1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và kích cỡ thả nuôi đến sinhtrưởng, tỷ lệ sống của nghêu (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn nuôi thương phẩm tại vùng bãi triều, kiến thụy, hải phòng

73 544 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANGNGÔ XUÂN BA NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ KÍCH CỠ THẢ NUÔI ĐẾN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA NGHÊU Meretrix lyrata SOWERBY, 1851 GIAI ĐOẠN NUÔI THƯƠNG PHẨM TẠI

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGÔ XUÂN BA

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ KÍCH CỠ THẢ NUÔI

ĐẾN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA NGHÊU (Meretrix lyrata

SOWERBY, 1851) GIAI ĐOẠN NUÔI THƯƠNG PHẨM TẠI VÙNG BÃI

TRIỀU, KIẾN THUỴ, HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Khánh Hoà - 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGÔ XUÂN BA

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ KÍCH CỠ THẢ NUÔI

ĐẾN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA NGHÊU (Meretrix lyrata

SOWERBY, 1851) GIAI ĐOẠN NUÔI THƯƠNG PHẨM TẠI VÙNG BÃI

TRIỀU, KIẾN THUỴ, HẢI PHÒNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trungthực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cũng xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đượccảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Ngô Xuân Ba

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Trường Đại học Nha Trang, Ban lãnh đạo SởNông nghiệp & Phát triển nông thôn Hải Phòng, Phòng Nuôi trồng thủy sản - SởNN&PTNT Hải Phòng và tập thể lãnh đạo, cán bộ Dự án ICA (Dự án Tác động củabiến đổi khí hậu và các giải pháp thích ứng an toàn sinh học cho nuôi trồng thủy sảntại miền Bắc) đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học này

Tôi cũng xin dành sự biết ơn sâu sắc nhất tới các thầy cô đã truyền thụ cho tôinhững kiến thức cơ bản nhất, đặc biệt giáo viên hướng dẫn - TS Nguyễn Tấn Sỹ đãtận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này; Đồng thời tôixin gửi lời cảm ơn đến cán bộ, nhân viên Sở NN&PTNT Hải Phòng, phòng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn huyện Kiến Thuỵ, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trongthời gian tôi học tập cũng như thực hiện luận văn

Tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến phòng Đào tạo sau Đại học - Viện Nghiêncứu Hải sản, Khoa sau đại học & Viện Nuôi trồng thủy sản - Trường Đại học NhaTrang về những giúp đỡ trong quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn tốtnghiệp và hoàn tất các thủ tục bảo vệ luận văn

Lời cảm ơn chân thành xin dành cho gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã luôngiúp đỡ, động viên, cổ vũ tôi trong quá trình học tập và công tác

Hải Phòng, ngày tháng năm 2014

Tác giả

Ngô Xuân Ba

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số đặc điểm sinh học của đối tượng nghiên cứu 3

1.1.1 Đặc điểm phân loại 3

1.1.2 Đặc điểm cấu tạo 3

1.1.3 Phân bố của nghêu 5

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 6

1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 6

1.1.6 Đặc điểm sinh sản 7

1.2 Tình hình nghiên cứu, nuôi nghêu trên thế giới 8

1.2.1 Tình hình nuôi nghêu 8

1.2.2 Nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố môi trường 8

1.2.3 Khả năng tích tụ chất ô nhiễm, độc tố trong nghêu 10

1.2.4 Nghiên cứu về ảnh hưởng của sự cố, suy thoái ô nhiễm môi trường gây chết nghêu 11

1.2.5 Giải pháp phòng tránh, giảm thiểu ảnh hưởng của môi trường tới nghêu nuôi 11

1.2.6 Nghiên cứu về sản xuất giống, nuôi và quản lý 12

1.2.7 Nghiên cứu về dịch bệnh 12

1.2.8 Nghiên cứu về mật độ, kích cỡ thả nuôi tới sinh trưởng của nghêu 12

1.3 Tình hình nghiên cứu, nuôi nghêu ở Việt Nam 13

1.3.1 Tình hình nuôi 13

1.3.2 Nghiên cứu về nguồn lợi, phân bố 13

1.3.3 Nghiên cứu về dinh dưỡng, sinh trưởng 14

1.3.4 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sản xuất giống 14

1.3.5 Nghiên cứu về ảnh hưởng của yếu tố môi trường 15

1.3.6 Nghiên cứu về giải pháp phòng tránh, giảm thiểu ảnh hưởng của môi trường tới nghêu nuôi 16

Trang 6

1.3.7 Nghiên cứu về dịch bệnh 16

1.3.8 Nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ nuôi, kích thước thả giống đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu 17

1.3.9 Thực trạng nuôi nghêu tại Hải Phòng 17

CHƯƠNG 2 - VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Địa điểm, thời gian, đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Phương pháp nghiên cứu 20

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 20

2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21

2.3 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu 22

2.3.1 Phương pháp xác định các thông số môi trường 22

2.3.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 22

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 23

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

3.1 Ảnh hưởng của mật độ nuôi, kích cỡ thả nuôi đến tăng trưởng, tỷ lệ sống của nghêu 26

3.1.1 Biến động các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 26

3.1.2 Tốc độ tăng trưởng của nghêu 30

3.1.3 Tỷ lệ sống của nghêu 34

3.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế 35

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38

1 Kết luận 38

2 Kiến nghị 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DLG Tăng trưởng chiều dài tuyệt đối

DWG Tăng trưởng khối lượng tuyệt đối

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1: Hiện trạng nuôi nghêu trên địa bàn thành phố Hải Phòng 17

Bảng 3.1: Điều kiện môi trường trong thời gian thí nghiệm 27

Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài (mm/ngày) của nghêu nuôi 32

Bảng 3.3: Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng (g/ngày) của nghêu nuôi 33

Bảng 3.4: Tỷ lệ sống của nghêu ở các nghiệm thức thí nghiệm 35

Bảng 3.5: Hạch toán hiệu quả kinh tế của nghêu nuôi ở các nghiệm thức 36

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Trang

Hình 1.1: Đặc điểm cấu tạo ngoài của nghêu 4

Hình 1.2: Cấu tạo trong của nghêu 4

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 20

Hình 2.2: Bố trí thí nghiệm các ô nuôi 21

Hình 2.3: Đo chiều dài, khối lượng của nghêu 22

Hình 3.1: Sự biến động nhiệt độ trong thời gian thí nghiệm 28

Hình 3.2: Biến động pH trong thời gian thí nghiệm 29

Hình 3.3: Biến động độ mặn trong thời gian thí nghiệm 29

Hình 3.4: Biến động hàm lượng ôxy hoà tan trong thời gian thí nghiệm 30

Hình 3.5: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của nghêu 30

Hình 3.6: Tốc độ tăng trưởng chiều dài đặc trưng của nghêu (SRGL) 31

Hình 3.7: Tốc độ tăng trưởng khối lượng đặc trưng của nghêu (SRGW) 33

Trang 10

MỞ ĐẦU

Động vật thân mềm là ngành có số lượng loài rất lớn, khoảng 130.000 loài,chiếm 10% tổng số các loài động vật trên trái đất, đứng thứ hai sau ngành giáp xác(với 800.000 loài) [3] Những năm gần đây, nghề nuôi động vật thân mềm được chú

trọng và quan tâm Nghêu Bến Tre Meretrix lyrata là động vật thân mềm có giá trị

dinh dưỡng cao, chứa khoảng 56% protein tính theo trọng lượng khô [15]

Nghêu Bến Tre sinh trưởng nhanh, có giá trị kinh tế cao là một trong những đốitượng thuỷ sản nuôi chủ lực của các tỉnh thành ven biển Nghêu Bến Tre phân bố tự

nhiên tại Đồng bằng sông Cửu Long Những năm gần đây nghêu M lyrata đã được di

nhập ra các vùng triều ven biển các tỉnh miền Bắc (Thái Bình, Hải Phòng, NamĐịnh ) để nuôi

Xác định nuôi trồng thủy sản là thế mạnh và là hướng đi chiến lược của ngànhthủy sản, Hải Phòng đã chủ trương phát triển nuôi trồng thủy sản thành ngành sản xuấthàng hóa lớn với những đối tượng nuôi mới, có giá trị kinh tế Trong những năm gầnđây, nông dân các vùng ven biển Hải Phòng đã đầu tư vào nuôi nhuyễn thể ở các vùng

bãi triều, chủ yếu là nghêu Meretrix lyrata.

Kiến Thụy là huyện đồng bằng ven biển của thành phố Hải Phòng, trong đó có xãĐại Hợp với diện tích rừng ngập mặn 500 ha, diện tích cồn cát Quần Mục phía ngoàirừng ngập mặn trên 1.000 ha, có điều kiện thuận lợi để hình thành vùng nuôi nghêu.Bãi triều nơi đây là vùng hạ triều, thời gian ngập nước dài, đáy cát pha bùn, nền đáymềm, xốp, sinh vật phù du phong phú Hiện nay, diện tích cũng như quy mô đầu tưngày càng được mở rộng và phát triển lớn hơn do thị trường lại có nhu cầu sử dụngsản phẩm này ngày một gia tăng, không chỉ tiêu thụ nội địa mà còn xuất khẩu sangTrung Quốc, Đài Loan

Tuy nhiên, nghêu nuôi vùng triều là đối tượng chịu nhiều ảnh hưởng do tác độngcủa biến đổi khí hậu Sự tăng nhiệt độ bề mặt nước biển dẫn đến giảm lượng dưỡngchất trong nước, giảm tốc độ tăng trưởng và sản lượng Các mầm bệnh và ký sinhtrùng có thể cũng sẽ phát triển cùng với sự gia tăng nhiệt độ Những năm gần đây đãxảy ra hiện tượng nghêu chết hàng loạt, do có sự kết hợp các yếu tố bất lợi như: thờitiết nắng nóng, nhiệt độ và độ mặn cao, mật độ thả nuôi cao Mật độ thả nuôi dày sẽdẫn đến thiếu thức ăn, đồng thời là nguyên nhân gia tăng tác nhân gây bệnh trên nghêu

Trang 11

nuôi, khi môi trường sống bất lợi, khả năng lan truyền bệnh nhanh, sức đề kháng củanghêu giảm, dễ xảy ra hiện tượng chết hàng loạt.

Vì vậy, việc xác định mật độ và kích cỡ thả nuôi phù hợp sẽ góp phần giúp nghêusinh trưởng nhanh, hạn chế rủi ro và thiệt hại về kinh tế do dịch bệnh gây ra, từ đó tăngthêm thu nhập cho các hộ nuôi vùng ven biển đồng thời nâng cao giá trị sản xuất thủysản của thành phố; giúp cho nghề nuôi nghêu phát triển một cách bền vững Xuất phát

từ thực tiễn trên, đồng thời được sự đồng ý của Viện Nuôi trồng thuỷ sản và được sựcho phép của khoa Sau Đại học, Trường Đại học Nha Trang, tôi thực hiện đề tài luận

văn tốt nghiệp “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và kích cỡ thả nuôi đến sinh

trưởng, tỷ lệ sống của nghêu (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) giai đoạn nuôi thương

phẩm tại vùng bãi triều, Kiến Thụy, Hải Phòng”

Mục tiêu của đề tài:

Xác định được mật độ, kích cỡ thả nuôi phù hợp trong quá trình nuôi thương

phẩm nghêu Meretrix lyrata.

Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi, kích cỡ thả nuôi đến tăng trưởng, tỷ lệ

sống của nghêu

- Đánh giá, hạch toán hiệu quả kinh tế và phân tích khả năng ứng dụng vào thực

tiễn sản xuất

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

+ Xác định được mật độ, kích cỡ phù hợp là một cơ sở để hoàn thiện quy trình

nuôi nghêu thương phẩm vùng ven biển

+ Kết quả của đề tài là cơ sở để các cơ quan chức năng khuyến cáo tới các hộnuôi, góp phần vào việc phát triển nghề nuôi nghêu một cách bền vững

+ Góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa cũng như xuất khẩu của nghêu

Meretrix lyrata.

Trang 12

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số đặc điểm sinh học của đối tượng nghiên cứu

1.1.1 Đặc điểm phân loại

Giống ngao: Meretrix

Loài nghêu Bến Tre: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)

Tên tiếng Anh: Lyrate Asiatic Hard Clam

Tên địa phương: Nghêu Bến Tre

1.1.2 Đặc điểm cấu tạo

- Cấu tạo ngoài:

Cơ thể nghêu được bao bọc bởi hai mảnh vỏ bằng nhau có dạng hình tam giác(gần tròn), vỏ dầy chắc, cạnh trước ngắn hơn, chiều cao bằng 0,84±0,02 lần chiều dài

và chiều rộng bằng 0,59±0,02 chiều dài Hai vỏ gắn với nhau bằng một bản lề, ở mặtlưng có dây chằng cấu tạo bằng chất sừng đàn hồi dùng để mở vỏ Bản lề lộ ra bênngoài có dạng hình trụ nằm bắt đầu từ đỉnh vỏ kéo dài về phía cạnh sau một khoảngbằng 1/4 chiều dài của cạnh sau [16]

Bên ngoài vỏ có màu trắng ngà, trên mặt vỏ có nhiều đường sinh trưởng đồngtâm, các đường sinh trưởng chạy song song và thưa dần về mặt bụng Mặt bụng mép

vỏ cong tròn Bên trong vỏ phía dưới đỉnh vỏ và bản lề có mặt khớp Mặt khớp có răngkhớp lại với nhau rất khít, răng khớp của vỏ trái và vỏ phải khác nhau Mặt trong của

vỏ có màu trắng, có các vết in của cơ khép vỏ trước và sau [16]

Trang 13

Hình 1.1: Đặc điểm cấu tạo ngoài của nghêu [30]

- Cấu tạo trong

Hình 1.2: Cấu tạo trong của nghêu [24]

Màng áo: gồm hai mảnh nằm sát vỏ dính nhau ở phần lưng Màng áo mỏng ở

phần giữa vỏ, xung quanh mép màng áo dày và có các cơ bám vào mặt trong của vỏ,các sợi cơ sếp song song với nhau và hướng thẳng với mép vỏ Hai lá áo ở phần sauphía dưới cơ khép vỏ sau dính lại với nhau tạo thành ống hút và thoát nước (Siphon),ống hút và thoát nước có cơ bám vào vỏ hình bán nguyệt Giữa hai lá áo có xoangtrống là xoang màng áo bên trong có chứa mang [16]

Chân: có dạng hình lưỡi rìu, cong và nhọn về phía trước Mép chân mỏng và trên

bề mặt của chân có nhiều rãnh rất mịn hướng từ bên trong ra mép chân Chân cấu tạogồm nhiều sợi cơ thường từ trong chạy ra mép chân song song với các rãnh chân Cácsợi cơ tập trung ở phần gốc tạo thành cơ kéo chân trước và sau, cơ kéo chân trước vàsau bám vào vỏ ở vị trí sát cơ khép vỏ trước và sau về phía mặt lưng [16]

Trang 14

Hệ hô hấp: gồm hai đôi lá mang nằm bên trong xoang màng áo Mỗi bên gồm

hai tấm, mỗi tấm gồm nhiều sợi tơ kết hợp lại với nhau bằng một màng mỏng có nhiềunếp gấp tạo nên những rãnh chạy song song với các tơ mang Mang của nghêu thuộcdạng mang thật, có phần ngọn của lá mang ngoài dính vào màng áo và phần ngọn của

lá mang trong dính vào nội tạng Các nếp gấp phần đầu (gần miệng) nhỏ và mỏng hơnở phần sau [16]

Hệ tiêu hoá: bắt đầu từ miệng và các xúc biện Xúc biện gồm hai đôi tương ứng

với hai lá mang, các lá xúc biện nằm xung quanh miệng và đầu các lá mang Miệng rấtđơn giản chỉ là một lỗ mở của ống tiêu hoá, vị trí của miệng nằm giữa hai cơ kéo chântrước, phía trên của cơ khép vỏ trước Tiếp theo miệng là thực quản ngắn Dạ dày hìnhtúi, vách mỏng và có nhiều nếp gấp nằm trong khối gan tuỵ màu nâu đen Đoạn ruộttiếp theo dạ dày tương đối to hơn đoạn ruột sau, ruột cuộn lại phía dưới dạ dày sau đóchạy ngang qua gốc chân và vòng trên mặt lưng, xuyên qua tâm thất cuối cùng đổ rahậu môn nằm ở mặt lưng của cơ khép vỏ [16]

Hệ tuần hoàn: gồm có tim ở mặt lưng, phía dưới đỉnh vỏ Tim gồm một tâm thất

và hai tâm nhĩ được bao bọc bởi màng xoang bao tim Màng xoang bao tim mỏngtrong suốt, có thể nhìn thấy bên trong Máu của nghêu không màu [16]

Hệ bài tiết: gồm một đôi thận có màu vàng nhạt nằm đối xứng nhau ở hai bên

khối nội tạng phía dưới xoang bao tim [16]

1.1.3 Phân bố của nghêu

Phân bố sinh thái:

Nghêu phân bố ở các bãi biển có nền đáy cát hay cát bùn, trong đó cát chiếm tỷ

lệ từ 60 - 90% với kích cỡ hạt từ 0,006 - 0,25 mm Ở nơi đáy nhiều bùn nghêu dễ bịchết ngạt, nơi đáy cát chiếm 100% nghêu bị khô nóng [6], [26] Nghêu phân bố ở vùng

Trang 15

thời gian phơi bãi từ 2 - 8 giờ/ngày Độ sâu cực đại tìm thấy nghêu lúc nước ròng là2,5m Nghêu phân bố ở vùng có nền đáy cát mịn đến cát trung có pha lẫn hàm lượngbùn lỏng và xác hữu cơ (10 - 18%), vào mùa mưa bùn lỏng bao phủ nền đáy bãimghêu (1,5 - 2,5 cm) Nghêu là loài rộng nhiệt, nhiệt độ sinh trưởng tốt 26 - 30oC Độmặn đặc trưng cho bãi nghêu dao động từ 7 - 28‰; pH nước 6,5 - 8,5, các yếu tố môitrường đặc trưng của bãi nghêu biến đổi theo mùa rõ rệt, chúng phụ thuộc vào lượngmưa lũ tràn qua vùng rừng ngập mặn đổ ra các bãi nghêu [1].

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Nghêu là loài ăn lọc, bắt mồi theo hình thức thụ động Khi thủy triều lên nghêuthò vòi lên mặt nền đáy để lọc thức ăn Nghêu lọc các mảnh vụn hữu cơ, các loài thựcvật phù du có kích cỡ < 10µm [59] Nhờ hoạt động của tiêm mao trên mang và dịchnhầy là sản phẩm tiết của các tế bào tuyến trên mô bì của mang, thức ăn được cuốnthành viên rồi chuyển về miệng Sau khi qua phần thực quản, thức ăn được chuyển vào

dạ dày, tại đây chúng được tiêu hoá [55]

Thức ăn của nghêu biến đổi theo mùa, mùa xuân hè khí hậu ấm áp, cường độchiếu sáng mạnh, thích hợp cho các loài tảo phát triển nên nghêu có nhiều thức ăn vàlớn nhanh hơn [8] Giai đoạn ấu trùng thức ăn của nhóm Bivalvia là vi khuẩn(Bacteria), tảo Silic (Diatoms), mùn bã hữu cơ (Detritus), nguyên sinh động vật(Flagellata) có kích thước nhỏ khoảng 10µm hoặc nhỏ hơn Giai đoạn trưởng thành ănchính là mùn bã hữu cơ, tảo phù du [55]

Thành phần thức ăn của nghêu là mùn bã hữu cơ và 44 loài tảo trong đó tảo Silic

Bacillariophyta chiếm đa số với các loài thường gặp là Coscinodicus, Cyclotella…

Thức ăn chính của mùn bã hữu cơ chiếm 78,82 - 90,38% số lượng thức ăn, phần cònlại là tảo (chiếm 9,62 - 21,18%) [16] Nghêu bắt mồi chọn lọc theo kích cỡ hạt thức ăn,

những loài tảo có kích thước lớn, dạng sợi như Chaetoceros, Skeletonema,

Bacteriastrum nghêu khó bắt được, cỡ hạt thức ăn được tìm thấy trong ruột nghêu tối

đa là 150µm Thành phần, số lượng thức ăn trong dạ dày nghêu có sự biến động theomùa, mùa mưa tháng 9 - 10 mùn bã hữu cơ tăng, tảo giảm và ngược lại

1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng

Sự sinh trưởng của nghêu phụ thuộc vào tác động tổng hợp của các yếu tố môitrường, thức ăn, mật độ nuôi… Nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý và chi phốisinh trưởng đến nhóm Bivalvia, kích thước tối đa và sinh trưởng giảm, tuổi thọ tăng

Trang 16

khi đi từ vĩ độ thấp đến vĩ độ cao Nhiệt độ càng thấp thì mùa sinh trưởng càng ngắn,vùng nhiệt độ càng thấp thì chúng càng tiêu tốn nhiều năng lượng cho quá trình hô hấphơn là năng lượng cho sinh trưởng và ngược lại [37] Điều này được minh chứng bởiAngell, C.L (1986) khi cho rằng trong điều kiện đầy đủ thức ăn thì tốc độ sinh trưởngnhanh khi nhiệt độ tăng [29]

Một nghiên cứu khác của McDonald và Thomson (1988) cho thấy quần thể sốngở vùng nước sâu có kích cỡ nhỏ hơn vùng nước nông trong cùng thời gian sinh trưởng.Sinh trưởng của nghêu liên quan chặt chẽ với môi trường sống, nghêu sống ở vùngtriều thấp sinh trưởng nhanh hơn vùng triều cao, ở vùng cửa sông có nhiều thức ăn,hàm lượng ôxy dồi dào nên quá trình trao đổi chất mạnh, lượng bắt mồi tăng, nghêusinh trưởng nhanh [45] Hàng năm nghêu lớn nhanh từ tháng 4 đến tháng 9, hai nămđầu lớn nhanh, nhìn chung nghêu không sống quá 4 tuổi [25] Một khía cạnh khác,nghêu là loài có tốc độ sinh trưởng về khối lượng nhanh hơn sinh trưởng về chiều dài [16]

1.1.6 Đặc điểm sinh sản

Nghêu là loài phân tính đực cái, dựa vào hình dạng bên ngoài rất khó xác địnhgiới tính Khi tuyến sinh dục thành thục, con cái có màu vàng, con đực có màu trắngsữa bao phủ khắp nội tạng [13]

Sự thành thục sinh dục của nghêu tuỳ thuộc vào độ tuổi, kích thước và địa lýphân bố Sản lượng trứng, tinh trùng và sự hình thành giao tử liên quan đến kích thướccủa nghêu, nhiệt độ nước, số lượng và chất lượng thức ăn, đặc biệt quan trọng trongthời kỳ ban đầu của quá trình này Nghêu đạt kích thước 500mg sẽ bắt đầu thành thụcsinh dục và sau 12 tháng nuôi có thể tham gia sinh sản lần đầu Mùa vụ sinh sản tựnhiên của nghêu diễn ra vào thời gian cuối mùa xuân tới hết mùa hè (từ tháng tư đếntháng chín) Sức sinh sản tuyệt đối trung bình của nghêu đạt từ 2.747.000 - 4.031.000trứng/cá thể [16]

Trong mùa sinh sản, nghêu thành thục chứa đầy trứng và tinh trùng trong các ốngdẫn, khi gặp kích thích từ môi trường bên ngoài như nhiệt độ, dòng chảy, mưa gió nhờ

sự co giãn của cơ khép vỏ, vỏ mở ra và khép lại rất nhanh, mạnh tạo thành áp lực épđẩy tinh trùng hoặc trứng thoát ra ngoài Tinh trùng có màu trắng đục, trứng có màuvàng nhạt [11]

Theo Quayle và Newkirk (1989), việc thay đổi một vài yếu tố môi trường nhưnhiệt độ nước, độ mặn sẽ kích thích sự chín sinh dục của các loài nhuyễn thể nói

Trang 17

chung, trong đó có nghêu Vào mùa xuân, khi nhiệt độ nước bắt đầu ấm dần lên, nókích thích sự phát triển của buồng trứng [55].

1.2 Tình hình nghiên cứu, nuôi nghêu trên thế giới

1.2.1 Tình hình nuôi nghêu

Nghêu M lyrata là loài nhuyễn thể 2 mảnh vỏ có giá trị kinh tế được nhiều nước

trên thế giới khai thác giống tự nhiên và nuôi thương phẩm

Hiện nay, công trình nghiên cứu về nghêu Meretrix lyrata mới chỉ có nghiên cứu

về đặc điểm hình thái, phân loại của Habe và Sadao (1996); nghiên cứu về dinh dưỡngcủa Tammes and Oral (1950) Các thông tin liên quan tới lĩnh vực nuôi thương phẩm

rất ít, các nghiên cứu thường tập trung về những đối tượng thuộc giống ngao Meretrix

khác [38], [59]

1.2.2 Nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố môi trường

Nghêu là động vật thân mềm hai mảnh vỏ, cũng như động vật thủy sinh khácchúng là những loài biến nhiệt, máu lạnh Trong các yếu tố sinh thái thì nhiệt độ và độmặn là những yếu tố sinh thái quan trọng quyết định đến sự phân bố, sinh trưởng, sốngsót của động vật thân mềm hai mảnh vỏ [57]

Nhiệt độ, độ mặn ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý, phân bố và chi phối quátrình sinh trưởng của sinh vật nên có nhiều nghiên cứu tập trung tìm hiểu mối quan hệgiữa các yếu tố này tới sinh trưởng của thân mềm hai mảnh vỏ Nghêu sẽ ngừng sinhtrưởng ở nhiệt độ dưới 8oC và trên 31oC, đóng vỏ ở nhiệt độ dưới 3oC và tỷ lệ trao đổinước giảm mạnh nếu nhiệt độ trên 32oC [68]

Zhuang (2006) cho rằng, độ mặn là một trong những nhân tố quan trọng ảnhhưởng tới chế độ dinh dưỡng của hầu hết các động vật hai mảnh vỏ ở biển Kết quảnghiên cứu cho thấy, khả năng dinh dưỡng tốt nhất của nghêu đối với tất cả các kích

cỡ là ở khoảng độ mặn 27 - 30‰ [64]

Các nghiên cứu của Zhuang và Liu Xue (2006) về ảnh hưởng của trọng lượngthân mềm và nhiệt độ nước đến tỷ lệ trao đổi chất và quỹ năng lượng trên loài

Meretrix meretrix ở Trung Quốc, cho thấy ở các trọng lượng thân mềm khác nhau thì

mức nhiệt độ 28oC là tối ưu cho việc trao đổi chất và đạt mức 41,5 - 51,2% năng lượngtiêu hóa, 31 - 42,3% bài tiết qua phân, khoảng 12,1 - 15,5% năng lượng cho sinhtrưởng và sản phẩm urine chiếm 2,1 - 5,6% [65]

Trang 18

Nghiên cứu của Whetstone et al (2005) tại Rhode Island và New Jersey và một

số vùng biển phía đông nước Mỹ trên loài Mercenaria mercenaria lại cho rằng nhiệt

độ thích hợp cho nuôi thương phẩm loài này là 79oF (26oC) và nước biển có độ mặntrên 25‰, chúng không thể sống ở nơi có độ mặn thấp kéo dài Trong khi đó nhiệt độthích hợp để nuôi vỗ bố mẹ và cho đẻ là 19oC, dao động trong khoảng (18 – 24oC),nhiệt độ ấm hơn từ 28 – 30oC thì trứng không thụ tinh [61]

Kết quả nghiên cứu trên đối tượng ngao dầu (Meretrix meretrix) ở vùng

Korampallam, Tuticorin, Ấn Độ cho biết ngao dầu phân bố ở vùng đáy cát, độ sâu <1m, nhiệt độ thích hợp 25 – 31oC , độ mặn từ 5,3 - 42,5‰, ngao dầu không thể thànhthục sinh dục và sinh sản khi độ mặn < 10‰ [51]

Nghiên cứu chu kỳ thành thục của loài Meretrix lusoria tại vịnh Tokyo và vùng

Ariake Nhật Bản các tác giả Nakamura và Nakano (2010) cho rằng tuyến sinh dục củanghêu ở cả hai vùng bắt đầu phát triển vào đầu mùa xuân và chín vào mùa hè, có một

số cá thể chín vào cuối mùa hè và đầu mùa thu, khi nhiệt độ nước biến động trongkhoảng từ 12oC trong giai đoạn mùa đông và 30oC và mùa hè, với độ mặn khác biệtđáng kể giữa hai vùng kích thước thành thục ở nghêu khi chiều dài vỏ từ 17 - 20mm [50].Lin Junzhuo và Xu zhenzu tại Đại học Hạ Môn Trung Quốc (1997) đã nghiêncứu ảnh hưởng của nhiệt độ, độ mặn đến sự phát triển của ấu trùng ngao dầu cho biếtrằng khoảng thích hợp độ mặn cho ấu trùng phát triển là từ 20,5 - 28‰ và nhiệt độ từ

20 – 32oC Ngoài ngưỡng nhiệt độ và độ mặn này đều ảnh hưởng đến khả năng sốngsót, sinh trưởng của ấu trùng ngao dầu [42]

Khi theo dõi sinh trưởng của ngao dầu ngoài tự nhiên Linzhihua, S và ctv, 2003cho rằng ngao dầu sinh trưởng nhanh và thành thục sinh dục từ tháng 5 đến tháng 8hàng năm khi điều kiện nhiệt độ từ 21,8oC đến 31oC và đạt đỉnh từ tháng 6 tháng 7 khiđiều kiện nhiệt độ 25 – 30oC [44]

Caofujun và ctv, (2009) khi nghiên cứu trên ngao dầu (3-4mm) cho rằng ở kích

cỡ này ngao dầu có thể sống sót trong khoảng độ mặn 6,5 - 39,5‰, khoảng độ mặnthích hợp để ngao dầu sống sót là 9 - 31‰ và khoảng độ mặn có thể sinh trưởng 7,3 -38,7 ‰, khoảng độ mặn thích hợp để sinh trưởng là 15 - 23‰ Điều kiện nhiệt độ đểngao dầu sống sót từ 4 - 36,1oC, ngao dầu có thể sinh trưởng ở khoảng nhiệt độ 7 -35,4oC, sinh trưởng tốt hơn ở điều kiện 17oC – 33oC, khoảng nhiệt độ 24oC – 27oC làtối ưu cho ngao dầu sinh trưởng [33]

Trang 19

Các tác giả Liu, Z và Liu, J (2011) khi theo dõi nghêu Bến tre tại bãi Beiyue tạiQuảng Đông, Trung Quốc từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 5 năm 2011 thấy rằng nghêugiống sinh trưởng nhanh hơn vào mùa hè và khi nhiệt độ 24,1- 31,3oC mùa thu, nghêudừng sinh trưởng vào mùa đông khi nhiệt độ nước xuống thấp 15,1 - 18,1oC và bắt đầutăng trưởng vào mùa xuân khi nhiệt độ nước đạt 22,5 - 26,8oC [43].

Năm 2010, các tác giả Li, Z và Liu, Z cho rằng nghêu Bến tre ở kích cỡ giống(4 - 4,5mm) có thể sống sót trong khoảng nhiệt độ 12,2 - 35,6oC, khoảng nhiệt độ thíchhợp nhất cho sự sống sót là 24 – 30oC và nghêu Bến tre có thể sinh trưởng ở điều kiệnnhiệt độ 23,5 – 33oC và sinh trưởng thích hợp nhất trong khoảng nhiệt độ 27 – 30oC.Mặt khác nhóm tác giả cũng cho rằng nghêu Bến tre có thể sống sót trong khoảng độmặn 4,3 - 40,5‰, thích hợp để sống sót là khoảng độ mặn 11 - 31‰, sinh trưởng tốtnhất trong khoảng 19 - 22 ‰ Như vậy, tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của nghêuphụ thuộc lớn vào nhiệt độ, độ mặn Nhiệt độ và độ mặn ở các mùa vụ khác nhau, cácvùng khác nhau dẫn đến tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của nghêu ở mỗi mùa vụ vàmỗi vùng là khác nhau [41]

Điều kiện môi trường như tốc độ dòng chảy, lượng sinh vật phù du…, sự suythoái ô nhiễm môi trường ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của nghêu Nơi có tốc độdòng chảy chậm, kín sóng gió, giàu sinh vật phù du, nghêu phát triển nhanh Ngượclại, những nơi có điều kiện sống bất lợi, môi trường sống không ổn định, nhiều địchhại…là nguyên nhân làm hạn chế sinh trưởng của nghêu [55]

Beal, B.F (2006) đã tổng hợp các nghiên cứu, thí nghiệm về nuôi nghêu ở vùngtriều (1986 - 2003) ở phía đông vịnh Maine để đánh giá sự ảnh hưởng của yếu tố hữusinh và vô sinh đến sinh trưởng của nghêu như: di chuyển nghêu giống từ những nơinghêu phát triển chậm đến những nơi thấp, được dự báo là nghêu phát triển nhanhhơn; ảnh hưởng của độ cao thủy triều tới sinh trưởng của nghêu; ảnh hưởng của khônggian khác nhau lên sự phát triển của nghêu nuôi, ảnh hưởng của động vật phù du vàđộng vật ăn thịt đến nghêu tự nhiên và nghêu nuôi…nhằm xây dựng giải pháp nuôinghêu đạt hiệu quả [32]

1.2.3 Khả năng tích tụ chất ô nhiễm, độc tố trong nghêu

Động vật thân mềm hai mảnh vỏ nói chung và nghêu nói riêng được cho là đốitượng trung gian chính gây nên hiện tượng ngộ độc độc tố tảo cho con người và các

Trang 20

động vật biển khác như chim biển, thú biển…, nguyên nhân là do chúng ăn lọc cácthức ăn có tảo độc, chứa độc tố ASP, DSP, PSP… [58].

Nghêu được đánh giá là đối tượng có khả năng tích lũy kim loại nặng trong cơthể cao Thức ăn của chúng là mùn bã hữu cơ, chiếm 70 - 90% lượng thức ăn trong dạdày [53] Patel và Anthony (1991) nghiên cứu ảnh hưởng của muối cadmium (Cd) vô

cơ và muối hữu cơ lên loài M.casta ở phía Nam Ấn Độ từ 1986 - 1989 Sự tích tụ Cd

xảy ra cao nhất ở thí nghiệm CdSO4 [54]

Sadiq, M và ctv, (1992) xác định ảnh hưởng của chì (Pb), thủy ngân (Hg) tích tụ

trong cơ thể ngao dầu M.meretrix, trong trầm tích và trong nước biển ở vịnh Ả Rập.

Kết quả là sự tích tụ Pb trong cơ thê ngao có tương quan với hàm lượng Pb trong trầmtích Kích thước và độ mặn ảnh hưởng tới sự tích tụ Hg vào cơ thể ngao [54] Chin,

T.S và Chen, H.C (1993) nghiên cứu sự tích tụ Hg trong cơ thể loài M lusoria cho

thấy khi nuôi nghêu trong môi trường chứa Hg với hàm lượng 5 và 50 µg/g thì mứctích tụ trong cơ thể nghêu lần lượt là 4,247 - 7,084 và 9,956 - 13,643 µg/g [34]

1.2.4 Nghiên cứu về ảnh hưởng của sự cố, suy thoái ô nhiễm môi trường gây chết nghêu

Akarte, S.R và ctv, 1986 xác định khả năng chịu đựng của M.meretrix với

monocrotophos trong điều kiện phòng thí nghiệm Kết quả LC50 trong 96 giờ là0,25ppm và phương trình hồi quy tương quan giữa tỷ lệ chết và nồng độ là Y = 7,226+ 3,489logX [29] Modassir (2000) cho rằng tác động về độc tính của Hg ở các độ mặnkhác nhau và tỷ lệ chết tăng khi độ mặn tăng Tỷ lệ chết 50% trong 96 giờ với hàmlượng Hg là 0,58; 0,35 và 0,26 ppm tương ứng với độ mặn là 10‰, 20‰ và 30‰ [48]

1.2.5 Giải pháp phòng tránh, giảm thiểu ảnh hưởng của môi trường tới nghêu nuôi

Cùng với các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, đánh giá ảnh hưởng của môitrường tới nghêu nuôi… là các giải pháp giảm thiểu được nghiên cứu đề xuất Các giảipháp đề xuất tập trung vào lựa chọn môi trường vùng nuôi, kỹ thuật chăm sóc, thờigian thu hoạch, biện pháp kỹ thuật giảm sát nhằm sớm cảnh báo và khắc phục sự cố…Quayle và Newkirk (1989) đã đưa ra những tiêu chí về môi trường để lựa chọn vùngnuôi nghêu nhằm nuôi nghêu hiệu quả như tốc độ dòng chảy chậm, kín sóng gió, giàusinh vật phù du, đồng thời đề xuất giải pháp phòng trừ, giảm thiểu ảnh hưởng [55]

Trang 21

1.2.6 Nghiên cứu về sản xuất giống, nuôi và quản lý

Ở Ấn Độ, Narasimham, K.A., (1988) đã nghiên cứu đặc điểm sinh học, sản xuấtgiống và nuôi một số loài thuộc họ ngao [49] Whetstone et al., 2005 nghiên cứu sinh

học và kỹ thuật nuôi ngao (Mercenaria mercenaria) [61].

Marinov, D và ctv, (2007) nghiên cứu và ứng dụng thành công mô hình quản lýtổng hợp cho nuôi nghêu tại các vũng vịnh ven biển đã cơ bản giải quyết các mâuthuẫn lợi ích giữa những nhóm lợi ích khai thác sử dụng bãi triều ven biển [47];Malagrino, G và ctv, (2007) đã ứng dụng phương pháp sinh thái và Hệ thống thông tinđịa lý (GIS) để quản lý môi trường vùng nuôi nghêu đề xuất được phương phápgiám sát tương đối hiệu quả [46]

Musella, M (1999) cho rằng ký sinh trùng đơn bào Perkinsus atlanticus là

nguyên nhân gây tổn hại nghiêm trọng với nghêu nuôi Mức nguy hại của ký sinhtrùng này tăng khi nhiệt độ và độ mặn tăng cao [49]

Yue, X và ctv, (2010) nghiên cứu và phân lập các mẫu vi khuẩn gây bệnh từ các

Vibrio parahaemolyticus có mật độ cao nhất trong các lô kiểm tra [67].

Một số bệnh vi khuẩn đã được nghiên cứu như bệnh vòng tròn nâu (BRD) ở

nghêu do các loài vi khuẩn Vibrio tapestis tấn công [53] Biểu hiện của bệnh là một

lớp lắng đọng màu nâu đọng lại toàn bộ bên trong vỏ Bệnh xuất hiện vào mùa xuân vàmùa hè năm 1987, làm chết nhiều nghêu, được phát hiện và là nguyên nhân gây suygiảm sản lượng nghêu tại Pháp [52]

Bệnh QPX được thông báo lần đầu vào cuối những năm 1950 ở Canada và làmnghêu chết hàng loạt [36] Bệnh do tác nhân QPX đã được thông báo xuất hiện ở loài

Mercenaria mercenaria nuôi dọc bờ biển phía đông nước Mỹ năm 1995 [30].

1.2.8 Nghiên cứu về mật độ, kích cỡ thả nuôi tới sinh trưởng của nghêu

Ho, Y.D (1991) nghiên cứu sinh trưởng của nghêu M lusoria nuôi trong ao và

bể thả giống cỡ 1g (15,9mm chiều dài) với 6 mật độ khác nhau từ 60 - 360con/m2 Sau

Trang 22

11 tháng nuôi, nghêu đạt 16,7 g/con với lô nuôi trong ao Nghêu trong bể đạt 8,3g(31,7mm) và 3,9g (24,6mm) ở mật độ 60 và 360 con/m2 [39].

1.3 Tình hình nghiên cứu, nuôi nghêu ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình nuôi

Trong các loài nhuyễn thể nuôi ở Việt Nam hiện nay, nghêu M.lyrata là đối

tượng nuôi đang phát triển mạnh, được nhiều địa phương ở vùng ven biển đặc biệtquan tâm Đây là đối tượng nuôi truyền thống ở Đồng Bằng sông Cửu Long, có giá trịkinh tế cao Từ sản lượng 300 - 350 tấn/năm trước năm 1980 đã tăng lên 700 - 800 tấnvào năm 1982 - 1986, đầu những năm 2000 tổng sản lượng nghêu của khu vực venbiển phía Đông của Nam Bộ (ĐBSCL và TP.HCM) đạt 70.000 - 80.000 tấn/năm [20].Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam năm 2009, từ 1/1 - 15/11 xuấtkhẩu nghêu cả nước đạt 17.264 tấn, trị giá trên 37,2 triệu USD [27] Ngày 20/7/2011,

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Quyết định số TCTS Về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển nuôi nhuyễn thể hàng hóa tập trung đếnnăm 2020; quyết định nêu rõ đến năm 2015 diện tích nuôi nghêu 26.040 ha, sản lượng330.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu 264 triệu USD; năm 2020 diện tích nuôi 32.960 ha,sản lượng 430.700 tấn, kim ngạch xuất khẩu 395,42 triệu USD [4]

1628/QĐ-BNN-1.3.2 Nghiên cứu về nguồn lợi, phân bố

Các nghiên cứu về phân bố nguồn lợi giống nghêu (Meretrix) những năm trước

đây của một số tác giả Nguyễn Chính (1996), Trương Quốc Phú (1999), Nguyễn XuânDục (2001), Nguyễn Hữu Phụng (2001) cho thấy vùng ven biển phía Bắc có ngao dầu

(Meretrix meretrix), nghêu Meretrix lusoria tập trung chủ yếu tại Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An Vùng ven biển phía Nam có nghêu Bến Tre (Meretrix

lyrata) phân bố chủ yếu ở khu vực Tây Nam Bộ nơi có khí hậu ấm áp quanh năm như

Cần Giờ (TP HCM), Gò Công (Tiền Giang), Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú (BếnTre), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), Ngọc Hiển (Cà Mau) và CầuNgang, Duyên Hải của Trà Vinh Hiện nay, loài nghêu này đã được di nhập và thíchnghi với môi trường vùng ven biển phía Bắc và Bắc Trung bộ nhất là vùng Thái Bình,Nam Định, Ninh Bình,Thanh Hóa diện tích nuôi không ngừng được mở rộng [6], [7],[16, [18]

Nghêu M lyrata là loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ nhiệt đới, phân bố ở

vùng có biên độ dao động về nhiệt độ (15 – 32oC), độ mặn (0 - 34‰) Chúng phân bố

Trang 23

tự nhiên ở vùng triều, từ vùng cao triều tới vùng dưới triều, chất đáy là yếu tố sinh tháiquan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của nghêu Nghêu sống nơi có nềnđáy là cát và cát pha bùn trong đó cát phải chiếm từ 60 - 90% với kích cỡ hạt từ 0,006-0,25 mm Nếu như chất đáy nhiều bùn nghêu sẽ bị chết ngạt, nhiều cát thì nền đáykhông giữ được nước, đáy khô, nhiệt độ tăng cao lúc lộ bãi [16], [17], [26].

1.3.3 Nghiên cứu về dinh dưỡng, sinh trưởng

Các nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phụng và ctv (2001) cho thấy nghêu là loài ănlọc thành phần thức ăn tự nhiên của nghêu là mùn bã và các mảnh vụn hữu cơ lơ lửngtrong nước khoảng 75 - 90%, thực vật phù du chiếm tỷ lệ thấp khoảng 10 - 25% về sốlượng cũng như tần số bắt gặp, chủ yếu là tảo silic (tảo khuê) các loài tảo khoảng 44loài tảo, chiếm 93,18% thuộc ngành Bacilariophyta và các loài còn lại thuộc ngànhPyrophyta và Cyanophyta [18]

Theo Trương Quốc Phú (1999), tốc độ sinh trưởng nghêu thay đổi theo mùa: sinhtrưởng nhanh từ tháng 5 - tháng 9, sinh trưởng chậm từ tháng 10 - tháng 4 năm sau.Nhân tố chính ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng là độ mặn, sóng gió, hàm lượng chất

lơ lửng trong nước.Trong điều kiện tương đối thuận lợi tổng thời gian từ khi nghêuđược sinh ra đến lúc thu hoạch là 18 - 20 tháng [16]

Võ Minh Thế (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm sinh học

đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu M.lyrata giai đoạn giống Nghêu có chiều dài

11,85±0,33mm, được bố trí vào bể 100L với mật độ 40 con/bể Chế phẩm sinh học

chứa Bacillus subtilis và Lactobacillus acidophilus với lượng 0,5 mg/L Sau 90 ngày

nuôi, tỷ lệ sống của nghêu ở nghiệm thức có bổ sung chế phẩm sinh học là cao nhất và

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức khác Tốc độ tăng trưởng chiềudài và khối lượng nghêu cao nhất ở nghiệm thức bổ sung chế phẩm vi sinh trực tiếpvào môi trường [23]

1.3.4 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sản xuất giống

Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sản xuất giống và nuôi thương phẩm nghêunhững năm gần đây đã được chú trọng Nguyễn Chính (1996) đã mô tả hình thái, cấutạo, đặc điểm sinh học, phân bố của một số loài nhuyễn thể trong đó có loài nghêu

Meretrix lyrata Trương Quốc Phú (1999) đã nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh hóa

và kỹ thuật nuôi nghêu Bến Tre tại Đồng bằng sông Cửu Long và đã đưa ra được các

Trang 24

đặc điểm và thông số kỹ thuật quan trọng cho việc nuôi nghêu tại vùng biển TiềnGiang [7], [16].

Chu Chí Thiết và ctv (2008) nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thươngphẩm nghêu Bến Tre trong ao, cho thấy rằng nghêu Bến Tre sinh trưởng tốt trong aođầm, làm sạch môi trường, không chịu ảnh hưởng bởi chế độ thủy triều, đây là tiền đềquan trọng để nghiên cứu mở rộng phát triển nuôi nghêu Nghêu đẻ trứng phân theođợt, thời gian cách nhau có khi là nửa tháng và có khi tới một tháng Nghêu đực và cáiphun tinh trùng và trứng vào nước, trứng được thụ tinh phát triển thành ấu trùng, ấutrùng của chúng sống trôi nổi trong nước một thời gian thì hình thành vỏ rồi chìmxuống đáy [24]

Theo Trương Quốc Phú (1999) thì nghêu Bến tre sinh sản hai kỳ trong năm, thời

kỳ đầu vào tháng 3 - 5, thời kỳ thứ 2 vào lúc kết thúc mùa mưa khoảng tháng 10 - 11hàng năm [16] Nguyễn Đình Hùng (2003) cho rằng nghêu Bến Tre tại đồng bằng sôngCứu Long sinh sản 2 vụ trong năm, mùa sinh sản chính của nghêu từ tháng 5 đến tháng

7 và mùa phụ từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau (có năm không thấy xuất hiện mùa phụ)với mật độ nghêu giống xuất hiện thấp hơn, tỷ lệ đực/cái trong tự nhiên là 1/1 [11]

1.3.5 Nghiên cứu về ảnh hưởng của yếu tố môi trường

Những nghiên cứu về ảnh hưởng của yếu tố môi trường đến nghêu nuôi ở nước tachưa có nhiều Theo một số tác giả nghiên cứu trước đây cho rằng nghêu là động vậtnhuyễn thể rộng nhiệt có thể thích nghi với nhiệt độ từ 5 – 35oC Ở nhiệt độ 28 – 31oCnghêu sinh trưởng tốt nhất, giới hạn chịu nhiệt cao là 43oC, khi nhiệt độ là 37,5oC sốngđược 10,4 giờ, 40oC sống được 5,3 giờ, 42oC sống được 1,5 giờ Ở nhiệt độ 45oCnghêu chết toàn bộ nghêu phân bố ở vùng hạ triều thời gian phơi bãi từ 2 - 8 giờ/ngày [2].Lâm Thị Quang Mẫn (2010) ở Đại học Cần Thơ khi nghiên cứu ảnh hưởng củanhiệt độ và độ mặn trên nghêu Bến Tre giống (12mm) cho rằng ở nhiệt độ 28oC và độmặn 10‰ cho tỷ lệ sống của nghêu đạt 98%, trong khi đó độ mặn 30‰ và nhiệt độ

34oC cho tỷ lệ sống 6,6% [12]

Ngô Thị Thu Thảo (2012) tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của

độ mặn và thời gian phơi bãi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của nghêu Meretrix lyrata

cho rằng độ mặn cao cùng thời gian phơi bãi kéo dài sẽ làm giảm tỷ lệ sống của ngêu.Sau 60 ngày thí nghiệm đối với loại nghêu nhỏ, tỷ lệ sống cao nhất đạt ở nghiệm thức

Trang 25

10‰ kết hợp thời gian phơi bãi 2 giờ; với nghêu lớn tỷ lệ sống cao nhất ở nghiệm thức10‰ và thời gian phơi bãi là 4 giờ [22].

Biến động của độ mặn thường diễn ra theo mùa và làm thay đổi môi trường sốngcủa nghêu Khi độ mặn thay đổi nghêu sẽ di chuyển ra xa bờ hoặc khu vực cửa sông(cá thể nhỏ), những cá thể lớn khó di chuyển thì vùi mình xuống đáy Khoảng độ mặnthích hợp để nghêu sinh trưởng và phát triển là từ 19 - 26‰ [2] Khi gặp điều kiện bấtlợi nghêu có thể tiết ra chất nhầy để giảm nhẹ tỷ trọng cơ thể và nổi lên mặt nước rồitheo dòng nước triều đi nơi khác Nghêu có thể nổi lên độ cao 1,2m và thường dichuyển vào mùa thu và mùa hạ Mùa hạ nghêu sống ở vùng triều cao, bãi cạn chịu thờigian phơi bãi dài làm bãi cát nóng lên nghêu phải di chuyển theo nước triều rút xuốngvùng sâu hơn [25]

1.3.6 Nghiên cứu về giải pháp phòng tránh, giảm thiểu ảnh hưởng của môi trường tới nghêu nuôi

Năm 2012, Nguyễn Công Thành và ctv đã đánh giá ảnh hưởng của yếu tố môitrường đến nghêu nuôi vùng ven biển Hải Phòng và đưa ra giải pháp đề xuất phòngtránh Tác giả đã đưa ra giải pháp lựa chọn, quản lý bãi nuôi nghêu và cho rằng vùngnuôi nghêu ở cửa sông Văn Úc thuận lợi vì rừng ngập mặn được khôi phục, nguồnthức ăn của nghêu phong phú Thông qua việc đánh giá thực trạng nuôi nghêu tại HảiPhòng, tác giả thấy rằng việc nuôi với mật độ cao như hiện nay với 300 - 600 con/m2với cỡ 400 - 600 con/kg thì người nuôi sẽ gặp nhiều rủi ro Vì vậy, khuyến cáo mà tácgiả đưa ra là giảm mật độ nuôi xuống dưới 200 con/m2 với cỡ nghêu giống thươngphẩm 300 - 400 con/kg để tránh thiệt hại về kinh tế, nhằm đảm bảo hiệu quả sản xuất.Cũng trong nghiên cứu này, tác giả đề xuất thời điểm thu hoạch trước tháng 1 - 2 dotốc độ sinh trưởng của nghêu từ tháng 1 - 3 thấp đồng thời để giảm thiểu những rủi ro

do môi trường mang lại, đáp ứng được tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm [21]

1.3.7 Nghiên cứu về dịch bệnh

Nguyễn Thị Thu Hiền (2011) điều tra nghiên cứu về tình hình bệnh trên nghêunuôi tại Hải Phòng đã xác định được tác nhân gây bệnh do vi sinh vật trên ngao tại Hải

Phòng là ký sinh trùng Perkinsus sp; vi khuẩn Vibrio sp; và nấm, tác nhân Perkinsus

sp là chủ yếu Nguyên nhân gây chết nghêu có thể do ký sinh trùng Perkinsus sp kết

hợp với tác nhân do điều kiện thời tiết nắng nóng, không mưa, độ mặn, nhiệt độ cao,mật độ thả nuôi cao Các thông số môi trường của vùng nuôi nghêu đều trong giói hạn

Trang 26

cho phép Tác giả đã đưa ra khuyến cáo mật độ thả nuôi dựa trên kết quả điều tra, phântích là 80 - 90 con/m2 cỡ nghêu 300 - 400 con/kg nhằm đảm bảo tỷ lệ nhiễm bệnh thấpnhất [9].

1.3.8 Nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ nuôi, kích thước thả giống đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu

Như Văn Cẩn và ctv (2009) nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi đến sinh

trưởng, tỷ lệ sống và năng suất của 2 cỡ nghêu giống Meretrix lyrata Nghêu giống có

kích cỡ 1,0±0,2 cm được rải ở 4 mật độ khác nhau 0,05, 0,10,0,20,0,30 kg/m2; nghêugiống có kích cỡ 1,7±0,1 cm được nuôi với 4 mật độ 0,34, 0,68, 1,36, 2,03 kg/m2 Sau

165 ngày nuôi, với nghêu giống chiều dài vỏ 1,7 cm thì mật độ cao hơn tỷ lệ tăngtrưởng và tỷ lệ sống thấp hơn, lợi nhuận thu được giảm Đối với nghêu giống có chiềudài vỏ 1cm, tỷ lệ tăng trưởng tốt hơn ở mật độ nuôi thấp hơn, tỷ lệ sống ở mật độ nuôi0,3kg/m2 thấp hơn có ý nghĩa so với các mật độ còn lại nên tác giả đã khuyến cáo sửdụng mật độ nuôi 0,2 kg/m2 để thu lợi nhuận cao hơn trong quá trình nuôi [5]

Năm 2011, Hoàng Văn Hợi đã nghiên cứu về sự ảnh hưởng của mật độ tới tăng

trưởng và tỷ lệ sống của nghêu M.lyrata giai đoạn giống 20 - 80 ngày tuổi Kết quả

nghiên cứu đã đưa ra mật độ ương phù hợp giai đoạn này là từ 3.000 - 7.000 con/m2trong đó thích hợp nhất là 3.000 - 5.000 con/m2 [10]

1.3.9 Thực trạng nuôi nghêu tại Hải Phòng

Sản lượng

Diện tích (ha)

Mật độ thả nuôi dao động trong khoảng 100 - 1.000 con/m2 (trung bình 500 - 600con/m2), cỡ nghêu giống thả cũng khác nhau 1.300 con/kg, 1.000 con/kg, 800 con/kg,

Trang 27

300 - 500 con/kg tuỳ thuộc vào năng lực kinh tế của các hộ, kích cỡ nghêu khi thuhoạch 40 - 70 con/kg [19].

là do sự bùng phát của loài vi tảo gây hại Phaeocystis cf globosa Do điều kiện môi

trường thuận lợi cho loài tảo này, chúng đã bùng phát thành các tập đoàn và tạo nênnhiều khối hình cầu có màu vàng nâu với mật độ dày đặc trong môi trường nước vùngnuôi [19]

Năm 2012: Từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 4/2012, tảo Noctiluca scintilans bùng

phát trên quy mô lớn, tạo ra các váng nước màu đỏ bao phủ hầu hết diện tích ven biểnkhu vực Hải Phòng Các váng nước đọng lại khu vực vùng triều đã gây chết hàng loạtcho nghêu và các động vật đáy khác Thời gian nghêu chết hoàn toàn trùng khớp vớithời gian cao điểm của thuỷ triều đỏ Nghêu nuôi bị chết tại xã Đồng Bài, huyện CátHải, sản lượng thiệt hại là 900 tấn [19]

Các kết quả tổng quan tài liệu cho thấy

Trên thế giới, các nghiên cứu về nghêu tương đối phong phú từ việc nghiên cứu

cơ bản đến việc nghiên cứu ứng dụng Tuy nhiên, những nghiên cứu chuyên sâu về

nghêu Meretrix lyrata chưa có nhiều do chúng phân bố ở các nước châu Á, nơi các

công bố còn hạn chế

Tại Việt Nam cho đến nay có nhiều công bố liên quan đến loài M.lyrata Tuy

nhiên, các công trình đã có trong nước chủ yếu là các nghiên cứu về phân loại, phân

bố, nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của nghêu Về sản xuất giống và nuôi

thương phẩm ngoài một số công trình của nghiên cứu về nghêu M.lyrata chủ yếu là

các sách được dịch

Về vấn đề bệnh động vật thân mềm nói chung và nghêu nói riêng mới bắt đầuđược nghiên cứu, đáng chú ý là đề tài của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền điều nghiêncứu tình hình bệnh trên nghêu nuôi ở Hải Phòng

Trang 28

Các vấn đề về ảnh hưởng của môi trường, ảnh hưởng của kích cỡ, mật độ thả đếnsinh trưởng, phát triển là cơ sở khoa học quan trọng cho việc nuôi, bảo vệ và phát triểnnguồn lợi chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu nhất là cho từng kích cỡ, mật độ nuôikhác nhau Mới chỉ có được một vài công bố trong những năm gần đây.

Từ những đánh giá trên cho thấy chưa có nhiều nghiên cứu có hệ thống vàchuyên sâu cho đối tượng nghêu Bến Tre Các công trình nghiên cứu trong nước tậptrung vào giai đoạn có kích cỡ nhỏ, giai đoạn kích cỡ 300 - 400 con/kg còn hạn chế ỞHải Phòng, chưa có nghiên cứu cụ thể để xác định ảnh hưởng của mật độ thả nuôi,kích cỡ giống thả tới sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu Vùng nuôi nghêu ở Kiến Thuỵ

có điều kiện để phát triển, tuy nhiên việc phát triển hầu như tự phát, bộc lộ nhiều bấtcập Việc nghiên cứu xác định kích cỡ giống thả, mật độ thả nuôi phù hợp ở vùng này

là hết sức cần thiết, góp phần đưa ra khuyến cáo cụ thể, thiết thực cho người dân; giúpcho nghề nuôi nghêu phát triển bền vững đồng thời cung cấp thêm tư liệu cho ngànhnuôi trồng thủy sản

Trang 29

Thí nghiệm về mật độ và kích cỡ: 2 yếu tố, 8 nghiệm thức lặp lại 03 lần (24 đơn vị TN)

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và kích cỡ thả nuôi đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) giai đoạn nuôi thương phẩm tại vùng bãi triều, Kiến Thụy, Hải Phòng

Mật độ: 200 con/m2

CHƯƠNG 2 - VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm, thời gian, đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Nghêu (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) kích cỡ 300 con/kg và 400 con/kg

- Thời gian nghiên cứu: 06/2013 đến 01/2014

- Địa điểm nghiên cứu: Vùng bãi triều xã Đại Hợp - Kiến Thụy - Hải Phòng

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Trang 30

- Chăm sóc, quản lý: Trong quá trình nuôi, các loài địch hại thâm nhập vào bãinuôi, vì thế phải thường xuyên kiểm tra các ô nuôi bãi để loại bỏ địch hại và những cáthể nghêu chết Với tác động của thuỷ triều lưới vây có thể bị hư hỏng và nghêu có thể

bị thoát ra ngoài Nghêu thường tập trung ở các góc của ô nuôi do ảnh hưởng của thuỷtriều, vì vậy phải thường xuyên thu gom số nghêu bị dạt, vãi đều lại ô nuôi

Trang 31

2.3 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu

2.3.1 Phương pháp xác định các thông số môi trường

- Nhiệt độ: đo bằng nhiệt kế bách phân, độ chính xác 0,5oC

- Độ mặn đo bằng khúc xạ kế, độ chính xác 0,5‰

- Đo hàm lượng oxy hoà tan (DO) bằng máy đo HANNA (HI 8314)

- Xác định pH bằng máy đo pH HANNA (HI 9142)

2.3.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi

- Xác định chiều dài và khối lượng nghêu thí nghiệm: 30 ngày tiến hành cân khốilượng và đo chiều dài nghêu nuôi, số lượng 30 con/ô Mẫu sau khi cân đo được thả trởlại các ô thí nghiệm Cuối đợt thí nghiệm đếm số nghêu còn lại, xác định tỷ lệ sống

Hình 2.3: Đo chiều dài, khối lượng của nghêu

* Xác định kích thước chiều dài nghêu bằng thước Panme SER.NO 60125699hiệu Mitutoyo (Nhật Bản) độ chính xác 0,02mm

* Khối lượng xác định bằng cân điện tử hiệu Shinko (SER.NO BL133005300)của Nhật Bản độ chính xác 0,02g

Trang 32

+ Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình ngày về chiều dài của nghêu DLG:

DLG (mm/ngày) = (L2 - L1)/(t2 - t1)+ Tốc độ tăng trưởng khối lượng đặc trưng: SGRW

SGRW (%/ngày) = 100 x (lnW2 - lnW1)/(t2 - t1)+ Tốc độ tăng trưởng chiều dài đặc trưng SGRL

SGRL (%/ngày) = 100 x (lnL2 - lnL1)/(t2 - t1)Với W1, W2 là khối lượng nghêu tại thời điểm t1, t2;L1, L2 là chiều dài vỏ tại thờiđiểm t1, t2; t là thời gian nuôi

+ Tỷ lệ sống (%)

TLS = (số nghêu còn sống khi thu hoạch)/(tổng số nghêu ban đầu)*100%

+ Xác định hiệu quả kinh tế bằng phương pháp hạch toán kinh tế

Lợi nhuận = Tổng thu - tổng chi

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

+ Số liệu được phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS 16.0, Excel 2007

+ Các đồ thị và biểu đồ sẽ được vẽ trên Excel Các giá trị tính toán là giá trị trungbình, độ lệch chuẩn, sai số chuẩn Sử dụng phương pháp phân tích phương sai đa yếu

tố (Factorial design) với phần mềm SPSS 16.0 So sánh sự khác nhau giữa các giá trịtrung bình sau phân tích phương sai (post hoc test) bằng phép kiểm định Duncan với

độ tin cậy 95% (P < 0,05)

Trang 33

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Ảnh hưởng của mật độ nuôi, kích cỡ thả nuôi đến tăng trưởng, tỷ lệ sống của nghêu

3.1.1 Biến động các yếu tố môi trường trong thí nghiệm

Các thông số môi trường bao gồm nhiệt độ (toC), oxy hòa tan (DO), pH, độ mặn(S‰) nhất là nhiệt độ, độ mặn có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, pháttriển, sống sót của nghêu Nhiệt độ, độ mặn và pH của các tháng hè thu (7 - 10) có sựchênh lệch so với các tháng mùa đông (11 - 12) Thông số DO biến động phức tạptrong thời gian thí nghiệm

Kết quả theo dõi biến động các yếu tố môi trường trong thí nghiệm được thể hiệnở bảng 3.1:

Trang 34

Bảng 3.1: Điều kiện môi trường trong thời gian thí nghiệm

Trang 35

- Nghêu Bến Tre có nguồn gốc từ vùng đồng bằng sông Cửu Long, là vùng cónhiệt độ không khí cao, nền nhiệt ổn định Nhiệt độ nước vùng nuôi thích hợp nhất chonghêu phát triển trong khoảng 28 – 30oC [24] Nhiệt độ nước vùng nuôi nghêu thínghiệm trong thời gian nghiên cứu dao động từ 18,5 - 34,5oC, trong đó nhiệt độ nướctrong các tháng 7,8,9,10 (hè - thu) cao hơn nhiều so với các tháng 11,12 (đông) Trongthời gian nghiên cứu, nhiệt độ cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 12, chênhlệch nhiệt độ giữa tháng 8 và tháng 12 gần 100C Vào những ngày nắng nóng, nhiệt độnước ở bãi nuôi nghêu có thể lên rất cao, ở mức 34,50C Điều này ảnh hưởng đáng kể

tới tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống của nghêu M.lyratanuôi tại Kiến Thụy - Hải Phòng.

152025303540

Hình 3.1: Sự biến động nhiệt độ trong thời gian thí nghiệm

- Độ pH có ảnh hưởng lớn tới đời sống của thuỷ sinh vật pH của môi trường quácao hay quá thấp đều không thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật Tác động chủ yếukhi pH quá cao hay thấp là làm thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào dẫn đến làm rốiloạn quá trình trao đổi muối - nước giữa cơ thể và môi trường ngoài Độ pH ở khu vựcnghiên cứu dao động từ 7,19 - 8,26 So với các vùng cửa sông ven biển khác của HảiPhòng, khu vực nghiên cứu được đánh giá có độ pH thấp Giá trị pH các tháng hè thu(7 - 10) thấp hơn các tháng mùa đông (11 - 12), kết quả này là do ảnh hưởng củanguồn nước lục địa đổ ra vùng nuôi nghêu thí nghiệm ở các tháng hè - thu lớn hơn sovới các tháng mùa đông

Trang 36

7 8 9 10 11 126.6

6.877.27.47.67.888.28.4

Tháng

Hình 3.2: Biến động pH trong thời gian thí nghiệm

- Vùng nuôi nghêu nghiên cứu là khu vực cửa sông ven biển nên độ mặn chịuảnh hưởng rất lớn của nguồn nước lục địa đưa ra theo mùa, chênh lệch độ mặn cao 6 -22‰ Mặc dù nghêu có thể điều chỉnh để thích ứng với sự thay đổi độ mặn nhưng khi

độ mặn nằm ngoài phạm vi tối ưu, nghêu có dấu hiệu stress, nếu thời gian kéo dàinghêu sẽ chết Trong các tháng mùa mưa (7 - 10) độ mặn giảm so với các tháng 11 -

12, tuy nhiên thời gian ngọt hoá không dài, đảm bảo cho nghêu sinh trưởng, phát triểnbình thường

0510152025

Ngày đăng: 27/01/2015, 14:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Cấu tạo trong của nghêu [24] - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và kích cỡ thả nuôi đến sinhtrưởng, tỷ lệ sống của nghêu (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn nuôi thương phẩm tại vùng bãi triều, kiến thụy, hải phòng
Hình 1.2 Cấu tạo trong của nghêu [24] (Trang 12)
Hình 1.1: Đặc điểm cấu tạo ngoài của nghêu [30] - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và kích cỡ thả nuôi đến sinhtrưởng, tỷ lệ sống của nghêu (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn nuôi thương phẩm tại vùng bãi triều, kiến thụy, hải phòng
Hình 1.1 Đặc điểm cấu tạo ngoài của nghêu [30] (Trang 12)
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và kích cỡ thả nuôi đến sinhtrưởng, tỷ lệ sống của nghêu (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn nuôi thương phẩm tại vùng bãi triều, kiến thụy, hải phòng
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (Trang 28)
Hình 2.2: Bố trí thí nghiệm các ô nuôi - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và kích cỡ thả nuôi đến sinhtrưởng, tỷ lệ sống của nghêu (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn nuôi thương phẩm tại vùng bãi triều, kiến thụy, hải phòng
Hình 2.2 Bố trí thí nghiệm các ô nuôi (Trang 29)
Hình 2.3: Đo chiều dài, khối lượng của nghêu - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và kích cỡ thả nuôi đến sinhtrưởng, tỷ lệ sống của nghêu (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn nuôi thương phẩm tại vùng bãi triều, kiến thụy, hải phòng
Hình 2.3 Đo chiều dài, khối lượng của nghêu (Trang 30)
Bảng 3.1: Điều kiện môi trường trong thời gian thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và kích cỡ thả nuôi đến sinhtrưởng, tỷ lệ sống của nghêu (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn nuôi thương phẩm tại vùng bãi triều, kiến thụy, hải phòng
Bảng 3.1 Điều kiện môi trường trong thời gian thí nghiệm (Trang 33)
Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài (mm/ngày) của nghêu nuôi - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và kích cỡ thả nuôi đến sinhtrưởng, tỷ lệ sống của nghêu (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn nuôi thương phẩm tại vùng bãi triều, kiến thụy, hải phòng
Bảng 3.2 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài (mm/ngày) của nghêu nuôi (Trang 36)
Hình 3.7: Tốc độ tăng trưởng khối lượng đặc trưng của nghêu (SRG W ) - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và kích cỡ thả nuôi đến sinhtrưởng, tỷ lệ sống của nghêu (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn nuôi thương phẩm tại vùng bãi triều, kiến thụy, hải phòng
Hình 3.7 Tốc độ tăng trưởng khối lượng đặc trưng của nghêu (SRG W ) (Trang 37)
Bảng 3.4: Tỷ lệ sống của nghêu ở các nghiệm thức thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và kích cỡ thả nuôi đến sinhtrưởng, tỷ lệ sống của nghêu (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn nuôi thương phẩm tại vùng bãi triều, kiến thụy, hải phòng
Bảng 3.4 Tỷ lệ sống của nghêu ở các nghiệm thức thí nghiệm (Trang 38)
Bảng 3.5: Hạch toán hiệu quả kinh tế của nghêu nuôi ở các nghiệm thức - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và kích cỡ thả nuôi đến sinhtrưởng, tỷ lệ sống của nghêu (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn nuôi thương phẩm tại vùng bãi triều, kiến thụy, hải phòng
Bảng 3.5 Hạch toán hiệu quả kinh tế của nghêu nuôi ở các nghiệm thức (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w