được liệt kê trong phụ lục Việc quy đổi từ đơn vị học trình sang “đơn vị tín chỉ” đạt được thông qua tỷ lệ quy đổi tất cả các hình thức giảng dạy sang theo giờ Cả hai quyết định cho phép điều chỉnh khối lượng học tập cho một tín chỉ, có một số phần được quy đổi 50%
Quyết định 43 quy định 14 tín chỉ mỗi học kỳ đối với sinh viên được xếp hạng học lực ‘trung bình’ và 10 tín chỉ đối với những sinh viên bị xếp hạng học lực ‘yếu’ Kết quả quy đổi là có thể đạt được 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ với ít nhất là 350 giờ thảo luận hoặc nhiều là 1260 giờ thực tập Với phần lý thuyết - phần giảng dạy chính, các tín chỉ được tích luỹ nhanh hơn trong 595 giờ, dễ dự đoán hơn các phần giảng dạy khác và không có cơ hội giảm bớt giờ bài tập
Tỷ lệ khối lượng học tập trong phụ lục cho thấy tiến độ tương ứng (theo giờ) mà sinh viên có thể tích luỹ được một tín chỉ Tỷ lệ càng thấp hơn 1 thì khả năng tích luỹ của sinh viên càng thấp Những sinh viên muốn tích luỹ 14 tín chỉ trong khoảng thời gian ít nhất có xu hướng lựa chọn các mô-đun lý thuyết hơn là các phần khác Các tỷ lệ quy đổi hiện tại được xem có thể tạo ra xu hướng thiên về phần học lý thuyết
Không thể so sánh việc quy đổi tín chỉ cho từng hình thức giảng dạy khác nhau với các hệ thống khác được biết đến trên thế giới Việc khối lượng học tập có thể khác biệt khoảng 50% cho mỗi tín chỉ và các sinh viên có thể đăng ký số tín chỉ thấp hơn để kết thúc một học
kỳ là những nét mới và việc này cần phải được đánh giá để xem có tác động như thế nào đến quá trình học tập của sinh viên
Tích luỹ
Quyết định 25 đưa ra tuyên bố về các điều kiện xét tốt nghiệp (điều 17), tiền thân cho hệ thống tín chỉ, đó là sinh viên đó chỉ có thể tốt nghiệp khi tích luỹ đủ số các môn và được đánh giá ‘đạt’ Quyết định 43 đề cập đến tích luỹ theo điểm chữ A, B, C, D Trong điều 10, khối lượng học tập của sinh viên được thảo luận theo học lực: học lực trung bình hoặc yếu, làm căn cứ tính sự khác biệt về thời gian học tập, quy định trong điều 14 Xuyên suốt từ điều
Trang 46 -15, việc lựa chọn các môn học của sinh viên (xem bên dưới) được giả định có sự tích luỹ thì sẽ được quản lý bởi phòng đào tạo nhà trường (điều 9 và 10)
Sự lựa chọn các môn học của sinh viên
Mục đích của quyết định 25 là mang lại sự chuyển đổi cho quá trình đào tạo trên lớp đã bị lỗi thời, trong đó sinh viên nhập học cùng đợt sẽ cùng học cho đến khi tốt nghiệp Mức độ tín chỉ ‘hoá’ nhất định có thể được nhận thấy trong việc cho phép một số sinh viên tạm ngưng việc học trong đào tạo theo niên chế (điều 8) và số lượng chuyển đối tín chỉ rất hạn chế (điều 9) Quy định cho phép các chương trình đào tạo được đa dạng đôi chút thông qua việc đưa ra các môn học bắt buộc và không bắt buộc hoặc ‘môn học lựa chọn’ (điều 3, phần 2), trong đó nhà trường có thể cung cấp cho sinh viên các chuyên ngành trong các chương trình đào tạo đã được xác định
Quyết định 43 mở rộng việc tự lựa chọn tín chỉ cho sinh viên một cách có tổ chức Các sinh viên phải tự chọn môn học được cung cấp theo năm học, theo học kỳ và theo đăng ký (Điều 10) Sự giới hạn, khối lượng học tập tối đa và tối thiểu cũng như các thủ tục đều được quy định Nhà trường phải cung cấp tư vấn bằng cách phân công các cố vấn học tập cho sinh viên
Vì các trường đại học của Việt Nam hầu như là các trường đơn ngành nên sự đa dạng trong các môn học vốn đã hạn chế, khiến giảm sự đa dạng của sinh viên tốt nghiệp trong quá trình học và trong chuyên ngành
Sự công nhận
Bản chất của quy định này là nhằm cân bằng các thành tích học thuật, khối lượng học tập của sinh viên, vv giữa các trường đại học, khiến việc các trường hoạt động theo hướng công nhận lẫn nhau trở nên kém quan trọng hơn Bất kỳ thoả thuận về sự chuyển trường nào của sinh viên đều bị giới hạn trong một số lựa chọn do yêu cầu phải tương thích với ngành đào tạo cũng như vùng tuyển sinh của từng trường (điều 9, quyết định 25 hoặc điều
18, quyết định 43) Điều này cũng giới hạn việc chuyển trường của sinh viên năm thứ nhất
và năm cuối Việc này khiến sự chuyển đổi chỉ là một chiều, chứ không phải là sự lựa chọn của sinh viên đối với các môn-đun ở các trường đại học khác qua sự bố trí chuyển đổi tạm thời
Các trường đưa ra các quyết định về khối lượng học tập thực tế bằng cách cân đối giữa khó khăn của các bài tập ở nhà và chất lượng mà sinh viên đạt được Chỉ một phần khối lượng học tập được quy định trong chương trình đào tạo Ngược với điểm thi đầu vào khác nhau của các trường đại học và các chương trình đào tạo khác nhau, việc quy đổi tín chỉ giả định rằng các chương trình đào tạo là tương đương về trọng số Một điều được nhận thấy là một sinh viên thông minh có thể làm bài tập trong khoảng thời gian là 30 giờ, sinh viên kém thông minh hơn thì cần nhiều thời gian hơn Mức độ tham vọng của nhà trường được thể
Trang 5hiện ở các khía cạnh như tài liệu học tập, các phương pháp giảng dạy và chương trình đào tạo để cùng xác định ra khối lượng học tập thực tế Sự khác biệt còn lại về khối lượng học tập thực tế dẫn đến nhu cầu cần phải phân tích so sánh trước khi sinh viên chuyển trường,
và duy trì nhu cầu về thoả thuận trao đổi song phương
Khối lượng công việc của giảng viên
Không có đề cập nào đến các hệ quả của phương thức tổ chức của nhà trường hoặc về khối lượng công việc của giảng viên
Sự phân bổ nguồn lực
Không có đề cập nào đến các hệ quả của phương thức tổ chức về các lựa chọn của nhà trường trong phân bổ nguồn lực
Đánh giá mang tính chất kết luận
Quyết định 25 nỗ lực quy định khối lượng học tập của sinh viên, sự tích luỹ cũng như sự công nhận Đây là các nguyên tắc cơ bản trong việc tổ chức bất kỳ hình thức đào tạo nào Với các tỷ lệ chuyển đổi ở các phần giảng dạy khác nhau sang đơn vị tín chỉ, các trường được hướng dẫn theo hướng thiên về giảng dạy lý thuyết Chất lượng học thuật của các chương trình không được quy định nhưng đều có các chính sách riêng biệt Chắc chắn sẽ không có nhiều sinh viên có kiến thức đa dạng từ trường đại học nhưng vẫn duy trì được tính đa dạng trong các sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học khác nhau
Việc chuyển đổi sang hệ thống tín chỉ được thực hiện theo quyết định 43 đặc biệt về vấn đề sinh viên tự do lựa chọn các môn học Giả định là có hệ thống hành chính thì sự đa dạng trong kết quả học tập của sinh viên tốt nghiệp sẽ tăng lên Tuy nhiên, các hạn chế trong các
cơ sở đơn ngành và các cản trở khác tạo nên ấn tượng là sự đa dạng sẽ không tăng lên như vậy
Cả hai quyết định đều không quy định về khối lượng công việc của giảng viên và sự phân bổ nguồn lực tại địa phương hay quốc gia Cả hai vấn đề trên cũng đã được đề cập đến trong báo cáo tóm tắt kết quả giám sát như là các hạn chế cũng như trong hầu hết các thảo luận với lãnh đạo nhà trường về vấn đề ‘hệ thống tín chỉ’
Thông qua các quy định hiện hành ta có thể thấy rõ có sự tạm ngưng các chương trình đào tạo theo hình thức niên chế và có thể được coi như là một tác nhân cho sự xuất hiện của hệ thống tín chỉ Định hướng và tiến độ của sự thay đổi pháp quy rõ ràng đều hướng đến hệ thống này Tuy nhiên hiện vẫn chưa có ứng dụng nào được thực hiện tại cấp địa phương/trường Cũng do thực tế là bản thân các quy định hiện hành không đủ để quy định toàn bộ các chức năng trong hệ thống tín chỉ, vẫn còn quá sớm để nói rằng Việt Nam đang
có một hệ thống tín chỉ hiệu quả
Trang 6Tuy các xu hướng trên trong hệ thống trung hoà giữa niên chế và tín chỉ chỉ mang tính tạm thời nhưng đã nảy sinh nhu cầu thay đổi trong đào tạo Tiếp theo tôi sẽ cố gắng đánh giá các cơ hội của hệ thống này
Giới thiệu về các yêu cầu của POHE
Với mong muốn thay đổi hệ thống GDĐH, Việt Nam đã lấy cảm hứng từ nước ngoài Đó là các nước như Mỹ hoặc châu Âu, Mỹ và ‘khu vực Bologna’ của châu Âu (EHEA) có các khác biệt quan trọng trong việc đưa ra các triết lý Các khác biệt này đều ít nhiều có tác động khi các cấu phần trong các hệ thống được đưa vào Việt Nam.`
Hệ thống GDĐH châu Âu, bao gồm cả Hà Lan, hiện nay hầu như được tổ chức dưới dạng nhị nguyên hay hai tầng, đào tạo đại học và sau đại học Quá trình Bologna đã tạo áp lực cho sự thay đổi, một sự thay đổi có định hướng ở cấp trường Kết quả nổi bật của cách tiếp cận hợp nhất này là sự thiết lập một Hệ thống Chuyển đổi Tín chỉ châu Âu chung (ECTS) Châu Âu mới đây đã thừa nhận khung năng lực thống nhất, điều này tạo thuận lợi cho sự hội tụ giữa các hệ thống của các nước Hầu hết các trường đại học đều được Chính phủ tài trợ Các mối quan hệ với doanh nghiệp hoặc hiệp hội nghề nghiệp được thông qua các buổi toạ đàm tại cấp chính phủ, cấp trường hoặc hiệp hội nghề nghiệp, thường không tạo ra các đóng góp tài chính có ý nghĩa Vì toàn bộ các chương trình được hình thành trong các toạ đàm có cấu trúc, các sinh viên dường như chỉ có sự lựa chọn giới hạn
Các trường đại học Mỹ và Canada là các tổ chức độc lập và tự chủ, cung cấp một loạt các cấp đào tạo, trong đó nổi tiếng nhất là các đào tạo đại học và sau đại học Các chính sách GDĐH quốc gia và siêu quốc gia không tồn tại ở cả hai nước này, các chính sách của bang/tỉnh thì liên tục thay đổi Nhận dạng trường được chú trọng, các khác biệt là thực tế cuộc sống Chính sách thống nhất được thừa nhận như là sự thâm nhập vào tính tự chủ của nhà trường; sự thay đổi được cho là do sự tác động của các nhân tố mang tính thể chế trên quy mô rộng Do vậy, việc xác định các tín chỉ tại từng trường và các thoả thuận công nhận tín chỉ được các bên nhất trí là rất quan trọng Các trường đều được quốc gia và chính quyền địa phương tài trợ một phần nhỏ nhưng hầu hết tạo thu nhập thông qua việc tổ chức các hoạt động theo hợp đồng, bao gồm việc giảng dạy và nghiên cứu, thậm chí thương mại hoá các kết quả thành các sáng chế Sự liên hệ với doanh nghiệp thường đi cùng với các luồng tài chính, và có thể biến đổi nhiều từ mô-đun này sang mô-đun khác Sinh viên có nhiều sự lựa chọn để xây dựng một quá trình học tập hoàn thiện
Khi đánh giá hệ thống tín chỉ hiện tại ở Việt Nam thì có thể thấy là cảm hứng này mặc dù chưa hoàn toàn được thực hiện được bắt nguồn từ Mỹ Dự án Profed hầu như được khởi nguồn từ các kinh nghiệm của Hà Lan/châu Âu Việt Nam có hệ thống quản lý lịch sử của riêng mình và hiện nay hệ thống này đang được cải cách và dự án Profed đã cung cấp một loạt các lựa chọn thú vị
Trang 7Được thúc đẩy bởi nhu cầu thực tiễn về lớp thanh niên trẻ có tri thức từ thị trường lao động,
dự án Profed đã hỗ trợ các trường đại học xây dựng chương trình đào tạo hướng đến thị trường hơn trong đó sinh viên tốt nghiệp sẽ là các nhân viên thành thục trong công việc ngay sau khi được tuyển chọn Sau khi có được sự phê duyệt thực hiện thí điểm, chương trình đào tạo mới đã hoàn thành xong năm học đầu tiên
Các trường đại học tham gia vào dự án đã biến cảm hứng thành các chương trình đào tạo, trong đó chia sẻ
Nội dung trong phạm vi nghề nghiệp, các lĩnh vực tri thức được lựa chọn đại diện về
nhu cầu của địa phương cho các sinh viên tốt nghiệp và mang định hướng thực hành hơn lý thuyết
Chương trình đào tạo hỗ trợ cho sự phát triển các kỹ năng giao tiếp và xã hội thông
qua sự đa dạng về các phương pháp giảng dạy trên lớp phi lý thuyết
Hợp nhất các môn học nhỏ hơn thành các mô-đun phức tạp hơn, từng mô-đun có
các kết quả học tập cụ thể, được sắp xếp tuần tự theo năng lực nghề nghiệp
Nỗ lực cho sinh viên làm quen từ rất sớm với nghề nghiệp và nhu cầu từ thị trường
lao động trong các tình huống thực tiễn
Sự gắn kết có cấu trúc với thị trường lao động, bắt nguồn từ các yêu cầu đào tạo
được chính thức hoá như là thông tin đầu vào cho quá trình lập kế hoạch cho chương trình đào tạo thông qua sự tham vấn thường xuyên với các đại diện doanh nghiệp và ngành nghề
POHE và hệ thống trung hoà giữa niên chế - tín chỉ của Việt Nam Phạm vi kiến thức
Các trường đại học của Việt Nam được biết đến như các trường có ít hiểu biết về nhu cầu
xã hội và thị trường lao động theo thừa nhận của Bộ Giáo dục & Đào tạo và qua các nghiên cứu của dự án Profed Dự án Profed đã tài trợ cho các đợt khảo sát và công tác thực địa để thảo luận về cách thức và biện pháp gắn kết với thị trường lao động Vượt qua được khoảng cách trong hiểu biết khá nhanh chóng, các trường đại học đã thắt chặt các mối quan hệ với
xã hội và doanh nghiệp, xây dựng các cam kết chung Thông qua các cam kết này mà các chương trình đào tạo mới được xây dựng phản ánh không chỉ nội dung kỹ thuật cập nhật
mà còn xác định được các lĩnh vực kiến thức phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động địa phương cũng như xác định các vai trò thực tiễn cho sinh viên tốt nghiệp khi được tuyển chọn
Thiết kế chương trình đào tạo đã làm thay đổi các năng lực, bao gồm các khối kiến thức được yêu cầu đối với từng ‘phạm vi’ nghề nghiệp và tổ chức đào tạo cung cấp theo mô-đun hoặc khối kiến thức như các package tích hợp Với phương pháp đào tạo theo niên chế trên quy mô rộng, các trường đại học mong đợi thực hiện được trách nhiệm của họ theo cam kết
Trang 8với thị trường lao động thông qua việc đào tạo sinh viên theo các kết quả năng lực được xác định
Với xu hướng tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ đang diễn ra như hiện nay và với việc sinh viên chịu trách nhiệm về việc lựa chọn tích luỹ môn học, các nhóm dự án tại nhà trường cảm thấy không bị kiểm soát về định hướng học tập Nhưng các trường lại cảm thấy không chắc chắn trong việc đạt được các thành tích từ sự đầu tư của họ và khả năng cung cấp các sinh viên tốt nghiệp theo các cam kết với doanh nghiệp
Các cân nhắc
Quyết định 43 định nghĩa chức năng của người tư vấn sinh viên là cung cấp tư vấn theo hướng đi lôgíc Truyền đạt cho sinh viên về tầm quan trọng của các lựa chọn định hướng nghề nghiệp khiến các em giảm bớt sự sợ sệt
Việc đề ra các yêu cầu kiến thức ưu tiên một cách rõ ràng trong các mô-đun sẽ hình thành nên kế hoạch học tập chặt chẽ
Đưa ra một loạt giới hạn lựa chọn các khoá học cho sinh viên Việt Nam, giúp các em tránh khỏi việc tích luỹ các môn học/mô-đun một cách không chặt chẽ
Các kỹ năng
Việc xây dựng giáo trình giảng dạy và các phương pháp học tập là một trong các thành tựu lớn của quy định, ở cả hai hình thức Nếu như hệ thống niên chế chỉ dành ít thời lượng cho việc giảng dạy thông qua thực hành thì hiện nay việc lựa chọn các phương pháp đã đa dạng hơn Một câu hỏi được đặt ra là liệu các phương pháp được liệt kê có phải là giới hạn đa dạng cao nhất chưa vì ở nước ngoài các phương pháp dạy và học có phạm vi rộng hơn nhiều Thậm chí danh mục này đã cho phép giảng viên xây dựng được các kế hoạch bài giảng không chỉ gồm kiến thức lý thuyết Quy định cho phép có nhiều hình thức kiểm tra sinh viên giữa kỳ và cuối kỳ
Sự quy đổi các nỗ lực của sinh viên theo tín chỉ có xu hướng theo các cách giảng dạy truyền thống trên lớp Điều này có thể làm cản trở sự thu hút của các hệ thống tín chỉ đối với tất cả sinh viên và đặc biệt làm giảm sự quan tâm đối với việc giảng dạy theo hướng thực hành Đào tạo phát triển các kỹ năng thông qua các phương pháp đã được đề cập đòi hỏi các nguồn lực dưới dạng như sự sẵn có về giảng viên và giảng viên có kinh nghiệm cũng như
về trang thiết bị như phòng thí nghiệm, phòng học đa năng vv Vấn đề này vẫn chưa được
đề cập đến trong quy định và nếu không có các quy định song song đề cập đến sự phân bổ nguồn lực thì việc đào tạo kỹ năng dường như không mới hoặc thành công
Các kỹ năng chung hỗ trợ việc tương tác với xã hội rộng lớn hơn, hình thành hành vi đạo đức, các kỹ năng văn hoá, khiếu thẩm mỹ hoặc khả năng lãnh đạo không được đưa vào trong chương trình đào tạo Thay vào đó, các mục tiêu học tập này sẽ đạt được thông qua
Trang 9các khía cạnh được tổ chức trong đời sống sinh viên (trong khuôn viên nhà trường) Các trường được Bộ giao trọng trách bằng việc ban hành các quy định riêng về đời sống sinh viên
Các cân nhắc
Từng trường được hướng dẫn phát hành các quy định của riêng mình, bao gồm bảng quy đổi được xây dựng theo hướng là việc giảng dạy lý thuyết truyền thống sẽ bị loại bỏ Một biện pháp cần thiết là loại bỏ khuynh hướng thiên về định lượng tất cả khối lượng công việc theo giờ mà không tính đến hình thức giảng dạy Quy đổi theo tín chỉ
về khối lượng học tập của sinh viên đối với đánh giá sẽ làm rõ được tổng khối lượng học tập của sinh viên
Mở rộng và cơ cấu việc đào tạo các kỹ năng xuyên suốt các hình thức giảng dạy và tìm các cơ hội mở rộng, sử dụng sáng tạo và linh hoạt trong suốt quá trình học tập
Phân tích đào tạo lý thuyết và chuyển đổi nếu có thể sang tự học có hướng dẫn Đảm bảo rằng các hoạt động tự học được xây dựng ví dụ qua hàng loạt các bài tập, sách bài tập, vv
Tăng các hoạt động học tập chéo và giao tiếp với giảng viên bằng nhiều cách khác nhau, bao gồm cả việc sử dụng công nghệ thông tin
Tái tập trung vào học lý thuyết và đánh giá theo hướng chú trọng đến các ứng dụng thực tiễn trong tình huống thực
Đánh giá các yêu cầu về nguồn lực và nơi/khi có thể cùng làm việc với các nhà hoạch định chính sách để giải quyết các hạn chế của hệ thống tín chỉ
Sự tích hợp
Tích hợp các khía cạnh nội dung khác nhau vào các mô-đun được thiết lập sẵn nhằm cung cấp cho sinh viên các kỹ năng thực hành tốt hơn mà có thể tiếp tục được hỗ trợ thông qua các hình thức học tập khác Sự lồng ghép học tập với đánh giá cung cấp cho sinh viên nhiều năng lực suy ngẫm Việc này đưa đến các mô-đun rộng hơn
Các quy định nêu rõ khối lượng học tập ưu tiên thành một mô-đun gồm 2-4 tín chỉ Thời gian tối đa chiếm gần ¼ khối lượng học tập của một học kỳ, điều này có thể vừa đủ và thực tế
Sự lôgíc của việc tổ chức các mô-đun thậm chí lớn hơn dường như thực tiễn hơn đối với đào tạo niên chế, nhưng là một thách thức to lớn đối với hệ thống tín chỉ cho phép sự đa dạng trong kết quả học tập của sinh viên
Các cân nhắc
Xem xét các cân nhắc trên trong phạm vi kiến thức và các vấn đề kỹ năng cũng sẽ giải quyết được các vấn đề tích hợp
Trang 10 Cung cấp nội dung đồng thời nhưng trong các mô-đun riêng biệt, đề ra các yêu cầu đầu vào cho từng mô-đun cũng như các yêu cầu về điều phối, lên kế hoạch và phân công giảng dạy
Bổ sung quyền và trách nhiệm hợp nhất/dính kết/điều phối vào nhiệm vụ của giáo vụ
Cung cấp cho các nhà quản lý kết quả học tập bằng cách cử người (hoặc một nhóm các giảng viên) phụ trách toàn bộ quá trình học tập của sinh viên
Hài lòng về các mô-đun/môn học có quy mô nhỏ vì chúng dễ dàng để quản lý hơn như dễ dàng cho việc dạy và học các kỹ năng được yêu cầu trong suốt/sau dự án cũng như dễ thay đổi, cập nhật hơn và/hoặc dễ thay đổi giáo trình/tài liệu học tập hơn
Các tình huống thực tiễn
Các tình huống thực tiễn được diễn ra ở các phần thực hành, trong đó các quy định cho phép sử dụng một loạt các phương pháp giảng dạy nhưng được giới hạn trong một chừng mực nào đó Có thể có các bài tập trình huống, bài tập nhóm và đồ án, thậm chí cả thực tập
Cơ cấu các hoạt động học tập của sinh viên thông qua các phương pháp này là rất tốt và hiện là thách thức cho giảng viên Vấn đề nổi cộm trong các tình huống thực tiễn là khả năng tiếp cận của sinh viên và giảng viên đến các nguồn lực mà không được đề cập đến trong các quy định
Các cân nhắc
Xem xét các cân nhắc trên cũng sẽ giải quyết được một số các tình huống thực tiễn
Chú trọng đặc biệt đến việc đề ra các quy định riêng của nhà trường về việc quy đổi tín chỉ-khối lượng học tập cần phải bao gồm phần học hỏi thực tế
Đánh giá các yêu cầu về nguồn lực và, khi có thể, cùng làm việc với các nhà hoạch định chính sách để giải quyết các cản trở trong hệ thống tín chỉ như đã được nêu
Thị trường lao động
Các quy định không đề cập đến mối quan hệ với thị trường lao động, không giới hạn cũng như không khuyến khích Cần phải nghiên cứu các chính sách song song chi phối mối quan
hệ này để tạo ra các cơ hội Đối tượng nghiên cứu phải là các chính sách quy định về
quá trình thực hiện và/hoặc phê duyệt chương trình đào tạo
chất lượng giáo dục đại học
quy chế thành lập trường đại học như là các đơn vị tổ chức
Đánh giá tổng quan về POHE và hệ thống tín chỉ hiện tại
Giá trị cao nhất của quy định là được đưa ra trong sự đồng nhất về cấu trúc đào tạo ở cấp quốc gia, cho phép các trường đại học thực sự trao đổi các kinh nghiệm, chương trình, mô-đun và/hoặc sinh viên một cách công bằng