Kể từ năm 1986, khi Việt Nam thực hiện đổi mới kinh tế xã hội, với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức sở hữu khác nhau, một thời kỳ mới đã mở ra cho các loại hình doanh nghiệp. Trong đó không thể không kể đến sự phát triển vượt bậc của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Từ đó đến nay, các doanh nghiệp này đã góp phần quan trọng trong việc tạo thêm nhiều việc làm mới, giải quyết những khó khăn về sản phẩm hàng hóa dịch vụ trong thị trường, đóng góp nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ. Mới đây, trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng cũng đã nhận định “Nhà nước định hướng, tạo môi trường để các doanh nghiệp phát triển và hoạt động có hiệu quả theo cơ chế thị trường. Hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X). Có thể nói doanh nghiệp vừa và nhỏ đã và đang có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế.
Trang 1Đỗ Thị Thanh Hương Lớp: Nhật 3 – K41 - KTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỤC LỤC
Lời nói đầu 1
Chương I 9
Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ và chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ 9
I Những vấn đề chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ 9
1 Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) 9
2 Phân loại 10
2.1 Tiêu chí phân loại 10
2.2 Các yếu tố tác động đến phân loại 10
2.2.1 Trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng nước 10
2.2.2 Giai đoạn phát triển của nền kinh tế 11
2.2.3 Ngành nghề của các doanh nghiệp 11
2.3 Cách phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ của một số nước trên thế giới 12 2.4 Các cách phân loại ở Việt Nam 16
3 Những ưu thế và hạn chế của các SME 18
3.1 Ưu thế của SME 18
3.1.1 SME được tạo lập dễ dàng, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp 18
3.1.2 SME năng động, dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường 18
3.1.3 SME dễ thu hút vốn đầu tư trong dân và tận dụng các nguồn lực địa phương 19
3.2 Hạn chế 19
3.2.1 Khả năng tài chính hạn chế 19
3.2.2 Bất lợi trong mua nguyên vật liệu, máy móc thiết bị và tiếp cận thông tin 19
3.2.3 Hạn chế về trình độ quản lý và tay nghề của người lao động 20
3.2.4 Hạn chế về khả năng cạnh tranh trên thị trường 20
4 Vai trò của SME 21
4.1 Đóng góp không nhỏ vào GDP 21
4.2 Làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn 22
4.3 Góp phần tạo lập sự phát triển cân bằng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 24 4.4 Tạo việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp, nâng cao thu nhập người dân, ổn định xã hội 24
4.5 Hỗ trợ doanh nghiệp quy mô lớn, là cơ sở hình thành những doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn trong quá trình phát triển kinh tế thị trường 25
4.6 Đào tạo, phát triển đội ngũ doanh nhân giỏi 26
4.7 Thúc đẩy phát triển công nghệ 26
II Những vấn đề chung về chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ 27
1 Các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển SME của các nước trên thế giới 27
1.1 Tạo khung khổ pháp lý khuyến khích các SME 27
1.2 Các chiến lược phát triển và chính sách hỗ trợ SME 28
1.3 Thành lập các cơ quan chuyên trách về quản lý nhà nước đối với SME 29 1.4 Khuyến khích thành lập các tổ chức hỗ trợ và các hiệp hội của các SME 30
Trang 32 Vai trò của các chính sách phát triển SME 32
2.1 Vai trò của chính sách hỗ trợ đối với SME 32
2.2 Vai trò của chính sách hỗ trợ SME đối với Nhà nước và xã hội 32
Chương II 34
Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật 34
I Trước năm 1954 34
1 Từ năm 1945 trở về trước 34
2 Thời kỳ phục hồi kinh tế (1945 – 1954) 35
2.1 Đặc điểm nền kinh tế 35
2.2 Các biện pháp hỗ trợ SME 37
2.2.1 Thành lập các tổ chức hỗ trợ và hiệp hội các SME 37
2.2.2 Ban hành Luật chống độc quyền 38
2.2.3 Hỗ trợ về vốn 39
2.2.4 Hướng dẫn, tư vấn quản lý 41
2.2.5 Hỗ trợ về thuế 42
II.Thời kỳ tăng trưởng kinh tế (1955-1984) 43
1.Thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao ( 1955-1973) 43
1.1.Đặc điểm nền kinh tế 43
1.2 Các biện pháp hỗ trợ SME 47
1.2.1 Ban hành các luật về tổ chức hiệp hội các SME 47
1.2.2 Hỗ trợ các SME làm thầu phụ 48
1.2.3 Hỗ trợ kinh doanh 49
1.2.4.Hỗ trợ phát triển công nghệ, hiện đại hoá các SME 50
1.2.5 Ban hành Luật cơ bản về SME 51
2.Thời kì tăng trưởng ổn định (1974 -1984) 53
2.1 Đặc điểm nền kinh tế 53
2.2 Các biện pháp hỗ trợ SME 56
2.2.1 Hỗ trợ về khoa học công nghệ, đầu tư phát triển theo chiều sâu 56
2.2.2 Khuyến khích đầu tư ra nước ngoài 57
2.2.3.Phát triển các SME trong lĩnh vực dịch vụ 59
III Thời kì điều chỉnh cơ cấu kinh tế ( từ năm 1985 đến nay) 60
1 Đặc điểm nền kinh tế 60
2 Các biện pháp hỗ trợ SME 62
2.1 Hỗ trợ SME chuyển đổi ngành kinh doanh 62
2.2 Sửa đổi Luật cơ bản về SME 63
2.3 Hỗ trợ thành lập doanh nghiệp mới, đổi mới kinh doanh và kinh doanh mạo hiểm 64
2.4 Hỗ trợ SME thích nghi với những biến động của kinh tế, xã hội 68
2.5 Các biện pháp khác 69
IV Đánh giá 70
1 Ưu điểm 70
2 Nhược điểm 71
Chương III 73
Bài học kinh nghiệm từ chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam 73
Trang 4I Những tương đồng và khác biệt giữa Nhật Bản và Việt Nam 73
1.Tương đồng 73
1.1 Về điều kiện tự nhiên, dân số 73
1.1.1 Về điều kiện tự nhiên 73
1.1.2 Về dân số 74
1.2.Về chính trị, văn hoá, xã hội 74
1.2.1.Về văn hóa 74
1.2.2 Về xã hội 75
1.3.Về kinh tế 76
1.3.1 Về khởi điểm xây dựng kinh tế sau chiến tranh 76
1.3.2 Về môi trường phát triển thời kỳ tăng trưởng nhanh 76
1.3.3 Về những động lực phát triển của nền kinh tế 77
2.Khác biệt 78
2.1 Về điều kiện tự nhiên, dân số 78
2.1.1 Về điều kiện tự nhiên 78
2.1.2 Về dân số 79
2.2 Về chính trị, văn hoá, xã hội 79
2.2.1 Về chế độ chính trị 79
2.2.2 Về văn hoá, xã hội 79
2.3.Về kinh tế 79
2.3.1.Về khởi điểm xây dựng kinh tế sau chiến tranh 79
2.3.2 Về môi trường phát triển thời kỳ tăng trưởng nhanh 80
2.3.3 Về những động lực phát triển của nền kinh tế 80
II Những bài học kinh nghiệm từ chính sách phát triển SME của Nhật đối với Việt Nam 83
1 Nhận thức sâu sắc về vai trò của các SME trong nền kinh tế 83
2 Tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của các SME 83
3 Hỗ trợ các SME phát huy nội lực, nâng cao năng lực cạnh tranh 86
3.1 Hệ thống các biện pháp hỗ trợ về vốn phong phú 87
3.2 Hỗ trợ thúc đẩy nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ thông tin 88
3.3 Hỗ trợ đầu tư phát triển nguồn nhân lực 90
3.4 Xây dựng hệ thống tư vấn, đào tạo nâng cao năng lực kinh doanh trong cả nước 91
4 Khuyến khích hình thành các liên kết kinh tế 92
5 Thực hiện có hiệu quả các chính sách đã ban hành 93
III Một số biện pháp hoàn thiện chính sách phát triển SME ở Việt Nam 94
1 Đổi mới nhận thức, quan điểm và định hướng về SME trong bối cảnh hiện nay 94
2 Tạo môi trường thuận lợi cho SME 95
2.1 Xây dựng môi trường pháp lý đồng bộ 95
2.2 Cải thiện môi trường kinh doanh 96
2.3 Tạo môi trường tâm lý xã hội tích cực 96
3 Nâng cao khả năng cạnh tranh của các SME trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 97
Trang 53.1 Hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn 97
3.2 Hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp 97
3.3 Hỗ trợ về công nghệ 98
3.4 Hỗ trợ về cung cấp thông tin cho doanh nghiệp 98
3.5 Phát triển thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh đối với các SME 99
4 Khuyến khích hình thành và tăng cường các mối liên kết giữa doanh nghiệp, ngân hàng, tổ chức tư vấn … 100
5 Đẩy mạnh công tác theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện 101
Kết luận 102
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ năm 1986, khi Việt Nam thực hiện đổi mới kinh tế-xã hội, với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức sở hữu khác nhau, một thời kỳ mới đã mở ra cho các loại hình doanh nghiệp Trong đó không thể không kể đến sự phát triển vượt bậc của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) Từ đó đến nay, các doanh nghiệp này đã góp phần quan trọng trong việc tạo thêm nhiều việc làm mới, giải quyết những khó khăn về sản phẩm hàng hóa dịch vụ trong thị trường, đóng góp nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ Mới đây, trong Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X, Đảng cũng đã nhận định “Nhà nước định hướng, tạo môi trường để
các doanh nghiệp phát triển và hoạt động có hiệu quả theo cơ chế thị trường Hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X) Có thể nói doanh nghiệp vừa và nhỏ đã và đang có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế
Đặc biệt cùng với quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá cũng như sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và sự tăng trưởng nhảy vọt trong thương mại quốc tế, vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ càng trở nên quan trọng
Tuy nhiên, sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp nhiều khó khăn trở ngại Đó không chỉ là những khó khăn chủ quan do bản thân của mỗi doanh nghiệp trong quá trình phát triển mà còn có những vấn đề thuộc cơ chế chính sách
Tại Nhật Bản, một quốc gia có điều kiện tự nhiên, chính trị xã hội có nhiều nét tương đồng với Việt Nam, các SME cũng đã giữ một vai trò quan trọng trong
sự phát triển của nền kinh tế Nhật Kết thúc chiến tranh thế giới thứ II, không những
bị bại trận và thiệt hại nặng nề về người và của, Nhật Bản còn phải chi trả những khoản bồi thường chiến tranh khá lớn Trong hoàn cảnh như thế, một trong những nguyên nhân giúp cho Nhật có thể phục hồi và có những bước phát triển thần kỳ là
sự tham gia và phát triển không ngừng của các SME Sự phát triển của các SME có một phần không nhỏ là nhờ các chính sách hỗ trợ của chính phủ Nhật Trong mỗi
Trang 7giai đoạn phát triển, chính phủ đã có những chính sách phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế
Vậy Nhật Bản đã có những chính sách hỗ trợ các SME như thế nào để góp phần vào sự phát triển của đất nước? Có lẽ những bài học kinh nghiệm từ việc ban hành đến thực hiện các chính sách phát triển SME của Nhật sẽ trở nên rất hữu ích
cho Việt Nam Do vậy, em đã lựa chọn đề tài “Chính sách phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ của Nhật và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” Hy vọng
từ đó sẽ tìm được những bài học từ kinh nghiệm phát triển SME của Nhật để đề xuất ra một số biện pháp nhằm phát triển SME ở Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Khoá luận tập trung nghiên cứu, đánh giá các chính sách phát triển SME của chính phủ Nhật trong các giai đoạn phát triển kinh tế sau chiến tranh
Phân tích những điểm giống và khác nhau giữa Việt Nam và Nhật Bản Trên
cơ sở đó, rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất các biện pháp nhằm hoàn thiện hơn chính sách phát triển SME tại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của khoá luận là những quy định liên quan đến chính sách phát triển SME của Nhật trong giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ II
Phạm vi nghiên cứu chính là các chính sách phát triển SME của Nhật trong các giai đoạn phát triển sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay Tuy nhiên với phương pháp luận nghiên cứu khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, khoá luận sẽ nghiên cứu ở giới hạn cần thiết những vấn đề, lĩnh vực liên quan khác nhằm làm rõ hơn mục tiêu nghiên cứu chính đặt ra
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên các lý luận và quan điểm theo định hướng phát triển kinh tế, nâng cao hoạt động kinh doanh của các SME của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Khoá luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như thu thập, phân tích, diễn giải, quy nạp, hệ thống hoá, so sánh, đối chiếu…
5 Kết cấu của khoá luận
Trang 8Ngoài phần Mục lục, Lời nói đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, khoá luận gồm có ba chương:
Chương I Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ và chính sách phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chương II Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật
Chương III Bài học kinh nghiệm từ chính sách phát triển doanh nghiệp vừa
và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam
Trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự động viên, khích lệ từ nhiều phía
Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy cô giáo Trường Đại học Ngoại thương Khoá luận không chỉ là nỗ lực của bản thân em mà còn chính là thành quả của cả quá trình học tập, nghiên cứu hơn 4 năm tại trường dưới
sự chỉ bảo, dìu dắt và giúp đỡ của các thầy cô
Đặc biệt, em xin dành lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo hướng dẫn- Tiến sĩ Vũ Sĩ Tuấn Sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của thầy là động lực vô cùng quan trọng để em hoàn thành khoá luận
PGS-Tìm hiểu về chính sách phát triển SME của Nhật trong điều kiện tài liệu và thời gian có hạn, kinh nghiệm và khả năng bản thân còn hạn chế, khoá luận của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong muốn nhận được nhiều ý kiến đóng góp của thầy cô để khóa luận có thể hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Trang 9CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
Trong nền kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng một vai trò hết sức quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào nếu muốn phát triển đều phải đẩy mạnh hoạt động của loại hình doanh nghiệp này Vậy doanh nghiệp vừa và nhỏ là gì? Loại hình doanh nghiệp này có đặc điểm và vai trò như thế nào? Vì sao cần phải hỗ trợ các doanh nghiệp này?…Câu trả lời cho những câu hỏi này sẽ là những nội dung được đề cập đến trong chương I
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1 Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME)
Trong thời gian gần đây, cụm từ SME đã trở nên phổ biến và quen thuộc Mặc
dù có các cách nói khác nhau ở mỗi nơi, là “doanh nghiệp vừa và nhỏ” hay “doanh nghiệp nhỏ và vừa” thì cũng đều dùng để chỉ một đối tượng doanh nghiệp trong nền kinh tế Loại hình doanh nghiệp này được xếp loại theo những tiêu chí nhất định thường là dựa vào quy mô sản xuất của doanh nghiệp
Điểm khác biệt cơ bản trong khái niệm SME giữa các nước chính là việc chọn các tiêu thức đánh giá quy mô doanh nghiệp và lượng hoá các tiêu thức thông qua những tiêu chuẩn cụ thể Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các nước về qui định các tiêu thức phân loại SME , song khái niệm chung nhất về SME có nội dung như sau:
SME là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh
vì mục đích lợi nhuận, có qui mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kì theo qui định của từng quốc gia.[6.8]
Trang 102 Phân loại
2.1 Tiêu chí phân loại
Qua nghiên cứu tiêu thức phân loại ở các nước có thể nhận thấy một số tiêu thức chung, phổ biến nhất thường được SME sử dụng trên thế giới là:
- Số lao động thường xuyên
- Vốn sản xuất
- Doanh thu
- Lợi nhuận
- Giá trị gia tăng
Tiêu thức về số lao động và vốn phản ánh qui mô sử dụng các yếu tố đầu vào, còn tiêu thức về doanh thu, lợi nhuận và giá trị gia tăng lại đánh giá quy mô theo kết quả đầu ra Mỗi tiêu thức có những mặt tích cực và hạn chế riêng Như vậy để phân loại SME có thể dùng các yếu tố đầu vào hoặc các yếu tố đầu ra của doanh nghiệp, hoặc là sự kết hợp của cả hai yếu tố đó
Việc sử dụng các tiêu thức để phân loại SME ở các nước trên thế giới có các đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Các nước dùng các tiêu thức khác nhau Trong số đó hai tiêu thức được sử dụng nhiều nhất ở phần lớn các nước là quy mô và vốn lao động Tiêu thức đầu ra được sử dụng ít hơn
- Số lượng tiêu thức để sử dụng phân loại cũng không giống nhau Có nước chỉ dùng một tiêu thức nhưng cũng có nước sử dụng đồng thời hai hoặc nhiều tiêu thức để phân loại SME
- Lượng hoá các tiêu thức này thành các tiêu chuẩn giới hạn cụ thể ở các nước khác nhau không giống nhau Độ lớn các tiêu chuẩn giới hạn phụ thuộc vào trình độ, hoàn cảnh, điều kiện phát triển kinh tế, định hướng chính sách và khả năng trợ giúp cho các SME có thể rất lớn hoặc vừa và nhỏ tuỳ theo giới hạn độ lớn khối lượng vốn và lao động sử dụng ở mỗi nước
2.2 Các yếu tố tác động đến phân loại
Khái niệm SME mang tính tương đối, nó thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nhất định và phụ thuộc vào:
2.2.1 Trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng nước
Trang 11Thông thường các nước có trình độ phát triển cao thì giới hạn quy mô chỉ tiêu quy định lớn hơn so với các nước có trình độ phát triển thấp Chẳng hạn ở Nhật Bản, các doanh nghiệp trong lĩnh vực chế tạo và các lĩnh vực khác số vốn tối đa không quá 300 triệu yên hoặc số lao động tối đa là 300 người Trong bán buôn, con
số này là 100 triệu yên hoặc 100 triệu lao động Bán lẻ và dịch vụ được tách ra và
có những quy định riêng, bán lẻ có số lao động tối đa là 50 người hoặc số vốn tối đa
là 50 triệu yên; dịch vụ có số lao động tối đa là 100 người hoặc số vốn tối đa là 50 triệu yên Ở Đài Loan theo qui định hiện nay trong ngành xây dựng các doanh nghiệp có vốn dưới 1,4 triệu USD, lao động dưới 300 người; trong công nghiệp khai khoáng các doanh nghiệp có vốn dưới 1,4 triệu USD, 500 lao động và trong thương mại, dịch vụ có doanh số dưới 1,4 triệu USD và dưới 50 lao động là những SME
Sự thay đổi qui định này thể hiện khả năng thích ứng nhanh của cơ chế chính sách quản lí của nhà nước đối với khu vực SME dưới tác động của sự phát triển kinh tế -
xã hội và các môi trường bên ngoài
2.2.2 Giai đoạn phát triển của nền kinh tế
Các giới hạn tiêu chuẩn này còn được quy định trong những thời kì cụ thể và
có sự thay đổi theo thời gian cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội của từng giai đoạn Chẳng hạn ở Đài Loan trong 30 năm qua đã có sáu lần thay đổi quy định giới hạn và các tiêu thức phân loại SME( Bảng 1)
Ở Nhật Bản, những tiêu thức phân loại được quy định trong Luật về doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 1963 và Luật về doanh nghiệp vừa và nhỏ sửa đổi năm
1999 cũng đã có nhiều sự thay đổi phù hợp với hoàn cảnh thực tế
2.2.3 Ngành nghề của các doanh nghiệp
Giới hạn chỉ tiêu độ lớn của các SME được quy định khác nhau theo những
ngành nghề khác nhau Đa phần các nước có sự phân biệt quy mô các tiêu thức vốn, lao động sử dụng riêng cho các ngành nghề, lĩnh vực như sản xuất công nghiệp, thương mại hoặc dịch vụ Tuy vậy vẫn có một số nước dùng chung một tiêu thức chung cho tất cả các ngành
Trong từng thời kì các tiêu thức và tiêu chuẩn giới hạn lại có sự thay đổi cho phù hợp với đường lối, chính sách, chiến lược và khả năng hỗ trợ của một quốc gia Những tiêu thức phân loại SME được dùng làm căn cứ thiết lập những chính sách phát triển, hỗ trợ SME của các chính phủ
Trang 12Việc xác định các giới hạn tiêu thức này có ý nghĩa rất quan trọng Đó là cơ
sở xác định các cơ chế quản lý với những chính sách ưu tiên thích hợp và xây dựng
cơ cấu tổ chức, quản lý có hiệu quả đối với hệ thống các doanh nghiệp này
2.3 Cách phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ của một số nước trên thế giới
Cách phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở mỗi nước đều có những điểm khác nhau Qua cách phân loại của một số nước cũng có thể thấy rõ điều này
* Đài Loan
Khái niệm SME bắt đầu được sử dụng trên vùng lãnh thổ này từ năm 1967 Ngay từ đầu, loại doanh nghiệp này được phân biệt theo hai nhóm ngành: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; thương mại, vận tải, các dịch vụ khác
Từ năm 1977 bổ sung thêm một nhóm ngành nữa là khai khoáng Tiêu chí phân loại và các trị số của từng tiêu chí qua các thời kỳ có thể thấy qua Bảng 1, trong công nghiệp và khai khoáng dùng tiêu chí vốn góp và lao động; trong thương mại và dịch vụ khác dùng tiêu chí doanh thu và lao động
Bảng 1 Tiêu thức xác định SME ở Đài Loan qua các thời kỳ
Thời kỳ
Tiêu chí Ngành
Vốn góp (tổng giá trị tài sản) triệu T$
Lao động thường xuyên ( người)
Doanh số ( triệu T$)
Trang 13Nguồn: Kỷ yếu khoa học, Dự án chính sách hỗ trợ phát triển SME ở Việt Nam, Học
viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1996 Chú thích:
* : Số trong ngoặc đơn là tổng giá trị tài sản
**: Trong ngành may mặc: số lao động dưới 300 người
Trong công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm: dưới 200 người
Trong các ngành khác: dưới 100 người
Trong thời gian hơn 30 năm qua, tiêu chí SME ở Đài Loan đã được điều chỉnh 6 lần Sự thay đổi trong khái niệm SME theo hướng: tăng dần trị số các tiêu chí( trong sản xuất: vốn góp từ 5 triệu lên 40 triệu đôla Đài Loan, tổng giá trị tài sản
từ 20 triệu lên 120 triệu đôla Đài Loan, doanh số từ 5 triệu lên 40 triệu), phân ngành hẹp hơn nhưng bao quát nhiều lĩnh vực hơn( từ hai nhóm ngành lên ba nhóm, bao quát rộng hơn: cả công nghiệp và xây dựng)
Hiện nay, ở Đài Loan, khái niệm SME như sau:
SME là doanh nghiệp:
- Trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng: có vốn góp dưới 40 triệu đôla Đài Loan( khoảng 1,4 triệu USD), số lao động thường xuyên dưới 300 người
- Trong khai khoáng: có vốn góp dưới 40 triệu đôla Đài Loan( khoảng 1,4 triệu USD), lao động thường xuyên dưới 500 người
- Trong thương mại, vận tải và dịch vụ khác: có tổng doanh số hàng năm dưới 40 triệu đôla Đài Loan, lao động dưới 50 người
* Hàn Quốc
Theo sắc lệnh cơ bản của Hàn Quốc về SME, việc phân loại quy mô doanh nghiệp được thực hiện theo hai nhóm ngành:
- Trong ngành chế tạo, khai thác, xây dựng: doanh nghiệp có vốn đầu tư dưới
600000 USD và số lao động thường xuyên dưới 300 người Nếu doanh nghiệp có dưới 20 lao động thường xuyên là doanh nghiệp nhỏ
- Trong thương mại: SME là doanh nghiệp có doanh thu một năm dưới
250000 USD Doanh nghiệp có lao động dưới 5 người được coi là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp có từ 6-20 công nhân là doanh nghiệp vừa
Trang 14Tuy nhiên, có một số trường hợp ngoại lệ với số lao động cao hơn hoặc thấp hơn mức nói trên vẫn thuộc loại vừa và nhỏ:
- Trong ngành sản xuất linh kiện ô tô, linh kiện điện tử: số công nhân tới
- Khai khoáng: tới 120 triệu won
- Ngành chế tạo và khai thác kim loại đen: tới 150 triệu won,
- Gỗ, đồ chơi, búp bê: tới 200 triệu won
- Thực phẩm, đồ uống, thuốc lá: tới 25 triệu won
- Quần áo may sẵn, dệt, da, hoá chất, xăng dầu, cao su, nhựa: tới 300 triệu won
- Giấy, in ấn, lắp ráp máy, sắt thép, cán thép, linh kiện ô tô: tới 600 triệu won
*Philippin
Trong sản xuất, doanh nghiệp được chia thành 4 loại:
Doanh nghiệp cực nhỏ và hộ gia đình: có vốn dưới 1, 5 triệu peso( 72000 USD) Doanh nghiệp nhỏ: có vốn từ 1,5 -15 triệu peso( 72.000-720.000 USD)
Doanh nghiệp vừa: có vốn từ 15 triệu – 60 triệu peso( 720.000 -2,9 triệu USD)
Doanh nghiệp lớn: có vốn trên 60 triệu peso ( trên 2,9 triệu USD)
* Liên minh châu Âu
SME là doanh nghiệp có dưới 250 lao động, doanh số không quá 40.000 ECU hoặc tổng số vốn hàng năm không quá 27 triệu ECU, có cổ phần không quá 25% ở một xí nghiệp lớn
Có thể khái quát lại, việc phân chia doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ ở các nước theo ngành nghề và khác nhau trong từng thời kỳ Các tiêu chí được sử dụng
Trang 15phổ biến ở nhiều nước là số lao động thường xuyên, vốn đầu tư, doanh số, còn trị số các chỉ tiêu thì khác nhau và phụ thuộc trình độ phát triển kinh tế của từng nước
Bảng 2 Tiêu thức xác định SME ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ
động(người)
Tổng số vốn hoặc giá trị tài sản
Doanh số /năm CHLB
<0,25 triệu USD Hồng
Đài Loan
công nghiệp xây dựng
<50 trong thương mại, dịch vụ
Trong thương mại dịch vụ: < 1,4 triệu USD
đôla Singapore Thái Lan
< 60 triệu peso
< 150 000 150.000-1,5 triệu peso 1,5 triệu peso-
15 triệu peso
Trang 16< 0,5 triệu đôla Malaysia
Nguồn: Kỷ yếu khoa học, Dự án chính sách hỗ trợ phát triển SME ở Việt Nam, Học
viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1996
2.4 Các cách phân loại ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trong suốt một thời gian dài, tiêu chí về doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được quy định trong bất kỳ một văn bản luật hay dưới luật nào
Trong cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp Nhà nước được chia thành doanh nghiệp loại 1, doanh nghiệp loại 2, doanh nghiệp loại 3 với tiêu chí phân loại chủ yếu là số lao động trong biên chế và theo phân cấp Trung ương- địa phương Trong
đó, SME gần như tương ứng với doanh nghiệp loại 2 và loại 3
Theo thông tư liên bộ số 21/LĐTT ngày 17/6/1993 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính, các doanh nghiệp ở Việt Nam được phân chia thành 5 hạng: hạng đặc biệt, hạng I, II, III, IV dựa trên độ phức tạp của quản lý và hiệu quả sản xuất, kinh doanh với 8 tiêu chí rất phức tạp như vốn, công nghệ, lao động, lợi nhuận, doanh thu… Đối tượng phân loại chủ yếu chỉ giới hạn trong các doanh nghiệp nhà nước với mục đích chủ yếu là để xếp lương cho cán bộ quản lý doanh nghiệp
Trước năm 1998, do yêu cầu của thực tiễn, một số cơ quan và một số nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra một số tiêu chí để xác định SME ở Việt Nam Các ý kiến
đề xuất phần lớn đều kiến nghị lấy hai tiêu chí là vốn và lao động Cụ thể:
- Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam quy định một doanh nghiệp với không quá 500 lao động, trị giá tài sản cố định dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng và doanh thu hàng năm không quá 20 tỷ đồng là SME
- Bộ Tài chính và Bộ Lao động thương binh xã hội quy định SME là doanh nghiệp có số lao động thường xuyên dưới 100 người, doanh thu hàng năm không quá 10 tỷ đồng và có số vốn pháp định là dưới 1 tỷ đồng
Trang 17- Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tại Việt Nam VIE/US/95/004 được tài trợ bởi UNIDO, đối tác của Bộ Kế hoạch và đầu tư cho rằng một doanh nghiệp có
số lao động không quá 30 người và có vốn đăng ký dưới 1 tỷ đồng là doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp có số lao động 31 người trở lên và vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng
là doanh nghiệp vừa
- Quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ( chương trình do SMEDF – VN-
EU ) quy định những doanh nghiệp có từ 10 đến 500 lao động và vốn pháp định từ 50.000 USD đến 300.000 USD được chương trình này hỗ trợ
- Quỹ Phát triển Nông thôn ( Ngân hàng Nhà nước ) cho rằng SME là doanh nghiệp có số lao động không quá 500 người và có số vốn dưới 2 tỷ đồng
Ngày 20/6/1998, Chính phủ đã có công văn 681/CP-KTN về định hướng chiến lược và chính sách phát triển SME trong đó nêu rõ : “ Tạm thời quy định thống nhất tiêu chí xác định SME ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là những doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm không quá 20 người”
Công văn cũng chỉ rõ doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có số lao động dưới
50 người ( đối với các doanh nghiệp công nghiệp ) hoặc 30 người ( đối với các doanh nghiệp thương mại ) và vốn không lớn hơn 1 tỷ đồng, còn “ các doanh nghiệp vừa” sẽ bao gồm doanh nghiệp có số lao động từ 31 đến 200 người và có số vốn từ
1 tỷ đến 5 tỷ đồng
Bảng 3 Phân loại SME ở Việt Nam theo công văn 681/CP-KTN
Nguồn: Công văn 681/CP-KTN ngày 20/6/1998
Gần đây nhất, tại Điều 3 Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm
2001 về trợ giúp phát triển SME, chính phủ đã quy định rõ về SME Theo đó "
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là các cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số
Trang 18lao động trung bình hàng năm không quá 300 người" Việc áp dụng một trong hai
tiêu chí hoặc cả hai tiêu chí tuỳ thuộc tình hình kinh tế-xã hội cụ thể của từng ngành, địa phương
Dựa trên hai tiêu chí này thì phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm hơn 95% trên tổng số doanh nghiệp hiện có Có thể nói, hoạt động của SME đã trở thành một trong những đặc trưng của hoạt động kinh doanh của Việt Nam Như vậy, sau một thời gian dài, định nghĩa về SME ở Việt Nam đã được chính thức nêu lên Điều này thực sự có ý nghĩa, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả việc ban hành và thực hiện các chính sách hỗ trợ SME của cơ quan Nhà nước và các tổ chức trong và ngoài nước
3 Những ƣu thế và hạn chế của các SME
Trong nền kinh tế thị trường, cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, SME cũng có những ưu thế lẫn những hạn chế riêng
3.1 Ưu thế của SME
3.1.1 SME được tạo lập dễ dàng, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp
Để thành lập một doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ chỉ cần một số vốn đầu
tư ban đầu tương đối ít, mặt bằng sản xuất và quy mô nhà xưởng không lớn Các doanh nghiệp này rất linh hoạt trong việc học hỏi, phát triển và tránh được những thiệt hại to lớn trong môi trường khách quan tác động lên Mặt khác, do SME được thành lập mang tính gia đình, bạn bè nên mỗi khi khó khăn, công nhân và chủ doanh nghiệp dễ dàng tự hạ thấp tiền lương, có tinh thần nỗ lực vượt khó Điều đó khiến SME giảm được chi phí cố định, tận dụng lao động với giá công thấp để thay việc mua sắm thiết bị
3.1.2 SME năng động, dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường
Với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, lại thường có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ nên các SME dễ dàng tìm kiếm và đáp ứng những yêu cầu trong thị trường chuyên môn hoá, đặc biệt có khả năng “len” vào các thị trường “ngách” Cơ sở vật chất kỹ thuật không lớn cũng giúp SME dễ dàng chuyển đổi sản xuất hay điều chỉnh quy mô của mình mà không gây hậu quả cho xã hội
Trang 19SME có khả năng tạo ra một lượng cung về hàng hoá dịch vụ đủ sức đáp ứng đầy
đủ, kịp thời với giá cả hợp lý cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội
3.1.3 SME dễ thu hút vốn đầu tư trong dân và tận dụng các nguồn lực địa phương
Các SME thu hút được khá nhiều vốn trong dân do tính chất hiệu quả, quy
mô sản xuất của nó đòi hỏi không nhiều, thời gian thu hồi vốn nhanh Mặt khác, trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp kiểu này có thể dễ dàng huy động vốn dựa trên quan hệ họ hàng, bạn bè Hơn nữa, khác với các doanh nghiệp lớn gặp khó khăn trong việc sử dụng nguyên liệu sẵn có tại địa phương do trữ lượng hạn chế không đảm bảo cho sản xuất lớn, các SME với lợi thế quy mô nhỏ được phân tán ở hầu hết khắp các địa phương, vùng lãnh thổ nên SME có khả năng tận dụng tiềm năng về lao động, tận dụng tài nguyên và tư liệu sản xuất sẵn có tại địa phương nhưng có trữ lượng hạn chế, không đáp ứng nhu cầu sản xuất quy mô lớn Do vậy,
có thể phát huy triệt để tiềm lực trong nước cho sản xuất, kinh doanh
3.2 Hạn chế
3.2.1 Khả năng tài chính hạn chế
Các SME thường gặp rất nhiều khó khăn về vốn để sản xuất và mở rộng sản xuất Tình trạng thiếu vốn của SME có nhiều nguyên nhân Trong đó, có nhiều doanh nghiệp không có khả năng đáp ứng đòi hỏi của ngân hàng về thủ tục lập dự
án, thủ tục thế chấp và điều kiện lãi suất Đồng thời các doanh nghiệp cũng gặp khó khăn và ít khả năng huy động vốn trên thị trường Phần lớn các doanh nghiệp luôn ở tình trạng thiếu vốn Điều này khiến cho khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp
bị giới hạn ngay cả khi có cơ hội kinh doanh và có yêu cầu mở rộng sản xuất, kéo theo sự hạn chế trong khả năng tích luỹ
3.2.2 Bất lợi trong mua nguyên vật liệu, máy móc thiết bị và tiếp cận thông tin
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các SME thường gặp nhiều bất lợi hơn các doanh nghiệp lớn khi mua nguyên vật liệu, máy móc thiết bị Bởi lẽ, do quy mô kinh doanh nhỏ, khả năng tài chính hạn hẹp nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ không được hưởng khoản chiết khấu giảm giá theo số lượng Khi cần nhập khẩu máy móc thiết bị của nước ngoài, doanh nghiệp thường thiếu ngoại tệ nên không mua được trực tiếp mà phải qua khâu trung gian nên giá mua bị đắt Hơn nữa, SME thường bị thua thiệt so với doanh nghiệp lớn về thông tin Đó là do phạm vi hoạt động và giao
Trang 20dịch của SME thường hẹp hơn so với doanh nghiệp lớn SME cũng bị hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn thông tin do thiếu kinh phí, cũng như thiếu thiết bị
3.2.3 Hạn chế về trình độ quản lý và tay nghề của người lao động
Người quản lý của SME thường là người chủ doanh nghiệp Do phải tự thân lập nghiệp, họ vừa là nhà đầu tư, vừa là chủ, vừa là nhà quản lý, nên đa số họ gặp rất nhiều khó khăn trong nghiệp vụ quản lý doanh nghiệp, quản lý con người, quản
lý tài chính…Những hạn chế đó cũng tạo nên những bất lợi của các SME so với các doanh nghiệp lớn khi mà các doanh nghiệp lớn luôn có đội ngũ các nhà quản lý dày dạn chuyên môn, có kinh nghiệm nhiều năm ở các vị trí quản lý khác nhau
Với quy mô nhỏ, sản phẩm tiêu thụ không nhiều, SME khó có thể trả lương cao cho người lao động Doanh nghiệp cũng khó có khả năng thu hút được những người lao động có trình độ cao trong sản xuất và quản lý, điều hành Bên cạnh đó, định kiến của người lao động cũng như của những người thân của họ về khu vực này vẫn còn khá lớn Người lao động ít được đào tạo, đào tạo lại do kinh phí hạn hẹp Vì vậy trình độ thấp và kỹ năng thấp Ngoài ra, sự không ổn định khi làm việc cho các SME, cơ hội để phát triển thấp tại các doanh nghiệp này cũng tác động làm cho nhiều lao động có kỹ năng không muốn làm việc cho khu vực này
3.2.4 Hạn chế về khả năng cạnh tranh trên thị trường
Do quy mô nhỏ, các SME thường gặp bất lợi khi cạnh tranh trên thị trường với các doanh nghiệp lớn Các SME không thể có nhiều vốn và “trường vốn” bằng các doanh nghiệp lớn SME cũng khó có thể có những chiến dịch quảng cáo và tiếp thị lớn nhằm thu hút người tiêu dùng như các doanh nghiệp lớn SME thường không
có mạng lưới phân phối rộng khắp như các doanh nghiệp lớn Do đó, trên thị trường các SME thường yếu thế hơn so với những doanh nghiệp lớn
Do gặp nhiều khó khăn như vậy nên khi có biến động lớn trên thị trường, các
SME dễ bị phá sản do khả năng tài chính hạn chế
Ngoài những hạn chế nêu trên, còn có thể nảy sinh một số tiêu cực ảnh hưởng không tốt tới đời sống kinh tế - xã hội như hiện tượng làm hàng giả; trốn, lậu thuế; gây ô nhiễm môi trường…Vì vậy, quá trình hoạt động của SME rất cần sự hướng dẫn, điều chỉnh, hỗ trợ của Nhà nước
Trang 214 Vai trò của SME
Quá trình hình thành và phát triển của SME tại nhiều nước trên thế giới đã khiến Chính phủ và các nhà kinh tế các nước nhận thức được đầy đủ vai trò quan trọng của SME trong nền kinh tế Đó là:
4.1 Đóng góp không nhỏ vào GDP
Tại hầu hết các quốc gia với ưu thế vượt trội về số lượng, các SME thường đóng góp khoảng 20-50% thu nhập quốc dân Năm 1994, SME ở Mỹ tạo ra trên 50% GDP( trên 3000 tỷ USD so với GDP là 6000 tỷ USD) Ở Đức 50%, Indonesia : 38,9%, Philippin : 28%, Malaysia : 50,5% GDP trong công nghiệp [1.32]
Tại Nhật Bản, số liệu của bảng 4 dưới đây cho thấy khu vực SME tạo ra hơn 50% doanh thu của khu vực doanh nghiệp
Bảng 4 Doanh thu của các doanh nghiệp ngành sản xuất ở Nhật
164,025 (50.8%)
157,940 (51.6%)
150,550 (51.7%)
153,624 (51.1%)
146,818 (51.2%)
137,776 (51.1%) Doanh
159,047 (49.2%)
147,929 (48.4%)
140,900 (48.3%)
146,854 (48.9%)
139,849 (48.8%)
131,586 (48.9%) Tổng 306,030 313,068 323,072 305,869 291,450 300,478 286,667 269,362
Nguồn: Cục Quản lý và Hợp tác, Điều tra về thành lập và Doanh nghiệp Nhật, năm 2001
Bên cạnh đó, các SME ở Nhật cũng tạo ra giá trị gia tăng lớn, chiếm hơn 50% Con số này thể hiện tầm quan trọng của các SME trong sự đóng góp vào GDP của Nhật
Bảng 5 Giá trị gia tăng do các SME Nhật tạo ra
Trang 22Nguồn: Bộ tài chính Nhật Bản, Báo cáo hàng năm thống kê về các công ty (2003)
Ở Việt Nam, nếu tính theo doanh thu của các doanh nghiệp cả nước, tỷ trọng doanh thu của khu vực SME theo quy mô lao động năm 2002-2004 là 81,5%-86,5% Điều đó chứng tỏ các SME có đóng góp không nhỏ vào việc gia tăng sản lượng và tăng trưởng kinh tế
Bảng 6 Tỷ trọng doanh thu SME trong nền kinh tế Nhật
doanh thu
(Tỷ đồng)
Tỷ trọng doanh thu SME (%)
Chia ra theo quy mô lao động (%) Dưới 5
Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2005
Về đóng góp vào GDP : từ chỗ tỷ lệ trong GDP của khu vực SME không đáng
kể đầu những năm 1990, đến nay tỉ lệ này khoảng 24-25% Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực thì đây vẫn là mức thấp
4.2 Làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn
Do số lượng các SME lớn nên làm tăng tính cạnh tranh, giảm bớt mức độ rủi
ro trong nền kinh tế, đồng thời làm tăng số lượng và chủng loại hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế Ngoài ra, các SME có khả năng thay đổi mặt hàng, công nghệ, và chuyển hướng kinh doanh nhanh làm cho nền kinh tế năng động hơn Sự có mặt của các SME trong nền kinh tế có tác dụng hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn kinh doanh
có hiệu quả hơn : làm đại lý, vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, giúp tiêu thụ hàng
Trang 23hóa, cung cấp các đầu vào như nguyên liệu, thâm nhập vào mọi ngõ ngách của thị trường mà các doanh nghiệp lớn không với tới được, thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá và phân công lao động trong sản xuất, làm tăng hiệu quả của chính các SME cũng như các doanh nghiệp lớn
Tại Nhật Bản, số lượng các SME của Nhật tăng nhanh chóng trong các thời kỳ hưng thịnh của nền kinh tế (Đồ thị 1) Mặc dù trong những năm gần đây, tốc độ tăng có giảm đi, song số SME vẫn tăng lên do sự mở rộng các tiêu chí xác định SME theo Luật cơ bản năm 1999 Tính đến năm 2001, Nhật có gần 5 triệu SME chiếm tới 99,7% số doanh nghiệp cả nước (Bảng 7) Số doanh nghiệp này thực hiện kinh doanh ở hầu như tất cả các lĩnh vực kinh tế, tập trung nhiều nhất ở các lĩnh vực bán lẻ, dịch vụ và sản xuất Chính số lượng đông đảo các SME này đã giúp cho nền kinh tế Nhật ngày càng trở nên năng động, hiệu quả
Nguồn : Cục Quản lý và Hợp tác, Điều tra về thành lập và Doanh nghiệp Nhật,
năm 2001
Bảng 7 Số lƣợng doanh nghiệp Nhật năm 2001
Trang 24
4.3 Góp phần tạo lập sự phát triển cân bằng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nền kinh tế tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp với qui mô khác nhau phụ
thuộc vào các đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của từng ngành quy định Mỗi qui mô với
ưu thế của mình lại đảm nhận một nhiệm vụ khác nhau theo sự phân công tự nhiên của nền kinh tế Sự phát triển mạnh các SME làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế:
- Cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi: các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh tăng lên nhanh chóng, các doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp và củng cố lại, kinh doanh có hiệu quả để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
- Cơ cấu ngành: phát triển nhiều ngành, nghề đa dạng, phong phú ( cả ngành nghề hiện đại và truyền thống) theo hướng lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo
- Cơ cấu vùng lãnh thổ: Sự phát triển của SME góp phần quan trọng trong việc tạo lập sự cân đối trong phát triển giữa các vùng Nó giúp cho vùng sâu, vùng
xa, các vùng nông thôn có thể khai thác được tiềm năng của vùng, của địa phương
để phát triển các ngành sản xuất, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ Đây cũng là vấn đề có ý nghĩa để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
4.4 Tạo việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp, nâng cao thu nhập người dân, ổn định xã hội
Sự tồn tại và phát triển của SME là một phương tiện hiệu quả để giải quyết vấn đề thất nghiệp, là nguồn chủ yếu tạo ra việc làm Lý do đơn giản là SME thường có lượng vốn không lớn và thường xuyên đáp ứng được nhu cầu thay đổi của thị trường Nhìn chung ở các nước, số lượng doanh nghiệp này thường chiếm
81 – 98% tổng doanh nghiệp trong nền kinh tế, nên theo quy luật số đông, dù lao động làm việc trong từng doanh nghiệp không nhiều nhưng các SME giải quyết việc làm cho khoảng 2/3 lực lượng lao động xã hội [1.33] Tại Nhật Bản, do số lượng hùng hậu và tính đa dạng về lĩnh vực kinh doanh của các SME, chúng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tạo việc làm, thu hút lao động Trong những giai đoạn khó khăn của nền kinh tế Nhật, các doanh nghiệp lớn liên tục sa thải lao động, khu vực SME chính là một nguồn quan trọng thu hút số lao động bị sa thải đó Hiện
Trang 25nay, khu vực SME tạo việc làm thường xuyên cho gần 30 triệu lao động, chiếm hơn 70% số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp cả nước
Bảng 8 Số lƣợng lao động trong các doanh nghiệp
xã hội do có tính linh hoạt , uyển chuyển, dễ thích ứng với thay đổi của thị trường, trong khi doanh nghiệp lớn thường phải cắt giảm lao động
4.5 Hỗ trợ doanh nghiệp quy mô lớn, là cơ sở hình thành những doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn trong quá trình phát triển kinh tế thị trường
Ở bất kì quốc gia nào, tất cả các nguồn lực kinh tế không thể tập trung vào các doanh nghiệp có quy mô lớn, mà phải có các SME để tập trung vào “ thị trường ngách ” hỗ trợ doanh nghiệp lớn tiếp cận thị trường; đồng thời cung cấp các sản phẩm đầu vào cho doanh nghiệp lớn Chính nhờ đó mà giữa các loại hình kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ, nâng cao năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp và của cả nền kinh tế Một doanh nghiệp khi mới thành lập không phải lúc nào cũng có nguồn lực tài chính dồi dào để hoạt động với quy mô lớn Rất nhiều tập đoàn kinh tế đã được thành lập từ những chi nhánh, phân xưởng nhỏ…Nhờ tích luỹ vốn, kinh nghiệm mà các doanh nghiệp “ vệ tinh ” có thể trở thành các công ty lớn, các tập đoàn kinh tế Nói cách khác, SME là khởi nguồn cho sự hình thành và phát triển các loại hình doanh nghiệp lớn trong xã hội
Trang 264.6 Đào tạo, phát triển đội ngũ doanh nhân giỏi
Cùng với việc phát triển các SME là sự xuất hiện ngày càng nhiều hơn các chủ doanh nghiệp Trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, các chủ doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều khó khăn Tuy nhiên, chính môi trường cạnh tranh khốc liệt ấy lại là nơi để các tài năng kinh doanh rèn luyện thử thách Trải qua mỗi thử thách, các tố chất kinh doanh sẽ càng được bộc lộ, những kinh nghiệm ngày càng được tích luỹ nhiều lên và các chủ doanh nghiệp ngày càng trưởng thành Đồng thời quá trình này tạo cơ hội để củng cố đội ngũ các chủ doanh nghiệp, với những trọng trách và cam kết đáp ứng các thay đổi của nhu cầu khách hàng ngày càng cao
4.7 Thúc đẩy phát triển công nghệ
Do số lượng các doanh nghiệp rất lớn nên tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp rất gay gắt Các SME muốn tồn tại phải luôn thay đổi, nâng cao năng lực cạnh tranh của bản thân Do vậy, nâng cao trình độ công nghệ là một đòi hỏi cấp thiết Hơn nữa, các doanh nghiệp SME thường phát triển ở các thị trường ngách sẽ phát triển những kỹ thuật công nghệ mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được Với quy mô vừa và nhỏ, các SME cũng dễ dàng cải tiến công nghệ để phù hợp với
sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật Thực tế đã chứng minh, nhiều phát minh mới có ý nghĩa thực tiễn cao lại bắt nguồn từ các SME
Tại Nhật Bản, các SME đóng vai trò hết sức quan trọng Những số liệu và phân tích mang tính chất so sánh giữa các SME với các doanh nghiệp lớn của Nhật dưới đây sẽ cho thấy tầm quan trọng của khu vực SME trong nền kinh tế
Như vậy, SME có vị trí, vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, dù
là nước có trình độ phát triển cao hay nước đang phát triển Sự tồn tại và phát triển của các SME là một tất yếu khách quan và cần thiết trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia
Trang 27II NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA
- Tạo hành lang pháp lý cho các SME
- Có chiến lược khuyến khích các SME
- Có chính sách ưu đãi ( về thuế, lãi suất ) đối với các doanh nghiệp này
- Thành lập các cơ quan chuyên trách hỗ trợ về marketing, công nghệ, thị trường cho các SME
- Khuyến khích thành lập các đại diện của các SME
- Phát huy vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong việc hỗ trợ các SME
1.1 Tạo khung khổ pháp lý khuyến khích các SME
Đây là một trong những vấn đề rất cơ bản, làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện những chính sách, giải pháp hỗ trợ các SME Do vậy, ở các nước, ngoài cơ sở pháp lý chung cho các doanh nghiệp còn có luật về SME Dưới đây là một số luật đặc thù cho các SME ở một số nước :
- Cộng hoà Liên bang Đức có Luật doanh nghiệp nhỏ (1996) quy định điều
kiện được công nhận là doanh nghiệp nhỏ, tiêu thức về đào tạo nghề và điều kiện tay nghề của những người dạy nghề đối với doanh nghiệp nhỏ, kiểm tra tay nghề đối với các đốc công, điều kiện cung cấp tài chính,…
- Đài Loan có Sắc lệnh của Tổng thống (1991) và Đạo luật về cấp vốn cho
việc phát triển các SME( Budgeting for Small and medium Scale Business Development Act) Đạo luật này quy định về phân loại SME, khuyến khích giúp đỡ
và hỗ trợ các SME , cung cấp tài chính, khuyến khích mở rộng thị trường, miễn giảm thuế, thành lập uỷ ban hoạch định chính sách…
- Hàn Quốc có 12 đạo luật về SME: Đạo luật cơ bản về doanh nghiệp nhỏ
(1966), Đạo luật về hợp tác giữa các doanh nghiệp nhỏ (1961), Luật phối hợp giữa
Trang 28các thành phần của doanh nghiệp vừa và nhỏ (1961), Luật khuyến khích hệ thống thầu phụ (1975), Luật khuyến khích doanh nghiệp vừa và nhỏ (1978), Luật về mua sản phẩm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (1981), Luật về thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới thành lập (1986), Luật hỗ trợ quản lý và đổi mới cơ cấu doanh nghiệp vừa và nhỏ (1962), Luật tài trợ các doanh nghiệp SME sử dụng công nghệ mới (1989) …
Tóm lại, hệ thống khung khổ các nước được tạo ra nhằm:
- Thiết lập khái niệm chung về SME
- Khẳng định vai trò của các SME ( được thừa nhận về mặt pháp lý)
- Khuyến khích tìm kiếm mọi giải pháp nhằm phát triển các doanh nghiệp vừa
và nhỏ
1.2 Các chiến lược phát triển và chính sách hỗ trợ SME
Chiến lược phát triển các SME chủ yếu theo hướng sau:
- Xác định rõ ngành nghề cần hỗ trợ ( nhằm thực hiện các mục tiêu của từng nước : thu nhập, việc làm…), hoạt động cần hỗ trợ (đào tạo, mở rộng quy mô, hiện đại hoá doanh nghiệp, nghiên cứu ứng dụng, công nghệ mới…)
- Có các giải pháp định hướng cho từng giai đoạn
Chính sách hỗ trợ SME : chủ yếu tập trung vào chính sách thuế, vốn, đào tạo,
công nghệ Dưới đây là một số chính sách ở các nước, trong đó giảm thuế là giải pháp khá phổ biến
Ở cộng hoà liên bang Đức các doanh nghiệp có lợi nhuận hàng năm dưới 2 triệu DM chỉ phải nộp mức thuế bằng 50% các hãng lớn Chính phủ Đức tăng tài trợ cho các nghiên cứu khoa học – ứng dụng đổi mới các SME : năm 1988 là 749 triệu
MD, năm 1989 là 736 triệu, năm 1990 là 675 triệu Chính phủ Đức có kế hoạch giúp các SME hoạt động trong diều kiện thị trường chung châu Âu Chi phí của nhà nước Đức cho các SME năm 1991 là 1,3 triệu DM
Ở Pháp, doanh nghiệp được giảm 75% thuế trong 5 năm đầu sau khi đi vào hoạt động kinh doanh
Ngoài ra, nhiều nước sử dụng các hình thức khác như trợ cấp xuất khẩu, bảo hiểm, khuyến khích các doanh nghiệp lớn chuyển giao công nghệ, mở rộng hệ
Trang 29thống vệ tinh đến các SME, giúp đỡ đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp, tư vấn
kỹ thuật – công nghệ, khuyến khích thành lập các hiệp hội của các SME Nhà nước khuyến khích mở rộng sản xuất : tăng định mức khấu hao miễn phí, không đánh thuế lợi nhuận dùng để trả lãi suất tín dụng
Ở một số nước có các hình thức đáng chú ý như cấp vốn mạo hiểm : thành lập
ngân hàng chuyên trách đảm bảo tài chính cho hoạt động nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học – công nghệ mới Ở Mỹ có 10 ngân hàng như vậy với số vốn là 16 tỉ USD,
ở Cộng hoà liên bang Đức có 40 tổ chức tương tự với số vốn 1,6 tỉ DM
Một hình thức hỗ trợ phổ biến và có hiệu quả là hỗ trợ về tín dụng: cấp tín dụng trực tiếp, cho vay lãi suất thấp, bảo lãnh tín dụng Chẳng hạn ở Anh, trong 5 năm (1982 – 1986), 15 nghìn doanh nghiệp nhỏ nhận các khoản tín dụng trị giá 500 triệu bảng Các bang ở cộng hoà liên bang Đức đã lập ra các quỹ tín dụng để giúp các SME vay vốn ngân hàng
Liên minh châu Âu (EU) có các biện pháp trợ giúp thất nghiệp, bảo lãnh tín dụng cho các SME, trợ giúp về công nghệ mới thông qua “nhóm lợi ích kinh tế chung”, trợ giúp đào tạo lao động thông qua hệ thống đào tạo ban đầu, cấp vốn mạo hiểm …
1.3 Thành lập các cơ quan chuyên trách về quản lý nhà nước đối với SME
Hầu hết các nước trên thế giới đều có cơ quan quản lý nhà nước đối với các SME Dưới đây là các cơ quan ở một số nước trên thế giới, cả những nước phát triển và nước đang phát triển
Mỹ có Tổng cục các vấn đề kinh tế nhỏ được thành lập năm 1953
Pháp có Uỷ ban quốc gia về công nghiệp vừa và nhỏ thành lập từ năm 1961 Inđônêxia có Cục công nghiệp nhỏ thuộc bộ công nghiệp với chức năng thực
hiện vai trò quản lý nhà nước đối với SME như : lập kế hoạch và chương trình phát triển, xúc tiến phát triển SME ( kể cả việc thành lập các trung tâm hỗ trợ)…
Malaixia có Phòng công nghiệp nhỏ thuộc Bộ công nghiệp thương mại thành
lập năm 1989 với chức năng lập chương trình phát triển SME, cung cấp tài chính, nối kết các hợp đồng kinh tế giữa các SME, cung cấp cơ sở dữ liệu cho Chính phủ hoạch định chính sách Ở nước này có tới 13 bộ và 30 cơ quan công cộng tham gia dưới hình thức này hay hình thức khác vào việc phát triển SME
Trang 30Philippin có Uỷ ban doanh nghiệp nhỏ và vừa, Phòng phát triển kinh doanh
và Phòng công thương là cơ quan cao nhất về phối hợp thực hiện chính sách và kế
hoạch phát triển SME
Singapo có Vụ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc Bộ phát triển công
nghiệp Ngoài ra Nhà nước thành lập một mạng lưới gồm các tổ chức chính phủ và phi chính phủ để hỗ trợ các SME như : các trường đại học, cơ quan máy tính quốc gia, cơ quan phát triển thương mại, các tổ chức tài chính, các trung tâm tư vấn…
Thái Lan có Vụ khuyến khích phát triển công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp
với các chức năng chủ yếu là xúc tiến phát triển SME, cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ, tư vấn cho các doanh nghiệp này
1.4 Khuyến khích thành lập các tổ chức hỗ trợ và các hiệp hội của các SME
Các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước có thể do Nhà nước trực tiếp thành lập, nhưng trên thực tế phần lớn các tổ chức này do doanh nhân thành lập với sự hỗ trợ của Nhà nước Do đó các tổ chức này vừa mang tính chất kinh doanh, vừa thực hiện chức năng hỗ trợ trên cơ sở nguồn ngân quỹ được cấp Các tổ chức này có chức năng chủ yếu như: cung cấp vốn, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tiếp thị, đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp, tư vấn cho SME
Ở các nước châu Á có nhiều tổ chức hỗ trợ SME Dưới đây là các tổ chức hỗ trợ SME ở một số nước
Inđônêxia có các tổ chức:
- Ngân hàng Inđônêxia : với chức năng chủ yếu là cung cấp vốn cho các SME
- Công ty nghiên cứu và phát triển công nghệ: thành lập năm 1978 với số vốn
hoạt động hàng năm là 367.000 USD, chức năng chủ yếu là nghiên cứu và hỗ trợ SME
- Hãng quốc gia và phát triển xuất khẩu đối với SME
- Quỹ phát triển nghề thủ công: thành lập năm 1975 với chức năng chủ yếu là
nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
- Viện quản lý, đào tạo và phát triển: thành lập năm 1976 với ngân quỹ hoạt
động hàng năm là 150.000 USD, chức năng chính là đào tạo chủ doanh nghiệp
Malaixia có các tổ chức:
Trang 31- Công ty bảo lãnh tín dụng : thành lập năm 1972 với chức năng chính là bảo
lãnh cho doanh nghiệp vay vốn ngân hàng
- Công ty MARA: thành lập năm 1960 với 3000 nhân viên, vốn hoạt động
hàng năm 165 USD, chức năng chính là cung cấp vốn tiếp thị, nghiên cứu, đào tạo,
tư vấn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Trung tâm phát triển doanh nghiệp : thành lập năm 1975 với chức năng
chính là đào tạo , tư vấn cho SME
- Công ty phát triển tài chính : thành lập năm 1960 với 30 nhân viên , vốn
hoạt động là 2,5 triệu USD, chức năng là cung cấp vốn và tư vấn cho SME
- Trung tâm chất lượng quốc gia : thành lập năm 1962 với 235 nhân viên , vốn
hoạt động là 3,1 triệu USD, có chức năng đào tạo và tư vấn cho SME
- Trung tâm công nghệ Cuala Lămpơ : có chức năng hỗ trợ, cung cấp và
chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hàn Quốc có các tổ chức:
- Quỹ bảo lãnh tín dụng: thành lập năm 1976 với số nhân viên là 1.190 người,
chức năng chủ yếu là bảo lãnh cho các SME được vay vốn, chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp này
- Viện phát triển công nghiệp Hàn Quốc: thành lập năm 1970 với 140 nhân
viên , chức năng chính là đào tạo , tư vấn cho SME
- Trung tâm năng suất Hàn Quốc: thành lập năm 1957, số vốn hoạt động hàng
năm là 3 triệu USD, có chức năng đào tạo , cung cấp và chuyển giao công nghệ, tư vấn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Hội nghiên cứu các doanh nghiệp nhỏ: thành lập năm 1978 với số vốn hoạt
động hàng năm là 32.000 USD, chức năng chủ yếu là đào tạo chủ doanh nghiệp , cung cấp và chuyển giao công nghệ
- Ngân hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ: thành lập năm 1961 với 7.305 nhân
viên, có chức năng đào tạo và tư vấn cho SME
Trang 322 Vai trò của các chính sách phát triển SME
ích to lớn do việc hỗ trợ đó mang lại, cả cho chính các doanh nghiệp và Nhà nước
và toàn xã hội
2.1 Vai trò của chính sách hỗ trợ đối với SME
Nâng cao năng lực của các SME Các SME thường rất yếu ớt, đặc biệt trong
kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt với những hạn chế như : năng lực quản lý yếu, công nghệ lạc hậu, vốn ít…Do đó, để nâng cao năng lực và để các SME có thể
tự phát huy sức mạnh của mình, cần thiết phải có sự hỗ trợ của Nhà nước
Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi Trong khi hoạt động, các SME có nhiều
vấn đề mà bản thân không thể tự giải quyết được như tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng thị trường, đào tạo nguồn nhân lực…Chỉ khi có sự hỗ trợ của các chính sách của Nhà nước thì những vấn đề này mới được giải quyết một cách dễ dàng
Do vậy, sự hỗ trợ của Nhà nước sẽ làm giảm bớt những khó khăn cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đứng vững được trên thị trường và phát triển thuận lợi Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, để các SME đứng vững và vươn lên, Nhà nước cần có những chính sách và giải pháp hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp này
2.2 Vai trò của chính sách hỗ trợ SME đối với Nhà nước và xã hội
Thực tế của nhiều nước cho thấy, sự hỗ trợ không chỉ có lợi đối với các doanh nghiệp mà còn có lợi cho cả Nhà nước và xã hội Lợi ích đó thể hiện trên các mặt:
Nuôi dưỡng các nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Các SME thường chiếm
một tỉ lệ rất lớn trong nền kinh tế của các nước Do vậy, đóng góp cho ngân sách Nhà nước của các SME không phải là nhỏ Đặc biệt khi Nhà nước có những chính sách hỗ trợ để các SME phát triển cả về số lượng và quy mô thì lượng tiền mà các SME đóng góp cho ngân sách Nhà nước càng không phải là nhỏ Tại Việt Nam, mặc dù đóng góp của các SME vào thu ngân sách còn nhỏ nhưng tỷ lệ này đã tăng lên đáng kể và đang có xu hướng tăng nhanh trong mấy năm gần đây, từ 6,4% năm
2001 lên hơn 7,2% năm 2002 Thu từ thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài
Trang 33quốc doanh năm 2002 đạt 103,65% kế hoạch và tăng 13% so với năm 2001 Quý I/2003, số thu từ SME chiếm 11% tổng số thu[6.18]
Là một cách đầu tư gián tiếp của Nhà nước Thay vì phải đầu tư trực tiếp để
thành lập các doanh nghiệp Nhà nước( như mô hình kinh tế hiện vật trước đây ở Việt Nam) Nhà nước có thể đầu tư gián tiếp thông qua việc hỗ trợ cho các SME với
số lượng lớn trong nền kinh tế
Tăng hiệu quả của việc đầu tư sản xuất Thông qua các chính sách phát triển
SME Nhà nước vừa huy động được mọi tiềm năng sáng tạo và tiềm lực trong dân, vừa thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước
Góp phần giải quyết những vấn đề xã hội Khi các chính sách hỗ trợ SME có
hiệu quả thì các vấn đề như thất nghiệp sẽ giảm Bởi lẽ, khi các SME phát triển sẽ tạo nhiều việc làm Điều này rất hiệu quả với nguồn vốn hạn hẹp của Nhà nước( thay vì thành lập các doanh nghiệp mới Nhà nước, thì với số vốn đó có thể hỗ trợ cho rất nhiều doanh nghiệp đã sẵn có)
Định hướng phát triển các SME Thông qua các chính sách, Nhà nước có thể
điều tiết khá dễ dàng sự phát triển của các SME Đối với những ngành cần phát triển đầu tư, Nhà nước tạo nhiều ưu đãi và thuận lợi cho các SME Ngược lại, những ngành, vùng cần thu hẹp thì Nhà nước cũng có thể hạn chế sự tham gia của các SME
Như vậy, các chính sách phát triển SME là rất cần thiết Theo kết quả một cuộc điều tra tại Việt Nam năm 1995, các chuyên gia đánh giá cao vai trò của việc
hỗ trợ SME: 100% số người được hỏi ý kiến đều cho rằng cần hỗ trợ SME, trong đó 64,4% ý kiến nói rằng rất cần hỗ trợ doanh nghiệp này[1.71]
Qua chương I, chúng ta có thể thấy rõ các SME đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế Nhật Ngoài ra, chúng ta cũng thấy chính sách hỗ trợ loại hình doanh nghiệp này là rất cần thiết Các nước trên thế giới
đã có nhiều chính sách khác nhau để hỗ trợ sự phát triển của các SME Vậy Nhật
đã có những chính sách hỗ trợ SME như thế nào để có thể phát huy hiệu quả nhất tiềm năng của các SME? Chương II sẽ cho chúng ta câu trả lời
Trang 34CHƯƠNG II CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ CỦA NHẬT
Các SME ở Nhật đã phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọng đối với
sự phát triển của nền kinh tế Đó là do chính phủ Nhật đã có nhiều chính sách hỗ trợ, phát huy hiệu quả tiềm năng của loại hình doanh nghiệp này Trong mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế chính phủ Nhật đều đưa ra những chính sách phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế giai đoạn ấy Đây chính là nội dung được đề cập đến trong chương II
I TRƯỚC NĂM 1954
1 Từ năm 1945 trở về trước
Là một nước bao gồm nhiều đảo nhỏ trong vùng gió mùa châu Á, nơi cây lúa là cây lương thực phổ biến, nền kinh tế Nhật từ lâu dựa vào nông nghiệp và ngư nghiệp Gắn liền với nó là nền sản xuất gia dụng quy mô nhỏ, ngành lưu thông và nghề trồng lúa dựa vào lao động của các gia đình Đây chính là cơ sở cho sự ra đời của các SME sau này
Trong thời kỳ đầu để có được một số vốn nhỏ và công nghệ tiên tiến để thực hiện kinh doanh và lập các xưởng thủ công là hết sức khó khăn Hơn nữa, nhà nước phong kiến Nhật Bản chưa có sự quan tâm đúng mức, cũng như chưa có các chính sách và biện pháp thích đáng cho sự phát triển của các SME Do vậy, các SME trong giai đoạn này chỉ là những xưởng thủ công nhỏ, những hộ kinh doanh gia đình Phải đến nửa đầu thời Minh Trị, cùng với nhiều cải cách, chính sách phát triển công nghiệp và ngoại thương, hoạt động của các thương nhân tăng lên mạnh mẽ Trong thời gian này, nhiều ngân hàng nhỏ ra đời và việc vay mượn trở nên phổ biến Do vậy, nguồn vốn cung cấp cho các hoạt động sản xuất kinh doanh tăng dần lên Từ
đó các SME mới có được sự hỗ trợ về vốn, bắt đầu hình thành và bước vào hoạt động kinh doanh mạnh mẽ
Trang 35Tuy nhiên khi chiến tranh nổ ra năm 1945, chính phủ đã tiến hành tổ chức lại kinh doanh, thanh toán các cơ sở kinh doanh nhỏ để thu hút sức lao động của họ vào ngành sản xuất vũ khí, đạn dược Như vậy, vào giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh, đa số những cơ sở kinh doanh nhỏ không trực tiếp liên quan đến việc sản xuất
vũ khí, đạn dược biến mất Mặc dù vậy, sau khi Nhật Bản bị thua trận, các loại kinh doanh nhỏ lại nhanh chóng xuất hiện và tăng nhanh về số lượng
Do vậy, chỉ khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các SME mới thực sự được coi là loại hình xí nghiệp có tác dụng và vị trí quan trọng trong nền kinh tế Nhật
2 Thời kỳ phục hồi kinh tế (1945 – 1954)
2.1 Đặc điểm nền kinh tế
Một là nền kinh tế phải đối mặt với nhiều khó khăn Tháng 8 năm 1945, khi
vừa bại trận, Nhật Bản bị tàn phá nặng nề về mọi mặt Theo điều tra của cơ quan ổn định kinh tế sau chiến tranh thì tổng thiệt hại về vật chất lên tới 64,3 tỉ yên, bằng 2 lần tổng thu nhập quốc dân năm tài chính 1948-1949 Như vậy là toàn bộ của cải tích luỹ được trong mười năm 1935-1945 đã bị tiêu huỷ hoàn toàn
Những vấn đề kinh tế, xã hội gay cấn nhất lúc này là: thất nghiệp, thiếu nguyên liệu và lương thực, lạm phát Khoảng 4 triệu người thất nghiệp do ngừng hoạt động sản xuất quân sự, 7,6 triệu binh sĩ giải ngũ, 1,5 triệu người từ các thuộc địa hồi hương, nâng tổng số người không có việc làm lên tới 13,1 triệu Nguồn năng lượng chính lúc bấy giờ là than và thuỷ điện giảm sút nghiêm trọng.Thêm vào đó,
vụ lúa năm 1945 bị thất bát nặng, sản lượng chỉ còn 2/3 so với năm trung bình trước
đó Lạm phát nghiêm trọng bùng nổ từ giữa những năm 1945 kéo dài đến đầu năm
1949 Trong thời gian này, cuộc sống của người dân thành thị nói chung ở trong tình trạng thiếu thốn, phải bán dần tài sản để ăn, nền kinh tế hàng hoá hầu như mất tác dụng, thành thị có nhiều nơi diễn ra cảnh hàng đổi hàng, ở đây lúa gạo và quần
áo trở thành đối tượng trao đổi chính GDP hồi đó khoảng 11 tỷ đô la( năm 1950) Sản xuất công nghiệp nhỏ chỉ bằng 30% giá trị bình quân của năm 1934 – 1936 trước chiến tranh.[9.149]
Trang 36Hai là Nhật Bản đã bị các lực lượng đồng minh, thực chất là quân đội Mỹ
chiếm đóng Chính phủ Nhật Bản vẫn được công nhận và tiếp tục cai trị đất nước Quân đội chiếm đóng tuy chỉ điều khiển guồng máy hoạt động một cách gián tiếp nhưng lại thảo ra những văn kiện và các chính sách cải cách cơ bản ảnh hưởng đến chiều hướng phát triển kinh tế của Nhật Bản Quân đồng minh chủ yếu là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ( GHQ : Bộ tổng tư lệnh các tư lệnh tối cao Liên hợp quốc = General Head Quarters ) trong thời gian này đã dùng chính sách kìm hãm trình độ phát triển kinh tế của Nhật Bản ở mức trước chiến tranh, tức là thời kì 1935 – 1937
Nhưng năm 1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, chính sách của quân đồng minh buộc phải thay đổi Bởi vì lúc đó quân đội Mỹ rất cần Nhật Bản làm căn cứ hậu cần, làm nơi an dưỡng của quân đội, nơi sửa chữa và bổ sung vũ khí đạn dược Các căn cứ quân sự thời chiến tranh như Yokosuka, Kure đã được sử dụng vào mục đích trên Đồng thời các nhu cầu đặc biệt của quân đồng minh (chủ yếu là quân
Mỹ ) cũng đã tạo cơ hội cho Nhật Bản phục hồi kinh tế
Ba là sự độc quyền của các zaibatsu Đây là một đặc trưng của nền kinh tế
Nhật lúc bấy giờ Zaibatsu là những tập đoàn tư bản lớn thường là của một dòng họ Những tập đoàn công ty gồm có Mitsui, Mitsubishi, Sumitomo, Yasuda,…chi phối công ty chính là một công ty cổ phần mẹ Ví dụ Tổng công ty Mitsui do dòng họ Mitsui trước đây đã thâu tóm 39 công ty lớn như Mitsuibussan, Toyoreon, Mitsui bank, Mitsui seimei…Những zaibatsu này gần như thâu tóm hết toàn bộ nền kinh
tế, độc quyền chi phối nền kinh tế Nhật trước chiến tranh Điều này gây rất nhiều trở ngại cho sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn đã rất nhỏ bé và gặp nhiều khó khăn
Bốn là vấn đề “giới hạn đồng đôla” Trong thời gian này, Nhật Bản cần có
ngoại tệ, tức là đôla để nhập nguyên liệu như bông, lông cừu, quặng sắt…và năng lượng như than đá, dầu mỏ Nhưng những mặt hàng xuất khẩu chủ lực có thể thu được ngoại tệ lúc bấy giờ chỉ là hàng tạp hoá bình thường như bóng đèn trang trí, đài bán dẫn, đồ chơi…và hàng hoá phục vụ nhu cầu đặc biệt
Trong điều kiện như vậy, nếu sản xuất mở rộng thì đương nhiên là sẽ thiếu đôla Khi nhập nguyên nhiên liệu bằng đôla nhiều lên, nếu không có xuất khẩu để
Trang 37thu lại khoản đôla tương ứng thì sẽ rơi vào tình trạng thiếu đôla Khi thiếu đôla thì Ngân hàng Trung ương Nhật Bản thi hành chính sách thắt chặt tiền tệ nâng tỷ lệ lãi suất pháp định
Biện pháp này đã hạn chế được nhu cầu trong nước, việc nhập nguyên nhiên liệu giảm, nhu cầu đôla cần cho việc nhập khẩu cũng ít đi Vì vậy sẽ giải toả được vấn đề thiếu đôla, nhưng ngược lại nền kinh tế vì thế mà chững lại
Do đó, trong giai đoạn này huy động sức người, sức của để tái thiết và phát triển là nỗ lực phi thường của chính phủ và nhân dân Nhật Bản Giải pháp hữu hiệu, thực tế để chính phủ Nhật tính đến là nhanh chóng phục hồi các SME Một mặt, việc khôi phục và phát triển loại hình doanh nghiệp này cho phép giải quyết nhiều nhu cầu cấp thiết đang đặt ra lúc đó, đặc biệt là hàng tiêu dùng Trong điều kiện mà những ngành khai thác, chế tạo sau chiến tranh giảm xuống còn 1/10 so với trước chiến tranh thì hàng hoá của các SME sản xuất ra được tiêu thụ rất nhanh Mặt khác, các SME ra đời cũng giải quyết một lượng lao động lớn đang thất nghiệp vào lúc đó Trên các báo, người ta đã gọi các SME là “ Những con sư tử ngày”
Tuy nhiên trong bối cảnh đó, các SME này phải đối mặt với nhiều khó khăn
như thiếu vốn, nguyên nhiên liệu và sự độc quyền của các zaibatsu Thêm vào đó, các SME càng khó khăn hơn do trình độ quản lý thấp, thiếu công nghệ và khả năng tài chính
Do vậy, trong thời kỳ này, sự hỗ trợ của Chính phủ cho các SME là rất cần thiết Các chính sách mà Chính phủ Nhật đưa ra không những nhằm tạo điều kiện thuận lợi các SME tiếp cận với nguồn vốn, nâng cao trình độ quản lý tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các SME mà còn phải đảm bảo sự cạnh tranh công bằng giữa các SME và các doanh nghiệp lớn
2.2 Các biện pháp hỗ trợ SME
2.2.1 Thành lập các tổ chức hỗ trợ và hiệp hội các SME
Trong hoàn cảnh mà các SME phải đối mặt với rất nhiều khó khăn về vốn, nguyên nhiên liệu, công nghệ như vậy, biện pháp đầu tiên mà chính phủ Nhật đã áp dụng là thành lập ngay cơ quan chuyên trách về vấn đề này
Trang 38Cục doanh nghiệp vừa và nhỏ ( SMEA) thành lập năm 1948 là một cơ quan thuộc Bộ công thương Nhật (MITI), dưới sự hướng dẫn điều hành của GHQ Nhiệm
vụ chủ yếu của Cục doanh nghiệp vừa và nhỏ là triển khai các công việc hỗ trợ các SME Cụ thể như: ra các chính sách về SME, hướng dẫn thực hiện, lên kế hoạch về vốn ngân sách hỗ trợ…Trên cơ sở đó, các cơ quan hành chính địa phương, các phòng thương mại và công nghiệp địa phương, và các tổ chức khác sẽ triển khai thực hiện Cục này có các văn phòng tại các vùng, và xuống tận các quận, huyện
Bên cạnh đó, chính phủ cũng khuyến khích thành lập các hiệp hội, các nhóm SME với mục đích là trong các hiệp hội này, các SME sẽ giúp đỡ nhau cùng khắc phục những điểm bất lợi của họ lúc bấy giờ là vốn, công nghệ, nguyên nhiên liệu Năm 1948, nội các Nhật Bản đã đề ra “ những biện pháp quan trọng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ” mà theo đó, sẽ hình thành một hệ thống tiếp cận giữa các doanh nghiệp và Hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ Vì Hiệp hội này rập theo khuôn mẫu của Tổ chức kinh doanh nhỏ của Mỹ nên nó được thành lập như một phần của chính sách “ dân chủ hoá nền kinh tế”, mà trong đó những doanh nghiệp vừa và nhỏ độc lập đóng vai trò xoá bỏ tập trung quyền lực kinh tế và chống lại tình trạng độc quyền Luật tổ chức hợp tác của các SME đã có hiệu lực vào năm 1949
Tiếp đó, vào năm 1953, với sự ra đời của Luật về Phòng thương mại và công nghiệp, Phòng hỗ trợ SME thuộc Phòng thương mại và công nghiệp Nhật Bản đã trở thành tổ chức có chức năng hỗ trợ các SME một cách hiệu quả Cơ quan này cung cấp cho các SME các thông tin về cơ hội kinh doanh, bao gồm các thông tin
về thương mại quốc tế, đối tác đầu tư…Đồng thời tổ chức các hội thảo về đầu tư, xuất bản các bản tin giới thiệu các đối tác liên doanh và cung cấp dịch vụ tư vấn
2.2.2 Ban hành Luật chống độc quyền
Các SME trong giai đoạn này cũng gặp phải một khó khăn lớn là sự độc quyền của các zaibatsu Thêm vào đó, một nguyên tắc nữa của nền kinh tế Nhật sau chiến tranh mà quân đồng minh thực hiện lúc bấy giờ là “dân chủ hoá nền kinh tế” Chính sách đó gồm ba vấn đề chủ yếu là giải thể zaibatsu, cải cách ruộng đất và xây dựng tổ chức công đoàn Trong đó đáng quan tâm là chính sách giải thể các zaibatsu
Trang 39Giải thể zaibatsu là biện pháp giải tán và giành quyền chi phối cổ phần của các zaibatsu
Tháng 4 năm 1947 “Luật chống độc quyền và duy trì thương mại bình đẳng” được ban hành Tiếp đó, tháng 12 năm 1947, “Luật thủ tiêu sự tập trung quá mức sức mạnh kinh tế” đã được ban hành Luật này quy định là các công ty hiện đang nắm quyền kiểm soát thị trường bị buộc phải thu hẹp quy mô hoạt động Trên cơ sở luật này, Uỷ ban giải quyết vấn đề công ty cổ phần đã nêu tên 325 công ty cần phải được phân chia ra thành những tổ chức nhỏ hơn vào tháng 2 năm 1948 Nhưng do việc xây dựng lại nền kinh tế Nhật đã trở nên cấp thiết, do sự phản đối quá mạnh mẽ đối với luật này cả trong và ngoài nước cùng với sự tiến triển của cuộc chiến tranh lạnh cho nên các nhà cầm quyền quân đội chiếm đóng Nhật Bản đã nới lỏng việc thực hiện Luật thủ tiêu sự tập trung quá mức sức mạnh kinh tế Chỉ có 18 công ty đã thực sự bị phân chia thành các tổ chức nhỏ hơn Sự ra đời của hai luật này, không chỉ thể hiện nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế Nhật sau chiến tranh mà còn ngăn chặn các zaibatsu phục hồi, thủ tiêu sự tập trung kinh tế Chúng đã tạo ra một nền kinh tế đặc trưng bởi sự cạnh tranh mạnh mẽ trong tất cả các ngành công nghiệp Mặc dù cũng có một vài ngành công nghiệp như ngành sản xuất thép và xe hơi mà ở
đó tính chất của ngành đã dẫn đến sự cạnh tranh giữa một số công ty độc quyền và một số ngành khác như dệt, mà ở đó có sự cạnh tranh của khá nhiều công ty, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, xu hướng cơ bản sau chiến tranh vẫn là sự cạnh tranh giữa những SME Chính điều này đã tạo ra một môi trường cạnh tranh bình đẳng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của SME
Trang 40chấp và được đánh giá bằng 70% giá trị thật của đất, không chấp nhận thế chấp bằng máy Còn SCB đất được thế chấp bằng 100% giá trị thật của đất và có chấp nhận máy móc Ngoài ra, SCB cũng thực hiện các chương trình phát triển SME của chính phủ
Bên cạnh đó, Công ty tài chính nhân dân (NLFC) cũng đã được thành lập vào năm 1949 Tổ chức này huy động vốn thông qua kênh tiết kiệm và phát hành trái phiếu có và không có bảo lãnh của chính phủ Tôn chỉ của NLFC là tài trợ cho các doanh nghiệp mới thành lập, những doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ có tiềm năng rủi ro cao NLFC cho các doanh nghiệp không có điều kiện vay ngân hàng và các tổ chức tài chính thông thường, vay các khoản vốn nhỏ, ưu đãi( 10 năm đối với vốn cố định, 5 năm đối với vốn lưu động)
Tiếp đó, vào năm 1953, Công ty tài chính doanh nghiệp nhỏ Nhật Bản(JFS)
đã được thành lập, vốn do Chính phủ cấp JFS huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu có và không có bảo lãnh của chính phủ JFS cho vay theo hai loại hình Một là, cho vay chung Mục đích của loại này là đáp ứng nhu cầu rộng rãi của các doanh nghiệp để phát triển kinh doanh, cung cấp thiết bị, vốn dài hạn ( từ 5 đến 15 năm tuỳ từng trường hợp) cho các SME có khó khăn vì không vay được của các tổ chức tài chính thông thường Lãi suất được sử dụng là lãi suất ưu đãi dài hạn( 1,55%) Đây cũng là lãi suất mà các Ngân hàng thương mại dành cho khách hàng tốt nhất[31] Hai là, cho vay đặc biệt Đây là công cụ phục vụ các chương trình chính sách của Chính phủ Lãi suất của các chương trình này cũng rất thấp JFS cho vay trực tiếp tại các chi nhánh và gián tiếp thông qua các đại lý là chi nhánh các Ngân hàng thương mại tư nhân
Ngoài ra, những tổ chức tài chính đa phương( tổ chức hợp tác xã tài chính
mà hội viên gồm các SME, các chủ sở hữu tư nhân và những tổ chức thiếu vốn) như các ngân hàng tài chính đa phương, hội tín dụng và hợp tác xã tín dụng đã được thành lập trong thời gian này Luật về tổ chức hợp tác của các SME được ban hành năm 1949 được coi như một biện pháp để thành lập những tổ chức trên Kết quả là các tổ chức hợp tác được lập ra trên những nguyên tắc mới, hiện đại và phát triển