1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh vào phân tích tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng

73 293 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường của Việt Nam đã kéo theo sự thay đổi tư duy của các doanh nghiệp nhất là trong phương thức quản lý.Đặc biệt là trong điều kiện ngày nay khi mà đất nước ta gia nhập vào tổ chức Thương mại thế giới WTO thì tất yếu các doanh nghiệp phải đối mặt với những khó khăn thử thách và phải chấp nhận quy luật đào thải của thị trường.Trước thử thách đó đòi hỏi doanh nghiệp ngày càng phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh,hiệu quả sử dụng vốn,quản lý và sử dụng tốt nguồn tài nguyên vật chất cũng như nhân lực.Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải xây dựng phương hướng , chiến lược kinh doanh và mục tiêu tương lai sao cho phù hợp với nguồn nhân lực doanh nghiệp hiện có.Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước, tình hình tài chính của doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng đối với những nhà quản lý cũng như với những nhà đầu tư quan tâm đến doanh nghiệp. Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính là một việc làm vô cùng cần thiết. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp nhằm để đánh giá một cách đầy đủ, chính xác tình hình tổ chức, phân phối, sử dụng và quản lý các loại vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp như thế nào, đồng thời phát hiện những rủi ro tiềm tàng, tiên đoán xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.Theo lý luận có rất nhiều phương pháp phân tích được sử dụng tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp. Nhìn chung để phân tích hiệu quả doanh nghiệp cần sử dụng kết hợp nhiều phương pháp phân tích, tuy nhiên hoạt động phân tích tài chính của Công ty kinh doanh than Bắc Lạng còn rất sơ sài và đơn giản, nhân viên thực hiện phân tích tài chính không theo những phương pháp thông thường như là phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh. Các tỷ số được tính toán nhưng chưa nêu được ý nghĩa, chưa lý giải nguyên nhân và đánh giá tình hình tài chính.

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 3

1.1.Khái quát về phân tích tài chính doanh nghiệp 3

1.1.1.Doanh nghiệp và tài chính doanh nghiệp 3

1.1.2 Khái niệm, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp 5

1.2 Mục tiêu phân tích tài chính 8

1.2.1 Đối với các nhà quản lý tài chính doanh nghiệp 8

1.2.2 Đối với các nhà đầu tư 8

1.2.3 Những người cho doanh nghiệp vay vốn 9

1.2.4 Những người lao động trong doanh nghiệp 9

1.2.5 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước 9

1.3 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính 10

1.3.1.Bảng cân đối kế toán 10

1.3.2.Báo cáo kết quả kinh doanh 11

1.3.4.Thuyết minh báo cáo tài chính 12

1.3.5.Bảng tài trợ 12

1.4.1.Thu thập thông tin 12

1.4.2.Xử lý thông tin 13

1.4.3 Dự đoán và quyết định 13

1.5 Phương pháp phân tích tài chính 13

1.5.1.Phương pháp so sánh 13

1.5.2.Phương pháp phân tích tỷ số 14

1.5.3.Phương pháp phân tích Dupont 15

1.5.4.Nội dung phân tích tài chính 18

Trang 2

CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CHỈ SỐ VÀ PHƯƠNG

PHÁP SO SÁNH ĐỂ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY KINH DOANH

THAN BẮC LẠNG 25

2.1.Tổng quan về Công ty kinh doanh than Bắc Lạng 25

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 25

2.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty 26

2.1.3.Chức năng, nhiệm vụ của công ty kinh doanh than Bắc Lạng 28

2.1.4 Kết quả kinh doanh của công ty kinh doanh than Bắc Lạng 29

2.2 Ứng dụng phương pháp phân tích chỉ số và phương pháp so sánh để phân tích tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng 34

2.2.1 Phương pháp phân tích tài chính của công ty kinh doanh than Bắc Lạng 34

2.2.2 Ứng dụng phương pháp phân tích chỉ số và phương pháp so sánh để phân tích tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng 37

2.3 Đánh giá tình hình tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng 59

2.3.1 Kết quả đạt được 59

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 59

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DỰA TRÊN KẾT QUẢ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY KINH DOANH THAN BẮC LẠNG 61

3.1 Định hướng phát triển Công ty kinh doanh than Bắc Lạng trong thời gian tới 61

3.1.1 Công tác thị trường 61

3.1.2 Đầu tư phát triển 61

3.1.3 Quản lý kinh doanh tài chính 61

3.2 Các giải pháp cải thiện tình hình tài chính dựa trên kết quả phân tích tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng 62

3.2.1 Giải pháp cải thiện tình hình tài chính 62

3.3 Kiến nghị 66

KẾT LUẬN 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Tính toán diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn 24

Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý Công ty kinh doanh Than Bắc Lạng 26

Bảng 2.1 : Bảng cân đối kế toán năm 2011, 2012, 2013 của Công ty kinh doanh than Bắc Lạng 30

Bảng 2.2: Báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong ba năm (từ năm 2011 đến năm 2013) 32

Bảng 2.3: Chỉ tiêu được sử dụng trong phân tích tài chính của Công ty kinh doanh than Bắc Lạng 36

Bảng 2.4: Chỉ tiêu khả năng thanh toán 39

Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu tài chính 42

Bảng 2.6 : Chỉ tiêu khả năng hoạt động 49

Bảng 2.7 : Chỉ tiêu về khả năng sinh lợi 54

Bảng 2.8: Bảng diễn biến sử dụng nguồn vốn của công ty 58

Biểu đồ 2.1: Khả năng thanh toán hiện hành 40

Biểu đồ 2.2: Khả năng thanh toán nhanh 41

Biểu đồ 2.3: Hệ số nợ 43

Biểu đồ 2.4: Khả năng thanh toán lãi vay 44

Biểu đồ 2.5: Cơ cấu tài sản 45

Biểu đồ 2.6: Cơ cấu nguồn vốn 46

Biểu đồ 2.7: Vòng quay tiền 49

Biểu đồ 2.8: Vòng quay dự trữ 50

Biểu đồ 2.9: Kỳ thu tiền bình quân 51

Biểu đồ 2.10: Hiệu suất tài sản cố định 51

Biểu đồ 2.11: Hiệu suất sử dụng tài sản lưu động 52

Biểu đồ 2.12: Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm 55

Biểu đồ 2.13: Doanh lợi tài sản 56

Biểu đồ 2.14: Doanh lợi vốn chủ sở hữu 57

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU



1 Lý do chọn đề tài

Quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường của Việt Nam đã kéo theo sự thay

đổi tư duy của các doanh nghiệp nhất là trong phương thức quản lý.Đặc biệt là trong

điều kiện ngày nay khi mà đất nước ta gia nhập vào tổ chức Thương mại thế giới WTO

thì tất yếu các doanh nghiệp phải đối mặt với những khó khăn thử thách và phải chấp

nhận quy luật đào thải của thị trường.Trước thử thách đó đòi hỏi doanh nghiệp ngày

càng phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh,hiệu quả sử dụng vốn,quản lý và sử

dụng tốt nguồn tài nguyên vật chất cũng như nhân lực.Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải

xây dựng phương hướng , chiến lược kinh doanh và mục tiêu tương lai sao cho phù

hợp với nguồn nhân lực doanh nghiệp hiện có

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước,

tình hình tài chính của doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng đối với những nhà quản

lý cũng như với những nhà đầu tư quan tâm đến doanh nghiệp Chính vì vậy, phân tích

tình hình tài chính là một việc làm vô cùng cần thiết Phân tích tình hình tài chính doanh

nghiệp nhằm để đánh giá một cách đầy đủ, chính xác tình hình tổ chức, phân phối, sử

dụng và quản lý các loại vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp như thế nào, đồng thời

phát hiện những rủi ro tiềm tàng, tiên đoán xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong

tương lai

Theo lý luận có rất nhiều phương pháp phân tích được sử dụng tiến hành phân

tích tài chính doanh nghiệp Nhìn chung để phân tích hiệu quả doanh nghiệp cần sử

dụng kết hợp nhiều phương pháp phân tích, tuy nhiên hoạt động phân tích tài chính

của Công ty kinh doanh than Bắc Lạng còn rất sơ sài và đơn giản, nhân viên thực hiện

phân tích tài chính không theo những phương pháp thông thường như là phương pháp

phân tích tỷ số và phương pháp so sánh Các tỷ số được tính toán nhưng chưa nêu

được ý nghĩa, chưa lý giải nguyên nhân và đánh giá tình hình tài chính

Nhìn có vẻ thấy công ty sử dụng phương pháp tỷ số và phương pháp so sánh

nhưng thực chất không sử dụng theo phương pháp nào Bởi khi thực hiện nên phân

tích, không đánh giá các chỉ tiêu, không nêu ý nghĩa của các chỉ tiêu cho nên không

đưa ra được kết luận từ các chỉ tiêu phân tích, mặt khác so sánh số liệu các năm

không tính tăng, giảm bao nhiêu, đưa ra các nguyên nhân đưa đến tình trạng đó Kết

thúc phân tích tài chính không đưa ra được các quyết định, Do đó có thể nói Công ty

kinh doanh than Bắc Lạng không có hoạt động phân tích tài chính

Chất lượng phân tích quyết định hiệu quả đầu tư của Công ty, do vậy việc: Ứng

dụng phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh vào phân tích tài chính nói

Trang 6

chung và chất lượng phân tích tài chính nói riêng là nhu cầu cấp thiết để tăng hiệu quả

đầu tư và nâng cao khả năng cạnh tranh

Để thực hiện điều đó thì tự bản thân doanh nghiệp phải hiểu rõ tình trạng tài

chính của chính mình để điều chỉnh quá trình kinh doanh cho phù hợp.Bởi tài chính

cũng như dòng máu chảy trong cơ thể doanh nghiệp, bất kỳ sự ngưng trệ nào cũng ảnh

hưởng xấu đến toàn bộ doanh nghiệp

Trên thực tế, vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp chưa thực sự chú trọng đến công

tác phân tích tài chính, thậm chí còn không tách bạch giữa công tác phân tích tài chính

và công tác kế toán.Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, em đã chọn đề tài ”

Ứng dụng phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh vào phân tích tài

chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng” để làm báo cáo thực tập của mình.

Dựa vào kiến thức đã học và quá trình thực tập tại công ty, các báo cáo tài

chính do công ty cung cấp là căn cứ để em hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Chuyên đề gồm 3 Phần chính :

Chương 1: Tổng quan về phân tích tài chính trong doanh nghiệp

Chương 2: Ứng dụng phương pháp phân tích chỉ số và phương pháp so sánh để

phân tích tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng

Chương 3 : Giải pháp cải thiện tình hình tài chính dựa trên kết quả phân tích tài

chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng

Do thiếu kinh nghiệm hiểu biết thực tế nên trong bài chuyên đề không tránh khỏi

những thiếu sót Em kính mong sự bổ sung đóng góp ý kiến của cô giáo để em hoàn

thiện chuyên đề hơn

Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu các phương pháp phân tích tình hình tài chính mà công ty đã dùng để

thấy được mặt mạnh, mặt yếu trong cách phân tích tài chính của công ty, từ đó ta đưa

ra đánh giá về tình hình tài chính và các đề xuất, biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài

chính tại công ty

- Đánh giá khái quát tình hình phân tích tài chính của công ty

- Phân tích tình hình và khả năng thanh toán

- Phân tích hiệu quả sử dụng vốn

- Phân tích các chỉ tiêu sinh lời

- Nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích chỉ số và phương pháp so sánh

để phân tích tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng

Trang 7

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP

1.1.Khái quát về phân tích tài chính doanh nghiệp

1.1.1.Doanh nghiệp và tài chính doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định,

được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các

hoạt động kinh doanh- tức là thực hiện một hoặc một số hoặc tất cả các công đoạn của

quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị

trường nhằm mục đích sinh lợi

Căn cứ vào điều 4, Luật Doanh nghiệp 2005 thì doanh nghiệp có những đặc điểm

sau:

- Là đơn vị kinh tế, hoạt động trên thương trường, có trụ sở giao dịch ổn định, có

tài sản

- Đã được đăng ký kinh doanh

- Hoạt động kinh doanh

1.1.1.2 Khái niệm tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo

lập phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu nhất định Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận

trong hệ thống tài chính, tại đây nguồn tài chính xuất hiện và đồng thời đây cũng là nơi

thu hút trở lại phần quan trọng các nguồn tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh

nghiệp có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội, đến sự phát triển hay suy thoái của nền

sản xuất

Các quan hệ tài chính doanh nghiệp bao gồm:

Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước

Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với

Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp

Quan hệ giữa Doanh nghiệp với thị trường tài chính

Trang 8

Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ.

Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn

ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn

Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác

Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên

thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường sức lao động Đây là những thị trường mà tại

đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động

Quan hệ nội bộ trong doanh nghiệp

Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất- kinh doanh, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa

quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn Mối quan hệ này được thể hiện thông qua

hàng loạt các chính sách của doanh nghiệp như: chính sách cổ tức( phân phối thu

nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí

Một hàng hoá dịch vụ đầu vào hay một yếu tố sản xuất là hàng hoá hay dịch vụ

mà các nhà doanh nghiệp mua sắm để sử dụng trong quá trình sản xuất-kinh doanh

Các hàng hoá dịch vụ đầu vào kết hợp với nhau tạo ra hàng hoá dịch vụ đầu ra - đó là

hàng loạt các hàng hoá dịch vụ có ích được tiêu dùng hoặc được sử dụng trong quá

trình sản xuất-kinh doanh khá Như vậy trong một thời kỳ nhất định, các doanh nghiệp

đã chuyển hoà hàng hoá dịch vụ đầu vào thành hàng hoá dịch vụ đầu ra để trao đổi

Mối quan hệ giữa tài sản hiện có và hàng hoá dịch vụ đầu vào, hàng hoá dịch vụ đầu ra

(tức quan hệ giữa bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh) có thể mô tả

như sau:

Hàng hoá dịch vụ sản xuất - chuyển hoá Hàng hoá dịch vụ

(mua vào) (bán ra)

Trong số các tài sản mà doanh nghiệp nắm giữ có một loại tài sản đặc biệt - đó là

tiền Chính dự trữ tiền cho phép các doanh nghiệp mua các hàng hoá dịch vụ cần thiết

để tạo ra những hàng hoá dịch vụ để phục vụ cho mục đích trao đổi Mọi quá trình trao

đổi đều được thực hện qua trung gian là tiền và khái niệm dòng vật chất và dòng tiền

phát sinh từ đó, tức sự dịch chuyển hàng hoá, dịch vụ và sự dịch chuyển tiền giữa các

đơn vị và tổ chức kinh tế

Như vậy ứng với dòng vật chất đi vào (hàng hoá, dịch vụ đầu vào) là dòng tiền đi

ra; ngược lại, tương ứng với dòng vật chất đi ra (hàng hoá, dịch vụ đầu ra) là dòng tiền

đi vào Quy trình này được mô tả theo sơ đồ sau:

Trang 9

Dòng vật chất đi vào Dòng tiền đi ra (xuất quỹ)

Dòng vật chất đi ra Dòng tiền đi vào (nhập quỹ)

Sản xuất, chuyển hoá là một quá trình công nghệ Một mặt, nó được đặc trưng

bởi thời gian chuyển hoá hàng hoá và dịch vụ, mặt khác nó đặc trung bởi yếu tố cần

thiết cho sự vận hành - đó là tư liệu lao động và sức lao động Quá trình công nghệ

này có tác dụng quyết định đến cơ cấu vốn và hoạt động trao đổi của doanh nghiệp

Hoạt động tài chính doanh nghiệp trả lời các câu hỏi chính sau đây:

- Đầu tư vào đâu như thế nào cho phù hợp với hình thức kinh doanh đã chọn,

nhằm đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp

- Nguồn vốn tài trợ được huy động ở đâu, vào thời điểm nào để đạt được cơ cấu

vốn tối ưu và chi phí vốn thấp nhất

- Quản lý dòng tiền vào, dòng tiền ra sao cho đảm bảo mức ngân quỹ tối ưu

thông qua việc trả lời câu hỏi: lợi nhuận doanh nghiệp được sử dụng như thế nào Phân

tích đánh giá kiểm tra các hoạt động tài chính như thế nào, để thường xuyên đảm bảo

trạng thái cân bằng tài chính, và quản lý các hoạt động tài chính ngắn hạn như thế nào

để đưa ra quyết định thu, chi phù hợp

1.1.2 Khái niệm, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính doanh nghiệp là một khâu cơ bản trong tài chính doanh

nghiệp, có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động khác của doanh nghiệp Phân tích tài

chính là sử dụng tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử lý

các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài

chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động

của doanh nghiệp

Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các báo cáo

tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống các phương pháp,

công cụ, kỹ thuật phân tích giúp người sử dụng từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá

toàn diện, tổng hợp khái quát, vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh

Sản xuất chuyển hóa

Trang 10

nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo, đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ

và đầu tư phù hợp

Ý nghĩa của việc phân tích tài chính

Phân tích tài chính của doanh nghiệp hay cụ thể hóa là việc phân tích các báo

cáo tài chính của doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối chiếu, so sánh các số liệu, tài

liệu về tình hình tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mục đích đánh giá tiềm

năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai Báo cáo tài chính là

những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn và công nợ cũng như tình hình

tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Báo cáo tài chính rất hữu ích

đối với việc quản trị doanh nghiệp, đồng thời là nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối

với những người bên ngoài doanh nghiệp Do đó, phân tích báo cáo tài chính là mối

quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu

tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng, các nhà cho vay tín dụng, các cơ quan

chính phủ, người lao động…Mỗi nhóm này có những nhu cầu thông tin khác nhau

Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài

chính doanh nghiệp.Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý

của nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng

trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh Do vậy, sẽ có nhiều đối

tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: chủ doanh nghiệp, nhà

tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng… kể cả các cơ quan nhà nước và người làm công,

mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ

khác nhau

Đối với người quản lý doanh nghiệp:

Đối với người quản lý doanh nghiệp mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm

lợi nhuận và khả năng trả nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục sẽ bị cạn kiệt các nguồn

lực và buộc phải đóng cửa Mặt khác, nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán

nợ đến hạn trả cũng phải buộc ngừng hoạt động

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà quản lý doanh nghiệp phải

giải quyết ba vấn đề quan trọng sau đây:

Thứ nhất: Doanh nghiệp nên đầu tư vào đâu cho phù hợp với loại hình sản xuất

kinh doanh lựa chọn Đây chính là chiến lược đầu tư dài hạn của doanh nghiệp

Thứ hai: Nguồn tài trợ là nguồn nào?

Trang 11

Để đầu tư vào các tài sản, doanh nghiệp phải có nguồn tài trợ, nghĩa là phải có tiền

để đầu tư Các nguồn tài trợ đối với doanh nghiệp được phản ánh bên phải của bảng

cân đối kế toán Một doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hoặc vay nợ dài hạn,

ngắn hạn Vốn chủ sở hữu là khoản chênh lệch giữa giá trị của tổng tài sản và nợ của

doanh nghiệp Vấn đề ở đây đặt ra là doanh nghiệp sẽ huy động nguồn tài trợ với cơ

cấu nhơ thế nào cho phù hợp và mang lại lợi nhuận cao nhất Liệu doanh nghiệp có

nên sử dụng toàn bộ vốn chủ sở hữu để đầu tư hay kết hợp với cả các hình thức đi vay

và cho thuê? Điều này liên quan đến vấn đề cơ cấu vốn và chi phí vốn củ a doanh

nghiệp

Thứ ba: Doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như thế nào?

Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan đến vấn đề quản lý vốn

lưu động của doanh nghiệp Hoạt động tài chính ngắn hạn gắn liền với các luồng tiền

nhập quỹ và xuất quỹ Nhà quản lý tài chính cần xử lý sự lệch pha của các luồng tiền

Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp:

Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của họ là thời gian hoàn vốn,

mức sinh lãi và rủi ro Vì vậy, họ cần các thông tin về điều kiện tài chính, tình hình

hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của các doanh nghiệp

Đối với chủ nợ của doanh nghiệp

Nếu phân tích tài chính được các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp thực hiện

nhằm mục đích đánh giá khả năng sinh lời và tăng trưởng của doanh nghiệp thì phân

tích tài chính lại được các ngân hàng và các cấp tín dụng thương mại cho doanh nghiệp

sử dụng nhằm dảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp

Đối với người lao động trong doanh nghiệp

Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ doanh nghiệp, người được

hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính của

doanh nghiệp Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp có tác động trực tiếp tới tiền lương mà họ nhận được Ngoài ra trong một số

doanh nghiệp, người lao động được tham gia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất

định Như vậy, họ cũng là những người nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh

nghiệp

Đối với các cơ quan quản lý nhà nước.

Dự vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước thực

hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh,

Trang 12

hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ

và pháp luật quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện

nghĩa vụ với nhà nước và khách hàng

Kết luận

Phân tích tình hình tài chính có thể ứng dụng theo nhiều chiều khác nhau như

với mục đích tác nghiệp ( chuẩn bị các quyết định nội bộ) và với mục đích thông tin

(trong hoặc ngoài doanh nghiệp ) Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài

chính sẽ giúp cho người sử dụng thấy được thực trạng hoạt động tài chính, từ đó xác

định được nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng đến từng hoạt động kinh doanh Trên cơ

sở đó có những biện pháp hữu hiệu và ra các quyết định cần thiết để nâng cao chất

lượng công tác quản lý kinh doanh

Qua đó thấy được ý nghĩa của việc phân tích tài chính doanh nghiệp mà công việc

này ngày càng được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý, các tổ

chức công cộng Nhất là, thị trường vốn ngày càng phát triển đã tạo nhiều cơ hội để phân

tích tài chính thực sự có ích và cần thiết trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân

1.2 Mục tiêu phân tích tài chính

1.2.1 Đối với các nhà quản lý tài chính doanh nghiệp

- Đối với người quản lý doanh nghiệp mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm

kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục sẽ bị cạn kiệt các

nguồn lực và buộc phải đóng cửa Mặt khác, nếu doanh nghiệp không có khả năng

thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt động

- Tạo thành các chu kỳ đánh giá đều đặn về các hoạt động kinh doanh quá khứ,

giúp nhà quản trị tài chính đánh giá được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xác

định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp từ đó tiến hành cân đối tài chính, khả

năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ và rủi ro tài chính của doanh nghiệp

- Định hướng các quyết định của Ban giám đốc cũng như của Giám đốc tài

chính: quyết định về đầu tư, tài trợ,

- Là cơ sở cho các dự báo tài chính: kế hoạch đầu tư, phần ngân sách tiền mặt…

- Cuối cùng phân tích tài chính là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý

1.2.2 Đối với các nhà đầu tư

- Là những người cung cấp vốn cho doanh nghiệp kinh doanh, những nhà đầu

tư đặc biệt quan tâm đến giá trị của doanh nghiệp, tiền đầu tư Cả hai yếu tố này chịu

ảnh hưởng trực tiếp của lợi nhuận thu được

Trang 13

Chính điều này mà họ phải dựa vào phân tích tài chính để tự trả lời câu hỏi và

xác định xem là có nên đầu tư hay không?

- Trên cơ sở phân tích các thông tin về tình hình hoạt động, về kết quả kinh

doanh hàng năm, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinh lợi và triển vọng phát

triển của doanh nghiệp; từ đó đưa ra những quyết định phù hợp Các nhà đầu tư sẽ chỉ

chấp thuận đầu tư vào một dự án nếu ít nhất có một điều kiện là giá trị hiện tại ròng

của nó dương Khi đó lượng tiền của dự án tạo ra sẽ lớn hơn lượng tiền cần thiết để trả

nợ và cung cấp một mức lãi suất yêu cầu cho nhà đầu tư Số tiền vượt quá đó mang lại

sự giàu có cho những người sở hữu doanh nghiệp

1.2.3 Những người cho doanh nghiệp vay vốn

Những người này quan tâm đến hai vấn đề: khả năng thu hồi vốn và khả năng sinh

lời đồng vốn cho vay

Nhờ phân tích tài chính mà họ có thể dự đoán được vấn đề này

1.2.4 Những người lao động trong doanh nghiệp

Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp, người được

hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính của

doanh nghiệp Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp có tác

động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động

Thông thường người làm công ăn lương trong doanh nghiệp cũng có thể có một

số cổ phần nhỏ bé nằm trong doanh nghiệp cho nên họ cũng quan tâm đến hai vấn đề:

- Lãi trên mỗi cổ phần, cổ phiếu là bao nhiêu?

- Lãi của doanh nghiệp nhiều hay ít, có hay không?

Vì điều này ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập hàng tháng và công ăn việc làm

của họ trong tương lai

1.2.5 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước

Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhà nước

thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh

doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách,

chế độ và luật pháp quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình

thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách hàng

Tóm lại, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích

các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng thông qua một hệ thống các

Trang 14

phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từ các góc

độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách

chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu về

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo và

đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp

1.3 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính

Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông

tin: từ những thông tin nội bộ doanh nghiệp dến những thông tin bên ngoài doanh

nghiệp, từ thông tin số lượng đến thông tin giá trị Những thông tin đó đều giúp nhà

phân tích có thể dưa ra được những nhận xét kết luận tinh tế và thích đáng

Những thông tin bên ngoài, cần lưu ý thu thập thông tin chung như các thông tin

liên quan đến cơ hội kinh doanh nghĩa là tình hình chung về kinh tế tại một thời điểm

cho trước Trạng thái kinh tế: sự suy thoái hay tăng trưởng có tác động mạnh mẽ đến

kết quả kinh doanh Khi cơ hội thuận lợi, các hoạt động của doanh nghiệp được mở

rộng, lợi nhuận của công ty, giá trị của công ty cũng tăng lên, và ngược lại Khi phân

tích tài chính doanh nghiệp, điều quan trọng phải nhận thấy sự xuất hiện mang tính chu

kỳ:qua thời kỳ tăng trưởng thì sẽ đến thời kỳ suy thoái và ngược lại Tuy nhiên để

đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp, có thể sử dụng thông

tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông tin quan trọng bậc nhất

Với những đặc trưng hệ thống, đồng nhất và phong phú, kế toán hoạt động như một

nhà cung cấp quan trọng nhưng thông tin đánh giá cho phân tích tài chính Phân tích

tài chính được thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chính được hình thành thông qua

việc xử lý các báo cáo kế toán chủ yếu: đó là bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả

kinh doanh, ngân quỹ (báo cáo lưu chuyển tiền tệ)

1.3.1.Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của một

doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó Đây là báo cáo tài chính có ý nghĩa

quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan hệ

quản lý với doanh nghiệp Thông thường bảng cân đối kế toán dược trình bày dưới

dạng bảng cân đối các số dư tài khoản kế toán: một bên phản ánh tài sản, một bên phản

ánh nguồn vốn của doanh nghiệp

Bên tài sản của bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có

đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp: đó là tài

Trang 15

sản lưu động, tài sản cố định Bên nguồn vốn phản ánh số vốn để hình thành các loại

tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo: đó là vốn chủ và các khoản nợ

Các khoản mục trên bảng cân đối kế toán dược sắp xếp theo khả năng chuyển hoá

thành tiền giảm dần từ trên xuống

Bên tài sản

Tài sản lưu động: tiền chứng khoán ngắn hạn dễ bán, khoản phải thu, dự trữ Tài

sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình

Bên nguồn vốn

Nợ ngắn hạn bao gồm nợ phải trả nhà cung cấp, các khoản phải nộp,phải trả khác

nợ ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác Nợ dài hạn bao gồm

nợ dài hạn vay ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, vay bằng cách

phát hành trái phiếu Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia,

phát hành cổ phiếu mới

Dựa vào bảng cân đối kế toán, nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình

doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp Bảng cân đối kế

toán là một tư liệu quan trọngbậc nhất giúp các nhà phân tích đánh giá được khả năng

cân bằng tài chính, khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp

1.3.2.Báo cáo kết quả kinh doanh

Một thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tài chính

là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả kinh doanh Khác với bảng cân đối kế

toán, báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển tiền trong quá trình sản

xuất-kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh

nghiệp trong tương lai Báo cáo kết quả kinh doanh giúp nhà phân tích so sánh doanh

thu với số tiền thực nhập quỹ để vận hành doanh nghiệp Trên cơ sở doanh thu và chi

phí, có thể xác định được kết quả sản xuất-kinh doanh: lãi hay lỗ trong năm Như vậy

báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất-kinh doanh, phản ánh

tình hình tài chính của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Nó cung cấp

những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng tiềm năng về vốn, lao động,

kĩ thuật và trình độ quản lý sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp

Những khoản mục chủ yếu được phản ánh trên báo cáo kết quả kinh doanh:

doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ hoạt động tài chính, doanh

thu từ hoạt động bất thường và chi phí tương ứng từ các hoạt động đó

1.3.3.Ngân quỹ (báo cáo lưu chuyển tiền tệ)

Trang 16

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính Nếu bảng cân đối kế toán

những nguồn lực của cải (tài sản) và nguồn gốc của những tài sản đó; và báo cáo kết

quả kinh doanh cho ta biết chi phí và thu nhập phát sinh dể tính được kết quả lãi, lỗ

trong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập để trả lời những vấn

đề liên quan đến luồng tiền vào, ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tư bằng

tiền của doanh nghiệp trong từng thời kỳ

Để đánh giá một doanh nghiệp có đảm bảo được khả năng chi trả hay không cần

tìm hiểu tình hình ngân quỹ của doanh nghiệp Ngân quỹ thường được xác định trong

thời gian ngắn hạn (thường là từng tháng)

1.3.4.Thuyết minh báo cáo tài chính

Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin về tình hình

sản xuất, kinh doanh chưa có trong hệ thống các báo cáo tài chính, đồng thời giải thích

thêm một số chỉ tiêu mà các báo cáo tài chính chưa được trình bày, giải thích một

cách rõ ràng và cụ thể

1.3.5.Bảng tài trợ

Bảng tài trợ là một trong nhũng công cụ hữu hiệu của nhà quản lý tài chính Nó

giúp các nhà quản lý xác định rõ các nguồn cung ứng vốn và sử dụng nguồn vốn đó

Để lập được biểu kê nguồn vốn và sử dụng vốn (bảng tài trợ), trước hết phải liệt

kê sự thay đổi các khoản mục trên bảng cân đối kế toán từ đầu kỳ đến cuối kỳ

Tóm lại, để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, các nhà phân tích cần

phải đọc và hiểu được báo cáo tài chính, qua đó, nhận biết được và tập trung vào các

chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu phân tích của họ Tất nhiên, muốn

được như vậy, các nhà phân tích cần tìm hiểu thêm nội dung chi tiết các khoản mục

của báo cáo tài chính trong các môn học liên quan

1.4 Trình tự phân tích tài chính doanh nghiệp.

1.4.1.Thu thập thông tin

Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết

minh thực trạng sử dụng tình hình tài chính của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình

dự đoán tài chính Nó bao gồm những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài,

những thông tin kế toán và những thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng

và giá trị trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo cáo tài

chính doanh nghiệp, là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích

tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp

Trang 17

1.4.2.Xử lý thông tin

Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thập

được Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng

dụng khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích

đã đặt ra: xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất

định nhằm tính toán so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân các kết quả đã

đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định

1.4.3 Dự đoán và quyết định

Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết để

người sử dụng thông tin dụ đoán nhu cầu và dưa ra quyết định tài chính Có thể nói,

mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra quyết định tài chính Đối với chủ doanh

nghiệp phân tích tài chính nhằm đưa ra các quyết định liên quan tới mục tiêu hoạt

động của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của doanh nghiệp, tăng trưởng, phát

triển, tối đa hoá lợi nhuận Đối với người cho vay và đầu tư vào xí nghiệp thì đưa ra

các quyết định về tài trợ và đầu tư; đối với nhà quản lý thì dưa ra các quyết định về

quản lý doanh nghiệp

1.5 Phương pháp phân tích tài chính

Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ biện pháp

nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên

ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và

chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp

1.5.1.Phương pháp so sánh

Điều kiện để áp dụng phương pháp so sánh là các chỉ tiêu tài chính phải thống

nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán, và theo mục

đích phân tích mà xác định số gốc so sánh Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt thời

gian hoặc không gian, kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá

trị so sánh có thể lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân; nội dung

so sánh bao gồm:

- So sánh giữa số thực hiện trong kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu

hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạc để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh

nghiệp

Trang 18

- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình ngành của các

doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình tốt hay xấu,

được hay chưa được

- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so

sánh chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số lượng tương đối và

tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp

 Ưu điểm:

- Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty

- Xác định được mức biến động về quy mô, cơ cấu hoặc mức độ biến động của

chỉ tiêu phân tích và mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu nhân tố đến chỉ tiêu

phân tích

- Nó được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trong bất kỳ một hoạt động phân

tích nào của doanh nghiệp

- Sử dụng rất đa dạng và linh hoạt

 Nhược điểm:

- Không nhận ra những báo cáo tài chính không chính xác

- Không phản ánh được mức độ mà doanh nghiệp dùng nợ vay để sinh lời hay

không phản ánh mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp

1.5.2.Phương pháp phân tích tỷ số

Tỷ số là công cụ phân tích tài chính phổ thông nhất Một tỷ số là mối quan hệ tỷ

lệ giữa hai dòng hoặc hai nhóm dòng của bảng cân đối tài sản Phương pháp phân tích

tỷ số dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ

tài chính Sự biến đổi các tỷ là sự biến đổi các đại lượng tài chính Về nguyên tắc,

phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định các ngưỡng, các định mức, để nhận xét, đánh

giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với

giá trị các tỷ lệ tham chiếu

Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các

nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động

của doanh nghiệp Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu

vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả

năng sinh lời

Trang 19

Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt

động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích, người phân

tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình

Chọn đúng các tỷ số và tiến hành phân tích chúng, chắc chắn ta sẽ phát hiện được

tình hình tài chính Phân tích tỷ số cho phép phân tích đầy đủ khuynh hướng vì một số

dấu hiệu có thể được kết luận thông qua quan sát số lớn các hiện tượng nghiên cứu

riêng rẽ

 Ưu điểm:

- Đánh giá hiệu quả và hiệu năng hoạt động kinh doanh của công ty

- Các tỷ số về cơ cấu tài chính: phản ánh mức độ mà doanh nghiệp dùng nợ vay

để sinh lời hay phản ánh mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp

- Đánh giá hiệu năng sử dụng các tài nguyên của công ty

- Hướng dẫn dự báo và lập kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh, ra quyết định

đầu tư tài trợ vốn, đối phó với thị trường tài chính xác định rủi ro và lợi nhuận

 Nhược điểm:

- Yếu tố thời gian chưa được đề cập

- Khó kết luận tình hình tài chính tốt hay xấu

- Không thể hoạch định khả thi đối với doanh nghiệp hoạt động đa lĩnh vực

1.5.3.Phương pháp phân tích Dupont

Công ty Dupont là công ty đầu tiên ở Mỹ sử dụng các mối quan hệ tương hỗ giữa

các tỷ lệ tài chính chủ yếu để phân tích các tỷ số tài chính Vì vậy, nó được gọi là

phương pháp Dupont Với phương pháp này, các nhà phân tích sẽ nhận biết được các

nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp Bản

chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh

nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE)

thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép

phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đối với các tỷ số tổng hợp

Trước hết ta xem xét mối quan hệ tương tác giữa tỷ số doanh lợi vốn chủ sở hữu

(ROE) với tỷ số doanh lợi tài sản (ROA)

ROA = Lợi nhuận sau thuế x Doanh thu = Lợi nhuận sau thuế (1)

Trang 20

Tỷ ROA cho thấy tỷ suất sinh lợi của tài sản phụ thuộc vào hai yếu tố:

- Thu nhập ròng của doanh nghiệp trên một đồng doanh thu

- Một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu

Tiếp theo, ta xem xét tỷ số doanh lợi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp (ROE):

ROA = Lợi nhuận sau thuế

Vốn chủ sở hữuChỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu

Nếu tài sản của doanh nghiệp chỉ được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu thì doanh lợi vốn

và doanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ bằng nhau vì khi đó Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn

ROA = Lợi nhuận sau thuế x Lợi nhuận sau thuế = ROE (2)

Nếu doanh nghiệp sử dụng nợ để tài trợ cho các tài sản của mình thì ta có mối liên

hệ giữa ROA và ROE:

Vốn chủ sở hữu

Kết hợp (1) & (3) ta có:

ROE = Lợi nhuận sau thuế x Doanh thu = Tổng tài sản

= Lợi nhuận sau thuế x Doanh thu = Tổng tài sản

Trang 21

Với Rd = Nợ / Tổng tài sản là hệ số nợ và phương trình này gọi là phương trình

Dupont mở rộng thể hiện sự phụ thuộc của doanh lợi vốn chủ sở hữu vào doanh lợi

tiêu thụ, vòng quay toàn bộ vốn và hệ số nợ

Từ đây ta thấy sử dụng nợ có tác dụng khuyếch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu nếu

doanh nghiệp có lợi nhuận trong kỳ, hệ số nợ càng lớn thì lợi nhuận càng cao và ngược

lại, nếu doanh nghiệp đang bị lỗ thì sử dụng nợ càng tăng số lỗ

 Ưu điểm:

Phương pháp phân tích Dupont có ưu điểm lớn là giúp nhà phân tích phát hiện và

tập trung vào các yếu điểm của doanh nghiệp Nếu doanh lợi vốn chủ sở hữu của

doanh nghiệp thấp hơn các doanh nghiệp khác trong cùng ngành thì nhà phân tích có

thể dựa vào hệ thống các chỉ tiêu theo phương pháp phân tích Dupont để tìm ra

nguyên nhân chính xác Ngoài việc được sử dụng để so sánh với các doanh nghiệp

khác trong cùng ngành, các chỉ tiêu đó có thể được dùng để xác định xu hướng hoạt

động của doanh nghiệp trong một thời kỳ, từ đó phát hiện ra những khó khăn doanh

nghiệp có thể sẽ gặp phải Nhà phân tích nếu biết kết hợp phương pháp phân tích tỷ

lệ và phương pháp phân tích Dupont sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phân tích tài

chính doanh nghiệp

 Nhược điểm:

- Dựa vào số liệu kế toán cơ bản nhưng có thể không đáng tin cậy

- Không bao gồm chi phí vốn

- Mức độ tin cậy của mô hình phụ thuộc hoàn toàn vào giả thuyết và số liệu đầu vào

Ngoài các phương pháp phân tích chủ yếu trên, người ta còn sử dụng một số

phương pháp khác: phương pháp đồ thị, phương pháp biểu đồ, phương pháp toán tài

chính, kể cả phương pháp phân tích các tình huống giả định

Trong quá trình phân tích tổng thể thì việc áp dụng linh hoạt, xen kẽ các

phương pháp sẽ đem lại kết quả cao hơn khi phân tích đơn thuần, vì trong phân tích tài

chính kết quả mà mỗi chỉ tiêu đem lại chỉ thực sự có ý nghĩa khi xem xét nó trong mối

quan hệ với các chỉ tiêu khác Do vậy, phương pháp phân tích hữu hiệu cần đi từ tổng

quát đánh giá chung cho đến các phần chi tiết, hay nói cách khác là lúc đầu ta nhìn

nhận tình hình tài chính trên một bình diện rộng, sau đó đi vào phân tích đánh giá các

chỉ số tổng quát về tình hình tài chính và để hiểu rõ hơn ta sẽ phân tích các chỉ tiêu tài

chính đặc trưng của doanh nghiệp, so sánh với những năm trước đó, đồng thời so sánh

Trang 22

với tỷ lệ tham chiếu để cho thấy được xu hướng biến động cũng như khả năng hoạt

động của doanh nghiệp so với mức trung bình ngành ra sao

1.5.4.Nội dung phân tích tài chính

1.5.4.1.Phân tích các tỷ số tài chính

Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán

Tình hình tài chính được thể hiện khá rõ nét qua các chỉ tiêu tài chính về khả năng

thanh toán của doanh nghiệp Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối

quan hệ tài chính các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với khoản phải thanh

toán trong kỳ Sự thiếu hụt về khả năng thanh khoản có thể đưa doanh nghiệp tới tình

trạng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp đúng hạn và có thể

phải ngừng hoạt động Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau đây:

Khả năng thanh toán hiện hành = Tài sản lưu động

Nợ ngắn hạn

Tỷ số thanh toán hiện hành thể hiện mối quan hệ giữa tài sản lưu động với các

khoản nợ ngắn hạn TSLĐ bao gồm tiền, chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển nhượng,

các khoản phải thu, các lhoản dự trữ Nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay

ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, các khoản phải trả nhà

cung cấp, các khoản phải trả các khoản phải nộp khác Cả TSLĐ và nợ ngắn hạn đều

có thời hạn dưới một năm

Hệ số này thể hiện khả năng thanh toán trong ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho

biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có

thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của khoản nợ đó

Khi đã có hệ số này ta tiến hành so sánh với tỷ số tham chiếu khác như: mức trung

bình ngành, tỷ lệ kỳ trước để được sự đánh giá tốt hơn

Khả năng thanh toán nhanh = Tài sản lưu động - Dự trữ

Nợ ngắn hạn

Tỷ số thanh toán nhanh thể hiện mối quan hệ giữa các tài sản quay vòng nhanh với

nợ ngắn hạn Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển

thành tiền, bao gồm: tiền, chứng khoán, ngắn hạn, các khoản phải thu Tài sản dự trữlà

các tài sản khó chuyển đổi thành tiền hơn trong tài sản lưu động và dễ bị lỗ nhất khi

bán.Do, vậy, tỷ số khả năng thanh toán nhanh xho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ

ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán các tài sản dự trữ

Trang 23

Khả năng thanh toán tức thời = Tiền

Nợ ngắn hạn

Tỷ số thanh toán tức thời thể hiện mối quan hệ tiền (tiền mặt và các khoản tương

đương tiền như chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển đổi )và khoản nợ đến hạn phải trả

Nợ đến hạn phải trả bao gồm nợ ngắn hạn, trung hạn, dài hạn đến hạn trả Tỷ số thanh

toán nhanh chưa bộc lộ hết khả năng thanh toán của doanh nghiệp bởi nó mới tính đến

các khoản nợ ngắn hạn Nếu nợ dài hạn đến hạn trả doanh nghiệp phải xử lý như thế

nào nếu không lập kế hoạch từ trước và nó có khiến doanh nghiệp mất khả năng thanh

toán không?Tỷ số thanh toán tức thời cho chúng ta biết khá rõ về tình trạng đó tuy

nhiên hệ số này hết sức nhạy cảm nên doanh nghiệp cần xác định phù hợp vì nếu hệ số

thanh toán tức thời thấp hơn một thì doanh nghiệp phải bán các tài sản lưu động khác

như chứng khoán ngắn hạn để thanh toán, còn tỷ số thanh toán tức thời quá cao tức

doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt thì doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội sinh lời Các chủ

nợ đánh giá mức trung bình hợp lý cho tỷ lệ này là 0.5 Khi tỷ lệ này lớn hơn 0.5 thì

khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp là khả quan và ngược lại

Tỷ số dự trữ trên vốn lưu động dòng: Tỷ số này cho biết dự trữ chiến bao nhiêu

phần trăm vốn lưu động ròng Nó đượctính bằng cáchlấy dự trữ chia cho vốn lưu

động ròng Nếu dự trữ trên vốn lưu động ròng quá cao thì sẽ không tốt vì dự trữ

khoản khonả khó chuyển đổi thành tiền nhất trong vốn lưu động ròng Và khi

chuyển đổi dự trữ thành tiền thì chi phí chuyển đổi cao doanh nghiệp sẽ bị thiệt

hại, do vậy doanh nghiệp tính toán một mức dự trữ cho hợp lý tránh tình trạng tồn

động vốn gây thiệt hại

Sau khi tính toán các chỉ tiêu trên doanh nghiệp, doanh nghiệp tiến hành phân tích

một cách chi tiết nhu cầu và khả năng thanh toán nhằm đánh giá chính xác tình hình

thanh toán của doanh nghiệp bằng cách đối chiếu và so sánh với các tỷ số thanh toán

năm trước và các chỉ số tham chiếu

Không thể đưa ra một chỉ tiêu chuẩn mực về hệ số thanh toán cho tất cả các loại

hình doanh nghiệp Nhưng thông thường hệ số thanh toán trên 0.5 thì coi là lành mạnh

còn dưới 0.5 là dấu hiệu không lành mạnh

Các tỷ số về khả năng cân đối vốn

Trang 24

Tỷ số này dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp so

với phần tài trợ của các chủ nợ đối với doanh nghiệp và có ý nghĩa quan trọng trọng

phân tích tài chính Bởi lẽ, các chủ nợ nhìn vào số vốn chủ sở hữu của công ty để thể

hiện mức độ tin tưởng vào sự đảm bảo an toàn cho các món nợ Nếu chủ sở hữu doanh

nghiệp chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro trong sản xuất-kinh

doanh chủ yếu do các chủ nợ gánh chịu Mặt khác bằng cách tăng vốn thông qua vay

nợ, các chủ doanh nghiệp vẫn nắm quyền kiểm soát, điều hành doanh nghiệp Ngoài

ra, nếu doanh nghiệp thu được lợi nhuận từ tiền vay thì lợi nhuận dành cho các chủ

doanh nghiệp sẽ gia tăng đáng kể

Nghiên cứu các chỉ tiêu về khả năng cân đối vốn nhằm mục đích chỉ ra doanh

nghiệp đã có một cơ cấu vốn hợp lý hay chưa? Một trong nững mục tiêu của doanh

nghiệp là đạt được cơ cấu vốn tối ưu nhằm tối đa hoá giá trị tài sản sở hữu Trong quá

trình hoạt động kinh doanh cơ cấu tài chính của doanh nghiệp luôn luôn thay đổi,

nghiên cứu nhóm chỉ tiêu này chúng ta xem xét một số chỉ chủ yếu: hệ số nợ, khả năng

thanh thanh toán lãi vay

Hệ sô nợ = Tổng nợ

Tổng tài sản

Hệ số này xác định trong một đồng doanh nghiệp đang sử dụng có bao nhiêu

phần là nợ vay Hệ số nợ là tỷ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ

doanh nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn Hệ số nợ được các chủ nợ và chủ

đầu tư góp vốn liên doanh quan tâm rộng rãi Thông thường các chủ nợ thích tỷ số nợ

trên tổng tài sản vừa phải tỷ số này càng thấp thì các khoản nợ càng được đảm bảo

trong truờng hợp doanh nghiệp bị phá sản Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp

ưa thích tỷ số này cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm

soát doanh nghiệp Song nếu tỷ số nợ quá cao, doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng

mất khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán lãi

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

lãi vay

Tỷ số về khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả

năng trả lãi hàng năm như thế nào Việc không trả được các khoản nợ này sẽ thể hiện

khả năng doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản Lãi vay là một khoản chi phí, doanh

nghiệp dùng thu nhập trước thuế để trả lãi Nó phản ánh doanh nghiệp sử dụng vốn

vay có hiệu quả hay không và chỉ tiêu này rất được các người cho vay quan tâm

Tỷ số cơ cấu tài sản = Tài sản cố định/ Tài sản lưu động

Trang 25

Tổng tài sản

Tỷ số này phản ánh tương quan giữa TSCĐ và TSLĐ so với tổng tài sản Thông

qua tỷ số này, ta có thể thấy được loại hình doanh nghiệp là sản xuất hay kinh doanh

Tỷ số này xác định mức đóng góp của của chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn hiện

có của doanh nghiệp Tỷ số cơ cấu nguồn vốn có quan hệ mật thiết với hệ số nợ Tỷ số

này lớn thì vốn chủ sở hữu lớn doanh nghiệp có được lợi thế khi tiếp cận một số nguồn

vốn vay mà yêu cầu vay phải có vốn chủ sở hữu lớn Và ngược lại, tỷ số này thấp gây

bất lợi cho doanh nghiệp khi đi vay cũng như trong cạnh tranh

Tỷ số về khả năng hoạt động

Các tỷ số hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của

doanh nghiệp Vốn của doanh nghiệp được dùng để đầu tư vào các tài sản khác

nhau như tài sản cố định, tài sản lưu động Do đó, các nhà phân tích không chỉ

quan tâm đến việc đo lường hiệu quả sử dụng tổng tài sản mà còn chú trọng đến

hiệu quả sử dụng từng bộ phận cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp Chỉ tiêu

doanh thu được sử dụng chủ yếu trong tính toán các chỉ số này để xem xét khả

năng hoạt động của doanh nghiệp

kinh doanh của doanh nghiệp Vòng quay dự trữ được xác định bằng tỷ số giữa doanh

thu trong năm và giá trị dự trữ (nguyên vật liệu,vật liệu phụ, sản phẩm dở dang, thành

phẩm) bình quân Chỉ tiêu này khá quan trọng nó đánh giá hiệu quả của TSLĐ Nếu

Trang 26

chỉ tiêu này cao tức là mức độ luân chuyển dự trữ nhanh, lượng dự trữ không lớn, ít bị

ứ đọng vốn

Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu

Doanh thu bình quân một ngày Trong phân tích tài chính, kỳ thu tiền bình quân được sử dụng để đánh giá khả năng

thu tiền trong thanh toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu bình quân một

ngày Các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụ thuộc vào chình sách thương mại của doanh

nghiệp và các khoản trả trước Trong nền kinh tế thị trường các chủ kinh tế có mối

quan hệ chặt chẽ với nhau về sử dụng vốn và chiếm dụng vốn Chỉ tiêu này rất quan

trọng ví nếu chu kỳ thu tiền bình quân lớn chứng tỏ khoản phải thu lớn, vốn doanh

nghiệp bị chiếm dụng, gây khó khăn cho việc huy động vốn, nếu kỳ thu tiền bình quân

nhỏ, các khoản phải thu nhỏ nhưng giao dịch với khách hàng và chính sách tín dụng

thương mại bị hạn hẹp, quan hệ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp khác giảm, thị

trường giảm, do đó việc để chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp tuỳ thuộc vào

mục tiêu hiện tại của doanh nghiệp

Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanh thu

Tài sản cố định

Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản cố định tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu

trong một năm Tài sản cố định ở đây được xác định theo giá trị còn lại đến thời điểm

lập báo cáo

Hiệu quả sử dụng TSLĐ = Doanh thu

Tài sản lưu động Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản lưu động tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu

trong một năm Tài sản lưu động ở đây được xác định theo giá trị còn lại đến thời điểm

lập báo cáo

Hiệu suất sử dụng tông tài sản = Doanh thu

Tổng tài sản Chỉ tiêu này còn dược gọi là vòng quay toàn bộ tài sản, nó được đo bằng tỷ số giữa

doanh thu và tổng tài sản và cho biết một đồng tài sản đem lại mấy đồng doanh thu

Tỷ số về khả năng sinh lời

Với một kinh doanh, lợi nhuận là chỉ tiêu cuối cùng để đánh giá hoạt động sản

xuất kinh doanh Chỉ khi hoạt động có lợi nhuận doanh nghiệp mới có khả năng thanh

Trang 27

toán những khoản nợ mà không ảnh hưởng tới nguồn vốn, mới có khả năng tái đầu mở

rộng sản xuất, khẳng địnhvị trí của mình trong nền kinh tế Tuy nhiên chỉ tiêu lợi

nhuận chưa phản ánh đầy đủ tình hình kinh doanh, nếu ta chỉ nhìn chỉ tiêu lợi nhuận để

đánh giá hoạt động của doanh nghiệp là tốt hay xấu thì dễ dẫn đến sai lầm Bởi vì đánh

giá lợi nhuận cần so sánh tương quan với chi phí, với lượng tài sản mà doanh nghiệp

sử dụng và bộ phận vốn chủ sở hữu huy động vào sản xuất kinh doanh

Khả năng sinh lời là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh, là

đáp số sau cùng của quá trình kinh doanh, tỷ số khả năng sinh lời phản ánh tổng hợp

nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý doanh nghiệp Nó được các

nhà đầu tư rất quan tâm và là cơ sở để nhà quản trị hoạch định chính sách Nhóm chỉ

tiêu này bao gồm các chỉ tiêu sau:

\Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm = Lợi nhuận sau thuế

Doanh thuChỉ tiêu này xác định bằng cách chia lợi nhuận sau thuế (thu nhập sau thuế) cho

doanh thu Nó phản ánh số lợi nhuận sau thuế trong một trăm đồng doanh thu Chỉ tiêu

này nói chung càng cao càng tốt tuy nhiên nó còn phụ thuộc vào ngành nghề kinh

doanh cụ thể của doanh nghiệp

Doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận sau thuế

Vốn chủ sở hữu

Chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu được xác định bằng cách chia thu nhập sau

thuế cho vốn chủ sở hữu Nó phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và nó

được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh

nghiệp, bởi vì tỷ số này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra đem lại mấy đồng lợi

nhuận sau thuế Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất

trong hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp

Doanh lợi tài sản (ROA) = Lợi nhuận sau thuế (hoặc EBIT)

Tài sản

EBIT là lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Doanh lợi tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng

sinh lợi của một đồng vốn đầu tư, nó cho thấy một đồng tài sản bỏ ra tạo được mấy

đồng lợi nhuận Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể mà phân tích và phạm vi so sánh mà

người ta lựa chọn lợi nhuận sau thuế hay EBIT để so sánh với tổng tài sản

Trang 28

Sau khi đã xác định được các tỷ lệ tài chính trên, ta tiến hành phân tích và so sánh

với các năm để đánh giá tình trạng của doanh nghiệp Nếu thu thập được tỷ lệ bình

quân ngành thì ta cũng đem so sánh với các chỉ tiêu ngành để đánh giá tình hình của

doanh nghiệp so với doanh nghiệp khác trong ngành

1.5.4.2.Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn

Bảng phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là một trong những cơ sở

và công cụ của các nhà quản trị tài chính để hoạch định tài chính cho kỳ tới, bởi lẽ

mục đích chính của nó là trả lời cho câu hỏi: vốn xuất phát từ đâu, và được sử dụng

vào việc gì?

Mỗi một sự thay đổi của từng khoản mục trong bảng cân đối kế toán đều được xếp

vào cột diễn biến nguồn vốn hoặc sử dụng vốn theo cách thức sau:

- Tăng các khoản nợ phải trả, tăng vốn chủ sở hữu, giảm tài sản của doanh

nghiệp chỉ ra sự diễn biến của nguồn vốn

- Tăng tài sản của doanh nghiệp, giảm các khoản nợ và vốn chủ sở hữu được

PHÁP SO SÁNH ĐỂ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY KINH

DOANH THAN BẮC LẠNG

2.1.Tổng quan về Công ty kinh doanh than Bắc Lạng

Bảng cân đối kế toán

Trang 29

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Công ty cổ phần kinh doanh than Miền Bắc - Vinacomin thành lập vào ngày 09

tháng 12 năm 1974 khi đó công ty được gọi là công ty quản lý và phân phối than Miền

Bắc thuộc bộ Điện và Than Khi mới thành lập công ty chỉ mang nhiệm vụ phân phối

than cho nhu cầu của xã hội Qui mô phân phối Than nhỏ hẹp, cán bộ công nhân viên

chỉ làm đúng nhiệm vụ được giao, không có tính linh hoạt trong khi làm việc

Khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì nhu cầu tiêu dùng than ngày càng

tăng Để đáp ứng được nhu cầu của thị trường đã mở ra một hướng mới cho ngành

Than, nên ngày 24 tháng 12 năm 1990 Bộ năng lượng đã quyết định thành lập lại

công ty kinh doanh và chế biến than Việt Nam

Đến năm 2003 công ty kinh doanh than Bắc Lạng được tách ra khỏi công ty kinh

doanh than Miền Bắc với tên gọi là công ty chế biến và kinh doanh than Bắc Lạng

Đăng ký kinh doanh ngày 29 tháng 10 năm 2003 Công ty trở thành đơn vị hạch toán

phụ thuộc trực thuộc công ty cổ phần kinh doanh than Miền Bắc (TKV) Căn cứ vào

nghị quyết số 02/HĐQT ngày 14 tháng 2 năm 2006 quyết định đổi tên công ty chế

biến và kinh doanh than Bắc Lạng thành công ty kinh doanh than Bắc Lạng – đơn vị

hạch toán phụ thuộc công ty cổ phần kinh doanh than Miền Bắc Logo biểu trưng:

Tên gọi chính thức: Công ty kinh doanh than Bắc Lạng

Mã số thuế: 0100100689-011

Trụ sở chính: Khu I – Phường Thị Cầu – Thành phố Bắc Ninh – Tỉnh Bắc Ninh

Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh số 2114000003 do phòng đăng ký kinh

doanh sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Bắc Ninh cấp

Mặt hàng kinh doanh: Là các loại than mỏ

Số cán bộ nhân viên: 80 người

Diện tích: 3.000m2

Trang 30

Vốn kinh doanh của công ty: 1.000.000.000 đồng

2.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty

Bộ máy quản lý điều hành của công ty kinh doanh Than Bắc Lạng được chỉ đạo từ

trên xuống dưới theo kiểu trực tuyến

Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý Công ty kinh doanh Than Bắc Lạng

(Nguồn: Phòng tổ chức – hành chính công ty kinh doanh Than Bắc Lạng)

Ban giám đốc công ty: Bao gồm một giám đốc và hai phó giám đốc có nhiệm

vụ chỉ đạo, điều hành toàn bộ hoạt động của công ty và chịu trách nhiệm về

toàn bộ công việc kinh doanh của công ty trước cấp trên, trước Nhà nước và

Pháp luật Để điều hành các hoạt động của Công ty trước cấp trên, ban Giám

đốc không những chỉ đạo thông qua các phòng ban chức năng mà còn trực tiếp

Trạm than Lạng Giang

Trạm than Lạng Sơn

Trạm than Như Nguyệt

Trạm than Đáp Cầu

Phòng kế toán thống kê

Phòng kế hoạch thị trường

Kho hàng hóa của công ty

Trang 31

chỉ đạo công tác kinh doanh tới các trạm Đây là một nét đặc thù phản ánh sự

chặt chẽ trong công ty

Giám đốc: Là người đứng đầu công ty, là người toàn quyền quyết định hoạt

động của công ty, điều hành hoạt động của công ty theo luật pháp và chịu trách

nhiệm trước Công ty và Nhà nước về mọi hoạt động của Công ty

Phó giám đốc: Là người phụ trách một số lĩnh vực kinh doanh cụ thể và chịu

trách nhiệm trước Giám đốc về các lĩnh vực được giao Phó giám đốc giúp việc,

tham mưu cho Giám đốc về các vấn đề chuyên môn và chịu trách nhiệm điều

hành mọi hoạt động của công ty khi Giám đốc vắng mặt

Phòng tổ chức hành chính: Chịu trách nhiệm về vấn đề tổ chức nhân sự, về

quản lý cán bộ, công tác văn phòng, văn thư, lưu trữ… của Công ty Đồng thời

có trách nhiệm quan tâm, chăm lo đến đời sống sinh hoạt cho cán bộ công nhân

viên, tham mưu cho ban giám đốc để xây dựng và ban hành cơ chế quản lý

trong nội bộ Công ty

Phòng kế toán thống kê: Chức năng cơ bản là hạch toán, quản lý vốn và tài sản

Nhà nước giao Phòng có nhiệm vụ chỉ đạo lập chứng từ sổ sách đối với các

trạm, tập hợp chứng từ của các trạm và tổ chức hạch toán kế toán tại Công ty

theo đúng quy định của cấp trên và chế độ kế toán của Nhà nước Ngoài ra

phòng còn cùng tham gia với phòng kinh doanh để dự thảo các hợp đồng kinh

tế mua bán, bốc xếp, vận chuyển than Xây dựng giá và lập kế hoạch chi phí lưu

thông

Phòng kế hoạch và thị trường: Có nhiệm vụ theo dõi tình hình kinh doanh của

Công ty, tổ chức kinh doanh và cung ứng than cho toàn bộ mạng lưới của công

ty Giúp ban giám đốc nghiên cứu thị trường, tìm hiểu đối tác liên doanh liên

kết mở rộng thị trường tiêu thụ Phòng còn có trách nhiệm tổ chức việc bán

hàng, kiểm tra việc thực hiện các nội quy bán hàng của các trạm về giá cả, chất

lượng

Kho hàng của công ty: Là nơi cất trữ và bảo quản hàng hoá của công ty Hàng

hoá sau khi mua về sẽ được nhập vào kho Thủ kho có trách nhiệm theo dõi, ghi

chép về mặt lượng hàng hoá nhập – xuất – tồn kho để cung cấp số liệu cho

phòng kế toán và phòng kinh doanh

Sáu trạm than: Đóng ở ba tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn Các trạm này

là nơi tổ chức thực hiện nhận than, chế biến than và quản lý kho bãi như các tài

Trang 32

sản được công ty giao để sử dụng Trạm trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ mua

bán, chế biến, vận chuyển than theo kế hoạch của công ty giao

Mọi hoạt động trong công ty đều có sự nhất quán từ trên xuống dưới, các bộ phận

hoạt động độc lập nhưng có mối liện hệ mật thiết với các bộ phận tạo thành một hệ

thống, đảm bảo cho quá trình kinh doanh tiến hành nhịp nhàng, cấn đối và có hiệu quả

2.1.3.Chức năng, nhiệm vụ của công ty kinh doanh than Bắc Lạng

2.1.3.1.Chức năng của Công ty

Trải qua 38 năm xây dựng và trưởng thành, công ty đã không ngừng phát triển và

phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân

Với đặc điểm là một doanh nghiệp thương mại nên nhiệm vụ chính của công ty là

tiêu thụ hàng hóa.Quá trình tiêu thụ hàng hóa là một quá trình quyết định và liên quan

đến sự tồn tại, phát triển của chính doanh nghiệp Do vậy doanh nghiệp chịu sự quản

lý theo dõi của những đối tượng có lợi ích từ hoạt động của công ty là các doanh

nghiệp, bạn hàng, cổ đông, cơ quan quản lý, của cả đối thủ cạnh tranh

Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh lẫn nhau, công ty được

quyền chủ động hạch toán, kinh doanh bởi mục tiêu lợi nhuận Doanh nghiệp cần phải

quan tâm hơn đến bộ phận quản lý nhất là bộ phận kế toán phải hạch toán chính xác

nghiệp vụ tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh, từ đó doanh nghiệp rút ra phương

hướng tiêu thụ sao cho hợp lý và thu được hiệu quả cao

Công ty là một trong những thành viên trực thuộc công ty chế biến và kinh doanh

than Miền Bắc Công ty kinh doanh than trên địa bàn: Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn

và các tỉnh phụ cận Đồng thời công ty còn sản xuất than cho nhu cầu sinh hoạt, công

nghiệp trên các địa bàn trên

2.1.3.2.Nhiệm vụ của công ty

- Thực hiện kinh doanh tự nuôi lấy mình phải đảm bảo thu nhập cho cán bộ, nhân

viên, thực hiện đầy đủ chế độ cho người lao động như : đóng bảo hiểm xã hội,bảo

hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp

- Chế độ lao động, ngày nghỉ theo luật lao động v.v

- Đảm bảo và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp,thuế giá

trị gia tăng với nhà nước

- Đảm bảo đời sống cho cán bộ nhân viên

Trang 33

- Chức năng, nhiệm vụ rõ ràng thực hiện đầy đủ chỉ tiêu phân phối hàng hóa theo

nguyên tắc kí kết hợp đồng kinh tế giữa A và B

- Thực hiện quyền lợi vật chất cho người lao động rõ ràng và được cải thiện đời

sống

- Thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước (nộp thuế) nghiêm túc đảm bảo đúng, đủ

và kịp thời

2.1.4 Kết quả kinh doanh của công ty kinh doanh than Bắc Lạng

Như chúng ta đã thấy, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ

thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của các nhà quản lý Để đánh giá được kết quả này

ta phải phân tích một số chỉ số tài chính được thực hiện và so sánh các chỉ số đó Các

báo cáo tài chính sẽ phản ánh trung thực thường xuyên kết quả của việc đầu tư hoạt

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Muốn nắm bắt được quá trình hoạt động

sản xuất kinh doanh, thấy được sự vận hành phối hợp giữa các bộ phận của doanh

nghiệp thì cách nào hơn và hiệu quả hơn là so sánh các con số kế toán và báo cáo hoạt

động sản xuất kinh doanh và nó có vị trí quan trọng phản ánh thực trạng hoạt động của

doanh nghiệp

Trang 34

Bảng 2.1 : Bảng cân đối kế toán năm 2011, 2012, 2013 của Công ty kinh doanh than Bắc Lạng

Đơn vị tính: Đồng

2011 2012 2013 Số tiền Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ TÀI SẢN

Trang 35

Vốn kinh doanh là yếu tố hết sức quan trọng trong tổ chức sản xuất kinh doanh nên

giải quyết vấn đề về vốn mới đảm bảo được ổn định và phát triển hoạt động sản xuất

kinh doanh của công ty Do đó chúng ta hãy xem xét về tài sản, vốn và nguồn vốn đảm

bảo cho công ty hoạt động trong 3 năm 2011 – 2013 như thế nào

* Nhận xét:

Nhìn vào bảng 2.2, ta thấy rằng Công ty đang trong giai đoạn ổn định của chu kỳ

hoạt động, nó có một số đặc điểm sau:

-Về tài sản ngắn hạn, cũng có sự gia tăng tương ứng như tổng tài sản Năm 2011, tài

sản ngắn hạn là 7,566,634,056 đồng, năm 2012 đã tăng thành 10,965,958,111đồng

(tăng thêm 3,399,324,055 đồng so với năm 2011) Năm 2013, tổng tài sản ngắn hạn là

17,262,857,269 đồng, tăng 6,296,899,158 đồng so với năm 2012

- Về tài sản dài hạn: Cũng có sự biến động qua các năm: năm 2011, tài sản dài hạn là

2,475,753,133 đồng, đến năm 2012 tăng lên 5,743,498,565 đồng, tăng thêm

3,267,745,432 đồng Đến năm 2013, tài sản dài hạn lại tăng lên 6,305,846,565 đồng,

tăng thêm 562,348,000 đồng

- Tổng tài sản của Công ty ngày càng tăng, giá trị tài sản của các năm là

10,042,387,189 đồng vào năm 2011;16,709,456,676đồng vào năm 2012 và

23,568,703,834 đồng vào năm 2013 Số lượng tăng thêm tương ứng qua các năm là

6.667.069.487 đồng vào năm 2012 và 6,859,247,158 đồng vào năm 2013 (tăng thêm tỷ

13,526,316,645 đồng so với năm 2011) Đây là một tín hiệu đáng mừng vì doanh

nghiệp có làm ăn được thì tổng tài sản mới tăng

Căn cứ vào báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3 năm gần nhất là

năm 2011, năm 2012 và năm 2013, ta tổng hợp được bảng báo cáo kết quả hoạt động

sản xuất kinh doanh trong 3 năm 2011,2012 và 2013 Mọi số liệu được trình bày trong

bảng 2.3

Trang 36

Bảng 2.2: Báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong ba năm (từ năm 2011 đến năm 2013)

Ngày đăng: 25/01/2015, 23:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là một trong những cơ sở  và công cụ của các nhà quản trị tài chính để hoạch định tài chính cho kỳ tới, bởi lẽ  mục đích chính của nó là trả lời cho câu hỏi: vốn xuất phát từ đâu, và được sử dụng  vào việc - Ứng dụng phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh vào phân tích tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng
Bảng ph ân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là một trong những cơ sở và công cụ của các nhà quản trị tài chính để hoạch định tài chính cho kỳ tới, bởi lẽ mục đích chính của nó là trả lời cho câu hỏi: vốn xuất phát từ đâu, và được sử dụng vào việc (Trang 29)
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý Công ty kinh doanh Than Bắc Lạng - Ứng dụng phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh vào phân tích tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng
Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy quản lý Công ty kinh doanh Than Bắc Lạng (Trang 31)
Bảng 2.1 : Bảng cân đối kế toán năm 2011, 2012, 2013 của Công ty kinh doanh than Bắc Lạng - Ứng dụng phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh vào phân tích tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng
Bảng 2.1 Bảng cân đối kế toán năm 2011, 2012, 2013 của Công ty kinh doanh than Bắc Lạng (Trang 35)
Bảng 2.2: Báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong ba năm (từ năm 2011 đến năm 2013) - Ứng dụng phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh vào phân tích tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng
Bảng 2.2 Báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong ba năm (từ năm 2011 đến năm 2013) (Trang 37)
Bảng 2.3: Chỉ tiêu được sử dụng trong phân tích tài chính của Công ty kinh doanh than - Ứng dụng phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh vào phân tích tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng
Bảng 2.3 Chỉ tiêu được sử dụng trong phân tích tài chính của Công ty kinh doanh than (Trang 41)
Bảng 2.4: Chỉ tiêu khả năng thanh toán - Ứng dụng phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh vào phân tích tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng
Bảng 2.4 Chỉ tiêu khả năng thanh toán (Trang 44)
Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu tài chính - Ứng dụng phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh vào phân tích tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng
Bảng 2.5 Một số chỉ tiêu tài chính (Trang 47)
Bảng 2.6 : Chỉ tiêu khả năng hoạt động - Ứng dụng phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh vào phân tích tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng
Bảng 2.6 Chỉ tiêu khả năng hoạt động (Trang 54)
Bảng 2.7 : Chỉ tiêu về khả năng sinh lợi - Ứng dụng phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh vào phân tích tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng
Bảng 2.7 Chỉ tiêu về khả năng sinh lợi (Trang 59)
Bảng 2.8: Bảng diễn biến sử dụng nguồn vốn của công ty                                                                                                                                                     Đơn vị tính: Đồng - Ứng dụng phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh vào phân tích tài chính tại Công ty kinh doanh than Bắc Lạng
Bảng 2.8 Bảng diễn biến sử dụng nguồn vốn của công ty Đơn vị tính: Đồng (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w