PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ HÀNH VI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TP.HCM Thị trường chứng khoán được xem là phong vũ biểu của nền kinh tế, là chỉ báo cho nền kinh tế trong tương lai. Sự phát triển của thị trường chứng khoán tác động đến sự phát triển của nền kinh tế. Quyết định của nhà đầu tư, cụ thể là nhà đầu tư cá nhân đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định xu hướng thị trường, qua đó ảnh hưởng đến nền kinh tế.
Trang 1KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN TP.HCM
GVHD: TS Hoàng Thị Phương Thảo NHÓM THỰC HIỆN : Nhóm 06 LỚP : Cao học Đêm 7 - K22
TP.HCM, ngày 07 tháng 01 năm 2013
Trang 2
Trang 3
STT HỌ & TÊN NGÀY SINH GHI CHÚ
Trang 4STT Họ Tên Các công việc (X) Đánh giá
Trang 5Nội dung T 1 T 2 T 3 T 4 T 5 T 6 T 7 T 8 T 9 Nhân sự Địa điểm
Xác định vấn đề nghiên cứu
Cả nhóm Tại lớp - Mail Xác định câu hỏi nghiên cứu
Xác định mục tiêu nghiên cứu
Xác định 1 số lý thuyết liên quan
Cả nhóm Tại lớp - Mail Xây dựng các giả thuyết
Thiết lập mô hình
Phạm vi nghiên cứu
Cả nhóm Tại lớp - Mail Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện tổng hợp bài phần 1 - 6
Thiết kế nghiên cứu định tính
Thiết kế nghiên cứu định lượng
Cả nhóm
Tại A116 - Mail
Mã hóa bảng câu hỏi
Cả nhóm Tại Cơ sở B Thảo luận về p.pháp xử lý DL
Thu thập dữ liệu
Cả nhóm
Sàn CK Bảo Việt
Phân tích dữ liệu
Mail Viết báo cáo phân tích DL
36 Trần Cao Vân
8/11 15/11 22/11 29/11 6/12 13/12 20/12 27/12 3/1
Trang 6LOẠI CHI PHÍ THÀNH TIỀN GHICHÚ
Chi phí khác
Trang 7MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài i
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Câu hỏi nghiên cứu 1
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Thu thập thông tin 2
6.1 Thông tin thứ cấp 2
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÀI CHÍNH HÀNH VI 3
1.1 Các kết quả nghiên cứu trước đây 3
1.2 Lý thuyết tài chính học hành vi (Behavioral Finance) 3
1.2.1 Thuyết kỳ vọng (The prospect theory) 4
1.2.1.1 Sự ghét lỗ (Loss aversion) 4
1.2.1.2 Sự tiếc nuối (Regret) 4
1.2.2 Tâm lý dựa vào kinh nghiệm (Heuristic) 4
1.2.2.1 Tình huống điển hình (Representativeness) 4
1.2.2.2 Sự quá tự tin (Overconfidence) 5
1.2.2.3 Bám vào những giá trị đã thiết lập (Anchoring) 5
1.2.2.4 Hành vi bầy đàn (Herding Behavior) 5
1.3 Các giả thuyết nghiên cứu 5
1.4 Mô hình nghiên cứu 6
CHƯƠNG II: SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 7
2.1 Giai đoạn 2000 – 2005 7
2.2 Giai đoạn tăng trưởng nóng (2006-2007) 7
2.3 Giai đoạn sau tăng trưởng (2008 – đến nay): 7
CHƯƠNG III: KHẢO SÁT SỰ TÁC ĐỘNG CÁC NHÂN TỐ HÀNH VI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN TTCK TP.HCM 9
3.1 Thiết kế nghiên cứu định tính 9
3.2 Thiết kế nghiên cứu định lượng 9
3.3 Quy trình xử lý dữ liệu 10
3.4 Kết quả khảo sát 11
3.4.1 Phân tích mô tả 11
3.4.1.1 Quyết định của nhà đầu tư về tình huống điển hình 11
3.4.1.2 Quyết định của nhà đầu tư về quá tự tin 12
3.4.1.3 Quyết định của nhà đầu tư về bám vào những giá trị thiết lập 12
3.4.1.4 Quyết định của nhà đầu tư về hành vi bầy đàn 12
3.4.1.5 Quyết định của nhà đầu tư về sự ghét lỗ 12
3.4.1.6 Quyết định của nhà đầu tư về sự tiếc nuối 12
Trang 83.4.1.7 Mức độ đồng ý của nhà đầu tư về quyết định đầu tư chứng khoán 12
3.4.1.8 Mô tả đối tượng khảo sát 13
a Thời gian đầu tư 13
b Số vốn đầu tư 13
c Nhóm nhà đầu tư 13
d Quyết định của nhà đầu tư về tài chính hành vi theo thời gian tham gia trên thị trường từ 1 đến 3 năm 14
e Phân tích sự khác biệt trong tâm lý về hành vi bầy đàn của những nhà đầu tư có số vốn đầu tư khác nhau trên thị trường 14
3.4.1.9 Phân tích sự khác biệt trong tâm lý quá tự tin của những nhà đầu tư có thời gian tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán khác nhau 14
3.4.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 14
3.4.2.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến quan sát yếu tố tình huống điển hình 14
3.4.2.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến trong nhóm yếu tố quá tự tin 14
3.4.2.3.Đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến trong nhóm yếu tố bám vào những giá trị đã thiết lập 14
3.4.2.4 Đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến trong nhóm yếu tố hành vi bầy đàn 15
3.4.2.5 Đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến trong nhóm yếu tố sự ghét lỗ 15
3.4.2.6 Đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến trong nhóm yếu tố sự tiếc nuối 15
3.4.2.7 Đánh gía độ tin cậy của thang đo các biến trong 6 nhóm yếu tố 15
3.4.3 Phân tích nhân tố 15
3.4.4 Phân tích hồi quy 16
TỔNG KẾT 16
Trang 91 Lý do chọn đề tài
Thị trường chứng khoán được xem là phong vũ biểu của nền kinh tế, là chỉ báo cho nềnkinh tế trong tương lai Sự phát triển của thị trường chứng khoán tác động đến sự phát triểncủa nền kinh tế Quyết định của nhà đầu tư, cụ thể là nhà đầu tư cá nhân đóng một vai tròquan trọng trong việc xác định xu hướng thị trường, qua đó ảnh hưởng đến nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán, họ sẽ sử dụng các kĩ thuật phântích cơ bản và phân tích kĩ thuật để hỗ trợ cho quá trình ra quyết định của mình Với phươngpháp này họ đã giả định những nhà đầu tư khác cũng lý trí như mình, có nghĩa là cũng sẽ sửdụng các kĩ thuật đó để phục vụ cho việc ra quyết định đầu tư Tuy nhiên, trong thực tế, cácnhà đầu tư có thể không tuân theo các chiến lược mà mình xây dựng trước đó, dẫn đến kết quảđầu tư không như kỳ vọng ban đầu của họ
Có rất nhiều yếu tố tác động đến quyết định của nhà đầu tư Ngoài những biến động vềtình hình kinh tế vĩ mô ở trong và ngoài nuớc, tình hình sản xuất kinh doanh của chính bảnthân doanh nghiệp niêm yết thì yếu tố tâm lý của nhà đầu tư cũng là một yếu tố rất quantrọng Khi có một biến động trên thị trường chứng khoán thì các phản ứng thái quá của nhàđầu tư sẽ làm cho tình hình thị trường thêm trầm trọng
Vì vậy, bên cạnh các phương pháp phân tích cơ bản và phân tích kĩ thuật thì việc nghiêncứu và phân tích hành vi tài chính của nhà đầu tư là một công việc quan trọng không thể thiếutrong tư vấn và đầu tư chứng khoán
Do đó, đề tài “Phân tích tác động của các yếu tố tài chính hành vi đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh” với mục đích góp phần đưa ra
một bức tranh cụ thể về việc ứng dụng lý thuyết tài chính hành vi vào thị trường chứng khoán
TP Hồ Chí Minh và qua đây để biết được các hiện tượng tâm lý có thể tác động đến quyếtđịnh của nhà đầu tư, nhằm giúp các nhà đầu tư cá nhân có thể đưa ra các quyết định đầu tưhiệu quả Đồng thời, các công ty chứng khoán cũng có thể sử dụng thông tin này để hiểu rõhơn về các nhà đầu tư và từ đó đưa ra được các khuyến nghị đầu tư tối ưu
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết tài chính hành vi để xác định các yếu tố hành vi có khả năng tác độngđến quyết định của nhà đầu tư cá nhân
- Xác định mức độ tác động của các yếu tố hành vi đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cánhân trên thị trường chứng khoán TP Hồ Chí Minh
- kiến nghị giải pháp cho công ty chứng khoán để có những tư vấn tốt hơn cho nhà đầu tư cánhân giúp họ đầu tư hiệu quả
3 Câu hỏi nghiên cứu
-Những yếu tố tâm lý hành vi nào ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư trênthị trường chứng khoán TP.Hồ Chí Minh?
-Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đó như thế nào? Yếu tố nào đóng vai trò chủ yếu?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu: Hành vi của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán
TP.HCM
-Phạm vi nghiên cứu: Các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán TP.HCM.
-Cơ sở lựa chọn đối tượng nghiên cứu: Trên 70% tổng số tài khoản đầu tư trên thị trường
chứng khoán là tài khoản cá nhân
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng
Sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu thông qua bảng câu hỏi khảo sát Dựa trên sốliệu thu thập được từ bảng câu hỏi khảo sát, kết hợp với việc sử dụng phần mềm SPSS đểthực hiện các kiểm định và đưa ra kết luận về vấn đề cần nghiên cứu
6 Thu thập thông tin
6.1 Thông tin thứ cấp
Dựa trên các lý thuyết nền tảng và các bài viết được nghiên cứu, chọn lọc và phân tíchtrên các tạp chí chuyên ngành, các bài tham luận, bài giảng ở trong và ngoài nước Nguồn thuthập thông tin cho dữ liệu thứ cấp được nhắc đến như sau:
Thư viện trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Các bài tham luận về lý thuyết tài chính hành vi trên Báo chí, Internet và các báo cáokết quả nghiên cứu năm trước đó
Bài giảng về phương pháp nghiên cứu và phân tích dữ liệu SPSS
Trang 11CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÀI CHÍNH HÀNH VI
1.1 Các kết quả nghiên cứu trước đây
Nghiên cứu về các yếu tố tài chính hành vi đóng một vai trò quan trọng trong tài chính,giúp chúng ta hiểu được hành vi của các nhà đầu tư cũng như nguyên nhân của các quyết địnhđầu tư không tuân theo các lý thuyết tài chính thông thường Rất nhiều bài nghiên cứu, bằngchứng cứ thực nghiệm đã chứng minh được rằng quyết định của nhà đầu tư có chịu ảnh hưởngcủa yếu tố tâm lý Có thể kể ra kết quả của một số nghiên cứu sau:
Trong bài nghiên cứu Behavioral Finance: Capital Budgeting and Other Investment
Decisions của Simon Gervais (2009) cho thấy rằng, nhà đầu tư được khảo sát ở Mỹ có xu
hướng tự tin quá mức, họ đánh giá quá cao độ chính xác của thông tin mà họ có được cũngnhư khả năng kiểm soát rủi ro của mình Việc quá tự tin khiến cho các nhà quản trị đầu tưdòng tiền thừa một các nhanh chóng, điều đó dễ dẫn đến những thất bại trong kết quả đầu tưcủa họ
Bài nghiên cứu The effects of behavioural factors in investment decision-making: a
survey of institutional investors operating at the Nairobi Stock Exchange của các tác giả
Nelson Maina Waweru, Evelyne Munyoki và Enrico Uliana (2008), nghiên cứu vai trò của tàichính hành vi và tâm lý nhà đầu tư trong việc ra quyết định đầu tư của các nhà đầu tư tổ chứctại sản giao dịch chứng khoán Nairobi (Kenya) Sử dụng mẫu là 23 nhà đầu tư tổ chức, nghiêncứu cho thấy các nhân tố hành vi như tình huống điển hình, quá tự tin, neo vào các giá trị đãthiết lập, sự ngụy biện, sự ghét lỗ… ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư Hơn nữa,những nhà đầu tư này tham khảo hoạt động giao dịch của các nhà đầu tư tổ chức khác vàthường xuyên hành động theo tâm lý bầy đàn trong việc ra quyết định đầu tư của họ
Bài nghiên cứu The Behaviour and Financial Performance of Individual Investors in the
Trading Shares of Companies Listed At the Nairobi Stock Exchange, Kenya của nhóm tác giả
Josiah Aduda, Odera Eric Oduor, và Mactosh Onwonga (2012), với mẫu là 50 nhà đầu tư cánhân trên sàn giao dịch chứng khoán Nairobi (Kenya) Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hành
vi của các nhà đầu tư rất khác nhau Một số nhà đầu tư có hành vi hợp lý trong việc ra quyếtđịnh đầu tư Ngược lại, có những nhà đầu tư thực hiện việc đầu tư kém hiệu quả bởi vì nhữnghành vi không hợp lý cũng như đầu tư dựa trên quyết định của đám đông
1.2 Lý thuyết tài chính học hành vi (Behavioral Finance)
Tài chính hành vi là một phân ngành kinh tế học nghiên cứu những hành vi (hành động cónhận thức) của các chủ thể kinh tế có ảnh hưởng như thế nào đến việc ra các quyết định kinh
tế cũng như giá cả thị trường
Tài chính hành vi có vai trò quan trọng trong việc dự đoán và lý giải cho xu hướng của thịtrường tài chính đặc biệt trong giai đoạn suy thoái kinh tế toàn cầu như hiện nay, khi cácphương pháp khác như phương pháp phân tích cơ bản và phương pháp phân tích kỹ thuậtđang cho thấy những mặt hạn chế của nó
Thuyết kỳ vọng và tâm lý dựa vào kinh nghiệm là hai mảng chính của học thuyết tài chínhhành vi, học thuyết lấy cảm xúc của con người làm trọng tâm nghiên cứu
1.2.1 Thuyết kỳ vọng (The prospect theory)
Nền tảng của thuyết kỳ vọng là hàm giá trị được Kahneman và Tversky xây dựng năm
1979 Hàm giá trị cho ta biết rằng mỗi đơn vị tăng thêm trong giá trị tài sản đầu tư sẽ mang lạimột giá trị hữu dụng tăng thêm ít hơn so với sự tăng lên trước đó trong giá trị tài sản đầu tưnhưng sẽ mang đến sự đau khổ và dằn vặt nhiều hơn khi một giá trị tài sản bị sụt giảm do thua
Trang 12Theo Waweru và các cộng sự (2008), thuyết kỳ vọng mô tả một số trạng thái tâm lý ảnhhưởng đến quá trình ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân bao gồm sự ghét lỗ (Loss aversion)và sự hối tiếc (Regret).
1.2.1.1 Sự ghét lỗ (Loss aversion)
Sự ghét lỗ phản ánh mức độ cảm nhận khác nhau của nhà đầu tư từ cùng một mức lỗ hoặclãi (Barberis và Huang, 2001) Qua thực nghiệm chỉ ra rằng nhà đầu tư cảm thấy buồn khổnhiều hơn khi chịu một khoản lỗ so với sự vui mừng khi có được khoản lời cùng giá trị(Barberis và Huang, 2001) Do vậy họ thường có xu hướng nắm giữ cổ phiếu bị lỗ trong khi
có thể bán chúng hoặc có lợi nhuận từ sớm hơn vì nhà đầu tư luôn nghĩ rằng, những cổ phiếu
bị lỗ sẽ nhanh chóng tốt trở lại, họ cảm thấy tiếc nuối khi phải bán lỗ cổ phiếu Sự ghét lỗ cóthể được hiểu như là một hành vi cơ bản của nhà đầu tư, tuy nhiên nó có thể dẫn đến các tácđộng xấu đến tài sản của nhà đầu tư (Odean, 1998)
1.2.1.2 Sự tiếc nuối (Regret)
Sự hối tiếc là một cảm giác xuất hiện sau khi con người mắc lỗi nào đó Các nhà đầu tưtránh sự hối tiếc bằng việc từ chối bán các cổ phiếu đang giảm giá và sẵn sàng bán các cổphiếu ngay khi tăng giá Hơn nữa, các nhà đầu tư có xu hướng hối tiếc nhiều hơn khi nắm giữmột cổ phiếu giảm giá quá lâu so với việc bán một cổ phiếu tăng giá quá sớm (Forgel vàBerry, 2006; Lehenkari và Perttunen, 2004)
1.2.2 Tâm lý dựa vào kinh nghiệm (Heuristic)
Các nhà đầu tư thường hành động theo kinh nghiệm Tâm lý dựa vào kinh nghiệm phảnảnh tiến trình ra quyết định dựa vào những điều mà con người đúc kết từ sự khắc phục nhữnglỗi lầm Phương pháp kinh nghiệm rất hữu ích cho việc giải thích vì sao nhiều khi thị trườnglại hành động theo kiểu vô lý trí, điều này đối lập với mô hình thị trường hiệu quả
Tâm lý dựa vào kinh nghiệm có thể hữu ích, cụ thể là khi có giới hạn về thời gian(Waweru và các cộng sự, 2008), nhưng đôi khi nó có thể dẫn đến những sai lệch (Waweru vàcác cộng sự, 2008) Kahneman vàTversky dường như là những nhà nghiên cứu đầu tiênnghiên cứu các yếu tố thuộc về tâm lý dựa vào kinh nghiệm khi giới thiệu bốn nhân tố đó là:Tình huống điển hình (Representativeness), quá tự tin (Overconfidence) bám vào những giátrị đã thiết lập (Anchoring) và hành vi bầy đàn (Herding Behavior) (Kahneman và Tversky,1974)
1.2.2.1 Tình huống điển hình (Representativeness)
Tình huống điển hình liên quan đến mức độ tương tự của một sự kiện với các sự kiện điểnhình trước đó (DeBondt và Thaler, 1995) hay mức độ tương tự của mẫu với tổng thể của nó(Kahneman & Tversky, 1974, p.1124) Tình huống điển hình có thể dẫn đến một số sai lệch,
ví dụ như việc mọi người dựa quá nhiều vào những kinh nghiệm gần đây và bỏ qua cá sự kiệnhiện tại (Ritter, 2003) Tình huống điển hình cũng dẫn đến sự chủ quan trong suy luận tổngthể từ mẫu, xuất hiện khi mọi người cố gắng để suy luận từ mẫu quá nhỏ (Barberis và Thaler,2003) Trên thị trường chứng khoán, khi các nhà đầu tư tìm các chứng khoán “nóng” thay vìnhững chứng khoán kém hiệu quả, điều đó có nghĩa là tình huống điển hình được áp dụng(DeBondt and Thaler, 1995)
1.2.2.2 Sự quá tự tin (Overconfidence)
Khi con người đánh giá quá cao khả năng, kiến thức và kĩ năng của họ, đó chính là biểuhiện của tâm lý quá tự tin (DeBondt & Thaler, 1995, Hvide, 2002) Các nhà đầu tư và các nhàphân tích thường quá tự tin trong những lĩnh vực mà họ am hiểu (Evans, 2006) Quá tự tinđược cho là yếu tố để cải thiện sự kiên định và quyết tâm, cơ sở tâm lý, và khả năng chấpnhận rủi ro Nói cách khác, quá tự tin có thể giúp gia tăng sự chuyên nghiệp trong quá trình
Trang 13quyết định đầu tư Quá tự tin có thể nâng cao nhận thức về khả năng của bản thân, điều đó cóthể giúp xúc tiến quá trình đầu tư nhanh hơn (Oberlechner và Osler, 2004).
Tuy nhiên, Một người càng quá tự tin vào chính bản thân thì càng gặp nhiều rủi ro và sailầm trong quyết định vì sự quá tự tin thường khiến cho nhà đầu tư có những đánh giá vượt rakhỏi tình hình thực tế
1.2.2.3 Bám vào những giá trị đã thiết lập (Anchoring)
Bám vào những giá trị đã thiết lập được định nghĩa như là việc hình thành một giá trị vàđánh giá các vấn đề dựa vào giá trị đã được thiết lập trước đó (Kahneman & Tversky, 1974).Các nhà đầu tư ai cũng có một vài điểm tham chiếu trong đầu tư, chẳng hạn như giá IPO, giáchào sàn trước đây của cổ phiếu Một khi có được thông tin mới họ sẽ điều chỉnh giá cả cổphiếu dựa trên điểm tham chiếu Trong trường hợp thị trường thiếu thông tin thì giá cả quákhứ là căn cứ để đưa ra quyết định cho giá cả ngày hôm nay Vì vậy việc bám vào những giátrị đã thiết lập gần như là sự gợi nhớ về giá cả quá khứ Bằng chứng điển hình cho lý thuyếtnày là trường phái phân tích kỹ thuật sử dụng giá cả quá khứ của chứng khoán để dự đoán xuhướng giá trong tương lai
1.2.2.4 Hành vi bầy đàn (Herding Behavior)
Hành vi bầy đàn trên thị trường tài chính được xác định như là khuynh hướng về hành vicủa nhà đầu tư trong việc hành động theo các nhà đầu tư khác Thông thường, các nhà đầu tưdựa vào thông tin thu thập được từ các nhà đầu tư khác hơn là các thông tin của bản thân Cácnhà đầu tư có thể tuân theo tâm lý bầy đàn nếu họ tin rằng số đông có thể giúp họ có đượcnhững thông tin hữu ích và đáng tin cậy Do đó, nhiều cơ hội tốt cho việc đầu tư có thể bị tácđộng
Hành vi bầy đàn có thể dẫn đến một số sai lệch trong tâm lý của nhà đầu tư, bao gồm sựxung đột trong nhận thức, nghe theo các tin đồn Các nhà nghiên cứu học thuật cũng chú ý vàovấn đề hành vi bầy đàn, bởi vì tác động của nó lên giá chứng khoán có thể ảnh hưởng đến rủi
ro và tỷ suất sinh lợi và điều này ảnh hưởng đến lý thuyết định giá tài sản (Tan, Chiang,Mason và Nelling, 2008)
1.3 Các giả thuyết nghiên cứu
Giải thuyết H1: Sự ghét lỗ có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân
trên thị trường chứng khoán TP HCM
Giải thuyết H2: Sự tiếc nuối có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân
trên thị trường chứng khoán TP HCM
Giải thuyết H3: Tình huống điển hình có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư
cá nhân trên thị trường chứng khoán TP HCM
Giải thuyết H4: Quá tự tin có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân
trên thị trường chứng khoán TP HCM
Giải thuyết H5: Bám vào những giá trị đã thiết lập có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của
các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán TP HCM
Giải thuyết H6: Hành vi bầy đàn có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá
nhân trên thị trường chứng khoán TP HCM
1.4 Mô hình nghiên cứu
Trang 14H2 H3
H4
H5
H6
CHƯƠNG II: SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vào vậnhành trung tâm giao dịch chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 và thực hiện phiêngiao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 Trong quá trình hình thành và phát triển thi trườngchứng khoán Việt Nam đã trải qua bao thăng trầm, chung quy lại có thể phân chia sự pháttriển của thị trường thành các giai đoạn chính sau:
2.1 Giai đoạn 2000 – 2005
Giai đoạn này không thực sự thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng và cácdiễn biến tăng giảm của thị trường chưa tạo ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởngđến sự vận hành của nền kinh tế cũng như tới cuộc sống của mỗi người dân
Theo thống kê của ủy ban chứng khoán nhà nước, tính đến hết năm 2005, tổng giá trị thịtrường chứng khoán Việt Nam đạt gần 40.000 tỷ đồng, chiến 0,69% tổng thu nhập quốc dân(GDP)
2.2 Giai đoạn tăng trưởng nóng (2006-2007)
Đây là thời điểm thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn gọi là nóng nhất kể từkhi thành lập, với những biến động hết sức bất ngờ mà ngay cả các nhà nghiên cứu thị trườngcũng không thể nào đoán trước được
Với mức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đến giữa năm 2006 thị trường chứng khoán ViệtNam trở thành “điểm” có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới, và ngày càng thu hút các
Trang 15nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào thị trường Số lượng các nhà đầu tư tham gia vàothị trường ngày càng đông, tính đến cuối tháng 12/2006 có gần 120.000 tài khoản giao dịchchứng khoán được mở, trong đó gần 2000 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài Sự tham giathị trường gồm cả những nhà đầu tư có kiến thức và hiểu biết lẫn những người chơi chứngkhoán theo phong trào đã đẩy TTCK vào tình trạng “nóng”, và đã xuất hiện hiện tượng “bongbóng” Năm 2007 được xem là bước phát triển mạnh mẽ nhất của thị trường chứng khoánViệt Nam Đầu năm 2007, thị trường tăng trưởng nhanh và là một trong những thị trường tàichính mới nổi có tình hình chứng khoán nóng, xuất hiện hiện tượng “khát chứng khoán” vàhiện tượng bong bóng, khiến một số chuyên gia lo ngại sẽ có hiện tượng đảo chiều dòng vốn.Đỉnh điểm của hiện tượng này là VN-Index đã lên đến 1.170,7 điểm, mức kỷ lục cho đến tậnngày hôm nay, tăng hơn 55% so với phiên cuối cùng của năm 2006.
Sau một thời gian đi lên, việc các công ty đồng loạt phát hành thêm cổ phiếu đã pha loãnggiá đồng thời thêm nhiều công ty khác lên sàn đã dẫn đến tình trạng cung vượt quá cầu vàothời điểm cuối năm 2007 Do đó, tâm lý bán tháo bắt đầu xuất hiện Tương tự như khi muavào, các nhà đầu tư nhỏ lẻ lại đổ xô đi bán tháo cổ phiếu, dẫn đến tình trạng khủng hoảng thừacổ phiếu trên thị trường và càng làm chỉ số chứng khoán sa sút hơn nữa
2.3 Giai đoạn sau tăng trưởng (2008 – đến nay):
Thị trường bước vào thời kỳ sụt giảm nhanh và mạnh Các chỉ số liên tục tạo “đáy”, tuynhiên đáy sau lại thấp hơn đáy trước, đáy thấp nhất khi VN-Index chỉ còn 235,5 điểm
Tuy nhiên, đầu tháng 03/2009 với những nỗ lực hỗ trợ khá lớn của chính phủ như: giảm thuế,
hỗ trợ lãi suất, giảm lãi suất cơ bản…thị trường lại bước vào một cuộc “tăng tốc” thực sự vớisự khơi mào của các nhà đầu tư nước ngoài Thế nhưng từ đầu năm 2010 thị trường bắt đầu
xu hướng xập xình đi ngang với biên độ hẹp 480-550 điểm trước sự thất vọng của các nhà đầu
tư Trong giai đoạn này, Chính phủ áp dụng những biện pháp nhằm hướng dòng vốn vào lĩnhvực sản xuất và hạn chế cấp vốn cho các kênh như chứng khoán, bất động sản Đồng thời,lượng cổ phiếu niêm yết, cổ phiếu thưởng tăng lên nhanh chóng làm cho dòng tiền trên thịtrường càng trở nên khan hiếm Nhìn chung, cuối năm 2010 các nhà đầu tư buồn nhiều hơnvui
Năm 2011 là năm khó khăn của kinh tế Việt Nam, theo đó thị trường chứng khoán cũngphản ánh rõ điều này với xu hướng giảm điểm là xu hướng chủ đạo Không chỉ chịu áp lựcgiảm về điểm số, diễn biến giao dịch trên thị trường ngày càng theo hướng trầm lắng và ảmđạm hơn, thể hiện qua tính thanh khoản kém
Thị trường chứng khoán đầu năm 2012 cũng xập xình đi ngang, không có dấu hiệu lạcquan hơn
Tóm lại: Sơ lược qua 3 giai đoạn phát triển của thị trường, chúng ta dễ dàng nhận ra rằngtâm lý thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng đến sự thăng trầm của thị trường chứng khoánViệt Nam Chính những yếu tố về tâm lý hành vi đã tạo ra một lực đẩy cực mạnh nâng thịtrường tăng nhanh, tăng mạnh và lên cao trong thời gian ngắn và cũng chính nó là lực kéoghìm thị trường xuống sâu hơn một cách nhanh chóng
Trang 16CHƯƠNG III: KHẢO SÁT SỰ TÁC ĐỘNG CÁC NHÂN TỐ HÀNH VI ĐẾN QUYẾT
3.1 Thiết kế nghiên cứu định tính
Xác định loại nghiên cứu định tính: Thảo luận tay đôi
Thảo luận tay đôi là kỹ thuật thu thập dữ liệu thông qua việc thảo luận giữa hai người:nhà nghiên cứu và đối tượng thu thập dữ liệu Phỏng vấn không cấu trúc giống như nóichuyện, làm cho người được phỏng vấn cảm thấy thoải mái và cởi mở trả lời theo các chủ đềphỏng vấn Do đó, nhóm quyết định chọn phương pháp phỏng vấn này như là một phươngpháp thích hợp nhất trong khả năng của mình
Qui mô mẫu: 20 người là các nhà đầu tư cá nhân đã và đang thực hiện giao dịch trên sànchứng khoán
Phương pháp chọn đối tượng nghiên cứu vào mẫu
- Sử dụng phương pháp phi xác suất thuận tiện
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Gặp trực tiếp các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán,dùng câu hỏi gạn lọc để chọn đáp viên thỏa mãn những quy định của quy mô mẫu, đưa chođáp viên 1 bảng câu hỏi định tính sau đó hỏi từng câu hỏi và đáp viên trả lời Chọn lọc và hiệuchỉnh các câu hỏi dựa trên ý kiến đóng góp của chuyên gia Phỏng vấn nhà đầu tư cá nhânngẫu nhiên để kiểm tra mức độ rõ ràng của bảng câu hỏi, qua đó ghi nhận ý kiến ban đầu củanhững người được khảo sát về sự tác động của các nhân tố hành vi đến tiến trình ra quyết địnhđầu tư của mình
- Địa điểm phỏng vấn: tại các sàn giao dịch chứng khoán tại TP.HCM: Sàn giao dịch chứngkhoán Bảo Việt, Sàn giao dịch chứng khoán Đông Á, Sàn giao dịch chứng khoán Á Châu
- Thời gian phỏng vấn: 20-25 phút/người với 21 câu hỏi định tính
- Thiết kế bản câu hỏi định tính: dàn bài thảo luận dành cho thảo luận tay đôi
3.2 Thiết kế nghiên cứu định lượng
Qui mô mẫu:
- Kích thước mẫu là n=200 Mô hình khảo sát trong đề tài gồm 21 biến quan sát, do đó sốlượng mẫu cần thiết là từ 105 mẫu trở lên Vậy số lượng mẫu dùng trong khảo sát là 200 nêntính đại diện của mẫu được đảm bảo cho việc khảo sát
- Sử dụng hình thức đo lường phổ biến nhất trong nghiên cứu định lượng là thang đo Likert
Nó bao gồm 5 cấp độ từ 1 đến 5 để tìm hiểu mức độ đồng ý của người trả lời Vì vậy, bảngcâu hỏi đã được thiết kế từ 1 là “Hoàn toàn không đồng ý” đến 5 là “Hoàn toàn đồng ý”.Thang đo Likert 5 điểm được sử dụng để thiết lập các biến tác động trực tiếp đến quyết địnhđầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán TP.HCM
Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng phương pháp phi xác suất thuận tiện
Phương pháp phỏng vấn: Phát bảng câu hỏi cho nhà đầu tư Sử dụng câu hỏi gạn lọc đểchọn mẫu: mẫu có ý nghĩa khi nhà đầu tư trả lời tất cả các câu hỏi trong bảng câu hỏi đãđược thiết kế sẵn, mẫu không có ý nghĩa khi không thực hiện trả lời tất cả các câu hỏi
hoặc nhà đầu tư mới tham gia lần đầu và nhà đầu tư là một tổ chức.
Thiết kế bản câu hỏi định lượng: Thông tin được thu thập từ các nhà đầu tư cá nhân nhằmvào 2 nhóm chủ yếu: thuyết kỳ vọng và tâm lý dựa vào kinh nghiệm
-Thuyết kỳ vọng được chuẩn hóa thành nhóm chỉ tiêu: Sự ghét lỗ, sự tiếc nuối
Trang 17-Tâm lý dựa vào kinh nghiệm được chuẩn hóa thành nhóm chỉ tiêu: Tình huống điển hình, sựquá tự tin, bám vào những giá trị đã thiết lập, hành vi bầy đàn
Thông tin thu thập được sử dụng ở thể khẳng định để đánh giá mức độ ảnh hưởng cácnhân tố tài chính hành vi tới quyết định của nhà đầu tư, cụ thể tiêu chí thông tin cần thuthập như sau:
Tâm lý dựa vào kinh nghiệm:
-Tình huống điển hình (2 biến): Đầu tư vào cổ phiếu “hot”, quyết định dựa vào tăng trưởngcủa quá khứ
-Quá tự tin (4 biến): Tin vào khả năng và kinh nghiệm của mình
-Bám vào những giá trị đã thiết lập (2 biến): so sánh giá khi quyết định mua, bị ảnh hưởng bởikinh nghiệm từng trải
-Hành vi bầy đàn (4 biến): xuôi theo số đông trong thời gian ngắn, ra quyết định dựa vàongười thân, đồng nghiệp và bạn bè, ra quyết định dự vào nhà đầu tư bên ngoài, ra quyết địnhdựa vào các chuyên gia
Phương pháp xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS và EXCEL để
thống kê và xử lý dữ liệu, sau đó dùng bảng kết quả xử lý để phân tích, mô tà và đánh giá
Sử dụng phân tích thống kê SPSS:
Trang 18 Thống kê mô tả (Descriptive): mô tả giá trị trung bình mức độ ảnh hưởngcác nhân tố tài chính hành vi đến tiến trình ra quyết định theo các tiêu chí đã đặt ra mànhà đầu tư đã đánh giá.
Đánh giá độ tin cậy của thang đo: Độ tin cậy của thang đo được đánh giá
qua hệ số Cronbach’s Alpha, các biến không phù hợp sẽ bị loại nếu hệ số tương quantổng biến (Corrected Item – Total Correlation) nhỏ (<0.3) và thang đo sẽ được chấpnhận khi hệ số Cronbach’s Alpha đạt yêu cầu (>0.6), nếu Cronbach’s Alpha đạt từ 0.8trở lên thì thang đo lường là tốt và mức độ tương quan sẽ càng cao hơn
Đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến quan sát nhân tố hành vi
Đánh giá độ tin cậy của thang đo quyết định đầu tư
Phân tích nhân tố:
- Các biến độc lập: Gạn lọc các biến độc lập bằng cách xét mức độ tương quan và ảnhhưởng các biến với nhau; kiểm tra mức độ tương quan của chúng theo nhóm biến vànhóm các biến quan sát thành từng nhóm (biến mới): F1, F2, F3, F4 , F5, F6 bằng cách lấy
giá trị trung bình cho tất cả những biến đứng chung trong cột Component và phải thỏamãn yêu cầu khi hệ số Kaiser-Mayer-Olkin (KMO) có giá trị lớn hơn 0.5, các hệ sốchuyển tải nhân tố nhỏ hơn 0.5 sẽ tiếp tục bị loại khỏi nhóm biến để đảm bảo sự hội tụgiữa các biến trong một nhân tố, điểm dừng khi eigenvalue lớn hơn 1 và tổng phươngsai trích lớn hơn 0.5
- Các biến phụ thuộc: Gọi Y là biến phụ thuộc (Quyết định của nhà đầu tư) được đo lườngbằng bốn biến quan sát, các biến quan sát có hệ số factor loading nhỏ hơn 0.5 sẽ bị loại
vì không đảm bảo đủ độ hội tụ với các biến còn lại trong thang đo
Phân tích hồi quy - tương quan: Nhằm mục đích đánh giá ảnh hưởng quyết định của nhà đầu
tư (biến phụ thuộc) theo các nhân tố tài chính hành vi (biến độc lập), ta tiến hành lập phươngtrình hồi quy: Analyze Regression Linear
Y = β 0 + ß1F1+ ß2F2 + ß3F3 + ß4F4 + ß5F5+ ß6F6+ ε
Kiểm định độ phù hợp của mô hình bằng kiểm định F
Với giải thuyết Ho: βj = 0 (với j = 1, 2, …, 6)j = 0 (với j = 1, 2, …, 6)
Nếu giá trị sig < 0,05 thì bác bỏ giả thuyết H0, kết luận mô hình hồi quy ở trên phùhợp với bộ dữ liệu, ít nhất có 1 biến độc lập có ảnh hưởng đáng kể đến biến phụ thuộc
Nếu R2 và R2 hiệu chỉnh > 0.3 Kết luận mô hình phù hợp
Dựa vào bảng trọng số hồi quy để tìm những biến độc lập có ảnh hưởng đáng kể vềthống kê đến biến phụ thuộc (với điều kiện sig < 0.05) Dựa vào hệ số βj = 0 (với j = 1, 2, …, 6) trong bảngtrọng số hồi quy để so sánh tác động của các nhân tố Fi lên Y Nhân tố nào có hệ số βj = 0 (với j = 1, 2, …, 6)lớn hơn nghĩa là nhân tố đó tác động đến biến phụ thuộc Y (Quyết định của nhà đầu tưnhiều hơn) nhiều hơn
3.4 Kết quả khảo sát
3.4.1 Phân tích mô tả.
3.4.1.1 Quyết định của nhà đầu tư về tình huống điển hình.
Qua số liệu thống kê và hình 3.1 (Phụ lục 1) cho thấy có 54 trong tổng số 173 người thamgia khảo sát, tương ứng 31% nhà đầu tư đồng ý rằng “việc đầu tư vào các cổ phiếu đang “hot”trên thị trường dù có nhiều rủi ro nhưng là cách đầu tư mang lại hiệu quả sinh lời nhanh nhất”(RP1), có 27% nhà đầu tư không đồng ý cũng không phản đối, và có tới 42% nhà đầu tư lạikhông đồng ý với yếu tố này Kết quả thống kê cũng cho thấy chỉ có 45 người tương ứng với
Trang 1926% số nhà đầu tư đánh giá rằng “cổ phiếu có kết quả tăng trưởng tốt trong quá khứ thường
sẽ có sự tăng trưởng tốt trong tương lai” (RP2), trong khi đó có tới 37 % nhà đầu tư khôngđồng ý và 37% nhà đầu tư giữ ý kiến trung lập với phát biểu này
Dựa vào biều đồ giá trị trung bình của các biến RP1, RP2 tính trên thang đo likert 5 thìđiểm số trung bình của 2 biến này ở mức dưới 3 RP1 (2.82) Rp2 (2.84), điều đó có nghĩa là đaphần các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư họ không để ý tới yếu tố tình huống điển hình Mặc
dù cổ phiếu có thể đang rất hot và có kết quả tăng trưởng tốt trong quá khứ nhưng những điều
đó chưa chiếm được sự quan tâm của các nhà đầu tư
3.4.1.2 Quyết định của nhà đầu tư về quá tự tin
Số liệu thống kê cho thấy tâm lý quá tự tin thể hiện rất rõ nét trong nhận định của nhà đầu
tư về chính bản thân mình, có tới 91 nhà đầu tư trong số 173 người, ứng với 52% nhà đầu tưcho rằng khả năng lựa chọn chứng khoán của mình ở từ mức tốt trở lên, trong đó có tới 68%số người cho rằng mình có khả năng lựa chọn chứng khoán tốt hơn so với người khác (OV2) Hình 3.2 (Phụ lục 1) cho ta thấy điểm số trung bình của các biến OV1, OV2, OV3 đều cóđiểm số trên mức trung bình ngoại trừ biến OV4 thấp hơn Điều này thể hiện tâm lý quá tự tintồn tại ở nhà đầu tư trong mẫu Đặc biệt OV1 (nhà đầu tư hoàn toàn có đủ kiến thức và kinhnghiệm để phân tích tình hình thị trường) có điểm số trung bình cao vượt bậc 3.76 điểm
3.4.1.3 Quyết định của nhà đầu tư về bám vào những giá trị thiết lập
Hình 3.3 (Phụ lục 1) cũng cho thấy điểm số trung bình của 2 biến AN1, AN2 đều cao hơnmức trung bình (3) cho thấy yếu tố bám vào những giá trị đã thiết lập thực sự có ảnh hưởngđến quyết định của nhà đầu tư
3.4.1.4 Quyết định của nhà đầu tư về hành vi bầy đàn
Có 122 người trong 173 nhà đầu tư tham gia khảo sát, tức 71 % nhà đầu tư khẳng định họkhi đưa ra quyết định mua/bán cổ phiếu trong một khoảng thời gian ngắn thì việc xuôi theo xuhướng của số đông là phương án nhanh và khá chắc chắn (HB1) Khi được hỏi thông tin thamkhảo có độ tin cậy cao là thông tin từ người thân, bạn bè, đồng nhiệp (HB2) thì có 89 người,tức 52% nhà đầu tư đồng ý với điều đó Về việc dựa vào tình hình giao dịch hàng ngày củanhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán để ra quyết định đầu tư là biện pháp đầu
tư an toàn và hiệu quả (HB3) thì có tới 75 nhà đầu tư hay 44% người đồng ý, qua đây ta cóthể thấy rằng các nhà đầu tư của chúng ta rất tin tưởng các nhà đầu tư nước ngoài, phải chăng
họ cho rằng kiến thức về chứng khoán của các nhà đầu tư nước ngoài là rất tốt và đáng tincậy Tuy nhiên khi được hỏi nhà đầu tư nên tuân theo những khuyến nghị của các chuyên giavề chứng khoán (HB4) thì chỉ có 47 nhà đầu tư hay 43% người đồng ý, điều đó cho thấy nhàđầu tư rất tự tin họ thường đi theo bản thân và đám đông
3.4.1.5 Quyết định của nhà đầu tư về sự ghét lỗ
Dựa vào kết quả thống kê và hình 3.5 (Phụ lục 1) đa phần các nhà đầu tư có tâm lý ghét
lỗ, có tới 144 người tức 83% nhà đầu tư thấy rằng khi xét cùng 1 đơn vị giá trị về lợi nhuậnhoặc thua lỗ thì cảm giác buồn khi thua lỗ thường mạnh hơn so với cảm giác vui sướng khigặt hái được lợi nhuận trong đầu tư (LA1) Tương tự như vậy thì ta thấy các biến quan sát cònlại đều có giá trị trung bình lớn hơn 3 thể hiện thái độ ghét lỗ rõ ràng của các nhà đầu tư thamgia khảo sát Đặc biệt biến LA1 có điểm số trung bình cao vượt 4.25
3.4.1.6 Quyết định của nhà đầu tư về sự tiếc nuối
Qua thống kê và biểu đồ 3.6 (Phụ lục 1) thì ta thấy đa phần các nhà đầu tư sẽ hành độngngay khi có một thay đổi nhỏ về lợi nhuận của họ vì sự tiếc nuối của các nhà đầu tư, họ hànhđộng chỉ vì những lợi nhuận nhỏ trước mắt mà ít quan tâm đến lợi nhuận tiềm năng trongtương lai
Trang 203.4.1.7 Mức độ đồng ý của nhà đầu tư về quyết định đầu tư chứng khoán
Dựa vào bảng thống kê và biểu đồ 3.7 (Phụ lục 1) thì ta thấy phần lớn các nhà đầu tư chorằng sự biến động về giá cả chứng khoán ở thời điểm hiện tại, thông tin kinh tế vĩ mô trongvà ngoài nước, lịch sử về xu hướng giá cổ phiếu, báo cáo lợi nhuận và tinh hình hoạt độngcủa công ty niêm yết là những nhân tố có ảnh hưởng rất lớn tới quyết định đầu tư của họ, đây
có thể coi là những nhân tố điển hình mà các nhà đầu tư quan tâm để đưa ra quyết định đầutư
Hình 3.8: Biểu đồ giá trị trung bình của 6 nhóm yếu tố hành vi và biến đại diện quyết định của nhà đầu tư.
Qua biểu đồ 3.8 (Phụ lục 1) cho thấy hầu hết các nhóm yếu tố đều có giá trị trung bình lớnhơn 3 Đặc biệt nhóm yếu tố bám vào giá trị đã thiết lập và sự ghét lỗ có mức điểm trung bìnhcao nhất Tuy nhiên, có hai nhóm thể hiện chưa rõ ràng là tình huống điển hình và sự nuốitiếc
3.4.1.8 Mô tả đối tượng khảo sát
a Thời gian đầu tư
Hình 3.9 (Phụ lục 1) cho thấy trong 173 nhà đầu tư cá nhân được khảo sát thì có 54% nhàđầu tư tham gia thị trường chứng khoán từ 1 đến 3 năm Số lượng nhà đầu tư cá nhân có thờigian tham gia thị trường từ 1 năm trở lên chiếm tỷ lệ 85% Còn lại 15% là tỷ lệ của các nhàđầu tư mới tham gia vào thị trường trong vòng 1 năm
b Số vốn đầu tư
Kết quả thống kê hình 3.10 (Phụ lục 1) cho thấy có 47% nhà đầu tư tham gia khảo sát cósố vốn đầu tư ở mức từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng và có 33% có số vốn từ 500 triệuđồng đến 1 tỷ đồng Trong khi đó chỉ có 6% nhà đầu tư có số vốn dưới 100 triệu đồng và 14%trên 1 tỷ đồng
c Nhóm nhà đầu tư
Kết quả thống kê hình 3.11 (Phụ lục 1) cho thấy, các nhà đầu tư cá nhân được khảo sát rấtyêu thích chiến lược đầu tư ngắn hạn (chiếm 73% trong tổng số các nhà đầu tư được khảosát) Chiến lược đầu tư ngắn hạn và trung hạn chiếm tỷ lệ 84% và có 15% số người được khảosát lựa chọn chiến lược đầu tư dài hạn
Tình
huốn
g điển h h
Sự gh
ét lỗ
Sự n
uối tiếc
Trang 21d Quyết định của nhà đầu tư về tài chính hành vi theo thời gian tham gia trên thị trường từ 1 đến 3 năm.
Dựa vào số liệu thống kê và hinh 3.12 cho thấy rằng các nhà đầu tư có thời gian tham giavào thị trường chứng khoán từ 1 đến 3 năm đánh giá rằng yếu tố bám vào những giá trị đãthiết lập ảnh hưởng đến quyết định đầu tư nhiều nhất với giá trị trung bình là 3.98, trong khi
đó hai yếu tố là tình huống điển hình và sự nuối tiếc lại bị đánh giá thấp dưới mức trung bình(2.78)
e Phân tích sự khác biệt trong tâm lý về hành vi bầy đàn của những nhà đầu tư có số vốn đầu tư khác nhau trên thị trường.
Qua kết quả kiểm định nhóm bảng 1 (Phụ lục 1) cho thấy không có sự khác biệt trong tâmlý về hành vi bầy đàn ở các nhóm nhà đầu tư có số vốn đầu tư khác nhau trên thị trường Tuynhiên, các nhóm nhà đầu tư có mức độ đồng ý khác nhau đối với các hành động thuộc về hành
vi bầy đàn Nhóm nhà đầu tư với số vốn đầu tư từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng thể hiện các ý kiếntrung lập nhất, trong khi nhóm các nhà đầu tư từ 100 triệu đến 500 triệu đồng thể hiện ý kiếnđồng ý thấp nhất
3.4.1.9 Phân tích sự khác biệt trong tâm lý quá tự tin của những nhà đầu tư có thời gian tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán khác nhau.
Kết quả kiểm định nhóm bảng 2 (Phụ lục 1) cho thấy không có sự khác biệt về tâm lý quátự tin của các nhóm nhà đầu tư có thời gian tham gia đầu tư khác nhau trên thị trường chứngkhoán Tuy nhiên, mức độ đồng ý đối với các hành vi được cho là thể hiện tâm lý quá tự tinthì khác nhau giữa các nhóm nhà đầu tư Những nhà đầu tư tham gia vào thị trường dưới 1năm có thái độ quá tự tin cao nhất, trong khi đó nhóm những nhà đầu tư tham gia vào thịtrường trong khoảng thời gian 1-3 năm lại thể hiện thái độ quá tự tin thấp nhất
3.4.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo.
Hệ số Cronbach’s Alpha là một phép kiểm định thống kê dùng để kiểm tra sự chặt chẽ vàtương quan giữa các biến quan sát Phương pháp này cho phép ta loại bỏ những biến khôngphù hợp và hạn chế các biến rác trong mô hình nghiên cứu vì nếu không chúng ta không thểbiết được chính xác độ biến thiên cũng như độ lỗi của các biến
3.4.2.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến quan sát yếu tố tình huống điển hình.
Thông qua nhóm bảng 3 (Phụ lục 1) Chỉ số Cronbach’s Alpha =0,652 > 0,6 chứng tỏ độtin cậy của thang đo là khá cao Nên ta xét thêm chỉ số Corrected Item – Total Correlation chothấy giá trị bằng 0,486 > 0,3 đối với biến đầu tư cổ phiếu hot sẽ sinh lời nhanh và bằng 0,486
> 0,3 đối với biến tăng trưởng tốt trong quá khứ sẽ tăng trưởng tốt trong tương lai Các hệ sốtương quan biến đều > 0,3 nên trong tình huống điển hình ta vẫn giữa nguyên hai biến RP1,RP2
3.4.2.2 Đánh gía độ tin cậy của thang đo các biến trong nhóm yếu tố quá tự tin.
Qua nhóm bảng 4 (Phụ lục 1) chỉ số Cronbach’s Alpha =0,629 > 0,6 chứng tỏ độ tin cậycủa thang đo là khá cao Các hệ số tương quan biến đều > 0,3 nên trong biến quá tự tin ta vẫngiữa nguyên bốn biến OV1, OV2, OV3, OV4
3.4.2.3.Đánh gía độ tin cậy của thang đo các biến trong nhóm yếu tố bám vào những giá trị đã thiết lập.
Qua nhóm bảng 5 (Phụ lục 1) chỉ số Cronbach’s Alpha =0,608 > 0,6 chứng tỏ độ tin cậycủa thang đo là khá cao Nên ta xét thêm chỉ số Corrected Item – Total Correlation cho thấygiá trị bằng 0,439 > 0,3 đối với biến quyết định mua dự vào giá bán cổ phiếu trước đây hoặcgiá chào sàn đầu tiên Các hệ số tương quan biến đều > 0,3 nên trong nhóm yếu tố bám vàonhững giá trị đã thiết lập ta vẫn giữa nguyên hai biến AN1, AN2
Trang 223.4.2.4 Đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến trong nhóm yếu tố hành vi bầy đàn.
Qua nhóm bảng 6 (Phụ lục 1) chỉ số Cronbach’s Alpha =0,645 > 0,6 chứng tỏ độ tin cậycủa thang đo là khá cao Nên ta xét thêm chỉ số Corrected Item – Total Correlation cho thấygiá trị bằng 0,375 > 0,3 đối với biến mua hoặc bán cổ phiếu trong thời gian ngắn thì theo sốđông là phương án nhanh và khá chắc chắn, bằng 0,43 > 0,3 đối với biến thông tin có độ tincậy cao từ người thân, bạn bè và đồng nghiệp, bằng 0,501 đối với biến dựa vào giao dịch củanhà đầu tư nước ngoài là biện pháp đầu tư khá an toàn và hiệu quả và bằng 0,396 > 0,3 đốivới biến tuân theo những khuyến nghị của các chuyên gia chứng khoán
3.4.2.5 Đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến trong nhóm yếu tố sự ghét lỗ.
Các hệ số tương quan biến đều > 0,3 nên trong nhóm yếu tố sự ghét lỗ ta vẫn giữa nguyên
ba biến LA1, LA2, LA3
3.4.2.6 Đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến trong nhóm yếu tố sự tiếc nuối.
Qua nhóm bảng 8 (Phụ lục 1) chỉ số Cronbach’s Alpha =0,656 > 0,6 chứng tỏ độ tin cậycủa thang đo là khá cao Nên ta xét thêm chỉ số Corrected Item – Total Correlation cho thấygiá trị bằng 0,491 > 0,3 đối với biến giữa lại cổ phiếu khi giá cổ phiếu giảm sau chu kì muaT+4, và bằng 0,491 > 0,3 đối với biến bán ngay cổ phiếu khi giá tăng do nắm giữ cổ phiếuthua lỗ quá lâu Các hệ số tương quan biến đều > 0,3 nên trong nhóm yếu tố bám vào nhữnggiá trị đã thiết lập ta vẫn giữa nguyên hai biến RG1, RG2
3.4.2.7 Đánh gía độ tin cậy của thang đo các biến trong 6 nhóm yếu tố.
Qua nhóm bảng 9 (Phụ lục 1) chỉ số Cronbach’s Alpha =0,855 > 0,6 chứng tỏ độ tin cậy củathang đo là khá cao Nên ta xét thêm chỉ số Corrected Item – Total Correlation cho thấy giá trịmột số biến < 0,3
3.4.3 Phân tích nhân tố.
Sau khi chạy bảng phân tích nhân tố ta được kết quả sau:
Dựa vào nhóm bảng 10 (Phụ lục 1) vào chỉ số KMO = 0,595 hay sig = 0,00 < 0,05 ta bác bỏgiả thuyết Ho (các biến không có tương quan với nhau)
Dựa vào bảng Total Variance Explained ta thấy theo tiêu chuẩn Eigenvalue lớn hơn 1 thì chỉ
có 6 nhân tố được rút trích ra Giá trị Cumulative % cho biết 6 nhân tố đầu giải thích 80%biến thiên của dữ liệu
Tiếp theo ta xem xét ma trận xoay xem các biến nào có tương quan mạnh với nhau:
Qua nhóm bảng 11 (Phụ lục 1) ta thấy chia ra làm 6 nhóm biến có những tính chung Ta tiếnhành gom biến và đặt tên cho mỗi nhóm:
- Nhóm F1: bao gồm 4 biến RG1, RP1, RP2, RG2 được đặt tên là nhóm biến tình huống điểnhình và sự tiếc nuối
- Nhóm F2: Bao gồm 5 biến LA1, LA2, AN2, LA3, AN1 được đặt tên là nhóm biến bám vàocác giá trị đã thiết lập và sự ghét lỗ
- Nhóm F3: Bao gồm 2 biến OV2, HB2 được đặt tên là nhóm biến tin vào khả năng lựa chọnchứng khoán tốt hơn và dựa vào thông tin tin cậy từ bạn bè
- Nhóm F4: Bao gồm 2 biến OV4, HB4 được đặt tên là nhóm biến kĩ năng riêng và nghe theocác chuyên gia chứng khoán
- Nhóm F5: Bao gồm 2 biến OV1, HB1 được đặt tên là nhóm biến tự tin vào khả năng phântích, dự báo thị trường và quyết định mua bán trong khoảng thời gian ngắn theo số đông làphương án nhanh và chắc chắn