Chủ đề “Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng bao gồm các kiến thức mới đối với HS, do đó các em gặp không ít khó khăn khi lĩnh hội, vận dụng kiến thức trong quá trình học tập và thường thụ động tiếp nhận các khái niệm, các công thức từ giáo viên. Nhiều học sinh có suy nghĩ là chỉ cần biết được công thức để làm bài tập và không có ý thức tự học, tự tìm hiểu, cũng như không chú ý đến việc suy nghĩ “tại sao”, “bằng cách nào” ta lại có các định lý, tính chất hay các công thức đó. Do đó nhiều học sinh có thể ghi nhớ được công thức nhưng lại nhầm lẫn giữa các công thức, thậm chí các em không biết phải sử dụng công thức nào khi làm bài tập. Khi đứng trước một bài toán, học sinh không biết phải bắt đầu từ đâu và làm thế nào để giải quyết được bài toán. Hơn nữa chủ đề này lại có vai trò quan trọng phục vụ cho các năm học tiếp theo nên cần phải có phương pháp dạy học phù hợp để các em có thể hiểu được các kiến thức ở chủ đề này. Do đó để giúp cho học sinh bước đầu có khả năng tự phân tích, tìm hiểu và giải quyết một vấn đề hay một bài toán, cũng như tìm hiểu việc dạy Hình học sử dụng các phương án giải quyết vấn đề có tác dụng như thế nào đến quá trình học tập của học sinh phổ thông, tôi đã chọn đề tài “Sử dụng các phương án giải quyết vấn đề trong dạy học chủ đề Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng ở lớp 10.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-
HOÀNG THỊ DIỆU LINH
SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ "TÍCH VÔ HƯỚNG CỦA HAI VECTƠ
HUẾ, NĂM 2011
Trang 2MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Lời giới thiệu 6
1.1 Nhu cầu nghiên cứu 7
1.2 Phát biểu vấn đề nghiên cứu 9
2. Mục đích nghiên cứu 10
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 10
4. Phương pháp và công cụ nghiên cứu 10
4.1 Phương pháp nghiên cứu 10
4.2 Đối tượng tham gia 10
4.3 Công cụ nghiên cứu 10
5. Cấu trúc luận văn 10
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12
1. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 12
1.1 Cơ sở triết học, tâm lý học và giáo dục học của dạy học PH và GQVĐ 12
1.2 Một số khái niệm cơ bản 12
1.2.1 Vấn đề 12
1.2.2 Tình huống gợi vấn đề 13
1.2.3 Giải quyết vấn đề 14
1.3 Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề (PH và GQVĐ) 14
1.3.1 Đặc điểm của phương pháp dạy học PH và GQVĐ 15
1.3.2 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học PH và GQVĐ 15
1.3.3 Quá trình dạy học PH và GQVĐ 16
1.3.4 Những hình thức và cấp độ dạy học PH và GQVĐ 17
1.3.5 Các phương án giải quyết vấn đề 18
Trang 3học 10 27
2.1 Đặc điểm của chủ đề 27
2.2 Mục tiêu chung 28
2.3 Cấu trúc nội dung 28
3. Thực trạng dạy và học chủ đề “Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng” ở trường THPT hiện nay 29
3.1 Thực trạng dạy và học toán nói chung 29
3.2 Tình trạng dạy và học chủ đề “Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng” 31
CHƯƠNG II PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ TRONG CHỦ ĐỀ "TÍCH VÔ HƯỚNG CỦA HAI VECTƠ VÀ ỨNG DỤNG". 33
1. Phương án giải quyết vấn đề trong các tình huống dạy học điển hình 33
1.1 Phương án giải quyết vấn đề trong dạy định lý 33
1.1.1 Định lý cosin 34
1.1.2 Định lý sin 35
1.2 Phương án giải quyết vấn đề trong dạy giải bài toán 36
1.2.1 Phương án giải quyết vấn đề trong dạy giải bài toán toán học 37
1.2.1.1 Giải tam giác 37
1.2.1.2 Nhận dạng tam giác 41
1.2.1.3 Tính giá trị các biểu thức hay chứng minh các hệ thức vectơ, hệ thức về độ dài, về mối quan hệ giữa các yếu tố của một tam giác 44
1.2.2 Phương án giải quyết vấn đề trong dạy giải bài toán có nội dung thực tiễn
46
1.2.2.1 Ứng dụng thực tế của chủ đề 46
1.2.2.2 Vai trò của các ứng dụng thực tế của chủ đề này trong dạy học 49
2. Thiết kế kế hoạch bài học theo định hướng GQVĐ để nâng cao hiệu quả dạy và học 49
2.1 Cấu trúc khung của kế hoạch dạy học theo định hướng GQVĐ 49
2.2 Một số điểm lưu ý khi thiết kế kế hoạch bài học theo định hướng GQVĐ 50
2.3 Một số thiết kế kế hoạch bài học có sử dụng các phương án GQVĐ 50
2.3.1 Kế hoạch bài học 1: Định lý cosin 50
2.3.2 Kế hoạch bài học 2: Định lý sin 54
Trang 42.3.3 Kế hoạch bài học 3: Bài tập hệ thức lượng trong tam giác và giải tam giác
59
CHƯƠNG III THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65
1 Mục đích thực nghiệm và phương pháp thực nghiệm 65
1.1 Mục đích thực nghiệm 65
1.2 Phương pháp thực nghiệm 65
1.3 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 65
1.3.1 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 65
1.3.2 Nội dung thực nghiệm 66
2 Kết quả thực nghiệm sư phạm 67
2.1 Nhận xét về tiến trình dạy học 67
2.2 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm thông qua bài kiểm tra 68
2.2.1 Kết quả bài kiểm tra 68
2.2.2 Phân tích kết quả bài kiểm tra 68
PHẦN KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lời giới thiệu
giáo dục và công nghệ đòi hỏi con người cần phải không ngừng học tập về mọi mặt để nâng cao tri thức. Điều đó đòi hỏi sự nghiệp giáo dục nói chung và việc dạy học bộ môn toán nói riêng cần có những đổi mới để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội năm 2011–2020 của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, đã xác định “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”.
28 Luật giáo dục 2005 “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Những yêu cầu về đổi mới PPDH môn toán của Bộ GD&ĐT là: Tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, rèn luyện khả năng tự học, phát hiện và giải quyết vấn
đề của học sinh nhằm hình thành và phát triển ở học sinh tư duy tích cực, độc lập và sáng tạo. Chọn lựa sử dụng những phương pháp phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập và phát huy khả năng tự học. Hoạt động hoá việc học tập của học sinh bằng những dẫn dắt cho học sinh tự thân trải nghiệm chiếm lĩnh tri thức, chống lối học thụ động. Tận dụng ưu thế của từng phương pháp dạy học, chú trọng sử dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề. Coi trọng cả cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng lẫn vận dụng kiến thức vào thực tiễn. (theo Tài liệu phân phối chương trình THPT môn Toán năm học 2009-2010)
Hiện nay hầu hết đội ngũ cán bộ giáo viên của các trường đều quan tâm đến việc nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học. Tuy nhiên sự hiểu biết, vận dụng những lý thuyết dạy học và những phương pháp dạy học
Trang 7GV còn tương đối hạn chế. Phương pháp dạy học được sử dụng chủ yếu vẫn theo hướng truyền thụ tri thức cho học sinh, trong đó giáo viên vẫn đóng vai là trung tâm. Nguyên nhân dẫn đến điều này một phần là do ở nước ta, việc phát triển nghiệp vụ sư phạm cho các giáo viên chủ yếu thông qua các khóa bồi dưỡng thường xuyên, các đợt tập huấn và các hội thảo. Vào mỗi dịp hè, mỗi dịp đầu năm học các khóa tập huấn cho một số giáo viên toán được tổ chức ở cấp quốc gia, cấp tỉnh nhằm cập nhật những thông tin về đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học và phương pháp đánh giá. Nhưng những chương trình phát triển nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên chưa thật sự mang lại hiệu quả thiết thực, người giáo viên chưa thật sự hiểu rõ và nắm bắt được các phương pháp mới cũng như việc sử dụng chúng trong giảng dạy như thế nào.
- Học sinh lớp 10 hầu hết ở độ tuổi 16, đây là độ tuổi có những thay đổi về tâm sinh lý. Các em thường hăng hái, nhiệt tình, lạc quan, yêu đời khi mọi chuyện xảy ra như mong muốn, nhưng lại dễ bi quan, chán nản khi gặp thất bại. Hơn nữa, đây còn là lứa tuổi dễ chủ quan, nông nổi và thường có những kết luận vội vàng theo cảm tính
- Khối lượng nội dung hình học ở cấp THPT mà học sinh cần lĩnh hội nhiều hơn
so với cấp THCS, đặc biệt là khối lượng kiến thức trong một tiết học; phần thời gian dành cho những tiết luyện tập không nhiều vì vậy để hiểu được lượng kiến thức đó đòi hỏi học sinh phải có khả năng tư duy và có thời gian tự học, tự luyện tập nhiều hơn. Hơn nữa, mở đầu cho chương trình hình học 10 là những kiến thức về vectơ hoàn toàn mới mẻ, trừu tượng đối với các em. Khi học sinh đã gặp phải những khó khăn ban đầu thì thường có tâm lý chán nản, ngại khó và buông xuôi, do đó các em càng gặp nhiều khó khăn hơn khi học các kiến thức hình học tiếp theo.
Sử dụng dạy học giải quyết vấn đề trong Hình học giúp cho học sinh có thể lĩnh hội được tri thức mới về hình học một cách chủ động qua quá trình tự khám phá, giải quyết vấn đề; giúp học sinh phát huy được tính tích cực trong học tập, phát triển được khả năng
tư duy của mình cũng như nắm bắt bài học một cách chắc chắn hơn. Đây là phương pháp dạy học dựa trên quan điểm lấy học sinh làm trung tâm, tạo được môi trường học tập chủ động và sẵn sàng chia sẽ thành công hay thất bại cho học sinh.
1.1 Nhu cầu nghiên cứu
Trong công cuộc đổi mới PPDH, phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là một trong những phương pháp chủ đạo được sử dụng trong nhà trường nói chung. Phương
Trang 8pháp này thật sự trở thành một phương pháp dạy học hiệu quả mà nhiều nước đã và đang sử dụng để nâng cao chất lượng dạy học toán. Ở Hoa Kỳ, phương pháp này đã được thực nghiệm từ những năm 60 của thế kỷ XX và được triển khai ở nhiều trường học. John Dewey, một nhà triết học và giáo dục lớn của Hoa Kỳ, đã chủ trương "Học sinh đến trường không phải để tiếp thu những tri thức đã được ghi vào trong một chương trình mà rồi có lẽ sẽ không bao giờ dùng đến, nhưng chính là để giải quyết các vấn đề, giải quyết các "bài toán" của nó, những thực tế mà nó gặp hằng ngày” ([2]). Ở Singapore, phương pháp này cũng trở thành mục tiêu chính trong chương trình toán ở các trường học vào năm 1992 ([17]). Như vậy phương pháp giải quyết vấn đề đã được xem là một yếu tố quan trọng trong cải cách giáo dục của nhiều nước, nhưng để có thể
sử dụng phổ biến phương pháp này một cách có hiệu quả vào thực tiễn dạy học ở các nhà trường thì phải trải qua nhiều thử thách, thực nghiệm trong một thời gian dài, “giải quyết vấn đề thành công đòi hỏi có những hiểu biết về kiến thức toán học, về phương
án giải quyết vấn đề, có sự tự kiểm tra hiệu quả và có những định hướng tốt để giải quyết vấn đề” ([18]). Theo Stephen Krulik “Bằng cách học tập các phương án giải quyết vấn đề, bắt đầu với các ứng dụng đơn giản và sau đó dần dần chuyển sang các vấn đề khó khăn và phức tạp hơn, học sinh sẽ có cơ hội phát triển khả năng giải quyết vấn đề của mình” ([15]).
Ở nước ta, phương pháp giải quyết vấn đề được nghiên cứu và ứng dụng nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 bởi đông đảo các nhà nghiên cứu, các nhà lý luận, các thầy cô giáo. Nguyễn Bá Kim cho rằng “Học sinh tích cực tư duy do nảy sinh nhu cầu
tư duy, do đứng trước khó khăn về nhận thức; học sinh tự kiến tạo hoặc tham gia vào việc kiến tạo tri thức cho mình dựa vào tri thức đã có, bổ sung và làm cho các tri thức
cũ được hoàn thiện hơn. Học sinh học tập tự giác, tích cực, vừa kiến tạo được tri thức, vừa học được cách thức giải quyết vấn đề, lại vừa rèn luyện được những đức tính quý báu như kiên trì, vượt khó " ([3]). PGS. TS Vương Dương Minh đã có những phân tích để làm rõ “tác dụng của phương pháp PH và GQVĐ đối với kết quả đọng lại ở người học trên các mặt: kiến thức, tư duy và nhân cách. Kiến thức được hình thành không phải bằng áp đặt mà là kết quả của quá trình hoạt động tích cực, chủ động và sáng tạo. Do đó mà kiến thức mới liên hệ với kiến thức cũ, khó quên, nếu quên thì biết cách tìm lại được…”. Theo TS. Nguyễn Thị Lan Phương “PPDH GQVĐ không phải là mới, nhưng nó vẫn không được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và rộng
Trang 9đề này lại có vai trò quan trọng phục vụ cho các năm học tiếp theo nên cần phải có phương pháp dạy học phù hợp để các em có thể hiểu được các kiến thức ở chủ đề này.
Do đó để giúp cho học sinh bước đầu có khả năng tự phân tích, tìm hiểu và giải quyết một vấn đề hay một bài toán, cũng như tìm hiểu việc dạy Hình học sử dụng các phương án giải quyết vấn đề có tác dụng như thế nào đến quá trình học tập của học sinh
phổ thông, tôi đã chọn đề tài “Sử dụng các phương án giải quyết vấn đề trong dạy
học chủ đề "Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng" ở lớp 10".
1.2 Phát biểu vấn đề nghiên cứu
nhà trường phổ thông. Nó giúp phát triển tư duy và các ý tưởng toán của học sinh, học sinh có thể tìm hiểu và hiểu những khía cạnh quan trọng của khái niệm hoặc ý tưởng bằng cách khai thác tình huống có vấn đề. Tuy nhiên ở nước ta các nghiên cứu về việc
sử dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học hình học để nâng cao chất lượng dạy và học toán trong nhà trường còn ít. Một vấn đề thiết thực là cần có nhiều nghiên cứu về việc ứng dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề cũng như việc sử dụng các phương án giải quyết vấn đề trong dạy học hình học được tiến hành để xem xét tác dụng của nó trong thực hành dạy học toán là như thế nào.
Trang 104 Phương pháp và công cụ nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu về Triết học, Giáo dục học, Tâm lý
học, Lý luận dạy học môn toán, các tài liệu liên quan đến dạy học giải quyết vấn
đề, các phương án GQVĐ và tài liệu liên quan đến chương trình Hình học phổ thông hiện hành.
4.3 Công cụ nghiên cứu
Trang 11Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn.
1 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.
2 Nội dung kiến thức của chủ đề “Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng”.
3 Thực trạng dạy và học chủ đề “Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng” ở trường THPT hiện nay.
Trang 12Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
1 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
1.1 Cơ sở triết học, tâm lý học và giáo dục học của dạy học PH và GQVĐ
Theo triết học duy vật biện chứng, mâu thuẫn là động lực thúc đẩy quá trình phát triển. Mỗi vấn đề được đưa ra đều chứa đựng mẫu thuẫn giữa những tri thức, kinh nghiệm đã có với yêu cầu và nhiệm vụ nhận thức, đó là động lực thúc đẩy học sinh giải quyết vấn đề đã được đưa ra. Tuỳ thuộc vào số lượng và mức độ những vấn đề được đưa ra bởi người dạy sẽ kéo theo những thay đổi tương ứng về sự phát triển khả năng
GQVĐ của người học
Dạy học PH và GQVĐ dựa trên nguyên tắc được các nhà tâm lý học thừa nhận
là con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi nảy sinh nhu cầu tư duy, tức là khi đứng trước một khó khăn về nhận thức cần phải khắc phục. Khi có nhu cầu hiểu biết, mở rộng tri thức, có niềm say mê, hứng thú thì hiệu quả của quá trình nhận thức càng thể hiện rõ hơn.
Dạy học PH và GQVĐ rèn luyện cho người học tính tích cực, tự giác học tập, đồng thời rèn luyện khả năng hoạt động hợp tác, thảo luận, tìm tòi, sử dụng vốn kinh nghiệm, vốn tri thức của mỗi cá nhân hay của nhóm cá nhân.
1.2 Một số khái niệm cơ bản
Để có thể hiểu đúng về dạy học PH & GQVĐ cũng như các phương án GQVĐ, ta
sẽ bắt đầu tìm hiểu các khái niệm có liên quan.
1.2.1 Vấn đề
Vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có quy luật, cũng như những tri thức, kỹ năng sẵn có chưa đủ để giải quyết mà còn có khó khăn, cản trở cần vượt qua.
Trang 13Với nhiệm vụ học tập trên ta sẽ xác định được các đặc trưng của vấn đề, đó là:
- Trạng thái xuất phát: Tam giác ABC, biết góc A, B và cạnh BC
- Khó khăn: chưa có công thức, thuật giải để tính cạnh AC
- Trạng thái đích: nếu tính được cạnh AC thì tính bằng cách nào; hoặc nếu không tính được cạnh AC thì tại sao
Cần phân biệt hai khái niệm bài toán và vấn đề. Bài toán là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra, yêu cầu học sinh phải giải quyết dựa vào việc liên hệ, phân tích và
tổng hợp các kiến thức đã có. Như vậy hai khái niệm bài toán và vấn đề không đồng
nhất với nhau. Điểm tương đồng là “bài toán” và “vấn đề” đều là những câu hỏi, nhiệm
vụ đặt ra cho học sinh, yêu cầu phải giải quyết dựa vào những kiến thức đã có. Tuy nhiên đối với “vấn đề” thì chưa có sẵn kiến thức, kỹ năng, hay phương thức hành động
để giải quyết, trong khi đối với “bài toán” thì đã có sẵn để giải nó. Từ đó có thể thấy rằng, mọi vấn đề đều là bài toán, nhưng một bài toán chưa chắc đã phải là một vấn đề. Một bài toán có thể là vấn đề đối với học sinh ở thời điểm này nhưng không là vấn đề
liên hệ những tri thức cũ liên quan
Như vậy, một tình huống gợi vấn đề là tình huống thỏa mãn các điều kiện sau:
Tồn tại một vấn đề
Trang 14 Gợi nhu cầu nhận thức: Khi tiếp cận tình huống, học sinh có hứng thú suy nghĩ, tìm hiểu và có nhu cầu giải quyết.
Tạo niềm tin ở khả năng: Tình huống cần khơi dậy ở học sinh cảm giác rằng tuy chưa có ngay lời giải nhưng với vốn những kiến thức, kĩ năng liên quan đã có
và sự tích cực suy nghĩ thì có khả năng giải quyết được vấn đề. Nếu tình huống đưa ra quá xa lạ hay quá khó đối với học sinh thì họ sẽ không có hứng khởi và không có niềm tin vào khả năng của bản thân để giải quyết tình huống, do đó khó khăn đưa ra phải vừa sức với học sinh.
Ví dụ 2: Tình huống gợi vấn đề đối với học sinh lớp 10 khi chưa học “dấu của tam
thức bậc hai”: “Ta đã biết cách xét dấu nhị thức bậc nhất, vậy làm thế nào để xét dấu
biểu thức f x( )x22x3”
Tình huống trên thỏa mãn 3 điều kiện:
- Tồn tại một vấn đề: Học sinh chưa có phương pháp để xét dấu tam thức bậc hai.
- Gợi nhu cầu nhận thức: với kiến thức xét dấu nhị thức bậc nhất đã có, liệu có thể áp dụng trong trường hợp này được không? Suy nghĩ này làm cho học sinh
tò mò và có hứng thú để giải quyết.
- Tạo niềm tin ở khả năng: mặc dù chưa có phương pháp hàng động nhưng học sinh thấy được đây là một biểu thức mà có thể phân tích thành tích của hai nhị thức bậc nhất.
GQVĐ là một dãy các hoạt động, mà nếu thực hiện thành công thì sẽ có tác dụng rất lớn trong việc kích thích học sinh, khiến các em có thái độ tích cực hơn đối với việc nghiên cứu toán học nói chung và việc giải quyết các vấn đề tiếp theo.
1.3 Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề (PH và GQVĐ)
Phương pháp là con đường, là cách thức để xuất phát từ điều kiện đã có, tiến
Trang 15Và “Trong dạy học PH và GQVĐ, thầy giáo tạo ra những tình huống gợi vấn
đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực chủ động và sáng tạo để GQVĐ và thông qua đó mà kiến tạo tri thức, rèn luyện kỹ năng và đạt được những mục đích học tập khác” ([3])
Như vậy theo phương pháp dạy học PH và GQVĐ, học sinh không chỉ nắm được tri thức mới mà còn nắm được phương pháp đi đến tri thức đó. Đồng thời phát triển tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo và có tiềm năng vận dụng tri thức mới vào những tình huống mới hay có khả năng phát hiện kịp thời và giải quết các vấn đề nảy sinh.
1.3.1 Đặc điểm của phương pháp dạy học PH và GQVĐ
nghiệm, kĩ năng vốn có của mình chủ động xây dựng kiến thức cho bản thân chứ không phải thu nhận nó một cách thụ động dưới dạng cho sẵn.
1.3.2 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học PH và GQVĐ
Ưu điểm:
Phát triển được khả năng tìm tòi, xem xét vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong quá trình PH và GQVĐ, học sinh sẽ huy động được kiến thức và khả năng làm việc độc lập, khả năng hợp tác, trao đổi, thảo luận với các học sinh khác để tìm ra cách giải quyết phù hợp nhất. Do đó những tri thức mà học sinh có được là bền vững.
Phương pháp này góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo cho HS. Trên cơ sở sử dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có, học sinh sẽ
Trang 16mà điều quan trọng hơn là cả quá trình PH và GQVĐ.
Với những tình huống gợi vấn đề tốt tạo cho học sinh cơ hội tốt để huy động, củng cố và mở rộng tri thức, kích thích niềm đam mê học toán của học sinh.
Phương pháp này đòi hỏi người GV phải đầu tư nhiều thời gian và công sức trong việc suy nghĩ tìm tòi để tạo ra được nhiều tình huống gợi vấn đề và có nhiều phương pháp hướng dẫn học sinh khám phá để PH và GQVĐ. Có thể nói rằng phương pháp này tạo môi trường giúp GV không ngừng vươn lên, tự nâng cao trình độ và các
kỹ năng sư phạm tích cực.
Hạn chế
Việc tổ chức tiết học hoặc một phần của tiết học theo phương pháp PH & GQVĐ đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian hơn so với tiết học được giảng dạy theo phương pháp truyền thống. Do đó với phân phối chương trình đã quy định trước, việc tổ chức thường xuyên các tiết học theo phương pháp PH và GQVĐ là điều rất khó khăn. Hơn nữa, không phải nội dung bài học nào cũng có thể áp dụng phương pháp này.
Phương pháp này đòi hỏi HS phải tích cực, chủ động trong hoạt động lĩnh hội tri thức, nên nhìn chung là phù hợp với HS có trình độ nhận thức nhanh. Nên nếu thực hiện thường xuyên, liên tục trong cả tiết dạy, dễ có nguy cơ bỏ rơi một bộ phận HS yếu, kém.
1.3.3 Quá trình dạy học PH và GQVĐ
Quá trình dạy học PH và GQVĐ có thể thực hiện theo các bước sau, trong mỗi bước, người thực hiện các hoạt động có thể là tự bản thân học sinh hay có sự hướng dẫn của giáo viên.
Bước 1: Phát hiện hoặc thâm nhập vấn đề.
- Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề.
- Giải thích, chính xác hoá để hiểu vấn đề đặt ra.
- Phát biểu vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó.
Bước 2: Tìm cách giải quyết vấn đề.
- Tìm cách giải quyết vấn đề, bao gồm cả phân tích vấn đề và đề xuất, thực hiện hướng giải quyết.
Trang 17- Tiếp tục tìm cách giải quyết khác (nếu có) và lựa chọn cách giải quyết tốt nhất.
Bước 3: Trình bày cách giải quyết vấn đề
Giáo viên thuyết trình PH và GQVĐ
Ở hình thức này giáo viên thực hiện tất cả các bước của quá trình PH và GQVĐ: tạo ra tình huống gợi vấn đề, trình bày vấn đề và trình bày cả quá trình suy nghĩ tìm kiếm cách thức giải quyết vấn đề trong đó chứa đựng cả việc tìm tòi, dự đoán, có lúc thành công, có khi thất bại và phải điều chỉnh phương hướng mới đi đến kết quả. Điều quan trọng là người giáo viên để cho học sinh có khoảng thời gian để cùng tham gia vào quá trình suy nghĩ, tìm kiếm câu trả lời.
Trang 18Học sinh không trực tiếp giải quyết vấn đề, nhưng theo dõi quá trình PH và GQVĐ do giáo viên trình bày. Các em cũng trải qua những thời điểm, những cảm xúc
và thái độ khác nhau như chính các em đang thực sự tham gia vào quá trình nghiên cứu nhưng không trực tiếp GQVĐ.
Như vậy, tri thức được trình bày không phải dưới dạng có sẵn, mà nảy sinh trong quá trình PH và GQVĐ của giáo viên.
1.3.5 Các phương án giải quyết vấn đề
Điều quan trọng của phương pháp dạy học PH và GQVĐ là quá trình tìm tòi được cách giải quyết vấn đề, chứ không phải là bản thân lời giải đó. Mỗi cách giải quyết vấn đề được gọi là một phương án giải quyết vấn đề. Như vậy, tìm tòi phương án giải quyết vấn
đề là bước thứ hai trong quy trình giải quyết vấn đề đã nêu ở mục 1.3.3
Để tìm được một phương án GQVĐ, cần nhớ lại những kiến thức, kỹ năng, phương pháp hàng động, thuật toán đã có, làm rõ những mối liên hệ giữa trạng thái ban đầu và trạng thái đích của vấn đề, và đặt tất cả trong những qui tắc suy luận có lý, logic.
Stephen Krulik đã đưa ra mười phương án GQVĐ là: phân tích đi lên, tìm kiếm một quy luật, giải quyết vấn đề theo một cách khác, giải quyết vấn đề tương tự đơn giản hơn, xem xét những trường hợp đặc biệt, minh hoạ bằng hình vẽ, đoán và thử một cách thông minh, xem xét tất cả các khả năng có thể xảy ra, tổ chức sắp xếp dữ liệu, và suy luận một cách logic. Có thể thấy, đây là một công cụ, phương tiện hữu dụng để giúp tìm được cách giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh trong quá trình dạy toán học ở nhà trường phổ thông.
Dưới đây sẽ trình bày mười phương án đó và nêu ví dụ minh họa cụ thể
Phân tích đi lên
Đây là phương án được sử dụng khá phổ biến để giải quyết các vấn đề toán học giúp HS rèn luyện kỹ thuật giải toán chặt chẽ và hiệu quả. Phân tích đi lên là phương pháp dùng lập luận để đi từ cái cần chứng minh dẫn tới các yếu tố đã cho trong một vấn
đề. Hay nói cách khác, trong quá trình thực hiện phương án này, HS phải trả lời các câu hỏi theo dạng sau: “để chứng minh vấn đề này ta cần phải chứng minh được vấn đề gì”
Trang 19đúng , cuối cùng dẫn đến An đúng (đã được chứng minh là đúng, hoặc là trạng thái ban đầu đã biết).
Ví dụ 3: Sau khi đã chứng minh được “Trong tam giác vuông luôn có
2
a b c
R
ABC bất kỳ hay không?”
Sử dụng phương án phân tích đi lên để tìm lời giải cho câu hỏi trên như sau:
sin sin ; sin sin
Tìm kiếm một quy luật
Trong một số vấn đề, việc tìm kiếm được các quy luật không chỉ giúp cho học sinh có thể giải quyết được vấn đề đặt ra mà có thể giải quyết vấn đề tổng quát hơn. Để giải quyết vấn đề bằng phương pháp tìm kiếm quy luật, thường phải tìm một chuỗi các
dữ kiện hay số liệu ban đầu chứa đựng những tính chất hay kết quả có sự lặp đi lặp lại tương đồng, và xem xét mối quan hệ giữa chúng với trạng thái xuất phát của vấn đề. Từ
Tìm kiếm quy luật cho một số số liệu đầu bằng cách cộng dần các số hạng đầu
Trang 201 1
Kết quả của tổng các số hạng đầu Xem xét mối quan hệ
(dự đoán kết quả có tính quy luật)
Tổng số đo các góc của đa giác.
3
Trang 21
S
Ngoài cách giải quyết bằng phương án tìm kiếm một quy luật, thì vấn đề còn được giải giải quyết theo cách khác khi người học có phân tích, nhìn thấy được điểm chung của các số hạng trong tổng là: mẫu số là tích của hai số lẻ liên tiếp và thừa số nhỏ hơn ở
Trang 22 Giải quyết vấn đề tương tự đơn giản hơn
tương tự đơn giản hơn và có thể giải quyết được. Từ đó định hướng cách giải quyết, có thể dựa vào cách giải quyết của vấn đề tương tự đã có để xác định, điều chỉnh hướng giải cho phù hợp.
Ta sẽ giải quyết bài toán tương tự đơn giản hơn, giả sử EB, khi đó
1
602
Hình 1.1
Trang 23D
B
Hình 1.3
Trang 24Để giải quyết bài toán trên, ta sử dụng phương án minh họa bằng hình vẽ. Quan sát trên đường tròn lượng giác, học sinh sẽ thấy sinx 0 đạt tại điểm gốc O trên trục sin, còn giá trị x sẽ đạt tại vị trí A và C trên đường tròn lượng giác. Từ đó có
sinx0xk (k )
Ví dụ 9: Xác định số đường chéo của một đa giác có 10 đỉnh.
Khi học sinh chưa học tổ hợp, chỉnh hợp và hoán vị thì học sinh chưa có phương pháp nào để tính số đường chéo của một đa giác, tuy nhiên học sinh có thể sử dụng hình vẽ, quan sát và suy luận để giải quyết vấn đề trên.
Trước tiên học sinh phải hiểu đường chéo của một đa giác là đoạn thẳng nối hai đỉnh không liền kề của một đa giác đó.
Trang 25D C
B H
G
F
E
* Quan sát hình vẽ ta nhận thấy rằng đường chéo lớn nhất và nhỏ nhất của hình bát giác đều lần lượt là GC và HF.
C H
D F
O
Hình 1.5a
Hình 1.5b
Trang 26 Đoán và thử một cách thông minh
ta thường suy nghĩ về hướng giải quyết của một vấn đề bằng cách thử đoán đúng hay sai.
Ví dụ 11: Trong tứ giác ABCD, có hay không điểm M sao cho MA MB MCMD0
.
- Phân tích, tìm tòi cách giải
Dự đoán: với I là trung điểm của AB thì IA IB 0
, với G là trọng tâm tam giác thì
0
GA GB GCGD
nên dự đoán là có điểm M thỏa mãn yêu cầu bài toán.
Kiểm tra dự đoán: Nếu ABCD là các tứ giác đặc biệt như hình vuông, hình chữ nhật đều tồn tại điểm M. Từ đó có thể định hướng cách giải theo hai hướng trên: gọi I, J là trung điểm của AB, CD hay gọi G là trọng tâm của tam giác ABC để tìm ra M.
Xem xét tất cả các khả năng có thể xảy ra
Đây là phương pháp tuy hơn mất nhiều thời gian nhưng lại giúp cho người học
có thể giải quyết vấn đề một cách chắc chắn. Một khi vấn đề đặt ra chứa đựng nhiều trường hợp phức tạp, có thể phải giải quyết từng trường hợp, coi như giải quyết các vấn
đề nhỏ hơn.
Ví dụ 12: Cho tam giác ABC có cos cos cosA B C 0, xét hình dạng tam giác ABC. Học sinh chưa có phương pháp nào để xác định hình dạng của tam giác trong trường hợp trên, vấn đề đó sẽ được giải quyết bằng phương án xem xét tất cả các khả năng có
Trang 27Đối với học sinh lớp 10, khi học bài đường elip học sinh không có công thức hay phương pháp để tìm điểm có tọa độ nguyên thuộc elip. Bằng cách xem xét tất cả các khả năng có thể xảy ra, ta có thể giải quyết vấn đề như sau:
Trang 28- Nội dung của chương kế thừa và phát triển các kiến thức về chủ đề Vectơ đã học ngay trước đó, đồng thời nó là cơ sở cho việc học chủ đề “Phương pháp tọa
- Hiểu định lý cosin, định lý sin, công thức về độ dài đường trung tuyến trong một tam giác.
- Biết một số công thức tính diện tích tam giác và một số trường hợp giải tam giác.
Về kĩ năng
- Xác định được góc giữa hai vectơ; tích vô hướng của hai vectơ. Tính được độ dài của vectơ và khoảng cách giữa hai điểm. Vận dụng được các tính chất của tích vô hướng của hai vectơ vào giải bài tập.
- Áp dụng được định lý cosin, định lý sin, công thức về độ dài đường trung tuyến, các công thức tính diện tích để giải một số bài toán có liên quan đến tam giác.
- Biết giải tam giác trong một số trường hợp đơn giản. Biết vận dụng kiến thức giải tam giác vào các bài toán có nội dung thực tiễn. Kết hợp với việc sử dụng máy tính bỏ túi khi giải toán.
2.3 Cấu trúc nội dung
Chủ đề “Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng” gồm hai mạch chính và được cấu trúc tuyến tính theo thứ tự sau:
Trang 30Đối với việc thực hiện đổi mới PPDH, thực tiễn giảng dạy môn Toán thấy rằng:
- Nhìn chung, GV đã có ý thức đổi mới phương pháp dạy học, luôn có tinh thần tìm tòi, học hỏi và cố gắng nâng cao trình độ chuyên môn của mình.
- Các giáo viên đã tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào các tiết dạy như thiết kế giáo án điện tử, sử dụng một số phần mềm Toán học (Geometer’s Sketchpad, Cabri, ) để tăng yếu tố trực quan và phát triển tư duy của học sinh.
- Một số giáo viên đã quan tâm, tăng cường các hoạt động của học sinh trong học tập, sử dụng phương pháp dạy học nhóm trong quá trình giảng dạy để giúp học sinh có cơ hội trao đổi kiến thức với nhau.
Mặc dù chúng ta đã bắt đầu có những bước biến đổi tích cực trong công tác giảng dạy, tuy nhiên cũng cần thừa nhận một số mặt tồn tại sau:
- Việc thực hiện đổi mới PPDH ở một bộ phận GV còn hình thức, chưa hiệu quả, vẫn thiên về thuyết trình, khiến giờ dạy nặng nề, chưa hấp dẫn; HS chưa thực sự được phát hiện, khám phá tri thức; việc hướng dẫn phương pháp tự học cho HS vẫn chưa được nhiều GV quan tâm đúng mức; GV vẫn còn lúng túng trong việc thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS.
- Nhiều giáo viên đã quá lạm dụng việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học toán, điều đó không những không giúp học sinh phát huy được tính tích cực trong học tập mà trái lại nó còn làm cho học sinh không chú ý vào bài học dẫn đến mất kiến thức; vì nội dung bài học chỉ được trình chiếu nhanh bằng các slide do đó kiến thức đọng lại ở học sinh rất ít hay học sinh chỉ chú ý đến các hình ảnh chuyển động bắt mắt được trình chiếu nhưng ít hoặc không liên quan đến nội dụng trọng tâm của bài học
- Cơ sở vật chất, dụng cụ dạy học của nhà trường trang bị cho giáo viên và học sinh vẫn còn thiếu, gây ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học, cũng như hiệu quả của việc áp dụng các phương pháp dạy học mới.
PPDH được sử dụng trong dạy học môn Toán hiện nay có thể kể đến như: Phương pháp giảng giải, phương pháp gợi mở - vấn đáp, phương pháp dạy học nhờ các phương tiện trực quan, phương pháp luyện tập, phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ và phương pháp giải quyết vấn đề. Các phương pháp này đã được các giáo viên sử dụng
Trang 31- Phương pháp gợi mở - vấn đáp: Câu hỏi đặt ra trong tiết dạy không có hiệu quả
sư phạm cao dẫn đến tình trạng “Hỏi để cho có” và thường đặt câu hỏi mà học sinh chỉ cần trả lời “có hoặc không”, “đúng hoặc sai”, trong trường hợp như thế thì tư duy của học sinh chưa có điều kiện để phát triển.
- Hiện nay, việc sử dụng phương pháp dạy học nhờ các phương tiện trực quan vẫn xảy ra tình trạng sử dụng tùy tiện, không hợp lý: Chẳng hạn như việc giảng dạy giáo án điện tử ở môn Toán với mục đích giúp học sinh thấy, quan sát và dự đoán được kiến thức toán thì một số giáo viên lại sử dụng chỉ để đỡ ghi bảng và trình chiếu lại các kiến thức SGK, điều này càng làm cho học sinh không hiểu được nội dung bài học.
- Khi dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ thì chỉ có một số học sinh thực hiện nhiệm
vụ được giao, còn một số khác không tham gia và có tính ỷ lại hay trong tiết luyện tập toán giáo viên cho học sinh hoạt động nhóm các bài tập trong sách giáo khoa hay các bài tập mà các em đã chuẩn bị trước ở nhà.
- Với phương pháp giải quyết vấn đề thì đây là phương pháp chưa được sử dụng rộng rãi ở các trường THPT, chỉ có một số giáo viên quan tâm và sử dụng phương pháp này vào dạy học và việc sử dụng phương pháp này thường cũng chỉ dừng lại ở mức độ đặt học sinh vào các tình huống có vấn đề chứ chưa thực sự chú trọng đến giải quyết vấn đề và sử dụng các phương pháp giải quyết vấn đề.
3.2 Tình trạng dạy và học chủ đề “Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng”
Trong quá trình dạy học chương “Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng”, các hoạt động chủ yếu được thực hiện bởi giáo viên, giáo viên giới thiệu cho học sinh các công thức cần thiết để có thể áp dụng vào làm bài tập; các ứng dụng thực tiễn của chương này không được đưa ra một cách chính thức ở tiết dạy. Đối với tiết luyện tập, học sinh được chuẩn bị sẵn các bài tập ở nhà và chỉ một số học sinh lên bảng giải bài tập sách giáo khoa với các cách giải đã có.
Trong quá trình dạy và học hiện nay, nhiều giáo viên chưa biết và chưa hiểu rõ các phương pháp dạy học tích cực. Việc giảng dạy vẫn còn theo giáo án cũ được soạn giảng nhiều năm về trước và phương pháp dạy học được sử dụng vẫn dưới dạng thông báo tri thức. Do đó học sinh rất thụ động khi tiếp thu bài học, cũng như trong việc chiếm lĩnh các kiến thức của chủ đề “Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng”.
Trang 32vì ở thời điểm này học sinh thường không tập trung vào việc học mặc dù giáo viên rất nhiệt tình giảng dạy.
Hơn nữa, việc dạy và học hiện nay mang tính chất đối phó với các kì thi còn phổ biến, cho nên học sinh chỉ quan tâm và tập trung vào các nội dung kiến thức có khả năng ra thi lớn nhất. Với chương “Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng”, nhiều trường THPT không tiến hành kiểm tra 45 phút hay thi HKII nên việc giảng dạy và học tập ít được chú trọng, ý thức học tập của học sinh còn thấp. Kết quả là học sinh không biết vận dụng các kiến thức đã học vào làm bài tập, không biết cách phân tích bài toán
để đưa ra phương phương giải hợp lý, tiết dạy chưa khuyến khích được học sinh nổ lực tìm tòi và đưa ra các cách giải quyết mới.
Trang 33Chương II
"TÍCH VÔ HƯỚNG CỦA HAI VECTƠ VÀ ỨNG DỤNG".
1 Phương án giải quyết vấn đề trong các tình huống dạy học điển hình
Sử dụng các phương án GQVĐ trong dạy học chủ đề “Tích vô hướng của hai vectơ
và ứng dụng” góp phần giúp học sinh dần có được cách thức phân tích, phương thức hành động khi gặp một vấn đề cụ thể trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống. Thường có bốn tình huống dạy học toán điển hình là: i) dạy định nghĩa, khái niệm, ii) dạy định lý, tính chất, iii) dạy giải bài tập, bài toán và iv) dạy ôn tập, tổng kết. Ở chủ
đề “Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng”, các kiến thức chủ yếu là các định lý, tính chất và các bài tập, bài toán. Vì vậy, chương II luận văn sẽ trình bày cách vận dụng các phương án giải quyết vấn đề của Stephen Krulik vào dạy định lý và dạy giải bài tập, bài toán.
1.1 Phương án giải quyết vấn đề trong dạy định lý
Trong dạy học định lý, cần giúp học sinh hiểu nội dung định lý và có khả năng vận dụng chúng vào các hoạt động giải toán cũng như giải quyết các vấn đề có nội dung thực tiễn, đồng thời giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực chứng minh, biết cách suy nghĩ để tìm ra cách chứng minh.
Định lý toán học thường mang một hoặc một số đặc điểm sau (theo Vương Dương Minh, năm 2011)
Trang 34ba bước: i) nêu nội dung định lý; ii) vẽ hình và trình bày chứng minh định lý; iii) vận dụng định lý. Khi đó học sinh tiếp thu tri thức một cách thụ động bởi kiến thức được thông báo dưới dạng cho sẵn nên sẽ không kích thích sự phát triển tư duy .
Để học sinh chủ động hơn trong việc chiếm lĩnh tri thức, giáo viên nên dạy định lý theo trình tự sau: i) Tạo tình huống để học sinh phát hiện ra vấn đề (chính là định lý); ii) chứng minh vấn đề đó là đúng; iii) Phát biểu chính xác hóa vấn đề thành định lý; iv) vận dụng định lý.
1.1.1 Định lý cosin
Có thể sử dụng hai phương án GQVĐ trong khi dạy học định lý cosin, đó là xem xét trường hợp đặc biệt và suy luận logic.
Sử dụng phương án “Xem xét trường hợp đặc biệt”
- Tạo tình huống để phát hiện định lý “Trong tam giác ABC bất kỳ có tồn tại một
đẳng thức liên hệ giữa các độ dài cạnh hay không ?”
(Vì ABAC nên AB.AC 0
) Như vậy, nếu tam giác ABC không vuông thì luôn có:
rõ hơn và khắc sâu được nội dung định lý mà mình vừa chứng minh được
Sử dụng phương án “suy luận logic”
- Tạo tình huống để phát hiện định lý:
Giáo viên yêu cầu nhiều nhóm học sinh vẽ tam giác ABC có độ dài cạnh BC = a, AC =
Trang 35kết quả chính xác hơn mà không phải thực hiện bằng đo đạc?
- Để giải quyết được câu hỏi trên, giáo viên có thể gợi ý “Có thể ứng dụng được các hệ thức lượng trong tam giác vuông để có thể tính cạnh AB không?”
Tình huống trên giúp học sinh định hướng và tạo ra tam giác vuông chứa cạnh AB, cụ thể là vẽ đường cao AH.
Khi đó ta có AB2AH2HB2
Suy ra HB c HC c bcos. Do đó ta có
A
B
Hình 2.1
Trang 36- Tìm tòi cách giải quyết:
Học sinh sẽ tính bán kính R ngoại tiếp tam giác ABC bất kỳ thông qua tính chất bằng nhau của hai góc cùng chắn một cung tròn và kiểm chứng được hệ thức trên vẫn đúng.
a a
C
C B
O
C' A
A
B A
bằng phương án phân tích đi lên.
sin sin ; sin sin
, trong đó asinBCHbsinA (với
CH là đường cao của tam giác ABC), sin
2
c C R
(với BC’ là đường kính của đường tròn).
1.2 Phương án giải quyết vấn đề trong dạy giải bài toán
- Đối với việc khai thác các phương án giải quyết vấn đề trong phần này, ta chú trọng đến luyện tập cho học sinh khả năng phân tích vấn đề, lựa chọn phương án giải quyết phù hợp cũng như khả năng mở rộng, khái quát một vấn đề hay sau khi giải quyết xong một vấn đề, giáo viên cần “giúp đỡ người học có thói quen nhìn lại lời giải
đã tìm ra, nhìn loại toàn bộ bài toán đã xét nhằm: cải tiến lời giải, tìm lời giải khác, đề xuất các bài toán mới” (Vương Dương Minh, 2011), từ đó giúp học sinh có thể biến những tri thức phương pháp tổng quát thành những kinh nghiệm giải toán cho bản thân.
Hình 2.2
Trang 37Trong đó người giáo viên đóng vai trò là người đồng hành, hướng dẫn, giúp đỡ học
sinh trong quá trình giải toán, chia sẻ kinh nghiệm giải toán của mình cho các em.
- Để có thể thực hiện được điều trên, giáo viên có thể dạy giải bài toán theo trình
tự: i) Tìm hiểu bài toán; ii) Phân tích, tìm tòi và định hướng cách giải; iii) Trình bày
cách giải; iv) Nghiên cứu sâu cách giải và bài toán.
1.2.1 Phương án giải quyết vấn đề trong dạy giải bài toán toán học
- Các bài toán toán học ở chủ đề này gồm những dạng cơ bản sau: tính tích vô
hướng của hai vectơ, xác định góc giữa hai vectơ, giải tam giác, nhận dạng tam giác và
tính giá trị các biểu thức hay chứng minh các hệ thức vectơ, hệ thức về độ dài, về mối
quan hệ giữa các yếu tố của một tam giác. Các dạng bài toán cơ bản chủ yếu của chủ đề
sẽ được khai thác và đưa ra dưới đây:
1.2.1.1 Giải tam giác
Bài toán 1: Cho tam giác ABC có cạnh a=8(cm), b=5(cm) và C ˆ 600. Tính bán kính
Bài toán 2: Cho tam giác ABC có cạnh BC = a. Trên cạnh BC lấy điểm D bất kỳ, đặt
+giả thiết
Tính bán kính R
2 sin sin sin
sin
c R
Trang 38
Với các công thức tính diện tích tam giác mà học sinh đã được học (gồm 1
Ngoài ra diện tích tam giác có thể được tính theo phương
pháp: Tạo một tam giác mới bằng hay có diện tích bằng tam
Bài toán 3: Gọi O là giao điểm hai đường chéo của tứ giác ABCD bất kỳ có độ dài hai
A
D
Hình 2.3
Hình 2.4