Bởi vì có mở rộng đầu tư tín dụng, và chất lượng tín dụng ngân hàng lành mạnh có tác dụng thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế trong xã hội phát triển, cũng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
NAM CHI NHÁNH SÔNG NHUỆ
SINH VIÊN THỰC HIỆN : TÔ KIỀU TRANG
MÃ SINH VIÊN : A16949
CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG
HÀ NỘI – 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
NAM CHI NHÁNH SÔNG NHUỆ
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Thúy Sinh viên thực hiện : Tô Kiều Trang
Mã sinh viên : A16949
Chuyên ngành : Tài chính-Ngân hàng
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn là Tiến
sĩ Nguyễn Thị Thúy, cô đã luôn giúp đỡ, trau dồi thêm kiến thức, chỉ ra những thiếu sót và giúp em có những định hướng tốt hơn trong suốt thời gian em thực hiện làm khóa luận Em cũng xin đặc biệt cảm ơn anh, chị, cô, chú đang công tác tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Sông Nhuệ đã giúp đỡ, cung cấp thông tin, tài liệu hữu ích tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Ngày 27 tháng 10 năm 2014
Sinh viên
Tô Kiều Trang
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1 Tổng quan về tín dụng ngân hàng .1
1.1.1 Khái niệm tín dụng 1
1.1.2 Tín dụng ngân hàng 1
1.1.2.1 Khái niệm 1
1.1.2.2 Bản chất của tín dụng ngân hàng 2
1.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng 2
1.2 Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại 4
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng 4
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng 5
1.2.2.1 Chỉ tiêu định tính 5
1.2.2.2 Chỉ tiêu định lượng 6
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại 9
1.2.3.1 Nhân tố không kiểm soát được 9
1.2.3.2 Nhân tố kiểm soát được 11
Kết luận chương I 13
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH SÔNG NHUỆ .14
2.1 Khái quát về ngân hàng thương mại Công Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ .14
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng Công Thương Việt Nam- Chi nhánh Sông Nhuệ 14
2.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của ngân hàng thương mại Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Nhuệ .15
2.1.3 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban 15
2.2 Khái quát hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại Công Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ trong những năm gần đây 18
2.2.1 Hoạt động huy động vốn .18
2.2.2 Hoạt động sử dụng vốn (chủ yếu là cho vay) 25
2.2.3 Một số hoạt động kinh doanh khác .27
2.2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng 29
2.3 Thực trạng cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ .35
2.3.1 Các quy định về cơ sở cho vay, chính sách pháp lý và quy trình vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ .35 2.3.2 Tình hình doanh số cho vay tại Ngân hàng Công Thương Việt Nam chi nhánh Sông Nhuệ 39
Trang 52.3.3 Tình hình doanh số thu nợ tại Ngân hàng Công Thương Việt Nam chi nhánh
Sông Nhuệ 42
2.3.4 Tình hình dư nợ cho vay tại Ngân hàng Công Thương Việt Nam chi nhánh Sông Nhuệ 44
2.4 Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Công Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ 47
2.4.1 Chỉ tiêu định tính 47
2.4.1.1 Đảm bảo nguyên tắc cho vay: 47
2.4.1.2 Uy tín của ngân hàng: 48
2.4.1.3 Hoạt động kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro của ngân hàng: 48
2.4.2 Chỉ tiêu định lượng 49
2.4.2.1 Doanh thu từ lãi cho vay 49
2.4.2.2 Dư nợ quá hạn 52
2.4.2.3 Tỷ lệ nợ khó đòi 53
2.4.2.4 Vòng quay vốn tín dụng 54
2.4.2.5 Hiệu suất sử dụng vốn 56
2.5 Đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng của NHTMCP Công Thương VN-Chi nhánh Sông Nhuệ .57
2.5.1 Những kết quả đã đạt được 57
2.5.2 Những khó khăn và hạn chế 59
2.5.3 Nguyên nhân của hạn chế 60
Kết luận chương 2 63
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG VN 64
3.1 Định hướng của NHTMCP Công Thương VN trong thời gian tới 64
3.2 Một số giải pháp chủ yếu 65
3.2.1 Đẩy mạnh công tác huy động vốn 65
3.2.2 Chính sách cho vay 67
3.2.3 Đẩy mạnh hoạt động marketing ngân hàng .69
3.2.4.Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 70
3.2.5 Công tác thẩm định tín dụng 72
3.2.6 Xử lý nợ quá hạn 75
3.3 Kiến nghị 77
3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 77
3.3.2 Kiến nghị đối với ngân hàng Nhà nước 78
3.3.3 Kiến nghị đối với NH Công Thương Việt nam 79
Kết luận chương 3 80
KẾT LUẬN 81
Danh mục tài liệu tham khảo 82
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự
hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Tô Kiều Trang
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của ngân hàng thương mại Công Thương VN - Chi
nhánh Sông Nhuệ giai đoạn 2011 - 2013 19
Bảng 2.2 Tình hình hoạt động cho vay tại NHCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ .25
Bảng 2.3 Tình hình thu nhập của ngân hàng giai đoạn 2011 - 2013 30
Bảng 2.4 Tình hình chi phí của ngân hàng giai đoạn 2011 - 2013 33
Bảng 2.5 Tình hình lợi nhuận ngân hàng giai đoạn 2011-2013 35
Bảng 2.6 Tình hình giải ngân cho vay giai đoạn 2011 - 2013 39
Bảng 2.7 Tình hình doanh số thu nợ giai đoạn 2011 - 2013 42
Bảng 2.8 Tình hình dư nợ cho vay phân theo kỳ hạn giai đoạn 2011- 2013 45
Bảng 2.9 Tình hình thu lãi cho vay kinh doanh giai đoạn 2011 - 2013 50
Bảng 2.10 Hệ số chất lượng cho vay giai đoạn 2011 - 2013 52
Bảng 2.11 Chỉ tiêu vòng quay của vốn tín dụng 54
Bảng 2.12 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn tại ngân hàng giai đoạn 2011-2013 56
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng: 15
Biểu đồ 2.1 Tình hình huy động vốn theo kỳ hạn giai đoạn 2011-2013 20
Biểu đồ 2.2 Tỷ trọng nguồn vốn huy động theo thành phần kinh tế giai đoạn 2011 – 2013.22 Biểu đồ 2.3 Tỷ trọng nguồn vốn huy động theo loại tiền giai đoạn 2011-2013 24
Biểu đồ 2.4 Tỷ trọng doanh số cho vay giai đoạn 2011 – 2013 40
Biểu đồ 2.5 Tỷ trọng doanh số thu nợ của Vietinbank chi nhánh Sông Nhuệ giai đoạn 2011 - 2013 43
Biểu đồ 2.6 Tỷ trọng cho vay của Vietinbank chi nhánh Sông Nhuệ giai đoạn 2011-2013 46
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU 1-Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, hệ thống các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, lớn mạnh về mọi mặt, kể cả số lượng, qui mô và chất lượng Có thể nói quá trình đổi mới là một bước ngoặt to lớn giúp nền kinh tế nói chung và hệ thống các ngân hàng nói riêng từng bước đi lên Giai đoạn 2011-2012, ngành ngân hàng lao đao vì hậu quả của tình trạng tăng trưởng quá nóng với các điều kiện tín dụng được nới lỏng quá mức trước đó Hàng loạt các giải pháp đã được đưa ra để hạ nhiệt tín dụng, nhưng cũng bởi thế tổng lợi nhuận toàn ngành ngân hàng năm 2012 đã sụt giảm gần 50% so với năm 2011 Sang năm 2013, các giải pháp tín dụng tiếp tục được điều hành linh hoạt hơn theo hướng “tái tạo” đường cong lãi suất, mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng, phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, đồng thời tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
ở mức hợp lý Nhờ đó, cuối tháng 12/2013, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống gần sát mục tiêu 12,51% ( Nguồn: Ông Lê Đức Thọ - chánh Văn phòng NHNN công bố vào buổi họp báo ngày 21/1/2014 ) Điều này thể hiện nỗ lực rất lớn của ngành ngân hàng bởi nếu nhìn vào tốc độ tăng tín dụng các tháng năm 2013 thì có thể thấy rằng, tín dụng mới chỉ bắt đầu tăng trưởng dương từ quý II Cơ cấu tín dụng đã từng bước hợp
lý, hiệu quả và an toàn hơn, đã tập trung được vốn vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên Nhờ đó, tăng trưởng kinh tế vẫn ở mức hợp lý và các ngân hàng đã bắt đầu có lãi trở lại, ngay cả những ngân hàng nhỏ Tuy hoạt động ngân hàng ở nước ta gặp nhiều khó khăn và còn nhiều vấn đề tồn tại nhất là trong khâu tín dụng của các NHTM nhưng do xác định được tầm quan trọng của tín dụng và vai trò của ngân hàng Chính phủ và NHNN Việt Nam đã có nhiều giải pháp
để nâng cao chất lượng tín dụng trong toàn bộ hệ thống NHTM Việt Nam
Tuy nhiên việc nâng cao chất lượng tín dụng và an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng không chỉ là vần đề quan tâm của riêng ngành ngân hàng mà nó là mối quan tâm chung của Nhà nước và toàn xã hội Bởi vì có mở rộng đầu tư tín dụng,
và chất lượng tín dụng ngân hàng lành mạnh có tác dụng thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế trong xã hội phát triển, cũng là điều kiện cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng được mở rộng và phát triển Cho nên để tồn tại và phát triển bền vững trong hội nhập và cạnh tranh, việc nâng cao chất lượng tín dụng là một vấn đề cấp thiết, nó quyết định đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng
Chính từ thực tế nêu trên, có thể thấy nâng cao chất lượng tín dụng là một vấn
đề cấp thiết và quan trọng hơn bao giờ hết Nó ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc tới hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng Công
Trang 10Thương Việt Nam nói riêng, cụ thể là tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ Do vậy, em đã chọn đề tài:"Nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ" làm khóa luận tốt nghiệp, với mong muốn có thể đóng góp một phần nào đó giúp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngân hàng Thương mại
2 - Mục đích nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tại tập trung vào 3 vấn đề sau:
- Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ để thấy những hạn chế, tồn tại trong hoạt động tín dụng và tìm ra nguyên nhân tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ
- Đưa các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ phù hợp với thực trạng hoạt động tín dụng và điều kiện phát triển kinh tế trên địa bàn
3 - Đối tượng nghiên cứu:
Chất lượng tín dụng tại ngân hàng Công thương Việt Nam – Chi nhánh Sông Nhuệ
4 - Phạm vi nghiên cứu:
Chất lượng tín dụng tại ngân hàng Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Nhuệ trong 3 năm : 2011, 2012 và 2013
5 - Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu em đã sử dụng phương pháp thống kê kinh tế thích hợp để thu thập số liệu Thông tin thu thập được thông qua nhiều kênh như quá trình thực tập trực tiếp tại ngân hàng, các báo cáo tài chính năm, báo cáo tín dụng… phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu một cách khoa học nhằm đánh giá tình hình và tìm giải pháp cho quá trình nghiên cứu Sử dụng các bảng biểu, biểu đồ để chứng minh và rút ra kết luận
6 - Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục, bảng biểu và sơ dồ, nội dung khóa luận gồm làm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về chất lượng tín dụng của NHTM
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ
Trang 11CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
hệ vay mượn hoàn trả
Một cách chung nhất, khái niệm tín dụng theo pháp luật ngân hàng Việt Nam (Khoản 20 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010) ghi nhận rằng: “ Tín dụng là quan hệ vay (mượn) dựa trên cơ sở tin tưởng và tín nhiệm giữa bên cho vay (mượn) và bên đi vay (mượn) Theo đó, bên cho vay chuyển giao một lượng vốn tiền tệ (hoặc tài sản) để bên vay sử dụng có thời hạn Khi đến hạn, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả vốn (tài sản) ban đầu
Theo Thư viện Học liệu Mở Việt Nam (VOER): Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng còn bên kia là các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế, là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức
và các DN khác trong xã hội Nó không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và
là quan hệ bình đẳng cả 2 bên cùng có lợi Tín dụng ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác
Trang 121.1.2.2 Bản chất của tín dụng ngân hàng
Với nền kinh tế hàng hoá, tín dụng tồn tại trên cơ sở mối quan hệ về thanh toán gắn liền với sản xuất hàng hoá Nhưng tuỳ thuộc vào loại hình kinh tế mà nhu cầu về vốn cũng khác nhau Từ đó dẫn đến ở cùng một thời gian sẽ có sự thiếu và thừa vốn tạm thời, mâu thuẫn này sẽ làm cho các cá nhân đơn vị kinh tế tiến hành sản xuất kinh doanh với hiệu quả chưa cao Do hiện nay, các doanh nghiệp ở Việt Nam chủ yếu là các DNVVN (theo số liệu điều tra Hà Nội năm 2012) có hơn 60% doanh nghiệp thiếu vốn sản xuất, mở rộng kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm
để có thể cạnh tranh phát triển và đứng vững trên thị trường Tuy nhiên, nguồn cung ứng từ các nhà đầu tư còn hạn chế, vốn trong nhân dân thì không huy động được nhiều Từ thực tế này NHTM với vai trò là nguời trung gian sẽ tìm mọi cách huy động mọi nguồn vốn còn nhàn rỗi để cho các đơn vị vay vốn nhưng trên cơ sở: Vay - Hoàn trả Ẩn dưới sự di chuyển các luồng vốn tạm thời từ người có vốn và người cần vốn là quan hệ vay mượn Trong mối quan hệ này, thường có 3 giai đoạn chính:
- Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay: giai đoạn đầu tiên này thì vốn tiền
tệ sẽ được các tổ chức trung gian tài chính là các NHTM chuyển từ người có vốn nhàn rỗi sang người đi vay vốn
- Sử dụng vốn: khi người đi vay nhận được quyền sử dụng lượng vốn đó sẽ dùng cho những mục đích khác nhau như chi tiêu dùng, mở rộng sản xuất kinh doanh hay mang đi đầu tư Tuy nhiên trong quá trình sử dụng, người đi vay chỉ dụng tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định lượng vốn chứ không có quyền sở hữu nó
- Hoàn trả tín dụng: đây là giai đoạn kết thúc để hoàn thành một vòng quay vốn, người đi vay phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng
Hay nói rõ hơn, hoàn trả là bản chất của tín dụng ngân hàng giữa người cho vay và người đi vay Họ là những người khác nhau trong nền kinh tế, gặp nhau ở điểm cân bằng giữa nhu cầu vay vốn tiền tệ và khả năng đáp ứng nhu cầu này theo những tổ chức của pháp luật và những nguyên tắc tín dụng tương ứng Hình thức tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu của nền kinh tế thị trường và nó luôn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt và kịp thời
1.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là công cụ đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh
tế và điều hành nền kinh tế thị trường Vai trò của tín dụng ngân hàng thể hiện trên các khía cạnh sau:
*Một là: Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ chế phân phối vốn một cách có hiệu quả
Trang 13Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất kinh doanh của các DN luôn co sự không ăn khớp về thời gian và khối lượng giữa lượng tiền cần thiết để dự trữ vật tư hàng hóa cho quá trình sản xuất kinh doanh trước đó Vì vậy, luân chuyển tiền tệ của DN có lúc thừa vốn, có lúc thiếu vốn Nguồn vốn DN tạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết kiệm từ tiền gửi dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách…được ngân hàng thương mại huy động và sử dụng để đầu tư cho các DN đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vượt quá thu nhập của dân chúng, cũng coi như cho nhu cầu chi của ngân sách nhà nước khi chưa có nguồn thu
Thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát ngân hàng thương mại sẽ chỉ cho vay các
dự án có tính khả thi cao, khả năng thu hồi vốn lớn Điều này tạo nên một cơ chế phân phối vốn hiệu quả
* Hai là: Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan
hệ giao lưu kinh tế quốc tế
Trước xu thế quốc tế hóa, sự giao lưu kinh tế giữa các nước luôn được đặt ra Trong nền kinh tế mở thì các DN không chí có quan hệ mua bán với các thành phần khác trong nền kinh tế mà còn có những quan hệ xuất nhập khẩu với các DN nước ngoài Ngân hàng thương mại có thể thúc đẩy mối quan hệ này thông qua hình thức bảo lãnh, cho vay…đối với các DN để từ đó nâng cao uy tín của DN trên trường quốc tế
* Ba là: Tín dụng ngân hàng góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế và các chính sách tiền tệ
Một trong những đặc điểm quan trọng của ngân hàng thương mại là khả năng tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán Khi nhà nước muốn tăng khối lượng tiền cung ứng thì ngân hàng nhà nước có thể tăng hạn mức tín dụng của các ngân hàng thương mại đối với nên kinh tế và ngược lại, Do vậy thông qua hình thức tín dụng ngân hàng nhà nước có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông
* Bốn là: Tín dụng ngân hàng còn làm tăng hiệu quả kinh tế
Các DN hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu và vốn vay Một trong những nguồn để vay là từ ngân hàng, đó là nguồn tài trợ hiệu quả bởi vì nó thỏa mãn nhu cầu về số lượng và thời hạn Hơn nữa, để có thể vay vốn được từ ngân hàng thì các DN cần phải nâng cao uy tín của mình đối với ngân hàng, đảm bảo được các nguyên tắc tín dụng Muốn vậy, trong các dự án kinh doanh của mình, DN phải chọn dự án có mức sinh lãi cao nhấy Để các dự án khả thi, DN phải tìm hiểu thị trường khai thác thông tin để định lượng hoạt động kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả Điều đó làm tăng hiệu quả kinh tế của các dự án
Trang 14Mặt khác,một trong những quy định của tín dụng ngân hàng là khâu giám sát sử dụng vốn vay Với việc giám sát này của ngân hàng, bắt buộc DN phải sự dụng vốn vay đúng mục đích, phải nhạy bén với những thay đổi của thị trường, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế Bên cạnh đó, vai trò tư vấn của cán bộ tín dụng sẽ giúp cho
DN lường trước được những khó khăn, vượt qua khó khăn để đứng vững, điều này cũng sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế
Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng với sự phát triển kinh tế xã hội của một đất nước Tuy nhiên để tín dụng ngân hàng phát huy hết vai trò của nó thì các nhà quản lý ngân hàng cũng như các cơ quan chức năng phải tạo ra một hành lang pháp lý cũng như quy định chặt chẽ và tạo điều kiện thuận lợi cho cả người cho vay và người đi vay Thông qua chất lượng tín dụng có thể phần nào đánh giá được ngân hàng thương mại đó có hoạt động tín dụng tốt hay không
1.2 Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng
Là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng (người gửi tiền và người cho vay) phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của tổ chức tín dụng cung cấp sản phẩm tín dụng đó
Theo từ điển Weekipedia thì :”Chất lượng tín dụng là một phạm trù phản ánh mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng”
Trong thực tế, theo bản chất tín dụng là mối quan hệ giữa người cho vay và người vay, liên quan đến nhiều chủ thể kinh tế và có vai trò cực kì to lớn, bởi vậy chất lượng hoạt động của ngân hàng không những phụ thuộc vào bản thân của người vay
mà còn phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của người cho vay (cá nhân,DN …) Ngoài ra chất lượng tín dụng còn được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Đối với khách hàng: Tín dụng ngân hàng phát ra phải phù hợp với mục đích
sử dụng, đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển hoặc đời sống của khách hàng với lãi xuất, kì hạn hợp lý, hồ sơ thủ tục đơn giản, nhanh gọn thu hút được khách hàng, vẫn đảm bảo được nguyên tắc tín dụng và theo đúng quy định của pháp luật Mặt khác khách hàng sử dụng vốn vay thực hiện thanh toán đầy đủ cả gốc
và lãi đúng kì hạn đã thoả thuận với ngân hàng Việc sử dụng vốn vay đó không những
có hiệu quả mang lại lợi nhuận cho khách hàng mà còn có ý nghĩa kinh tế - xã hội đối với đất nước
- Đối với NHTM: Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực, chính sách theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng Các khoản tín dụng được đảm bảo an toàn, sử dụng đúng mục đích, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng với chi phí nghiệp vụ thấp làm tăng sự cạnh tranh
Trang 15trên thị trường, tăng hiệu quả các mối quan hệ kinh tế, và phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản nhất đối với hoạt động tín dụng ngân hàng đó là vốn vay phải được hoàn trả đúng thời hạn và có lãi
Như vậy, chất lượng tín dụng là mức độ thỏa mãn nhu cầu và hiệu quả của nền kinh tế, của người đi vay và người cho vay trong quan hệ tín dụng Để có được chất lượng tín dụng tốt thì hoạt động tín dụng phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải thiết lập trên cơ sở tin cậy và uy tín trong hoạt động Nói cách khác, chất lượng tín dụng tỷ lệ thuận với hiệu quả và độ tin cậy trong hoạt động Hiểu đúng bản chất về chất lượng tín dụng, phân tích đánh giá đúng chất lượng tín dụng hiện tại cũng như xác định chính xác các nguyên nhân của những tồn tại về chất lượng sẽ giúp ngân hàng tìm được biện pháp thích hợp để có thể đứng vững trong nên kinh tế có sự cạnh tranh gay gắt như ngày nay
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Hiện nay, tín dụng vẫn chiếm khoảng 60% - 70% trong tổng tài sản có của các ngân hàng thương mại (Nguồn: Số liệu báo cáo tình hình kinh tế-xã hội của Tổng cục Thống kê năm 2013) Vì thế sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào tín dụng và chất lượng tín dụng Việc đánh giá chất lượng tín dụng ở các ngân hàng hiện nay thông qua các chỉ tiêu cơ bản sau:
- Uy tín của ngân hàng đối với khách hàng:
Sự hài lòng của khách hàng đối với các sản phẩm tín dụng mà ngân hàng cung cấp về quy mô, lãi suất, phí, thời gian phục vụ Để có được sự uy tín đối với khách hàng, ngoài chất lượng sản phẩm tín dụng thì ngân hàng đó cần phải có những nhân viên có nghiệp vụ chuyên môn tốt, khả năng ứng dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại trong quá trình cung cấp tín dụng nhằm rút ngắn thời gian phục vụ nhưng vẫn đảm bảo
Trang 16thu thập, lưu trữ đầy đủ thông tin giúp ngân hàng khai thác, phát hiện và phòng trừ, ngăn ngừa rủi ro
Các chỉ tiêu định tính rất khó xác định và chủ yếu dựa vào các kinh nghiệm của các nhà quản lý cũng như các cán bộ ngân hàng đối với các mối quan hệ với khách hàng Vì vậy, trên thực tế, nếu nói đến chất lượng tín dụng người ta thường chú ý đánh giá nhiều đến các chỉ tiêu mang tính định lượng
1.2.2.2 Chỉ tiêu định lượng
Chỉ tiêu định lượng giúp cho ngân hàng có cách đánh giá cụ thể hơn về mặt chất lượng tín dụng, giúp các ngân hàng có biện pháp xử lý kịp thời những khoản vay kém chất lượng Các chỉ tiêu cụ thể mà các ngân hàng thường dùng là:
- Thu nhập từ hoạt động tín dụng:
Một khoản tín dụng được đánh giá là có chất lượng khi khoản tín dụng đó tạo ra thu nhập cho ngân hàng Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận Nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng tồn tại
và phát triển Hoạt động tín dụng có lãi chứng tỏ ngân hàng không chỉ thu được vốn đủ khả năng chi trả cho các khoản chi phí mà còn có thêm lợi nhuận
Thu nhập từ HĐTD
Tỷ lệ thu nhập
từ HĐTD = Tổng thu nhập của NH *100%
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản tín dụng của ngân hàng
Nó cho biết tỷ lệ lãi phát sinh từ hoạt động tín dụng trên một đơn vị thu nhập là bao nhiêu Với cùng một mức thu nhập, nếu ngân hàng nào giảm được chi phí đầu vào càng nhiều thì tỷ lệ thu nhập càng lớn, chứng tỏ ngân hàng hoạt động tốt Điều này góp phần tạo nên chất lượng tín dụng tốt
- Số lượng khách hàng vay vốn tại ngân hàng:
Chỉ tiêu này được tính trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 1 năm
Sự tăng trưởng của nó qua các năm cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng đang được mở rộng và chất lượng tín dụng đang được cải thiện
- Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng:
Dư nợ tín dụng kì này – Dư nợ tín dụng kỳ trước Tốc độ tăng trưởng
dư nợ tín dụng = Dư nợ tín dụng kỳ trước *100% Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng Nếu chỉ tiêu này tăng dần qua các năm thì tốc độ tăng trưởng tín dụng ngày càng được nâng cao
Trang 17hay ngân hàng đang có xu hướng mở rộng hoạt động tín dụng
- Nợ quá hạn:
Nợ quá hạn là khoản nợ (gồm tất cả gốc và lãi) mà khách hàng không trả được khi đến hạn thanh toán ngân hàng không đồng ý gia hạn nợ Số tiền này ngân hàng chuyển thành nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn đối với những khoản nợ này (cao hơn lãi suất thông thường) Nợ quá hạn được coi là chỉ tiêu quan trọng trong phản ánh chất lượng cho vay vì nếu tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng cao, điều này biểu hiện chất lượng hoạt động tín dụng tại ngân hàng thấp tức là mức độ rủi ro cao Nếu tỷ lệ này càng cao thì ngân hàng sẽ có khả năng mất vốn
Để đánh giá chất lượng tín dụng trên cơ sở nợ quá hạn, người ta thường thông qua tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ tổng dư nợ cho vay:
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ cho vay * 100%
Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN của NHNN về tỷ lệ nợ quá hạn như sau:
Tỷ lệ > 3% thì hiệu quả cho vay của NH xấu
Tỷ lệ < 3% thì dư nợ tín dụng càng nhỏ, tỷ lệ nợ quá hạn thấp thì chất lượng tín dụng ngày càng cao
Để đánh giá khả năng không thu hồi được nợ người ta sử dụng chỉ tiêu
- Tỷ lệ nợ xấu:
Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN quy định nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3,4 và 5 quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 của Quy định này Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng, thường vào khoảng 2% - 5% là chấp nhận được
Nợ xấu cho vay
Tỷ lệ nợ xấu =
Tổng dư nợ cho vay * 100%
Nợ xấu là những khoản nợ mà khả năng thu hồi rất thấp Đây là những khoản
nợ mà ngân hàng không hề mong muốn Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ phản ánh tỷ trọng của nợ xấu trong tổng dư nợ của ngân hàng Tỷ lệ này càng cao càng phản ánh những rủi ro trong cho vay của ngân hàng lớn Có nhiều biện pháp để giải quyết nợ xấu, tùy vào tình hình thực tế của doanh nghiệp mà ngân hàng có thể đưa ra những biện pháp khác nhau từ gia hạn nợ đến phát mại tài sản đảm bảo
Trang 18Cả hai tỷ lệ này đều giúp ngân hàng quản lý rủi ro các khoản vay Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa hai tỷ lệ này là nợ quá hạn chỉ xem xét đến giá trị khoản nợ trong hạn, còn
nợ khó đòi xem xét các món vay mà phát sinh nợ quá hạn
- Vòng quay vốn tín dụng
Chất lượng tín dụng thể hiện ở vòng quay vốn tín dụng được tính theo công thức:
Doanh số trả nợ trong kỳ Vòng quay vốn tín dụng =
Tổng dư nợ bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng, thời gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm Vòng quay vốn càng nhanh thì coi là tốt
và việc đầu tư càng được an toàn
Trong đó :
Dư nợ đầu năm + Dư nợ cuối năm
Dư nợ bình quân =
2 Vòng quay vốn tín dụng phản ánh số vốn ngân hàng thu được do khách hàng trả
nợ đúng kỳ hạn, nó đảm bảo chất lượng tín dụng của khoản vay Vòng quay vốn càng lớn chứng tỏ số vốn ngân hàng thu được đúng hạn càng nhiều, tần suất sử dụng khoản vốn đầu tư này để tái đầu tư càng lớn Đồng thời, vòng quay vốn càng lớn thì nợ quá hạn trong kỳ càng nhỏ, ngân hàng tránh được rủi ro mất vốn, đảm bảo được lợi nhuận trong
kỳ của mình Một ngân hàng có vòng quay vốn lớn chứng tỏ chất lượng tín dụng tốt và phát triển tương đối ổn định Bởi vì ngân hàng hoạt động hiệu quả khi một đồng vốn cho vay được đảm bảo bằng một hoặc nhiều đồng vốn thu về từ khách hàng tại một thời điểm nhất định nên vòng quay vốn lớn hơn 1 là tốt, còn nhỏ hơn 1 là không tốt
- Hiệu suất sử dụng vốn (hay chỉ tiêu tổng dư nợ):
Tổng dư nợ Hiệu suất sử dụng vốn =
Tổng vốn huy động * 100%
Trang 19Chỉ tiêu này rất quan trọng vì nó đánh giá hiệu quả sử dụng vốn để đầu tư của ngân hàng thương mại Chỉ tiêu này thường nhỏ hơn 1 Nếu hệ số sử dụng vốn gần bằng 1 thì ngân hàng thương mại phải chú ý tăng trưởng nguồn vốn để đề phòng mất khả năng thanh toán Nếu tỷ lệ cho vay trên tổng nguồn vốn thấp phải tăng trưởng dư
nợ hoặc giảm vốn huy động bằng cách hạ lãi suất huy động, hạn chế rủi ro nguồn vốn tác động đến chất lượng tín dụng Qua đó ta thấy rằng việc vận dụng một cách linh hoạt giữa nguồn vốn đi vay và sử dụng vốn đó để cho vay góp phần không nhỏ trong hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
Như vậy, để đánh giá chất lượng tín dụng của một ngân hàng, chúng ta có thể đánh giá qua rất nhiều các chỉ tiêu định lượng về tính toán về các tỷ lệ (nợ quá hạn lợi nhuận…) hoặc các chỉ tiêu định tính
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại Ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc biệt, sản phẩm dịch vụ của ngân hàng khác biệt với các ngành kinh doanh khác Do đó hoạt động kinh doanh của ngân hàng không những chịu sự tác động của các nhân tố từ chính bản thân ngành ngân hàng mà còn chịu sự tác động của của các nhân tố khác như: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường pháp lý của một quốc gia và chịu sự tác động về trình độ quản lý, năng lực điều hành và hiệu quả kinh doanh của khách hàng Những nhân tố trên làm ảnh hưởng tích cực hay hạn chế tói hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đồng thời nó sẽ ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng như thế nào ?
1.2.3.1 Nhân tố không kiểm soát được
- Nhân tố kinh tế xã hội:
Hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn có quan hệ mật thiết với nền kinh tế Nếu một nền kinh tế ổn định, lạm phát thấp, không có khủng hoảng thì hoạt động của
DN đều có hiệu quả, DN sẽ hoàn trả được vốn vay ngân hàng đúng hạn cả lãi và gốc,
sẽ tạo ra môi trường thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng là mở rộng đầu tư, tăng cường vốn tín dụng và có khả năng thu hồi vốn Ví dụ khi nền kinh tế
có hiện tượng lạm phát tăng vọt, giá cả đồng tiền giảm sút, chỉ số giá cả tăng nhanh gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh, tác động xấu đến khả năng thu hồi công nợ của ngân hàng Hay khi có sự biến động lớn trong tỷ giá do sự thay đổi chính sách tiền tệ của Nhà nước, đồng nội tệ bị giảm giá, các doanh vốn bằng ngoại tệ mà không có nguồn thu bằng ngoại tệ sẽ gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng Hay như nếu có
sự phù hợp giữa lái suất cho vay của ngân hàng cới mức lợi nhuận của các DN sản xuất kinh doanh và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín dụng ngân hàng Với mức lãi suất cao, chi phí trả lãi lớn sẽ là yếu tố làm cho giá thành sản phẩm, dịch vụ tăng cao, mà giá bán phụ thuộc cung cầu trên thị trường
Trang 20nên khó tăng theo, khi đó các DN sẽ gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh Vì vậy, việc trả nợ vay ngân hàng sẽ gặp khó khăn, kéo theo chất lượng tín dụng của ngân hàng đó sẽ bị giảm sút
Như vậy chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại sẽ chịu ảnh hưởng của môi trường kinh tế mà nó hoạt động, vấn đề đối với các ngân hàng là phải làm tốt công tác dự báo và khả năng thích ứng nhanh khi có sự biến động nhằm đảm bảo chất lượng của hoạt động tín dụng
- Nhân tố môi trường pháp lý:
Quá trình hoạt động của ngân hàng và các DN, tổ chức kinh tế không thể nằm ngoài sự bảo hộ và điều chỉnh của hệ thống pháp lý Có thể nói môi trường pháp lý là công cụ nhằm duy trì và hạn chế được những rủi ro của quá trình hoạt động tín dụng ngân hàng, là một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Không có pháp luật hoặc pháp luật không phù hợp với những yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì mọi hoạt động của nền kinh tế không thể trôi chảy được Pháp luật có nhiệm vụ tạo lập môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao, là cơ sở để giải quyết khiếu nại khi có tranh chấp xảy ra Môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng nói riêng và cho hoạt động của các DN trong nền kinh tế nói chung là một nhân tố rất quan trọng
Sự thay đổi của chủ trương chính sách của Nhà nước cũng gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của các DN Cơ cấu kinh tế, chính sách khuyến khích đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, có thể gây nên các khoản nợ quá hạn cho ngân hàng Một hệ thống pháp lý đầy đủ, đồng bộ và ổn định sẽ giúp các ngân hàng thương mại dễ dàng hơn trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh của mình, góp phần vào việc nâng cao chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại
- Nhân tố môi trường tự nhiên:
Môi trường tự nhiên có một ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng tín dụng của ngân hàng nói chung đặc biệt là tín dụng nói riêng bởi vì thiên tai là một yếu tố bất khả kháng, chúng ta không thể dự đoán một cách chắc chắn là khi nào những thiên tai như bão lũ lụt, hạn hán, hoả hoạn, dịch bệnh…sẽ xảy ra và mức độ ảnh hưởng, thiệt hại của chúng là như thế nào Thông thường khi thiên tai xảy ra, nó thường gây thiệt hại rất lớn cho các ngành sản xuất, dịch vụ, gây ra các biến động xấu ngoài dự kiến trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các khách hàng của mình làm cho vốn của ngân hàng đầu tư vào các DN sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng và dẫn tới rủi ro làm giảm chất lượng tín dụng
Việt nam là nước có khí hậu nhiệt đới gío mùa, thiên tai xảy ra thường xuyên, ảnh hưởng rất lớn đến các ngành kinh tế, đặc biệt là các ngành có liên quan đến nông
Trang 21nghiệp, thuỷ hải sản Từ đó gây rủi ro cho tín dụng ngân hàng khi đầu tư vào các ngành này
- Nhân tố môi trường chính trị - xã hội:
Một quốc gia có thể chế chính trị ổn định, đường lối chính sách phát triển kinh tế, văn hoá xã hội được hoạch định rõ ràng, thì các hoạt động đầu tư nói chung và hoạt động đầu tư tín dụng ngân hàng nói riêng mới được đảm bảo an toàn và có hiệu quả Giúp ngân hàng có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn từ hoạt động tín dụng.Ngược lại, nếu môi trường chính trị – xã hội mà bất ổn thì các DN sẽ không dám mạnh dạn đầu tư mà chỉ duy trì ở mức tái sản xuất giản đơn để bảo đảm an toàn vốn
Tác động của môi trường chính trị - xã hội tới chất lượng hoạt động tín dụng không thường xuyên, nhưng khi có những biến động về chính trị thì tác động của nó tới các ngân hàng là vô cùng lớn Một sự thay đổi hệ thống chính trị có thể làm cho các ngân hàng mất phần lớn hoặc toàn bộ các khoản tín dụng của mình Điều này sẽ đẩy các ngân hàng dến bờ vực của sự phá sản và sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng
1.2.3.2 Nhân tố kiểm soát được
a/ Về phía khách hàng: là những người trực tiếp sử dụng vốn vay ngân hàng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nhu cầu đời sống của mình, vì vậy
mà chất lượng tín dụng ngân hàng sẽ chịu ảnh hưởng lớn từ phía khách hàng Các khách hàng lớn của ngân hàng thưởng là các DN, do vậy những nhân tố thuộc về phía khách hàng tác động đến chất lượng tín dụng bao gồm:
- Vốn và năng lực tài chính của khách hàng:
Vốn và năng lực tài chính của khách hàng là cơ sở nền tảng cho hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng tự trả nợ của DN Năng lực tài chính của DN thể hiện ở khối lượng vốn tự có và tỷ trọng vốn tự cỏ trong tổng nguồn vốn DN đang sử dụng, nó còn thể hiện ở khả năng thanh toán của DN, tính lỏng của tài sản Năng lực tài chính của DN càng cao thì khả năng đáp ứng những điều kiện tín dụng càng lớn, điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng tín dụng cho ngân hàng Một DN có nguồn vốn lớn, có
sự tự chủ, ít phụ thuộc vào vồn vay ngân hàng sẽ có khả năng trả nợ ngân hàng cao hơn DN hoạt động chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng
- Chiến lược kinh doanh, marketing của DN và khả năng quản lý của đội ngũ lãnh đạo của các DN à khách hàng vay vốn:
Đây là những yếu tố quyết định sự thành công của DN Trong cơ chế thị trường
để DN đứng vững đòi hỏi phải giải quyết tốt ba vấn đề: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai Trong điều kiện trình độ sản xuất phát triển nhu cầu tiêu dùng thường xuyên thay đổi, môi trường cạnh tranh gay gắt với những nguồn lực hạn chế thì quyết định trong kinh doanh càng khó, nó đòi hỏi các nhà lãnh đạo phải có kiến
Trang 22thức, kinh nghiệm và trình độ để có thể đưa ra được quyết định đúng đắn, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Trên cơ sở đó, các nhà lãnh đạo sẽ biết được chính xác khả năng phát triển sản xuất của DN và đưa ra những chính sách phát triển DN cùng với những yếu tố thuận lợi, khó khăn của môi trường, sẽ quyết định xem kế hoạch chiến lược mở rộng, thu hẹp hay ổn định sản xuất, từ đó xây dựng nên những kế hoạch kinh doanh đúng đắn quyết định đến sự thành công hay thất bại của một DN
DN tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh khoa học sẽ nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, cùng với những chiến lược marketing tốt cho sản phẩm của mình, sản phẩm sẽ được nhiều người biết đến và đến tay người tiêu dùng dễ dàng Đây là cơ sở để DN chiếm lĩnh được thị trường, khi đó DN sẽ có điều kiện tăng doanh thu, lợi nhuận , tăng vòng quay
và hiệu quả sử dụng vốn, từ đó sẽ trả lãi được gốc và lãi cho các khoản vay ngân hàng đúng hạn Điều này làm chất lượng tín dụng của ngân hàng đó được nâng cao
- Rủi ro trong công việc kinh doanh của khách hàng
Không một khách hàng nào khi đi vay lại không muốn món vay đem lại hiệu quả nhưng nhiều khi do năng lực có hạn nên họ không thể thực hiện được ý đồ của mình Do hạn chế về khả năng, họ không dự đoán đúng những biến động lên xuống của nhu cầu thị trường hoặc do yếu kém trong quản lý, trong việc giới thiệu, quảng cáo sản phẩm mà hoạt động của DN không thể phát triển hoặc do thiếu kinh nghiệm trên thương trường mà DN dễ dàng bị gục ngã trong cạnh tranh… Tất cả những điều đó khiến cho chất lượng tín dụng bị ảnh hưởng ngoài ý muốn của cả ngân hàng lẫn khách hàng… Tuy nhiên trong một số trường hợp cho dù phương án sản xuất kinh doanh của người đi vay đã được tính toán một cách chi tiết, khoa học, chính xác đến mức tối đa thì công việc đầu tư vẫn luôn chứa đựng khả năng xảy ra rủi ro do những thay đổi bất ngờ, ngoài ý muốn và bất khả kháng của các điều kiện sản xuất kinh doanh, gây tác động xấu đến công việc làm ăn, mang lại rủi ro cho DN Ví dụ các thiệt hại DN phải gánh chịu do sự biến động của thị trường cung cấp như: khi giá cả nguyên vật liệu biến động tăng vọt làm tăng giá thành công xưởng của sản phẩm, nếu giá bán của sản phẩm không thay đổi nó sẽ làm cho thu nhập tạo ra trên một sản phẩm giảm, làm giảm tổng lợi nhuận được của cả dự án, ảnh hưởng xấu tới việc trả nợ ngân hàng Nếu đảm bảo thu nhập của mình, DN nâng giá bán của sản phẩm lên thì điều này sẽ làm cho việc tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn, khả năng thu hồi vốn sản xuất bị chậm trễ, dễ dàng vi phạm việc trả nợ ngân hàng về mặt thời hạn
- Sự trung thực của khách hàng
Nếu khách hàng trung thực, sử dụng vốn vay đúng mục đích thì xác suất xảy ra rủi ro sẽ giảm đi đáng kể vì tính khả thi của dự án cũng đã được ngân hàng thẩm định
Trang 23một cách kỹ càng trước khi ra quyết định cho vay Nhưng việc sử dụng vốn vay sai mục đích của khách hàng đã góp phần không nhỏ vào việc đổ bể của các tổ chức tín dụng
Chẳng hạn như sử dụng vốn vay đầu tư vào tài sản cố định, vào bất động sản, sau đó các tài sản này bị sụt giá dẫn đến việc DN không trả được nợ cho ngân hàng Các DN còn chiếm dụng vốn lẫn nhau dẫn đến các DN làm ăn nghiêm chỉnh gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng
Ngoài ra còn phải xét đến phương diện ý muốn hoàn trả khoản vay của khách hàng Trong nhiều trường hợp khách hàng có ý muốn chiếm đoạt vốn, không hoàn trả
nợ vay mặc dù có khả năng trả nợ, điều này đã gây ra những rủi ro không nhỏ cho ngân hàng
Kết luận chương I Chương I của khóa luận đã đề cập đến một số lý luận chung về tín dụng nói chung cũng như tín dụng ngân hàng nói riêng, từ khái niệm, đặc điểm, vai trò và bản chất của tín dụng Chương 1 cũng đã nói đến những chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng Vấn đề chất lượng tín dụng là một vấn đề mang tính chất phức tạp và mang cả tính chất trừu tượng
và cụ thể nên hệ thống các chỉ tiêu không mang tính chất tuyệt đối chính xác Tuy nhiên, chất lượng tín dụng của NHTM đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế Việc nâng cao chất lượng tín dụng tại NHTM có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự tăng trưởng hoạt động tín dụng của các ngân hàng, đảm bảo cho các NHTM hoạt động an toàn, hiệu quả và góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, ổn định chính sách tiền tệ quốc gia
Trang 24CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH SÔNG NHUỆ 2.1 Khái quát về ngân hàng thương mại Công Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ
Tên đầy đủ: Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Sông Nhuệ
Tên giao dịch : Vietinbank – chi nhánh Sông Nhuệ
Trụ sở chính: số 269 – Đường Quang Trung – quận Hà Đông – Hà Nội
Ngân hàng Công thương Việt Nam ra đời vào tháng 3/1988 Chi nhánh Sông Nhuệ thành lập vào tháng 7/1988 với tên gọi NHCT Hà Sơn Bình bao gồm trụ sở chính ở Hà Đông và 1 Chi nhánh đặt tại thị xã Hòa Bình Tháng 10/1991, Quốc hội nước CHXHCNVN quyết định tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh: Sông Nhuệ và Hòa Bình NHCT Hà Sơn Bình cũng giải thể và thành lập NHCT Sông Nhuệ Cùng với sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung và kinh tế Sông Nhuệ nói riêng, vào các năm 2001, 2003, 2005, hội đồng quản trị NHCT Hà Sơn Bình quyết định thành lập các Chi nhánh cấp 2 trực thuộc NHCT Hà Sơn Bình gồm: Chi nhánh Sông Nhuệ, Chi nhánh Quang Trung, Chi nhánh Nguyễn Trãi và phòng giao dịch Xuân Mai
Tháng 7/2006, Hội đồng quản trị NHCTVN quyết định nâng cấp các Chi nhánh cấp 1 phụ thuộc NHCTVN Tháng 1/2012, hội đồng quản trị NHCTVN quyết định nâng cấp phòng giao dịch Xuân Mai thành Chi nhánh NHCT Láng Hòa Lạc trực thuộc NHCTVN
Trang 25Tháng 11/2012, NHCTHT mở thêm phòng giao dịch La Phù Tháng 4/2013, mở thêm phòng giao dịch số 2 ở khu công nghiệp Phú Nghĩa – Chương Mỹ tháng 7/2014, NHCT Sông Nhuệ được đổi tên thành NHTMCPCTVN – Chi nhánh Sông Nhuệ 2.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của ngân hàng thương mại Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Nhuệ
Sơ đồ 0.1 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng:
( Nguồn : Bộ phận kiểm soát NHCTVN – Chi nhánh Sông Nhuệ) 2.1.3 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
1 - Giám đốc: Chịu trách nhiệm chỉ đạo điều hành chung mọi nghiệp vụ kinh doanh trong Chi nhánh, thực hiện nghĩa vụ và quyền hạn do Tổng Giám đốc và Giám
GIÁM ĐỐC
Phó giám đốc 2 Phó giám đốc 1
Quầy cho vay thu nợ
Bộ phận kiểm soát
Quầy huy động vốn
Phòng giao dịch NH Hà Đông
Tổ tín dụng
Tổ kế toán ngân quỹ
Trang 26đốc NH TMCP Công Thương VN - Chi nhánh Sông Nhuệ uỷ quyền và theo quy định của pháp luật
2 - Các Phó giám đốc:
- PGĐI: Phụ trách phòng Kế toán và Ngân quỹ, bộ phận kiểm tra kiểm toán nội bộ
- PGĐII: Phụ trách hoạt động tín dụng trong toàn Chi nhánh, hoạt động kinh doanh của cửa hàng vàng bạc
3 - Phòng Tín dụng: Chịu sự chỉ đạo điều hành trực tiếp của PGĐII Cơ cấu tổ chức của phòng gồm:
- Trưởng phòng Tín dụng: Chịu trách nhiệm về các công việc sau:
+ Phân công cán bộ phụ trách địa bàn, kiểm tra đôn đốc cán bộ thực hiện nhiệm
vụ được giao, kiểm tra việc chấp hành quy chế, chế độ cho vay của ngành, và quy định, hướng dẫn của NH TMCP Công Thương VN - Chi nhánh Sông Nhuệ
+ Kiểm soát nội dung thẩm định của cán bộ tín dụng, tái thẩm định lại (Theo quy định và trong trường hợp thấy cần thiết) hồ sơ vay vốn, gia hạn nợ gốc lãi, điều chỉnh kỳ hạn nợ gốc, lãi và ghi ý kiến của mình vào các hồ sơ đó
+ Chỉ đạo lập báo cáo gửi cấp trên và theo quy định của Ban lãnh đạo Chi nhánh
- Cán bộ tín dụng: Là người chịu trách nhiệm về khoản vay do mình thực hiện
và được phân công thực hiện các nghiệp vụ sau:
+ Chủ động tìm dự án, phương án khả thi của khách hàng, làm đầu mối tiếp xúc với khách hàng, với cấp uỷ và chính quyền địa phương
+ Thu thập thông tin về khách hàng vay vốn, lập hồ sơ kinh tế theo địa bàn phụ trách, lập hồ sơ và theo khách hàng, mở sổ theo dõi cho vay, thu nợ
+ Giải thích, hướng dẫn khách hàng các quy định về cho vay; hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn
+ Thẩm định các điều kiện cho vay vốn theo quy định, lập báo cáo them định, cùng khách hàng lập hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay
+ Thông báo cho khách hàng biết về quyết định cho vay hay từ chối cho vay khi có ý kiến của Giám đốc hay người được uỷ quyền
+ Giải ngân cho vay, thu nợ (trường hợp giao dịch một cửa)
+ Thực hiện kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay
+ Lập hồ sơ và thẩm định trong trường hợp khách hàng đề nghị ra hạn nợ gốc , lãi; điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc, lãi
Trang 27+ Đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn, đề xuất ý kiến xử lý khi cần thiết; thực hiện những biện pháp xử lý vi phạm tín dụng theo quyết định của Giám đốc hay người được uỷ quyền Lưu giữ hồ sơ theo quy định
- Cửa hàng vàng bạc: Thực hiện mua bán kinh doanh vàng bạc theo quy định theo quy định
4 - Phòng Kế toán - Ngân quỹ:
* Quầy cho vay- thu nợ: Làm các công việc sau:
- Kiểm tra danh mục hồ sơ pháp lý, hồ sơ vay vốn, hướng dẫn khách hàng mở tài khoản tiền vay
- Hạch toán nghiệp vụ cho vay, thu nợ, thu lãi và chuyển tới kiểm soát viên để kiểm soát và chuyển sang quầy quỹ để giải ngân, chuyển nợ quá hạn, sao kê hợp đồng vay vốn, sổ vay vốn, sao kê nợ đến hạn, nợ quá hạn đe cung cấp cho cán bộ tín dụng (trong trường hợp chưa thực hiện giao dịch một cửa)
Làm dịch vụ thanh toán và hạch toán nội bảng ngân hàng, hạch toán thu chi trả lãi
* Quầy huy động vốn: Chịu trách nhiệm huy động tiền gửi dân cư theo nhiều phương thức, kỳ hạn và sản phẩm khác nhau như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn cả nội và ngoại tệ, phát hành kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng…; thực hiện mở tài khoản và hạch toán tiền gửi thanh toán cho khách hàng
* Quầy kinh doanh ngoại tệ- chuyển tiền điện tử, phát triển sản phẩm dịch
vụ mới: làm nhiệm vụ thanh toán chuyển tiền đi, đến bằng máy tính nối mạng điện
tử, tham gia mua ngoại tệ của khách hàng và tổ chức kinh tế, bán ngoại tệ cho ngân hàng cấp trên và cho khách hàng theo quy định của ngân hàng Nhà nước về quản lý kiều hối
* Quầy ngân quỹ: Làm nhiệm vụ thu chi tiền mặt, thực hiện phân loại, bảo quản tiền trong kho, ngoài quầy theo quy định của ngành, đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu tiền mặt giao dịch của Chi nhánh và của khách hàng
5 - Bộ phận kiển tra kiểm soát nội bộ: Bộ phận này chịu sự quản lý trực tiếp của Ban lãnh đạo, có chức năng kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm làm cho hoạt động kinh doanh theo đúng quy định của ngành, của Nhà nước và pháp luật Trong quá trình kiểm tra kiểm soát phát hiện sai sót giúp nhà quản trị ngân hàng có biện pháp khắc phục kịp thời Đồng thời có nhiệm vụ cung cấp số liệu
Trang 28chính xác, cụ thể về hoạt động kinh doanh của đơn vị cho Ban lãnh đạo ngân hàng, giúp lãnh đạo có phương hướng thích hợp để xử lý mọi vấn đề phát sinh nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho ngân hàng
2.2 Khái quát hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại Công Thương Việt Nam Chi nhánh Sông Nhuệ trong những năm gần đây
áp dụng biểu lãi suất mới với lãi suất huy động cao nhất là 13%/năm (kỳ hạn 13 tháng nhận lãi cuối kỳ), kỳ hạn 12 tháng lãi suất cũng lên tới 12,5%/năm Trong giai đoạn này, chi nhánh đã mở rộng và phát triển thêm các hình thức huy động đa dạng như tiết kiệm online hay tiết kiệm tại nhà; các sản phẩm tiết kiệm siêu linh hoạt cho trẻ em, sản phẩm tiết kiệm kết hợp với bảo hiểm hay giảm phí cho các loại tiền gửi thanh toán Cùng sự nỗ lực trong công tác Marketing, chi nhánh đã nâng cao được hình ảnh và vị thế của mình trong khu vực, được nhiều người biết đến và tin tưởng, giúp tăng lượng tiền gửi và tăng nguồn vốn hoạt động cho chi nhánh
Trang 29Bảng 0.1 Tình hình huy động vốn của ngân hàng thương mại Công Thương VN – Chi nhánh Sông Nhuệ giai đoạn 2011 -2013
Tỷ trọng (%) Số tiền
Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) Tổng NV huy động 1.154.901 100,00 2.169.231 100,00 3.219.607 100,00 1.014.330 87,83 1.050.376 48,42
1 VND 1.008.459 87,32 1.885.062 86,90 2.862.553 88,91 876.603 86,93 977.491 51,85
2 Ngoại tệ (quy đổi) 146.441 12,68 284.169 13,10 357.054 11,09 137.728 94,05 72.885 25,65
Trang 30- Theo kỳ hạn gửi:
Tiền gửi được chia thành 3 nhóm là tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng và tiền gửi có kì hạn từ 12 tháng trở lên Theo cách phân chia trên thì tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng luôn chiếm tỉ trọng cao nhất: Năm 2011 chiếm 60,72%; năm 2012 chiếm 59,55% và năm 2013 chiếm 62,31% Không chỉ chiếm tỉ trọng cao nhất, loại tiền gửi này còn tăng qua các năm: Năm 2012 tăng 590.571 triệu đồng, tương ứng 84,22% so với năm 2011; năm 2013 tăng 714.360 triệu đồng, tương ứng 55,30% so với năm 2012 Với các loại tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng này, chủ yếu là các khoản tiền gửi tiết kiệm trong dân cư Năm 2012, với cuộc chạy đua lãi suất huy động giữa các NHTM, đẩy lãi suất huy động có thời điểm lên tới 12-13%, điều này đã làm gia tăng đột biến tiền gửi với mức tăng lên tới 84,22% Sang đến năm
2013, nhờ chính sách của NHNN trong việc kiểm soát chặt chẽ trần lãi suất huy động(các kỳ hạn dưới 12 tháng sẽ hưởng lãi suất là 8-10%/năm) làm cho nguồn vốn huy động có mức tăng thấp hơn so với năm 2012 nhưng vẫn ở mức cao Trước tình hình giảm lãi suất huy động như vậy, ngân hàng vẫn duy trì được lượng tiền huy động
có kì hạn dưới 1 năm (do các chính sách với khách hàng có nhiều khác biệt hơn so với nhiều ngân hàng khác như dịch vụ làm thẻ cho các khách hàng muốn mở tài khoản tại ngân hàng là hoàn toàn miễn phí, hay nếu một khách hàng duy trì một số dư tiết kiệm nhất định và vay một số tiền nhất định thì sẽ được ưu đãi về lãi suất, miễn phí dịch vụ ngân hàng qua điện thoại, tư vấn miễn phí một vài lần trong năm, những ưu đãi có thể được phân lớp theo số dư…) Điều này đã thể hiện uy tín của ngân hàng đối với khách hàng, giúp khách hàng tin tưởng và tìm đến với ngân hàng nhiều hơn; giúp ngân hàng đảm bảo nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình
Biểu đồ 0.1 Tình hình huy động vốn theo kỳ hạn giai đoạn 2011-2013
(Nguồn: Phòng Kế toán Ngân quỹ Vietinbank-chi nhánh Sông Nhuệ)
Trang 31Nắm giữ tỷ trọng cao thứ 2 sau tiền gửi kì hạn dưới 12 tháng là tiền gửi thanh toán với tỉ trọng dao động trong khoảng từ 26% đến gần 30% Nguồn vốn huy động từ loại tiền gửi này của chi nhánh cũng liên tục tăng qua các năm và đặc biệt là năm
2012, tăng tới 110,29% so với năm 2011 Năm 2013 tăng nhẹ hơn với mức tăng đạt 39,09% Nguyên nhân của sự gia tăng này là do chi nhánh đã tích cực trong việc tìm kiếm các khách hàng mới, đặc biệt là các DN, tổ chức, cá nhân có nhu cầu gửi tiền vào ngân hàng nhằm mục đích giao dịch thanh toán chi trả các hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ Ngân hàng rất tích cực trong việc tiếp cận các DN liên kết với ngân hàng
để trả lương cho nhân viên qua tài khoản ATM, tiếp thị đến nhiều khách hàng cá nhân
mở thẻ thanh toán với chi phí ưu đãi và dịch vụ nhanh chóng Chính điều này đã giúp cho lượng tiền gửi không kỳ hạn của ngân hàng gia tăng qua từng năm Nguồn vốn không kỳ hạn xét về mặt tài chính có nhiều lợi thế do lãi suất huy động thấp (2-3%/năm) tuy nhiên tính ổn định của loại nguồn này không cao, tăng giảm thất thường phụ thuộc vào sử dụng vốn của người gửi.Ví dụ, khách hàng ký hợp đồng gửi 100 tỷ đồng thời hạn 3 tháng, lãi suất 14%/năm nhưng một tháng sau, hoặc vài tuần sau, khách hàng rút cả 100 tỷ đồng nhưng vẫn được hưởng lãi suất 14%/năm theo thời gian thực gửi Và khi rút bất thình lình như thế, số tiền 100 tỷ đồng nói trên từ chỗ “có kỳ hạn” đã biến thành “không kỳ hạn” Do vậy, ngân hàng cần phải kiểm soát và duy trì
tỷ trọng nguồn tiền này một cách hợp lý, tránh rơi vào tình trạng bị động trong hoạt động kinh doanh do tỷ trọng nguồn không kỳ hạn quá cao, rủi ro khi nguồn tiền có sự biến động theo chiều hướng tiêu cực hay ngược lại không để quá thừa vốn trong kinh doanh, gây lãng phí cho ngân hàng ( từ năm 2011,Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng sẽ được sử dụng 25% tổng lượng tiền gửi không kỳ hạn để kinh doanh)
Ngược với tiền gửi không kì hạn và kì hạn dưới 12 tháng, các loại tiền gửi có kì hạn từ 12 tháng trở lên có xu hướng giảm dần qua các năm Năm 2011, loại tiền gửi này chiếm tỷ trọng 12,99%, năm 2012 giảm xuống còn 11,02% và năm 2013 chỉ còn 10,11% Mặc dù nguồn vốn trung - dài hạn giúp chi nhánh có được nguồn vốn lớn hơn
để tài trợ cho hoạt động kinh doanh cũng như các khoản vay trung - dài hạn, tuy nhiên,
do định hướng hoạt động tín dụng của chi nhánh là tập trung cho vay ngắn hạn để giảm thiểu rủi ro chi phí của ngân hàng Do đó nếu duy trì một tỷ trọng cao của nguồn vốn huy động trung, dài hạn sẽ làm tăng chi phí trả lãi của ngân hàng cho loại tiền gửi này mà chưa chắc đã tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng vì còn phụ thuộc vào việc có giải ngân được không Hơn nữa, lãi suất huy động đối với loại tiền gửi này thường không cao, do đó không được nhiều khách hàng lựa chọn kì hạn này Song việc duy trì một tỷ
lệ nhất định nguồn vốn trung dài hạn là cần thiết, vì nếu tỷ lệ này quá thấp sẽ dẫn tới trình trạng thiếu cân đối trong cơ cấu huy động – cho vay Bởi nếu có rủi ro xảy ra, tức
là nguồn vốn huy động trung, dài hạn không đủ đáp ứng nhu cầu cho vay trung dài hạn
Trang 32thì chi nhánh phải sử dụng đến nguồn vốn ngắn hạn có chi phí cao để bù đắp Vì vậy, chi nhánh cần có biện pháp để điều chỉnh tỷ lệ nguồn vốn huy động theo kì hạn sao cho hợp lý
- Tiền gửi theo thành phần kinh tế
Nguồn vốn từ các tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn (Năm 2011: 75,02%; năm 2012: 74,06%, năm 2013: 69,9%) và tăng qua các năm (năm 2012 tăng 85,43%; năm 2013 tăng 40,08%) Có 2 nguyên nhân chính để lý giải cho những
số liệu trên: Thứ nhất, đối tượng khách hàng chủ yếu của chi nhánh là các DN, các tổ chức kinh tế Thứ hai, các tổ chức kinh tế này có nhu cầu sử dụng vốn liên tục với giá trị lớn Do vậy, để tăng thêm thu nhập đồng thời đáp ứng cho nhu cầu sử dụng tiền trong thanh toán của mình, các tổ chức kinh tế thường lựa chọn hình thức gửi tiền có
kì hạn dưới 12 tháng Thường là gửi với kì hạn 1 tháng hoặc theo tuần
Biểu đồ 0.2 Tỷ trọng nguồn vốn huy động theo thành phần kinh tế giai đoạn
2011 - 2013
: Tổ chức kinh tế : Cá nhân
(Nguồn: Quầy huy động vốn Vietinbank-chi nhánh Sông Nhuệ)
Tiền gửi của dân cư tuy chiếm một tỷ trọng không cao như các tổ chức kinh tế, chỉ dao động trong khoảng 24% đến 30%, nhưng đây là nguồn vốn rất quan trọng đối với ngân hàng Bởi do đặc điểm vốn tiền gửi dân cư thường có quy mô lớn, bởi lẽ những khoản huy động từ dân cư là những khoản tiền nhàn rỗi tạm thời trong xã hội và được người dân tích trữ sử dụng trong tương lai, thêm vào đó dân cư là đối tượng đông nhất trong nền kinh tế, do đó về tổng thể thì tập trung vào đối tượng này thì sẽ huy động được một nguồn vốn có quy mô lớn cho NHTM
Tiếp đến là do nguồn huy động từ dân cư là nguồn ổn định nhất vì thường người dân khi gửi tiền vào NHTM đều có mục đích là tích trữ cho tương lai, do đó có kế hoạch và có thể dự báo được thời điểm tăng giảm Còn nguồn vốn huy động từ các tổ
Trang 33chức tín dụng, hay các tổ chức kinh tế khác thường không ổn định do sự dịch chuyển liên tục của dòng tiền trong nền kinh tế
Cuối cùng nguồn vốn dân cư là nguồn có thời gian tương đối dài, các NHTM sẽ dùng lượng tiền này để cho vay trung và dài hạn Bởi lẽ, người dân thường trích một tỷ
lệ trong phần thu nhập cá nhân để gửi tiết kiệm, nên thường sẽ ít có những trường hợp rút ra đột ngột một số tiền lớn mà sẽ để gửi với một khoảng thời gian dài
Mặc dù chiếm một tỷ trọng thấp hơn so với tiền gửi tổ chức kinh tế, nhưng tỷ trọng này đang tăng dần qua các năm Từ 24,98% năm 2011 lên 30,10% năm 2013 Sự gia tăng này phần nào đã thể hiện sự tin tưởng của các cá nhân vào ngân hàng, đồng thời cho thấy ngân hàng đã làm tốt các hoạt động quảng bá thương hiệu, nâng cao uy tín chất lượng hoạt động làm cho không chỉ các tổ chức kinh tế mà các cá nhân cũng
đã biết đến ngân hàng nhiều hơn
- Theo loại tiền gửi
Có thể thấy rõ sự chênh lệch giữa nguồn tiền huy động từ VNĐ và từ ngoại tệ Lượng tiền gửi VNĐ năm 2013 là 2.862.553 triệu đồng, chiếm tỷ trọng là 88,91% (năm 2012 tỷ trọng là 86,90% và năm 2011 tỷ trọng là 87,32%) tăng về số tuyệt đối là 977.491 triệu đồng, tương ứng tăng 51,85% so với năm 2012 và năm 2013 tăng tới 86,93% so với năm 2012 Lượng tiền gửi VNĐ chiếm giữ một tỉ trọng cao như vậy vì ngân hàng chủ yếu cho vay bằng VNĐ nên hạn chế huy động bằng ngoại tệ do lãi suất huy động bằng VND phổ biến với lãi suất không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng từ 1-1.2%/năm, kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng khoảng 5-7%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng khoảng 6.5-7.5%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng khoảng 7.5-9%/năm Bên cạnh đó, lãi suất huy động USD phổ biến bằng mức trần do NHNN quy định là 0.25%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và 1.25%/năm đối với tiền gửi của dân cư (Nguồn: theo báo cáo tình hình hoạt động của Ngân hàng Nhà nước từ 21-25/10/2013) Lãi suất huy động ngoại tệ của chi nhánh luôn thấp hơn một số NHTM nhỏ khác khoảng 0,01%, trong khi lãi suất huy động nội tệ ổn định hơn Do vậy lượng tiền gửi bằng nội tệ vẫn chiếm ưu thế
Trang 34Biểu đồ 0.3.Tỷ trọng nguồn vốn huy động theo loại tiền giai đoạn 2011-2013
(Nguồn: Quầy huy động vốn Vietinbank-chi nhánh Sông Nhuệ)
Tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ có sự tăng giảm không đồng đều qua các năm Nếu như năm 2012, tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ chiếm 13,1% thì đến năm 2013 giảm xuống còn 11,09%, kéo theo mức tăng về giá trị tương đối thấp hơn so với năm
2012 Nguyên nhân của sự sụt giảm huy động bằng ngoại tệ như trên là do năm
2013, ngân hàng nhà nước đã có quy định về việc hạ trần lãi suất huy động ngoại tệ xuống còn 0.25%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và 1.25%/năm đối với tiền gửi của dân cư (Nguồn: theo báo cáo tình hình hoạt động của Ngân hàng Nhà nước từ 21-25/10/2013) Quy định trên của NHNN đã tác động làm cho nhiều cá nhân, tổ chức thay vì gửi ngoại tệ đã chuyển đổi sang đồng nội tệ hoặc tìm kiếm một kênh đầu tư khác sinh lời hơn, làm cho tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ tại chi nhánh giảm trong năm 2013
Từ sự phân tích trên cho thấy: Nguồn huy động vốn chủ yếu của ngân hàng qua các năm là từ các khoản tiền gửi của khách hàng là tổ chức kinh tế, trong đó tiền gửi
có kỳ hạn dưới 1 năm và tiền gửi bằng nội tệ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động Có thể nói, chi nhánh đã giữ vững và phát triển được hoạt động huy động vốn của mình, nguồn vốn huy động được tăng qua các năm Đạt được những kết quả trên là do ngân hàng đã thực hiện tốt khâu tiếp thị, đổi mới phong cách giao dịch; thực hiện thu hút khách hàng tiền vay, làm tốt các khâu dịch vụ góp phần gián tiếp thu hút khách hàng mở tài khoản; đa dạng hoá các loại tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kì hạn,
mở ra nhiều hình thức tính lãi phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của các tầng lớp dân cư
Trang 352.2.2 Hoạt động sử dụng vốn (chủ yếu là cho vay)
Bảng 0.2.Tình hình hoạt động cho vay tại NHCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ Đơn vị tính: Triệu đồng
Chênh lệch
2012/2011 2013/2012 Chỉ tiêu
Số tiền trọng Tỷ
(%) Số tiền
Tỷ trọng (%) Số tiền
Tỷ trọng (%) Số tiền
Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) Tổng dư nợ cho vay 589.986 100,00 1.128.848 100,00 1.693.271 100,00 538.862 91,33 564.423 49,99
2 Ngoại tệ (quy đổi) 102.658 17,40 203.080 17,99 308.345 18,21 100.422 97,82 105.265 51,83
(Nguồn: Báo cáo tài chính Ngân hàng Công Thương Việt Nam-Chi nhánh Sông Nhuệ)
Trang 3626
Qua bảng số liệu 2.2, có thể thấy dư nợ cho vay của NHCTVN – Chi nhánh Sông Nhuệ tăng qua các năm Năm 2012 tăng 538.862 triệu đồng, tương đương 91,33% so với năm 2011 Năm 2013, tiếp tục tăng thêm 564.423 triệu đồng (tương đương 49,99%) so với năm 2012, đạt dư nợ cho vay 1.693.271 triệu đồng Sự gia tăng liên tục
về dư nợ cho vay này tỷ lệ thuận với sự gia tăng về nguồn vốn huy động Năm 2012, nguồn vốn huy động tăng mạnh nên dư nợ cho vay toàn chi nhánh cũng tăng mạnh tới 91,33% Nếu so sánh mức tăng về tổng dư nợ cho vay với mức tăng về tổng nguồn vốn huy động tại bảng 2.1 có thể thấy hai chỉ tiêu này tăng với tỉ lệ tương ứng Điều này cho thấy việc chi nhánh đã sử dụng được đồng vốn huy động vào hoạt động cho vay, tránh tình trạng dư thừa vốn
- Theo thời gian
Nếu phân loại dư nợ theo kì hạn là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn thì dư nợ cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh Năm 2011 chiếm 58,12%; năm 2012 chiếm 62,25% và năm 2013 chiếm 65,13% Không chỉ chiếm một tỉ trọng cao nhất mà dư nợ ngắn hạn còn tăng qua các năm Đặc biệt năm 2012 tăng mạnh tới 104,93% so với năm 2011, năm 2013 tăng nhẹ hơn là 56,94% Nguyên nhân khiến dư nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao như vậy là do nhu cầu tín dụng ngắn hạn của DN trên địa bàn lớn hơn so với nhu cầu vốn trung-dài hạn, hơn nữa chi nhánh có một bộ phận lớn KH trong lĩnh vực kinh doanh thương mại với những hoạt động sản xuất kinh doanh theo mùa vụ, không thường xuyên Các DN này chủ yếu có nhu cầu sử dụng nguồn vốn trong ngắn hạn để để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của mình và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân
Bên cạnh đó, cho vay trung-dài hạn thường chứa đựng nhiều rủi ro hơn cho vay ngắn hạn, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động hiện nay, khi nguồn vốn huy động từ khách hàng tập trung lớn vào kỳ hạn 1-3 tháng Hơn nữa, nhiều DN chưa đáp ứng được điều kiện chặt chẽ cho vay trung-dài hạn bởi món vay trung-dài hạn chứa đựng nhiều rủi ro hơn và cần nhiều điều kiện cho vay chặt chẽ hơn Do đó, chỉ tồn tại một số DN vay trung hạn là các công ty, tập đoàn lớn như Viettel, Vinacomi, PVN, Các khoản vay dài hạn chủ yếu là cho vay tiêu dùng, phục vụ nhu cầu dân cư như cho vay mua xe ô tô, cho vay mua nhà hay các sản phẩm cho vay du học Chính vì vậy là tỉ trọng dư nợ của dư nợ trung và dài hạn có xu hướng giảm qua các năm Năm
2011, nếu tỷ trọng dư nợ trung hạn là 24,11% thì năm 2013 chỉ còn 19,77% Tỷ trọng
dư nợ dài hạn năm 2011 là 17,77% thì năm 2013 là 15,1% Không chỉ giảm về tỷ trọng
mà về mức tăng qua các năm cũng giảm dần, đặc biệt là dư nợ trung hạn Nếu năm
2012 tăng mạnh tới 90,47% so với năm 2011 thì năm 2013 chỉ còn tăng 28,04% so với năm 2012
Trang 37- Theo khách hàng
Một phần do đặc thù vị trí của chi nhánh nằm trên đường Quang Trung, tuyến đường chính của quận, xung quanh địa bàn này tập trung rất nhiều các văn phòng, các công ty và các DN với đủ các ngành nghề kinh doanh khác nhau Nếu như nguồn vốn huy động của chi nhánh chủ yếu đến từ các tổ chức kinh tế thì dư nợ cho vay của chi nhánh cũng tập trung giải ngân cho các đối tượng này Các con số đã chỉ ra dư nợ cho vay đối với các tổ chức kinh tế luôn chiếm giữ một mức cao hơn hẳn so với dư nợ cho vay cá nhân Cụ thể: Năm 2011, chiếm tỷ trọng 84,11%; năm 2012 và năm 2013 giảm không đáng kể, duy trì ở mức 83,94% và 83,44% Sự giảm của tỷ trọng dư nợ cho vay
tổ chức kinh tế và tăng của cho vay cá nhân (năm 2011 là 15,89% đến năm 2013 là 16,56%) là do trong thời gian gần đây, ngân hàng ngày càng nâng cao được uy tín của mình, được nhiều cá nhân biết đến và tin tưởng, làm phát sinh nhiều hơn các quan hệ tín dụng với ngân hàng Tổng dư nợ cho vay cá nhân tính đến năm 2013 đã tăng tới 186.657 triệu đồng, tương đương gần 200% so với năm 2011 Với tình hình khó khăn của các DN, nâng cao dư nợ cho vay đối với khách hàng cá nhân là một hướng đi đúng đắn và an toàn tại thời điểm hiện tại
- Theo loại tiền cho vay
Các khách hàng có quan hệ tín dụng với chi nhánh chủ yếu là các DN hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ trong nước Do đó ngân hàng chủ yếu sử dụng đồng nội tệ để cho vay Dư nợ nội tệ luôn chiếm tỷ trọng cao (trên 80%) trong 3 năm Năm
2012, chi nhánh cho vay bằng VNĐ là 925.768 triệu đồng, tăng 89,97% so với năm
2011 và năm 2013 là 1.384.926 triệu đồng, tăng 49,6% so với năm 2012 Tốc độ tăng của dư nợ nội tệ tương đương với mức tăng của nguồn vốn huy động bằng nội tệ
Dư nợ ngoại tệ chiếm một tỷ trọng nhỏ hơn nhưng có xu hướng tăng nhẹ về tỷ trọng Năm 2011 chiếm 17,4%, tăng thêm 0,81% đạt 18,21% vào năm 2013 Số dư nợ ngoại tệ này chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của các DN tham gia hoạt động xuất nhập khẩu thanh toán cho đối tác nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hóa hay cho vay dưới hình thức chiết khấu bộ chứng từ, cho vay các dự án theo quyết định của Chính phủ hoặc cho vay đối với người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Do nhu cầu sử dụng đồng ngoại tệ của khách hàng ngày càng tăng nên dư nợ cho vay bằng ngoại tệ năm 2013 đạt 308.345 triệu đồng, tăng 205.687 triệu đồng tương đương 200%
so với năm 2011
2.2.3 Một số hoạt động kinh doanh khác
- Hoạt động kinh doanh ngoại tệ: Vietinbank là đơn vị hoạt động rất năng động trên thị trường tiền tệ với các đối tác là các định chế tài chính ngân hàng và phi ngân
Trang 3828
hàng, trong nước và quốc tế Hoạt động kinh doanh nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ giúp Chi nhánh sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động của mình, đảm bảo thanh khoản và góp phần tạo ra nguồn thu nhập tốt cho ngân hàng Trong hoạt động đầu tư giấy tờ có giá, ngân hàng đã tận dụng được các thời điểm khi lãi suất chiết khấu của các trái phiếu Chính phủ Việt Nam lên mức rất cao để ra các quyết định đầu
tư hợp lý Do vậy, danh mục trái phiếu của Chi nhánh có tỷ trọng trái phiếu chính phủ chiếm phần lớn với hiệu quả đầu tư cao, đồng thời ngân hàng có thể sử dụng linh hoạt các trái phiếu này cho các hoạt động thị trường mở với NHNN khi cần thiết
Các sản phẩm phái sinh như hoán đổi tiền tệ (SWAP), quyền chọn ngoại tệ, giao dịch kỳ hạn và hoán đổi lãi suất đã được ngân hàng tư vấn cung cấp cho các khách hàng và sử dụng trong quản trị rủi ro cho chính danh mục của mình
Năm 2011, với mạng lưới giao dịch ngày càng mở rộng cùng với nhu cầu tăng cao của khách hàng, Vietinbank đang đáp ứng đầy đủ các dịch vụ về giao dịch ngoại tệ cho khách hàng DN và cá nhân Các nhu cầu giao dịch ngoại tệ của khách hàng là DN hay tổ chức tập trung vào một số mục đích cụ thể như thanh toán quốc tế, trả nợ vay, chuyển vốn đầu tư trong ngoài nước; trong khi giao dịch ngoại tệ của khách hàng cá nhân phục vụ giao dịch kiều hối, chuyển tiền du học, du lịch, chữa bệnh
- Hoạt động thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại
+ Phát hành, thanh toán thư tín dụng nhập khẩu; thông báo, xác nhận, thanh toán thư tín dụng nhập khẩu
+ Nhờ thu xuất - nhập khẩu: Nhờ thu hối phiếu trả ngay (D/P) và nhờ thu chấp nhận hối phiếu (D/A)
+ Chuyển tiền trong nước và quốc tế
+ Chuyển tiền nhanh Western Union
+ Thanh toán uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, séc
+ Chi trả lương cho DN qua tài khoản
- Hoạt động phát hành thẻ
Năm 2004, Vietinbank đã cung cấp dịch vụ thẻ ghi nợ Active Plus cho khách hàng, sản phẩm này có các tính năng như thanh toán qua POS, giao dịch chuyển khoản qua ATM, bảo hiểm cá nhân cho chủ thẻ Dự án Visa Card: Phát hành và kết nối thanh toán trong nội bộ thành công vào ngày 27/12/2010 Tính đến 31/12/2013, MB Trần Duy Hưng đã phát hành tổng số 8.549 thẻ các loại gồm: thẻ ATM, thẻ New Plus, thẻ active Plus, thẻ Bankplus, thẻ Visa, Visa platinum với số lượng ATM trong khu vực là
11 máy, phục vụ một cách tốt nhất các giao dịch về tiền của khách hàng
Trang 39- Hoạt động dịch vụ thanh toán trong nước: Vietinbank cung cấp dịch vụ thanh toán trong nước thông qua mạng lưới các điểm giao dịch và hệ thống ATM, hệ thống ngân hàng điện tử và thỏa thuận với các ngân hàng khác để tham gia mạng lưới thanh toán của họ Cụ thể, Vietinbank cung cấp dịch vụ chuyển tiền trong nước; dịch vụ quản lý tài khoản giao dịch với việc nhận tiền gửi, quản lý, theo dõi số dư và cung cấp các dịch vụ về tài khoản cho khách hàng, dịch vụ trả lương qua tài khoản Để phục vụ khách hàng tốt nhất Vietinbank đã không ngừng cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ Vietinbank đã thành lập Trung tâm thanh toán tại Hội sở, từng bước hình thành các trung tâm thanh toán quốc tế tại các khu vực để đảm bảo cung cấp dịch
vụ trong hoạt động thanh toán nhanh nhất và có hiệu quả nhất cho khách hàng trên mọi miền của đất nước Vietinbank ban hành các quy trình, quy chế về nghiệp vụ thanh toán, các quy định, chế độ thưởng phạt đối với các giao dịch viên, chấm điểm Chi nhánh để nâng cao chất lượng giao dịch,
Ngoài các hoạt động chính trên Chi nhánh còn có một số hoạt động kinh doanh khác như: Khai thác bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ; tư vấn đầu tư và tài chính; cho thuê tài chính; môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tư; tiếp nhận, quản lý và khai thác các tài sản xiết nợ qua công ty quản lý nợ và khai thác tài sản; các hoạt động, dịch vụ về chứng khoán, nhận đại lý, ủy thác…
2.2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Cũng như mọi tổ chức kinh tế khác, hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn hướng tới mục tiêu đạt lợi nhuận cao Để đạt được kết quả kinh doanh khả quan thì ngân hàng phải quan tâm tới thu nhập và chi phí, hai yếu tố cấu thành nên lợi nhuận Việc quản lý chặt chẽ, giảm thiểu chi phí có ý nghĩa quyết định không kém việc tăng nguồn thu Do đó, việc đảm bảo cân đối và hiệu quả giữa hai hoạt động là huy động vốn và sử dụng vốn là hết sức quan trọng Tình hình thu nhập, chi phí của ngân hàng được phản ánh cụ thể như sau:
- Tình hình thu nhập
Tổng thu từ các hoạt động kinh doanh của chi nhánh có xu hướng tăng theo các năm Năm 2012, tổng thu đạt 148.754 triệu đồng, tăng 63.113 triệu đồng, tương đương 73,68% so với năm 2011; năm 2013 tổng thu tăng thêm 92.268 triệu đồng, đạt 241.022 triệu đồng, tương đương 62,03% so với năm 2012 (Số liệu tại bảng 2.3) Sự gia tăng
về tổng thu nhập của Chi nhánh qua các năm chủ yếu do ngân hàng đang ngày càng
mở rộng mạng lưới kinh doanh của mình, phát triển thêm các sản phẩm mới thu hút thêm nhiều khách hàng Đặc biệt là sự gia tăng của dư nợ cho vay mang lại nguồn thu lãi và các sản phẩm về thẻ, tiền gửi thanh toán cũng giúp chi nhanh nâng cao được thu nhập của mình
Trang 4030
Bảng 0.3.Tình hình thu nhập của ngân hàng giai đoạn 2011 - 2013
Đơn vị tính: Triệu đồng Chênh lệch
2012/2011 2013/2012 Chỉ tiêu
Số tiền trọng Tỷ
(%) Số tiền
Tỷ trọng (%) Số tiền
Tỷ trọng (%) Số tiền
Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) Tổng thu 85.641 100,00 148.754 100,00 241.022 100,00 63.113 73,68 92.268 62,03 Thu từ lãi 68.538 80,03 131.127 88,15 218.583 90,69 62.589 91,32 87.456 66,70 Thu ngoài lãi 17.103 19,97 17.627 11,85 22.439 9,31 524 3,06 4.812 27,30