Góp phần thực hiện mục đích trên, chúng tôi lựa chọn đề tài luận án: “Nghiên cứu quá trình diễn thế phục hồi rừng tự nhiên từ thảm cỏ đến rừng non ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”.. Ý nghĩ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Rừng đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự sống trên trái đất nói chung
và loài người nói riêng Rừng là lá phổi xanh khổng lồ, góp phần điều hòa khí hậu, hạn chế thiên tai bão lụt, hạn chế xói mòn rửa trôi, bảo vệ đất, rừng là nơi sinh tồn của đa số các loài động vật, thực vật Rừng góp phần duy trì sự cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta Rừng là nơi lưu giữ các nguồn gen quý và là nơi tích tụ các biến dị - nguyên liệu của quá trình tiến hóa sinh vật Rừng cung cấp cho con người nhiều tài nguyên quý giá mà không một hệ sinh thái nào có được
Hiện nay ở huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn, tài nguyên rừng ngày càng giảm mạnh, nhiều nơi không còn rừng, đất bị thoái hóa, nước mưa tạo thành những dòng lũ, rửa trôi các chất dinh dưỡng, gây ngập lụt làm thiệt hại tài sản và tính mạng con người
Với tổng diện tích đất là 60.651 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp 50.138 ha chiếm 82,67% diện tích đất toàn huyện Tuy nhiên, từ trước đến nay
ở Chợ Mới chưa có công trình nghiên cứu nào về thực vật một cách đầy đủ, toàn diện và hệ thống Để có cái nhìn chính xác về thành phần loài thực vật và các kiểu thảm thực vật, nhất thiết phải điều tra, thu thập, phân loại các loài thực vật và mô tả các kiểu thảm thực vật hiện có Từ đó làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng kinh tế và chiến lược công tác bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng Góp phần thực hiện mục đích trên, chúng tôi lựa chọn đề tài luận
án: “Nghiên cứu quá trình diễn thế phục hồi rừng tự nhiên từ thảm cỏ đến rừng non ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”.
2 Mục tiêu của đề tài luận án
+ Góp phần làm sáng tỏ quá trình diễn thế đi lên từ thảm cỏ qua thảm cây bụi đến rừng non ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
+ Nghiên cứu đề xuất được các giải pháp phục hồi rừng tự nhiên ở khu vực nghiên cứu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án
Về lý luận: Luận án bổ sung thêm dẫn liệu khoa học về đặc điểm cấu trúc và
quá trình tái sinh tự nhiên của các loài cây gỗ dưới một số quần xã bị suy thoái ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đã phát triển thành rừng non Sự ảnh hưởng của thảm thực vật đến tính chất lý, hóa của đất trong các thảm thực vật Góp phần làm
Trang 2sáng tỏ cơ sở khoa học cho việc chuyển hóa các thảm thực vật bị suy thoái thành rừng phục hồi tự nhiên có cấu trúc bền vững.
Về thực tiễn: Đề xuất được các biện pháp kỹ thuật xúc tiến tái sinh tự nhiên
dưới các thảm thực vật rừng bị suy thoái, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái rừng, đáp ứng mục tiêu rừng phòng hộ, cũng như bảo vệ tính đa dạng sinh học của rừng
4 Những điểm mới của đề tài luận án
- Lần đầu tiên thảm thực vật ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn được phân loại theo hệ thống phân loại của UNESCO (1973), có thể so sánh các kết quả nghiên cứu với các vùng khác ở trong nước, có thể tiếp cận với các kết quả nghiên cứu về thảm thực vật của thế giới
- Những dẫn liệu thu được về sự biển đổi thành phần, cấu trúc, động thái thảm thực vật và các biển đổi về những tính chất vật lý, hóa học của đất ở khu vực nghiên cứu từ đó góp phần làm sáng tỏ hơn quy luật diễn thế đi lên từ thảm
cỏ đến rừng ở vùng nhiệt đới gió mùa, có địa hình phức tạp ở vùng Đông Bắc Việt Nam
- Đề xuất được giải pháp thích hợp về phục hồi hệ sinh thái rừng bị suy thoái bao gồm cả hai giải pháp trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh
5 Bố cục của đề tài luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
án gồm 4 chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Từ các tài liệu tham khảo tác giả đã tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan tới luận án theo các nội dung sau
1.1 Những nghiên cứu liên quan đến thảm thực vật và rừng
1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật
1.1.2 Phân loại thảm thực vật
1.2 Nghiên cứu liên quan đến tái sinh phục hồi rừng
1.2.1 Những nghiên cứu về tái sinh rừng
1.2.2 Những nghiên cứu về diễn thế trong phục hồi rừng
1.2.3 Những nghiên cứu về các giải pháp phục hồi rừng
Trang 3CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là các thảm thực vật bị suy thoái (thảm cỏ, thảm cây bụi và rừng non được phục hồi từ thảm cây bụi) ở huyện Chợ Mới
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan đến luận án
2.2.2 Nghiên cứu, đánh giá các đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn ảnh hưởng đến thảm thực vật
2.2.3 Hiện trạng thảm thực vật ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
2.2.4 Sự thay đổi về thành phần và cấu trúc của thảm thực vật trong quá trình diễn thế Đánh giá các thay đổi trong quá trình diễn thế phục hồi rừng tự nhiên từ thảm cỏ đến rừng non ở huyện Chợ Mới
2.2.5 Đề xuất các giải pháp phục hồi rừng ở huyện Chợ Mới
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp luận
Sự phong phú đa dạng của hệ sinh thái chịu sự quyết định lớn của lớp phủ thực vật Vì vậy, nghiên cứu đa dạng thực vật thì trước hết phải nghiên cứu đa dạng về thành phần loài, dạng sống, kiểu thảm thực vật đó là cơ sở trong việc bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng bền vững Áp dụng phương pháp lấy không gian bù thời gian trong nghiên cứu diễn thế dựa trên dãy phát triển tự nhiên của thảm thực vật Lựa chọn các thảm thực vật tương đồng về điều kiện lập địa từ thảm cỏ đến rừng non theo thời gian 1 - 4 năm, 5 - 7 năm, 8 - 10 năm Trên cơ sở đó thu thập số liệu, phân tích kết nối các mốc thời gian theo chuỗi diễn thế đi lên
2.3.2 Phương pháp điều tra thực địa
Xác định điểm và tuyến nghiên cứu: Dựa vào các loại bản đồ tiến hành vạch tuyến và điểm nghiên cứu là các ô tiêu chuẩn, đi qua các vùng sinh cảnh khác nhau đặc trưng cho vùng nghiên cứu
Điều tra thu thập số liệu: Được tiến hành theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007)
Đánh giá chất lượng cây tái sinh: Dựa vào đặc điểm bên ngoài của cây trong các trạng thái rừng phân theo các cấp là cây tốt, cây trung bình, cây xấu
và cây triển vọng
Trang 42.3.3 Phương pháp phân chia dạng sống (life form) thực vật
Căn cứ vào các thông tin có được từ bộ mẫu thực vật bậc cao có mạch thu được, tiến hành xác định và phân loại dạng sống cho khu vực nghiên cứu theo thang phân loại của Raunkiaer (1934) và Nguyễn Nghĩa Thìn (1997)
2.3.4 Phương pháp phân tích tính chất vật lý, hóa học và vi sinh vật của đất
Phân tích tính chất vật lý, hóa học được tiến hành theo các phương pháp thông thường và được thực hiện tại Viện Hóa học, (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
Phân tích số lượng, thành phần của các nhóm vi sinh vật theo phương pháp thông thường của Nguyễn Lân Dũng (1972) và ”Sổ tay phân tích Đất - nước phân bón cây trồng” được thực hiện tại Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam
3.1.1.Vị trí địa lý
Chợ Mới là một huyện miền núi nằm ở phía nam tỉnh Bắc Kạn, phía đông giáp huyện Na Rì và huyện Võ Nhai, phía tây giáp huyện Định Hóa, phía nam giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương, phía bắc giáp huyện Bạch Thông, huyện Chợ Đồn và thị xã Bắc Kạn
Huyện Chợ Mới được chia thành 16 đơn vị hành chính gồm: thị trấn Chợ Mới là trung tâm của huyện và 15 xã
3.1.2 Địa hình
Phần lớn diện tích đất huyện Chợ Mới có độ cao từ 40- 400m, địa hình đồi xen kẽ núi thấp, thung lũng và dòng suối nhỏ Vì vậy, địa hình bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 15-25o
3.1.3 Khí hậu - thủy văn
Khí hậu huyện Chợ Mới mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 220C Mặc dù nhiệt độ còn bị phân hóa theo độ cao và hướng núi, nhưng không đáng kể
Huyện Chợ Mới có lượng mưa trung bình (1.200-1.310mm/năm) Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm tới 75-80% lượng mưa cả năm
Trang 53.1.4 Tài nguyên đất
Đất nâu đỏ phát triển trên đá phiến sét, diện tích tương đối lớn, thích hợp cho phát triển các loại cây công nghiệp như chè, hồi và quế Đất nâu vàng phát triển trên đá sa thạch, đá lẫn chiếm tỷ lệ cao, mỏng có thể phục vụ cho phát triển lâm nghiệp
Đất bồi tụ độ mùn cao, giàu dinh dưỡng, thường phân bố dọc theo sông, ngòi, khe suối thích hợp cho sản xuất nông nghiệp
Năm 2013 số dân của huyện Chợ Mới là 38.035 người, mật độ trung bình
là 62,71 người/km2, với 7 dân tộc chủ yếu là Tày, Nùng, Dao, Kinh, Sán Chay, Hoa và Mông Đứng thứ 3 trên 8 đơn vị hành chính của tỉnh và cao hơn mức trung bình của toàn tỉnh
3.2.2 Lao động
Lực lượng lao động của huyện có trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa cao, chưa đáp ứng được cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Số người tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ Số cán bộ có trình độ quản lý và cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao còn ít và thường xuyên luôn chuyển
3.2.3 Phương thức sản xuất sinh sống của người dân
Đa số người dân địa phương sinh sống bằng nghề nông, những lúc nông nhàn họ lại vào rừng khai thác các lâm sản, dẫn đến tài nguyên rừng ngày càng giảm Tuy vậy thời gian gần đây, bằng nguồn vốn hỗ trợ Chương trình 135 của Chính phủ, trồng rừng theo Dự án 661, Chương trình trồng rừng 147 đời sống của người dân đã được tăng lên và diện tích đất có rừng ngày một nhiều hơn
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 HIỆN TRẠNG THẢM THỰC VẬT
4.1.1 Các kiểu thảm thực vật
Trong đề tài luận án này, chúng tôi lựa chọn hệ thống phân loại của UNESCO (1973) để phân loại thảm thực vật huyện Chợ Mới, khu vực nghiên cứu hiện có các lớp quần hệ và các kiểu thảm thực vật chủ yếu sau
Trang 64.1.1.1 Lớp quần hệ rừng kín (closed forest)
a Quần hệ rừng nhiệt đới thường xanh mưa mùa địa hình thấp ≤ 300 m
* Phân quần hệ cây lá rộng: Tầng A2 tầng ưu thế sinh thái có các loài như:
Gội (Aphanamixis polystachya), Ràng ràng (Ormosia fordiana) và Phay (Duabanga grandiflora) là những loài ưu thế Ngoài ra, còn một số loài như: Thôi ba (Alangium chinense), Trám trắng (Canarium album), Dẻ gai (Castanopsis indica), Ba soi (Macaranga denticulata), Nhội (Bischofia javanica)… Tầng cây bụi (B), gồm những loài như Bời lời (Litsea spp.), Lấu (Psychotria spp.), Cứt ngựa (Archidendron spp.), Thị rừng (Diospyros decandra), Phèn đen (Phyllanthus reticulatus)… Tầng thảm tươi (C) gồm Dương xỉ (Dryopteris sp.), Nhọ nồi (Eclipta prostrata), Phu lệ (Pellionia spp.),
Sa nhân (Amomum spp.), Vạn niên thanh (Aglaonema spp.), Cơm nguội (Ardisia spp.), Ráng (Tectaria spp.), Ráy (Alocasia macrorrhizos), Bòng bong (Lygodium flexuosum), Rau má (Centolla asiatica), Cỏ xước (Achyranthes aspera), Cỏ lào (Eupatorium odoratum).
* Phân quần hệ rừng tre, nứa mọc thuần loài: Nứa (Neohouzeana dullooa) + Tre (Bambusa blumeana)
* Phân quần hệ rừng trồng thuần loài: Quần hợp keo (Acacia spp.) gồm các loài Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) và Keo tai tượng (Acacia mangium) được trồng chủ yếu trên đồi, ven đường và vùng đệm.
b Quần hệ rừng nhiệt đới thường xanh mưa mùa địa hình núi thấp 300- 400 m
* Phân quần hệ cây lá rộng: Loài chủ yếu là Trám trắng (Canarium album), Táu mật (Vatica cinerea), Nanh chuột (Cryptocarya lenticellata), Ngát (Gironniera subaequalis), Cứt ngựa (Archidendron eberhardtii) Phân bố ở
các sườn đồi, đỉnh đồi cao, có độ cao 300 m Tầng ưu thế sinh thái có Chẹo tía
(Engelhardtia spicata); Tầng cây bụi (B) có Trọng đũa (Ardisia crenata), Cơm nguội (Ardisia spp.), Mạy tèo (Streblus macrophyllus), Nhót rừng (Elaeagnus bonii); Tầng thảm cỏ (C) có Quyển bá (Selaginella spp.), Nưa (Amorphophallus paeoniifolius), Gai lá lệch (Elatostema rupestre)
4.1.1.2 Lớp quần hệ rừng thưa (Woodland - Open stands of trees)
* Phân quần hệ cây lá rộng: Rừng thứ sinh được hình thành sau nương rãy
và sau khai thác trắng thành phần loài tầng cây gỗ gồm Mán đỉa (Archidendron lucidum), Sau sau (Liquidambar formosana), Máu chó (Knema pierrei), Thành ngạnh (Cratoxylum cochinchinense), Thừng mực (Wrightia tomentosa), Hoắc quang (Wendlandia paniculata), Giền (Xylopia vielana)… Cây tái sinh có Trám
Trang 7trắng (Canarium album), Thôi chanh (Euodia bodinieri), Bông bạc (Vernonia arborea), Chòi mòi (Antidesma bunius), Chẹo tía (Engelhardtia spicata)… Tầng cây bụi gồm các loài như Trọng đũa tuyến (Ardisia quinquegona), Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa), Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Bọ chó (Buddleja asiatica)… Tầng thảm cỏ gồm có cỏ Ba cạnh (Cyperus trialatus), Guột (Dicranopteria linearis), Cúc liên chi (Parthenium hysterophorus)…
* Phân quần hệ rừng tre, nứa, vầu, giang mọc xen cây gỗ: Tre, nứa, vầu, giang mọc hỗn giao với một số cây gỗ như: Ràng ràng (Ormosia balansae), Lim xẹt (Peltophorum pterocarpum), Bời lời (Litsea spp.), Giổi (Michelia spp.), Lòng mang (Pterospermum spp.), Hu (Trema spp.), Dâu da xoan (Allospondias lakonensis) đôi khi gặp các loài cây có giá trị như Dẻ gai (Castanopsis indica), Gội nếp (Aglaia spectabilis)
4.1.1.3 Lớp quần hệ thảm cây bụi (Shrubland)
* Phân quần hệ cây bụi có cây gỗ mọc rải rác: Thành phần loài thực vật với những loài ưu thế như Thàu táu (Aporosa macrostachya, Bùm bụp (Mallotus paniculatus), Thành ngạnh (Cratoxylum cochinchinense)… Các loài
cây gỗ mọc rải rác chủ yếu là các cây tiên phong ưa sáng sinh trưởng nhanh như
Hu đay (Trema orientalis), Chẹo (Engelhardtia roxburghiana), Ba soi (Macaranga denticulata), Dẻ gai (Castanopsis indica)…
* Phân quần hệ cây bụi không có cây gỗ: Các quần xã với các loài ưu thế
là Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Mua (Melastoma candidum), Găng (Randia spinosa), Hoắc quang (Wendlandia spp.), Mua (Melastoma spp.), Cơm nguội (Ardisia spp.), Thôi chanh (Alangium kurzii), Tràm (Indigofera sp.), Phèn đen (Phyllanthus reticulatus), Hà thủ ô (Streptocaulon juventas), Mâm xôi (Rubus spp.), Bình vôi (Stephania rotunda), Bướm bạc (Mussaenda spp.), Ba chạc (Euodia lepta)…
4.1.1.4 Lớp quần hệ cỏ (Grassland vegetation)
* Nhóm quần hệ cỏ dạng lúa cao, có cây gỗ che phủ dưới 30%
Quần hệ cỏ chịu hạn có ưu hợp Lau (Saccharum spontaneum) + Chít (Thysanolaena maxima), Ưu hợp Guột (Dicranopteria linearis), Ưu hợp Cỏ tranh (Imperata cylindrica) + Cỏ cứt lợn (Ageratum conyzoides) bao gồm các loài chủ yếu như: Lau (Saccharum spontaneum), Chít (Thysanolaena maxima), Guột (Dicranopteria linearis), Cỏ tranh (Imperata cylindrica), Cỏ lào (Chromoleana adorata), Cỏ may (Chrysopogon aciculatus), Ké hoa đào (Urena lobata), Bồ cu vẽ (Breynia spp.), Muồng lạc (Senna tora), Ké hoa vàng
Trang 8(Triumfetta pseudocana) và Chè vè (Miscanthus japonica) Thành phần loài là các cây bụi mọc rải rác chịu hạn như: Ba chạc (Euodia spp), Dung (Symplocos spp.), Sim (Rhodomyrtus tomentosa) và Mua (Melastoma candidum) Một số cây gỗ như Hu đay (Trema orientalis), Gội (Aglaia spp.), Lòng mang (Pterospermum spp.).
* Nhóm quần hệ cỏ dạng lúa trung bình ( > 0,5 và ≤ 1m) có cây gỗ che phủ dưới 30%
Quần hệ cỏ chịu hạn có ưu hợp Lau (Saccharum spontaneum) + Cỏ tranh (Imperata cylindrica) với các loài cây gỗ mọc rải rác như Thôi chanh (Alangium kurzii), Bời lời (Litsea spp.), Dâu da xoan (Allospondias lakonensis), Hoắc quang (Wendlandia paniculata), Ba soi (Macaranga denticulata), Thành ngạnh (Cratoxylum cochinchinense).
4.1.2 Sự đa dạng về thành phần các taxon
Bảng 4.1 Phân bố các taxon trong khu vực nghiên cứu
Lycopodiophyta Thông đất 2 1,43 2 0,39 4 0,54Equisetophyta Cỏ tháp bút 1 0,72 1 0,19 2 0,27Polypodiophyta Dương xỉ 11 7,97 17 3,29 25 3,36
70,2815,98
41081
79,315,67
589115
79,2715,48
Tổng 138 100 517 100 743 100
Các taxon có sự phân bố không đều nhau không chỉ ở các ngành thực vật mà còn được thể hiện giữa Mangnoliopsida và Liliopsida trong Magnoliophyta, kết quả được thể hiện ở bảng 4.1 Điều đó khẳng định rằng hệ thực vật Chợ Mới rất phong phú và đa dạng về số loài, chi, họ của Magnoliophyta
4.1.3 Về phổ dạng sống
TTV huyện Chợ Mới, có 5 nhóm dạng sống, với 11 kiểu dạng sống (bảng 4.2)
Bảng 4.2 Các nhóm dạng sống và kiểu dạng sống của TTV huyện Chợ Mới
Trang 9Cây chồi trên thân thảo Hp 3 0,4
Bảng 4.3 Các nhóm công dụng của các loài thực vật tại các TTV huyện Chợ Mới
loài
Công dụng Or
Trong số các loài thực vật ở huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn có 26 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) thì có 8 loài được xếp ở cấp độ EN (Nguy cấp) và 18 loài ở cấp độ VU (Sẽ nguy cấp)
4.2 THAY ĐỔI VỀ THÀNH PHẦN VÀ CẤU TRÚC TRONG QUÁ TRÌNH DIỄN THẾ
4.2.1 Thành phần loài thực vật
Thảm cây bụi có số loài nhiều nhất 527 loài, thảm cỏ có 381 loài, ít nhất là rừng thứ sinh với 219 loài Chúng tôi nhận thấy, có rất nhiều loài sống ở hai hay
Trang 10nhiều sinh cảnh khác nhau như: Mâm xôi (Rubus spp.), Gội (Aglaia spp.), Me rừng (Phyllanthus emblica), Rau dớn (Cyclosorus parasiticus), Dương xỉ (Dryopteris chrysocoma), Màng tang (Litsea cubeba), Sung (Ficus spp.), Trứng
cá (Muntingia calabura), Ngải cứu (Artemisia dracunculus), Nhọ nồi (Eclipta prostrata), Rau tàu bay (Erechtites valerianifolius), Bồ công anh dại (Lactuca indica) Có loài sống rải rác từ bản làng dọc theo sườn đồi lên đến đỉnh đồi như Trám trắng (Canarium album), Trám đen (Canarium tramdenum), Thành ngạnh (Cratoxylum cochinchinense), Nứa (Neohouzeaua dulloa)… Các loài trên chúng
xuất hiện ở hầu hết các thảm thực vật
4.2.2 Dạng sống trong các kiểu thảm thực vật
Nhóm Cây chồi trên (Ph) ở thảm cỏ, thảm cây bụi và rừng thứ sinh có số
lượng loài lớn nhất, (tương ứng là 203 loài, 356 loài và 184 loài); tiếp đến là
nhóm Cây một năm (Th), ở thảm cỏ có 91 loài, thảm cây bụi có 80 loài và ở
rừng thứ sinh có 11 loài Nhóm cây một năm ở thảm cỏ có số lượng lớn nhất so
với thảm cây bụi và rừng thứ sinh Các nhóm Cây chồi nửa ẩn (Hm), Cây chồi sát đất (Ch) và Cây chồi ẩn (Cr) có số lượng tương đương nhau, sự chênh lệch
là không đáng kể (hình 4.1)
Hình 4.1 Số loài trong các kiểu dạng sống của các kiểu thảm thực vật
4.2.3 Sự thay đổi chiều cao của cây gỗ
Bảng 4.4 Tỷ lệ phân bố cây gỗ tái sinh theo các cấp chiều cao H(m)
ở các quần xã thực vật (%)
Cấp chiều cao cây (m) Thời gian phục hồi của quần xã
1 - 4 năm 5 - 7 năm 8 - 10 năm
Trang 11xôi (Rubus alceifolius), Thành ngạnh (Cratoxylum cochinchinense) và Cọc rào (Cleistanthus sumatranus) Những loài cây tiên phong phát triển làm tăng độ
che phủ đất tạo nên tầng thảm mục và là điều kiện cho các loài cây chịu bóng và cây gỗ phát triển ở các giai đoạn tiếp theo
Giai đoạn phục hồi từ 5-7 năm, thành phần thực vật có sự biến đổi rõ rệt,
xuất hiện các loài cây gỗ có kích thước lớn như Dâu da xoan (Allospondias lakonensis), Trám trắng (Canarium album), Bồ kết rừng (Gleditsia australis), Phay sừng (Duabanga grandiflora), Nhót rừng (Elaeagnus bonii Lecomte), Táu trắng (Vatica odorata), Ba bét trắng (Mallotus apelta), Trẩu (Vernicia montana), Lộc vừng (Barringtonia asiatica), Mỡ (Manglietia conifera), Giổi (Michelia balansae), Ngâu đá (Aglaia dasyclada), Quếch tía (Chisocheton paniculatus), Lát hoa (Chukrasia tabularis) và Xoan ta (Melia azedarach) các
loài trên đã thay thế dần những loài ưa sáng mọc nhanh ở giai đoạn trước
4.2.4 Sự thay đổi theo đường kính
Hình 4.2 Tỷ lệ phân bố cây theo cấp đường kính (%)
Hình 4.2 cho thấy, phân bố số cây theo cấp đường kính ở quần xã phục hồi
tự nhiên từ 1-7 năm có đỉnh lệch trái, nguyên nhân là do sự sinh trưởng mạnh của một số cá thể, tạo nên lớp cây có đường kính lớn hơn vượt trội so với cây khác Tuy nhiên, số lượng cá thể của chúng không nhiều nên phân bố giảm mạnh khi đường kính tăng lên Với quần xã có thời gian phục hồi từ 8-10 năm,
Trang 12do có sự cạnh tranh mạnh, một số ít cá thể cạnh tranh kém, sinh trưởng phát triển chậm, yếu cây bị đào thải, số cá thể có đường kính lớn hơn tăng dần theo thời gian phục hồi Kết quả là đường phân bố cây theo cấp chiều cao chuyển sang lệch phải.
4.2.5 Đánh giá sự tăng trưởng và sinh khối thảm thực vật theo khung phân loại của Loschau (1960)
Để so sánh đánh giá chính xác khả năng phục hồi rừng ở khu vực nghiên cứu, cùng với phương pháp đánh giá sự biển đổi của cây gỗ - yếu tố chủ đạo tạo thành rừng trong các trạng thái thảm thực vật từ thảm cỏ qua thảm cây bụi đến rừng non theo khung phân loại của UNESCO (1973), chúng tôi áp dụng thêm cách đánh giá đặc điểm cây gỗ trong các trạng thái thảm thực vật theo khung phân loại của Loschau (1960)
4.2.5.1 Trữ lượng gỗ có trong các trạng thái rừng
Bảng 4.5 Thống kê trữ lượng của một số trạng thái rừng thứ sinh
ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Tên
IIA (m 3 )
IIIA1 (m 3 )
Vầu - gỗ
Gỗ (m 3 ) Vầu, nứa (cây)
Xã Thanh Vận 45,87 81,24 20,78 368 vầu + 40 nứa
Xã Cao Kỳ 65,71 92,41 42,65 267 vầu + 47 nứa
Xã Thanh Bình 66,01 71,63 65,81 451 vầu + 76 nứa
Xã Nông Hạ 65,81 95,73 75,72 879 vầu + 123 nứa
Xã Nông Thịnh 70,35 78,77 19,59 609 vầu + 127 nứa
Xã Hòa Mục 40,09 66,29 13,49 435 vầu + 133 nứa
Qua bảng 4.5 ta nhận thấy, trữ lượng gỗ trong các trạng thái rừng ở các khu vực nghiên cứu có sự khác nhau Ở trạng thái IIA trữ lượng gỗ từ 40,09 đến 70,35 m3/ha, trung bình 58,97 m3/ha; trạng thái IIIA1 trữ lượng gỗ từ 66,29 đến 95,73 m3/ha, trung bình 81,01 m3/ha Ở hai trạng thái rừng trên ta nhận thấy trạng thái rừng IIIA1 có số lượng gỗ nhiều hơn gần gấp đôi so với trạng thái IIA Trạng thái Vầu - gỗ trung bình 501,5 cây vầu và 91 cây nứa
4.2.5.2 Thành phần loài và cấu trúc rừng